Muốn được khen

Chào các bạn,

Hôm qua ta bàn về việc khen người khác, hôm nay ta bàn về việc được người khác khen. Có lẽ chúng ta thường nghĩ rằng cả hai điều này chỉ là hai mặt của một đồng xu, nhưng thật ra thì không hẳn thế. Thông thường, ta không khen người nhưng lại cứ muốn người khen ta; đó chỉ là đường một chiều. 😦 Hoặc là ta khen người để được người khen ta lại; đó là đường hai chiều thuộc khu phố thương mãi. Con đường mà ta muốn đi là, ta khen bạn vì thực sự trong lòng thích khen bạn và muốn bạn vui, không khen vì mong cầu được khen lại. Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.

Không chịu khen người nhưng cứ mong được người khen, thì “không tưởng” quá rồi. Không thể xảy ra được. Nếu bạn cả đời không khen ai, mở miệng thì chê hết người này đến người khác, bỗng nhiên có một cậu đến, tối ngày khen tặng tâng bốc bạn, thì có lẽ là bạn nên thầm hỏi tại sao.

Đằng khác, khen người để mong được người khen lại, hay để mong được cái gì đó từ người, thì đó là buôn bán. Đây là tính toán “có qua có lại.” Cũng công bình thôi. Nếu bạn khen thành thật, thì cũng được, nhưng e rằng hơi thiếu chiều sâu. Điểm yếu của chính sách thương mại này là, bạn sẽ không có được nội lực xuất phát từ tâm. Bạn có thể làm thương mãi được, nhưng không thể có bạn thân cách này. Vì tình thân chỉ có thể xảy ra giữa những quả tim rung động thật với nhau. Có nghĩa là sao? Có nghĩa là bạn có thể có “triệu người quen, chẳng mấy người thân.” Đó là một thế giới rất băng giá! Và trong trường kỳ, cơ hội thành công lớn cũng thấp, vì thông thường là ở cấp rất cao trong thế giới thương mãi cũng như thế giới chính trị, người ta thường tìm bạn bè thân để làm việc với nhau.

Bạn tôi
Bạn tôi

Khen người thật lòng nhưng không mong cầu được người khen lại. Đây có vẽ như là lối sống của thánh nhân, nhưng bạn đừng vội phàn nàn (“Trời ơi, ông ơi, tui đâu có muốn làm thánh. Tui còn đủ hỉ nộ ái ố bi lạc dục và còn muốn dancing và enjoy đời mà. Ông đừng biểu tui đi tu, tội nghiệp tui lắm”). Biết rồi, khỗ lắm, nói mãi! Trong liên hệ con người, “bất chiến tự nhiên thành” gần như là qui luật bất di bất dịch. Hôm qua chúng ta có nói, người bán hàng không có chiều sâu cứ dùng mọi thủ thuật hời hợt để bán cho được hàng thì có lẽ là không bán được. Nhưng nếu cứ tận tâm phục vụ khách hàng nhiệt tình, như một người bạn tốt, mà không cần biết là người ấy sẽ mua hay không, thì mọi người sẽ đến mua hàng nhiều hơn. “Không đánh mà tự nhiên thắng” là vậy. Ai trong chúng ta cũng biết lý lẽ này.

Liên hệ con người thường như thế. Nếu ta hành động chỉ vì người, và không vì chính ta, thì mọi người tự nhiên muốn đến với ta. Mình gọi đây là qui luật “Cánh đồng trống.” Lòng ta là một cánh đồng, nếu cánh đồng không có một hòn đá “tôi” to như quả núi đè mất, thì chim chóc sẽ về tràn ngập cánh đồng xanh. Khen người chỉ vì ta quí người và muốn người vui, mà không mong cầu gì cho ta (ngoài việc ta vui vì đã làm người vui), thì tự nhiên là sẽ có nhiều bạn bè thân thiết, và cơ hội thành công lớn trong đời cứ như vậy mà tăng theo. Đó là tại sao mà mình nói bên trên: “Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.”

Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Vì chúng ta đã quen suy nghĩ về “tôi, tôi, và tôi” nhiều quá, nhất là trong thế giới làm ăn, cho nên ta cần có kỷ luật một tí để tập thói quen chú tâm đến cái hay cái đẹp và cái an vui của người khác trong liên hệ hằng ngày. Qui luật “cánh đồng trống” đúng ngay cả trong thương mãi. Thương mãi cũng chỉ là liên hệ con người như bao nhiêu loại liên hệ khác. Nếu ta cho rằng liên hệ thương mãi đòi hỏi ta phải ích kỷ và chụp giật, thì rõ ràng là ta chưa nắm vững được bản chất của thương mãi cũng như bản chất con người. Một điều khó khăn khác là, qui luật “cánh đồng xanh” đòi một tí kiên nhẫn. Phần thưởng sẽ đến từ từ–chậm nhưng chắc. Vì đây không phải là qui luật “tiền trao cháo múc”, cho nên bạn cần kiên nhẫn một tí. Nhưng không sao, vì khi áp dụng qui luật này, bạn đâu có mong cầu gì cho mình, phải không? Mà đã không mong cầu là thừa kiên nhẫn.

Điều cuối cùng ta cần nắm vững là, nếu ta cứ muốn được người khen thì ta sẽ rất chơi vơi và nhiều stress. Chơi vơi vì cứ phải cố làm cái gì đó để hằng trăm hằng nghìn người quanh ta thích thú khen ngợi. Mà mỗi người một ý. Chạy theo ý muốn của một nghìn người, đương nhiên là phải nhảy choi choi như con lật đật chơi vơi trên mặt nước. Và như vậy thì nhất định là sẽ rất nhiều stress. Mà stress thường phá vỡ mọi thứ, từ sức khỏe, đến công việc.

Nắm vững các qui luật liên hệ con người. Cứ từ tốn làm việc, và kiên nhẫn một tí. Kết quả sẽ đến nhanh hơn bạn nghĩ. Có lẽ bạn đã nghe, hoặc qua tiểu thuyết hoặc qua chuyện có thật, rất nhiều người than trước khi nhắm mắt: “Cả đời tôi không có được một người thân.” Bạn có bao giờ thắc mắc về câu đó không? Sống mấy mươi năm trong một thế giới mấy tỉ người mà lại không có được một người thân. Sao vậy? Đó không phải là một bi kịch sao?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ,

Mến,

Hoành

Stumble It!
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Xe cứu thương “chùa”

Tại An Giang, có rất nhiều người dùng xe lôi làm xe cứu thương “chùa.” Bệnh nhân không phải trả tiền. Và xe sẽ chạy bất cứ giờ nào, kể cả 3 giờ sáng. Có xe “chùa” chuyên nghiệp đã được bà con quyên góp giúp nâng cấp thành xe hơi. Quả là có rất nhiều quả tim tốt đẹp ngoài kia mà chúng ta không hể biết đến.


Xin xem Xe cứu thương của “Hai Lúa” ở đây

Khen

Chào các bạn,

Đối với người Việt chúng ta thì có lẽ những ngôn từ được sử dụng tần tiện nhất, tần tiện đến mức keo kiệt, là những lời khen. Rõ là “Lời nói không mất tiền mua, tự do mà nói miễn đừng có khen.”

Đến sở làm thấy cô bạn mặc chiếc áo đẹp, mới mở miệng “Trời, hôm nay Vân đẹp quá” là mấy quí vị cùng phòng đã bắt đầu nheo nheo mắt… “Hmm… coi bộ bắt đầu thả câu.” Về nhà mới khen thằng con trai chưa hết một câu, bà chủ đã “Anh cứ làm hư con. Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Cứ như vậy con cái nó lên ngồi trên đầu.” (Quí vị ơi, quý vị có ghét thì xin cho một hộp sô-cô-la, nhất là loại made in Switzerland. Mình hứa là sẽ không leo lên đầu quí vị). Ở trường thì dễ được ăn bạt tai hơn là được một lời khen. Đi làm, mình làm việc giỏi đến mức văn phòng của mình mọi việc trôi chảy, chẳng có xì-căng-đan gì bao giờ, thì chẳng ai thèm để ý. Hơi có ai đó phàn nàn bậy bạ, thì cả nước nhào vô dũa.

Nếu mỗi ngày, tổng số từ ta nói trong ngày chia ra đúng 50% khen và 50% chê, thì đó đã là quản lí và giáo dục “nửa mùa.” Nếu chê 75% và khen 25%, đó là quản lí và giáo dục bằng stress. Nếu khen 75% và chê 25%, đó là quản lí và giáo dục bằng mạch nha. Trong văn hóa “thương cho roi cho vọt” của ta, tăng lời khen lên đến mức nửa mùa là đã khó khăn lắm rồi, nói chi là mạch nha. Bạn có muốn ông hàng xóm mang cái roi mây bóng lưỡng đến đét thẳng tay mấy cái vào mông bạn, rồi mở miệng cười huyềnh huệch, khoe chiếc răng vàng lấp lóe, “Tôi yêu chị lắm chị ơi ,” không? Thế thì tại sao bạn lại tin rằng bạn có thể đem thủ thuật đó áp dụng cho con cái, thân nhân, bạn bè?

Khuyến khích em
Khuyến khích em

Mà mình cũng không hiểu truyền thống “thương cho roi cho vọt” này đến từ đâu. Một lần, đã lâu lắm rồi, trong một buổi cà-phê đàm trong một quán nhậu—đây là sự thực, vào quán nhậu nhưng gọi cà-phê—một người bạn của mình lý giải: “Tôi nghĩ có lẽ đó là từ văn hóa Phật giáo. Làm như vậy để tập cho trẻ con biết dẹp cái tôi của mình xuống.” Mình trả lời ngay là mình không thấy Phật giáo có “mùi” đó, chứ đừng nói là có “rễ”. Phật học rất coi trọng nhân cách của mỗi cá nhân và dạy người ta rằng “mỗi người chúng ta, kể cả những người xem ra tệ hại nhất, đều có Phật tánh trong lòng, đều là Phật-đang-thành, và nhất định là một ngày nào đó—kiếp này hoặc một kiếp sau nào đó–sẽ đắc đạo thành Phật.” Lý thuyết vô ngã của nhà Phật dạy chúng ta đừng chấp vào cái ngã của mình, đừng kiêu căng hợm hĩnh, chứ không nói là phải coi thường, chà đạp và đánh đập nó. Hơn nữa, giáo dục nhà Phật là tự giáo dục, tự giải thoát, chứ không phải do người khác cầm cây đập.

Theo mình nghĩ, chắc chắn là khi mấy chú ba bên Trung quốc sang đô hộ tiền nhân ta mấy ngàn năm về trước, nếu các chú thông minh một tí (và dĩ nhiên là các chú rất thông minh), chắc chắn là các chú phải tay thì quất roi vào dân bản xứ, miệng thì “Ngộ ái lị a. Ngộ ái lị a.” Đến thời các anh Phú-lang-sa thì nhất thiết phải là tay thì bạt tai miệng thì “je t’aime.” Nhất định phải là như vậy, vì bản chất chính trị của đô hộ và nô lệ hóa phải là như thế. Và nếu ngày nay ta vẫn còn yêu quí phương pháp vừa bạt tai vừa “I love you” này thì đó phải là hội chứng Stockholm.

Có lẽ là không cần nói nhiều thì chúng ta ai cũng biết tầm quan trọng của tính tự trọng trong việc phát triển năng lực hoạt động và khả năng sáng tạo của con người. “Tự trọng” là tự tôn trọng mình. Tức là mình phải thấy mình có cái gì đó đáng tôn trọng. Mà làm sao thấy được cái gì đáng tôn trọng trong mình khi mình cứ bị phê phán, roi vọt, hằng ngày? Cách thông thường nhất để chúng ta thấy được cái hay của mình là nhờ người khác vạch ra: “Trời, mắt chị đẹp quá”, “chiếc áo này hợp với chị quá”, “chị thông minh quá cở”, “chị giỏi ngoại giao quá.” Dù là người lớn hay là trẻ em, rất khó để phát triển tánh tự trọng khi tối ngày chỉ được nghe đến cái yếu của mình mà chẳng thấy ai nói mình có điểm nào hay cả.

Khuyến khích
Khuyến khích

Dĩ nhiên là lời ta khen làm cho người được khen tích cực và yêu đời hơn. Nhưng đối với những người thực tập tư duy tích cực, lời khen lại còn quan trọng nhiều hơn nữa, vì lời khen tặng người khác ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy của chính ta. Thứ nhất, lời ta khen người khác sẽ cho chính ta biết rằng ta tự tin. Bởi vì chỉ có người tự tin mới khen người khác, người không tự tin thì ghen ghét và thường bới móc cái yếu của người khác. Thứ hai, chỉ có người đủ tích cực trong tư duy mới thấy được nhiều cái hay cái đẹp của người khác để mà khen. Nếu không đủ tư duy tích cực thì không thể thấy cái gì hay đẹp cả. Thứ ba, khen người khác tức là nâng người ta lên, mà nâng người khác lên đương nhiên có nghĩa là giảm ta xuống. Nghĩa là, chỉ có người khiêm tốn trong lòng mới hay khen người khác. Thiếu khiêm tốn thì rất khó mà khen. Thứ tư, càng yêu nhiều người chung quanh, ta càng thấy nhiều điểu hay đẹp của họ và càng muốn tán dương họ bằng lời. Các cặp tình nhân đều như thế. Đó là bản tính con người. Vì vậy nếu ta ít khen, hãy tự hỏi: “Thực sự là mình có yêu ai chung quanh mình không đây?” Vì vậy , trước khi lời khen tác động như là một phương cách giáo dục và quản lí đối với người khác, ngay lúc còn ở dạng tư tưởng trong đầu ta, trước khi nói ra, lời khen dành cho người khác đã là phương thuốc thần diệu cho chính ta và là thước đo cho chính ta. Khen người nhưng thực ra là để luyện tập tâm mình.

Ở trên, chúng ta có nói đến giáo dục và quản lí mạch nha với 75% khen và 25% chê, nhưng đó chỉ là mức thấp. Đến mức quản lí tuyệt đỉnh thì chỉ còn 100% khen, và chẳng còn tí nào chê hết. Ví dụ: Người cộng sự của mình hơi yếu về quản lí thời gian, mình có thể nói: “Em rất hay, rất analytical, giỏi communication, giải quyết mọi vấn đề rất nhanh chóng và chính xác. Nếu em quản lí thời gian hay hơn một tí, làm cho việc sử dụng thời gian có hiệu quả hơn, thì năng xuất của em sẽ còn tăng thêm được rất nhiều.” Ta vẫn có thể khen trong khi giúp người cộng sự thấy được khuyết điểm của họ.

Trong tư duy tích cực, chê là tiêu cực, không cần dùng đến, không nên dùng đến. Hơn nữa, đây là một điểm quan trọng khác mà người tư duy tích cực cần lưu ý: Chê thường là phản ánh tính tiêu cực của người nói. Nếu ta chê, mà không biết dùng lời khen để vạch ra khuyết điểm, thì, một là, khả năng sử dụng lời nói của ta còn yếu, hai là, ta còn rất tiêu cực trong tư duy. (Tuy nhiên quản lí là một nghệ thuật. Trong trường hợp nào đó, với một người nào đó, có thể là chê thẳng mặt, thì người đó mới “nhập tâm” lúc đó. Nhưng đây là ngoại lệ, mà đã là ngoại lệ thì có nghĩa là chỉ nên có một năm một lần).

Để kết thúc, chúng ta có thể làm một trắc nghiệm về chiều sâu của vấn đề một tí. Nếu bạn đã từng cầu nguyện với Chúa, với Phật, với trời đất, với bất kỳ ai đó, bạn cầu nguyện đại khái như thế này, “Ngài là đấng toàn năng, biết tất cả mọi điều, đầy lòng yêu thương đối với chúng con. Xin ngài cho chúng con được bình an, qua được cơn khủng hoảng tài chánh toàn cầu này nhanh chóng,” hay là như thế này, “Thôi đi ông ơi. Ông làm ăn kiểu gì mà thế giới cứ tùm lum đủ mọi chuyện lộn xộn hằng ngày. Dzậy mà còn ngồi chễm chệ trên đó”?

Các đấng tối cao không cần được khen mà ta vẫn cứ khen. Ta khen các ngài là vì các ngài cần nghe, hay vì ta cần tỏ lòng tôn kính?

Ta khen mọi người vì mọi người cần nghe, hay ta cần tỏ lòng quan tâm và quí mến họ?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,
Hoành

TB: Oops! Quên nhắc các bạn đàn ông: Hôm nay đã khen “your house” câu nào chưa?
.
Stumble It!
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Xắn tay áo

Chào các bạn,

Tử hồi con bé ta được bố mẹ bảo học hành để lớn lên làm việc này, việc nọ. Trong trí óc trẻ thơ, cuộc đời chia thành hai phần rõ rệt: nhỏ đi học, lớn làm việc. Khi không còn bé nữa, tiếc thay, ta lại quá quen với công thức suy tư “hai thời” như vậy, và nhiều người trong chúng ta hầu như không bao giờ thoát ra khỏi vòng kềm kẹp của công thức—đối với nhiều vấn đề trong cuộc sống, ta luôn luôn ngồi học, và không bao giờ thấy mình đủ kiến thức để làm.

Dĩ nhiên đó là một suy tư rất sai lầm, ít ra là đối với người lớn, vì thực ra học và làm là một. Cuộc đời thật không chia thành học và làm. Có con thì làm bố, và làm bố là làm bố chứ chẳng phải học làm bố, và học làm bố thực sự là làm bố. Dĩ nhiên, ta có thể vào một lớp “học làm bố” vài ba tiếng, nhưng mấy lớp đó thật là chẳng nghĩa lý gì cả. Bất kỳ người vào đã có con cũng đều xác nhận là lúc làm bố là lúc học làm bố, và ngày nào còn làm bố là ngày đó còn học làm bố, kể cả khi con mình đã trưởng thành và đã làm bố–lúc đó mình vẫn còn phải học làm bố của một người bố. Làm quản lí cũng vậy. Lúc bắt đầu làm quản lí là lúc thực sự học làm quản lí, và mình cứ từ từ tăng cấp làm quản lí và học làm quản lí hằng ngày. Bất cứ việc làm nào trên đời cũng là việc học—làm một tí là học thêm một tí kinh nghiệm, một tí kiến thức.

Đẩy!
Đẩy!

Điều này có nghĩa là gì? Thưa, có nghĩa là, sống là hành động. Sống không có nghĩa là ngồi lý thuyết cho đến lúc thấy mình đủ năng lực rồi mới làm. Thực ra nếu không làm thì chẳng bao giờ đủ năng lực, mà nếu làm thì khi nào cũng đủ năng lực. Ngay cả trẻ con học nói, chẳng có đứa bé nào “học nói” cho đến lúc “biết nói” rồi mới bắt đầu “nói”—học nói, biết nói và nói chỉ là một việc. Đó là công thức đương nhiên của cuộc sống. Học yêu, biết yêu, và yêu, là một. Học làm, biết làm, và làm, là một. Không làm là không học, không biết, và không sống.

Bên cạnh việc “ngồi học cho đến khi biết đủ”, nhiều người trong chúng ta còn có thói quen xem các vấn đề xã hội chung quanh là “việc của chúng nó.” Chúng nó nào? Xã hội ta đang sống là việc của mỗi người chúng ta. Chẳng có chúng nó nào từ một hành tinh khác chịu trách nhiệm về xã hội của ta cả. Ngay cả khi ta chỉ vào chính quyền và nói “chúng nó”, thì chẳng khác nào chỉ ngón tay vào một người anh trong gia đình và đổ lỗi “chính hắn”, cứ như là các vấn đề trong gia đình chỉ một người chịu trách nhiệm còn những anh chị em khác thì vô can. Einstein nói: “Thế giới là một nơi đầy nguy hiểm, không phải vì những kẻ làm ác, mà vì những kẻ đứng nhìn và chẳng làm gì cả.” Triết gia Anh Edmund Burke nói: “Điều cần thiết duy nhất để tội ác chiến thắng là những người tốt chẳng làm gì cả.” Im lặng là đồng lõa với tội ác. Không làm gì để giải quyết vấn đề là đồng lõa với vấn đề.

Đôi khi ta muốn làm gì đó để giúp giải quyết một vấn đề xã hội nào đó, câu “khuyến khích” ta có thể được nghe ngay lập tức là “Một con én không làm được mùa xuân.” A! Thái độ “chưa đánh đã thua” đó mà cũng đáng cho chúng ta tốn thời giờ bàn luận đến sao? Đa số các cuộc cách mạng–tư tưởng, kinh tế, thương mại, chính trị–trong lịch sử con người bắt đầu với chỉ một người. Nhà thuyết giảng Mỹ Edward Everett Hale nói: “Tôi chỉ là một, nhưng tôi vẫn là một. Tôi không thể làm được tất cả, nhưng tôi vẫn có thể làm được việc gì đó; và bởi vì tôi không thể làm được tất cả, tôi sẽ không từ chối việc gì đó mà tôi có thể làm.”

Goethe nói: “Cuộc đời không biết ngừng trong tiến hóa và phát triển, và luôn buông lời nguyền rủa sự bất động.” Ta làm việc gì là vì việc đó nên làm, như đói thì ăn, không cần phải đợi có người ăn cùng. Hữu xạ tự nhiên hương; ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Cứ bắt đầu hăng hái một mình, từ từ sẽ có hai mình, ba mình, và nhiều mình.

Mồ hôi và nụ cười
Mồ hôi và nụ cười

Và khi hành động thì ta thường nghe: “Thất bại là mẹ thành công.” Câu này cũng có một tí tính tích cực, và nghe qua thì rất có lý, nhưng nếu bạn đã là người hành động tích cực nhiều kinh nghiệm thì lại thấy là câu này sai từ trong căn bản, bởi vì từ “thất bại” không đúng. Thất bại là gì? Ta cứ tạm thời dùng định nghĩa thông thường—thất bại là không đạt được mục tiêu đề ra. Giả sử hai võ sĩ đấu đài, người thua trận gọi là người thất bại sao? Nếu bạn xem đấu võ thường xuyên thì bạn thấy các võ sĩ thua trận thường nói “Tôi không thắng,” chứ hầu như chẳng ai nói “Tôi thất bại.” Tại sao? Vì mục đích đầu tiên của các võ sĩ (và các vận động viên) luôn luôn là tự thắng mình. Mục đích thứ hai là cố gắng hết sức vì nghệ thuật. Đấu võ là vì hai mục đích đó. Hơn thua là chuyện thường tình, chẳng ai đặt nó lên hàng đầu. Hơn thua cũng chỉ là một trong những phương cách để tự thắng chính mình thôi. Vì vậy, dù là thua cuộc thì hai mục tiêu hàng đầu là tự thắng và phục vụ nghệ thuật vẫn luôn luôn đạt được. Sao có thể gọi đó là thất bại? Vì vậy, ta thấy các võ sĩ thua cuộc thường cũng rất vui vẻ, ôm hôn kẻ chiến thắng rất thân ái, vì thực ra họ là chiến hữu với nhau.

Tất cả mọi hoạt động của chúng ta trên đời cũng có ý nghĩa như vậy. Mở một công ty dịch vụ văn phòng chẳng hạn. Tất cả những người làm thương mãi đều nói với bạn rằng lý do quan trọng nhất mà họ mở công ty là để làm cho đời sống của họ có nhiều thử thách hơn và họ cảm thấy “tròn đầy” hơn. Dĩ nhiên làm ra tiền thường là lý do sau đó. Nhưng nếu vì tình trạng suy thoái kinh tế mà họ phải đóng cửa công ty, chắc chẳng ai cho đó là thất bại. Và dù có đóng cửa, thì những vui thích khi được làm chủ chính mình, cũng như những kinh nghiệm vô giá đã gặt được, cũng đã rất đáng đồng tiền bát gạo. Chẳng mấy chủ công ty gọi đó là “thất bại.” Cho nên, nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa về các họat động của mình trên đời, một cách tích cực, thì thực sự chẳng hề có cái gọi là “thất bại”. Chỉ có thành công nhiều hay thành công ít mà thôi. Nghĩa là nếu hành động với một tâm tư tích cực, ta luôn luôn thành công, hoặc it hoặc nhiều. Từ “thất bại” không có trong tự điển của ta.

Xây dựng
Xây dựng

Helen Keller, người câm điếc Mỹ đầu tiên đạt được bằng cử nhân năm 1904 và sau đó thành một nhà hoạt động chính trị xã hội nỗi tiếng của Mỹ, nói: “An ninh thường là chuyện mê tín. An ninh không có thật trong đời sống tự nhiên, và loài người nói chung không chứng nghiệm an ninh. Trong trường kỳ, chạy trốn hiểm nguy cũng chẳng khá hơn là cứ đối diện hiểm nguy thẳng mặt. Sống là phiêu lưu táo bạo, hay chẳng là gì cả.”

Một trong những lỗi lầm người ta hay gặp phải khi bắt đầu một dự án là bắt đầu quá lớn và quá xa vời với thực tế. Hãy mơ đến cả bầu trời, nhưng bắt đầu bằng từng bước chân. Think globally, work locally. Nếu bạn chưa làm nhà hàng bao giờ, đừng bỏ hết vốn liếng, vay mượn ngân hàng, để mở một quán phở có 500 chỗ ngồi. Làm một chỗ 30 chỗ ngồi trước đi. Nếu thành thì từ từ tăng diện tích, có mất mát gì đâu? Việc gì mà phải gia tăng may rủi một cách không cần thiết ngay từ đầu?

Bắt đầu nhỏ, nếu không thành thì cũng chẳng mất mát nhiều, coi như đó là bỏ tiền học kinh nghiệm. Những người bắt đầu quá lớn (so với kinh nghiệm của mình), thường bị tật háo danh chi phối. Không thích làm cái gì nhỏ. Dĩ nhiên ta luôn luôn nên “think big”, nhưng nên “start little”. Bạn có thể mơ ước đến một đám cưới to nhất nước, nhưng ngay lúc này thì bắt buộc phải chịu khó làm các việc lặt vặt như là ngồi đợi nàng trước cửa trường hằng ngày. Chẳng có cách nào khác. Hơn nữa, như Helen Keller nói: “Tôi muốn làm được những chuyện vĩ đại và cao quí, nhưng nhiệm vụ chính của tôi là làm những việc khiêm tốn cứ như chúng là những việc vĩ đại và cao quí. Thế giới chuyển động, không phải chỉ nhờ những cú tống đạp của các anh hùng, mà còn nhờ tổng hợp những đùn đẩy nhỏ bé của mỗi người lao đông chân chất.”

Thế giới thực sự không thể tự nó mà tiến hóa. Thế giới tiến hóa là vì những cá nhân trong thế giới tiến hóa. Một con kiến thợ thì nhỏ xíu. Nhưng đàn kiến tiến hóa là nhờ mọi kiến thợ. Và kiến thợ sinh ra chỉ để chạy tới chạy lui làm việc. Suy nghĩ cho cùng, chúng ta sinh ra cũng chỉ để làm cho thế giới con người tiến hóa. Ngoài mục đích này thì chẳng còn gì khác để làm cho đời sống con người có ý nghĩa. Và đã là kiến thợ thì hãy xắn tay áo lên. Vào cuộc!

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến

Hoành

Stumble It!

© copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Tay, óc và tim

“Người làm việc với bàn tay là người lao động; người làm việc với bàn tay và đầu óc là một nghệ nhân; người làm việc với bàn tay, đầu óc và quả tim là một nghệ sĩ.”

TDH dịch

“A man who works with his hands is a laborer; a man who works with his hands and his brain is a craftsman; but a man who works with his hands and his brain and his heart is an artist.”

Louis Nizer

Ngôn ngữ của thân thể

Chào các bạn,

Chúng ta nói với nhau đâu phải chỉ bằng lời nói, mà còn bằng ngôn ngữ của thân thể. Vì vậy mà chàng chỉ lướt ngang và nhìn nàng trong 2 giây đồng hồ là nàng đã biết ngay là chàng muốn làm quen. Và chàng mới gật đầu chào thì đã biết ngay là nàng đang xi-nhan: “Xin lỗi, tôi đang đợi anh ấy.” Ngôn ngữ của thân thể là body language. Ngày trước, các diễn viên, điều tra viên, doanh nhân, luật sư và chính trị gia đều học. Ngày nay môn học này rất phổ biến, và hầu như tất cả mọi người đều học.

Nhưng dù là chưa vào lớp nào thì bạn cũng đã biết kha khá rồi. Ai trong chúng ta cũng đã “học ăn học nói học đi học đứng” từ hồi nhỏ và cũng biết nhận xét người khác qua tướng mạo và phong cách bên ngoài. Học là để giỏi thêm thôi. Điều khác biệt quan trọng giữa lời nói và body language là lời nói được điều khiển bởi ý thức (trừ khi bị ma men hành :-)), còn body language thì do tiềm thức điều khiển nhiều hơn. Vì vậy, body language thường đáng tin hơn là lời nói. Ví dụ, chàng nói “Anh thề là anh chẳng có ai khác ngoài em,” nhưng nếu ánh mắt chàng tự nhiên đảo đi một ít, hoặc là nếu chàng chớp mắt hơi nhiều một tí, có thể đó là chàng đang nói dối. Hoặc là chàng đang cố tươi cười thân thiện, nhưng lại tựa người ra sau và khoanh tay, có thể là chàng đang trong trạng thái phòng thủ.

Tất cả các bộ phận trong cơ thể ta đều có thể nói ra điều gì đó, từ cách ngồi, cách đứng, động tác của bàn tay, của các ngón tay, ánh mắt, mi mắt, môi, mặt, v.v… Chúng ta cần phải học body language vì:

1. Ta không muốn vô tình để body language nói những điều ta không muốn nói. Ví dụ, bắt tay quá lõng lẻo trong khi mắt lại không nhìn thẳng mặt người mình đang bắt tay, có nghĩa là “tôi chẳng cần quan tâm đến anh.” Thế thì công lao tốn nước bọt cả một tiếng đồng hồ trước đó để trình bày dự án coi như là đổ sông đổ biển.

2. Ta muốn đọc được ý thật của người đối diện: Khi body language và lời nói của người đối diện không ăn khớp với nhau, nhất định là ta phải xét lại lời nói của họ. Và rất có thể là body language của họ đáng tin hơn.

Thân thể nói những lời tuyệt đẹp!
Thân thể nói những lời tuyệt đẹp!

Các bạn có thể tìm các websites về body language dễ dàng trên Internet. (Bạn nào biết được sites nào, xin vui lòng giới thiệu, bằng cách post vào comment). Trong bài này, chúng ta không đi vào chi tiết kỹ thuật của body language mà chỉ nhắc đến một vài điểm cốt cán cần lưu tâm:

1. Body language là một loại ngôn ngữ ta bắt buôc phải thông thạo, cũng như học nói bằng lời hay học viết. Không thể làm việc hiệu quả nếu ta không biết cách ăn nói.

2. Mỗi người có một cách nói chuyện khác nhau; mỗi người cũng có cách dùng body language khác nhau. Dù rằng ngôn ngữ thì chung, nhưng cách dùng thì đương nhiên là mỗi người có cung cách riêng phù hợp với mình. Cứ máy móc làm theo sách, thì có thể là như mấy cô cậu học trò đọc theo tuồng cải lương để viết thư cho người yêu. (Nhưng lúc đầu thì cứ phải theo bài tập, cho đến lúc thuần thục).

3. Ngôn ngữ chỉ học được bằng thực hành, cho nên bạn chỉ thuần thục được body language khi phải giao tiếp nhiều. Vì vậy, nếu không tiếp xúc thường xuyên với người lạ, thì nên cố gắng tham dự các hoạt động xã hội để mình có cơ hội giao tiếp với mọi người.

4. Body language có rất nhiều điểm chung giữa các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau. Ví dụ: Người sợ thì mặt hơi tái hơn, mắt có thể mở to hơn hoặc quay đi hướng khác. (Vì vậy, người không biết ngoại ngữ vẫn có thể nói chuyện với tây bằng cách “múa võ”!) Tuy nhiên, mỗi nền văn hóa cũng có một số body language đặc thù, không giống các nền văn hóa khác. Ví dụ, người Mỹ khi nói chuyện thì nhìn thẳng vào mặt nhau, kiểu như người Việt đang thách thức đánh nhau. Nếu nói mà nhìn xuống như kiểu người Việt, thì đó là nói dối theo kiểu Mỹ. Vì vậy, khi tiếp xúc với người từ một nền văn hóa khác, ta phải biết body language của họ.

5. Khi nói chuyện với người nước ngoài, đương nhiên ta phải dùng body language của họ, nếu ta không muốn họ hiểu lầm ta. Tuy nhiên, ta vẫn có thể dùng body language của ta, nếu body language đó dễ hiểu với người nước ngoài, và nếu ta có thể dùng nó rất hay. Ví dụ: Người tây phương thường bắt tay bằng một bàn tay. Người đông phương có thể bắt tay bằng cả hai bàn tay. Nếu vụng về thì hai tay có thể thấy khúm núm, mất tự tin. Nhưng nếu biết làm, thì bắt tay bằng hai tay có thể đưa ra một thái độ tự tin nhưng rất dịu dàng, ấm áp và khiêm tốn. Điều này thì hầu như không có cách nào ở tây phương có thể sánh được.

6. Dù là ngôn ngữ nào đi nữa, thì sức mạnh của ngôn ngữ–cả lời nói lẫn ngôn ngữ của thân thể–luôn luôn nằm trong lòng tin và sự thật. Nếu bạn nói dối, thì bạn chẳng tin vào lời bạn nói; vì vậy, “lời” bạn nói không thể có sức mạnh thuyết phục.

Đối với những người chú trọng về tư duy tích cực như chúng ta, có vài điểm trong tương quan giữa body language và tư duy tích cực ta cần phải lưu tâm.

1. Cá tính tiêu cực hay tích cực bên trong của ta luôn luôn biểu lộ qua lời nói và body language bên ngoài. Ví dụ: Người tiêu cực thường có dáng đi khép kín, rút vai, rút lưng, và nói thì hay nói phủ định (“không”) và dùng các từ tiêu cực (“chán, ghét, xấu, v.v…”). Người tích cực thường có dáng đi mở rộng hơn, lưng thẳng hơn, vai rộng hơn, tay đong đưa hơn, và khi nói thì hay dùng thể xác định và dùng các từ tích cực (“đẹp, tốt, hay, giỏi, v.v…”).

2. Ngược lại, lời ăn tiếng nói và cử chỉ bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến tâm tính của ta bên trong. Ta có thể làm cho mình thêm tính tích cực bằng cách “nói” những câu tích cực (Nói với người khác, và nói thầm với chính mình. Điều này ta đã nói đến trong bài “Sức mạnh của tư tưởng”). Và ở đây, “nói” còn có thêm nghĩa “nói bằng body language.” Ví dụ, nếu ta lựa chọn một dáng đi tích cực thích hơp với mình nhất, và cứ đi theo dáng đó hằng ngày, thì tâm tính tiêu cực của ta cũng nhờ đó mà từ từ biến thành tích cực.

Và đây là điều cuối cùng, quan trọng nhất: Cả thân thể ta có khoảng 600 bắp thịt. Nếu trong khi nói chuyện với ai mà ta phải chú ý điều khiển 600 bắp thịt để chúng có thể làm đúng ý ta muốn thì nhất định là ta không thể nói chuyện gì với ai được. Vì vậy, học là để biết, nhưng khi thực hành thì phải thông minh hơn một tí. Ta biết rằng thân thể ta thường “nói” tự nhiên, do tiềm thức điều khiển. Vậy thì hãy để tiềm thức điều khiển ngôn ngữ của thân thể. Trước khi nói chuyện với ai, ta hãy chắc chắn là trong lòng ta thích thú nói chuyện với người đó, ta có thiện cảm với họ, ta sẽ thành thật trong khi nói chuyện, ta sẽ xem họ như là bạn tốt của ta. Nếu ta đã tâm niệm như vậy trước khi vào cuộc, thì trong khi nói chuyện, thân thể ta sẽ tự động nói ra điều đó, mà ta không cần phải điều khiển bằng ý thức. Vì vậy, nhiều nhà ngoại giao lớn trên thế giới ngồi tĩnh tâm rất lâu trước khi vào phòng họp cho các cuộc họp quan trọng.

Tức là, dùng tâm để làm chủ hành động của mình. Điều này hoàn toàn không xa lạ gì với các nghệ sĩ bậc thầy. Ca sĩ chẳng hạn. Ca sĩ nào cũng đã học kỹ thuật ca hát rất kỹ. Tuy nhiên, người ca sĩ chỉ có thể đưa bài hát lên đến mức tuyệt đỉnh nếu cô ta thực sự cảm nhận mạnh mẽ, tận đáy sâu của quả tim, từng lời nhạc, từng nốt nhạc, trong khi hát. Nếu không, thì nghe cứ như là thợ hát.

Ở đây có một khái niệm rất căn bản trong đời sống mà chúng ta cần ghi nhớ, vì nó sẽ chi phối tất cả mọi sinh hoạt sống của ta: “Tất cả mọi điều ta làm ở bên ngoài đều phải được điều khiển từ trong tâm, thì mới có sức mạnh.” Nếu ta chỉ làm việc theo công thức và dùng suy nghĩ hời hợt bên ngoài để điều khiển, ví như một người bán hàng không thật tình, cứ tìm đủ mọi thủ thuật để thuyết phục người ta mua hàng, thì kết quả chỉ như học trò mới học đàn. Tuy nhiên, nếu ta cứ tự nhiên phục vụ người khách tận tình như là một người bạn tốt mà không cần biết họ sẽ mua hay không, thì có lẽ là mọi người sẽ đến mua nhiều hơn. Trong đời sống, chúng ta học rất nhiều kỹ thuật—nói chuyện, quản lý, tiếp thị, v.v… Tuy nhiên, khi thực hành ta không thể thực hành kỹ thuật mà phải thực hành nghệ thuật. Mà nghệ thuật thì phải đi từ tâm đi ra.

Trước khi chấm dứt mình xin hỏi các bạn một câu: Body language dịch ra là “ngôn ngữ của thân thể” thì lòng thòng quá. “Ngôn ngữ thân thể” thì vẫn lòng thòng, mà thỉnh thoảng còn làm vài câu văn thành tối nghĩa. “Thân ngữ” có được không? Xin các bạn cho ý kiến. Cám ơn các bạn rất nhiều.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Tư duy tích cực mỗi ngày