All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Thông báo: IVCE tuyển phụ giảng tại Việt Nam


New York (February 26, 2010).

The Institute for Vietnamese Culture & Education (IVCE), is a New York 501(c)(3) non-profit organization that is a leader in promoting Vietnamese culture and assisting Vietnamese students study abroad in American universities.

IVCE would like to announce the call for applications for our educational program: Vietnam Teaching Assistantship (ViTA). Since 2000, IVCE has delivered a “Study Abroad in America” conference every summer to help students in Vietnam pursue higher education abroad. The goal of this conference is to provide information about the admission and testing processes in addition to scholarships offered for study in the United States. We also aimed to provide students with tools to improve their chances of gaining admission and securing financial aid.

According to the Institute of International Education, the number of Vietnamese students attended U.S. colleges and high schools from 2000-2009 as follow,

Year Undergraduate Graduate Other TOTAL
2008-09 8694 2411 1718 12823
2007-08 5945 1648 1176 8769
2006-07 4092 1135 809 6036
2005-06 3043 1287 267 4597
2004-05 2429 815 124 3670
2003-04 2226 815 124 3165
2002-03 1924 649 149 2722
2001-02 1852 563 115 2531
2000-01 1424 488 113 2022

IVCE has a long-term goal of increasing the total number of Vietnamese students who pursue higher education in the U.S. to between 30 and 50 thousand in ten years (2005-2015). To achieve this goal, IVCE has conducted 28 study-abroad seminars since 2002 and has offered individual assistance with application materials. We believe students who have the opportunity to study abroad will bring back with them ideas and concepts from American universities that can contribute to the development of Vietnam.

The ViTA program is the companion to our “Study Abroad in America” workshop series. Through ViTA, IVCE actively recruits and develops a group of Vietnamese-American college and graduate students to teach TOEFL, SAT, GRE & GMAT workshops to students this summer in Vietnam.

Type of work: Teaching your choice of TOEFL, SAT, GRE or GMAT.
Eligibility: At least a Sophomore in college.
Length of project: 8 weeks (4-week stay in two cities) or longer.
Location: Can Tho Univ, Da Nang Institute of Technology, Ho Chi Minh City, Thai Nguyen Univ, and Ha Noi Institute of Technology.
Housing: College provides the guest housing, except in Ho Chi Minh City
Stipend: $200-$300/month, except in Thai Nguyen & Can Tho
Application: http://www.ivce.org/education.php?educationid=0000000006

Deadline for registration: March 20th for the summer.

Please be advised that as a participant in ViTA, you are expected to fundraise money for your own roundtrip travel and other related expenses for the 8-week stay in Vietnam. Past participants have been able to get past this hurdle by applying to grants or fellowships offered by their respective universities. IVCE’s role in this program is one of guidance, coordination and training. We will organize all the logistics for your travel and stay as a group in Vietnam.

Outside of your teaching responsibility, you will have the time and independence to explore Vietnam as it interests you. Although we encourage travel as a group, we understand that you might have personal research projects or independent studies to conduct. IVCE will gladly serve as a point of contact and support for all your endeavors in Vietnam.

IVCE calls for the participation of any student who wants to experience Vietnam first-hand and to contribute toward its educational development. Please respect the deadline, as we might be unable to arrange accommodations for you after that date. Feel free to contact us with any questions or concerns at nhipsong@ivce.org. You can also check us out at www.ivce.org.

We look forward to your participation in ViTA.

Cỏ cây giác ngộ thế nào?

Vào thời Kamakura, Shinkan học Thiên Thai Tông sáu năm, sau đó học Thiền 7 năm; rồi thiền sư qua Trung Quốc và nghiên cứu Thiền 13 năm nữa.

Khi thiền sư trở về Nhật nhiều người muốn gặp thiền sư và hỏi các câu bí hiểm. Nhưng Shinkan rất ít tiếp khách, và khi tiếp khách, thiền sư rất ít khi trả lời câu hỏi của họ.

Ngày nọ có một người 50 tuổi đang học về giác ngộ, nói với Shinkan, “Tôi đã học tư tưởng của Tông Thiên Thai từ lúc còn nhỏ, nhưng một điều tôi không hiểu nổi. Thiên Thai cho rằng ngay cả cỏ cây cũng sẽ giác ngộ. Đối với tôi đây là điều rất lạ.”

“Bàn luận cỏ cây giác ngộ thế nào thì được ích gì?” Shinkan hỏi. “Câu hỏi là anh làm thế nào để có thể giác ngộ. Anh có bao giờ nghĩ đến chuyện đó không?”

“Tôi chẳng bao giờ nghĩ như vậy cả,” ông già kinh ngạc.

“Vậy thì về nhà và nghĩ đến nó,” Shinkan kết thúc.
.

Bình:

• Thời Kamakura bắt đầu từ năm 1185 đến năm 1333.

• Thiên Thai Tông của Nhật thật ra cũng có thiền. Thiên Thai Tông do Tối Trừng (Saicho) thiết lập năm 805 sau khi đã học Thiên Thai từ Trung Quốc. Tuy nhiên Thiên Thai Nhật của Saicho có đển bốn phần: (1) Thiên Thai Trung Quốc (dùng tư tưởng của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là chính); (2) Mật tông (Tây Tạng); (3) Thiền (nhưng chú trọng nhiều đến thiền chỉ – Samatha – tập trung tư tưởng vào một điều gì đó như là hơi thở để lắng đọng, hơn là thiền quán – Vipassana – quán sát một điều gì đó để hiểu được thâm sâu); và (4) giới luật (đại thừa).

Trong bài này nói Shinkan ngưng Thiên Thai để học Thiền, có lẽ là dòng Thiền thuần túy như thiền Lâm Tế của Thiền sư Hakuin Vậy À.

• Bài này rất rõ: Giải phóng chính mình, giải phóng tư tưởng của mình, giác ngộ của chính mình, là trọng tâm của Phật pháp và Thiền học.

Rất nhiều câu hỏi triết lý bí hiểm hấp dẫn ở đời thật ra là không quan trọng và tốn thời gian vô ích.

Trong Tiểu Kinh Malunkya, Malunkya nhận thấy:

Có một số vấn đề này, Thế Tôn không trả lời, bỏ một bên, loại bỏ ra: “Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường, thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên; sinh mạng này và thân này là một, sinh mạng này và thân này là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

Đức Phật nói:

Này Malunkyaputta, ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè và bà con huyết thống của người ấy mời một vị y sĩ khoa mổ xẻ đến săn sóc. Nhưng người ấy lại nói: “Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi thuộc giòng hoàng tộc, hay Bà-la-môn, hay buôn bán, hay người làm công. ..[hay]… tộc tánh là gì…[hay]… cao hay thấp, hay người bậc trung… [hay]… da đen, da sẫm hay da vàng … [hay] thuộc làng nào, thuộc thị trấn nào, thuộc thành phố nào… [hay]… cái cung mà tôi bị bắn, cái cung ấy thuộc loại cung thông thường hay loại cung nỏ … [hay]… dây cung mà tôi bị bắn, dây cung ấy làm bằng cây leo, hay cây lau, hay một thứ gân, hay một thứ dây gai, hay một thứ cây có nhựa… [hay]… cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy thuộc một loại cây lau này hay cây lau khác… [hay]… mũi tên ấy có kết lông gì, hoặc lông con kên, hoặc lông con cò, hoặc lông con ó, hoặc lông con công, hoặc lông một loại két… [hay]… cái tên ấy được cuốn (parikkhittam) bởi loại gân nào, hoặc là gân bò cái, hoặc là gân trâu, hoặc là gân nai, hoặc là gân lừa… [hay]… tên nhọn, hay … tên móc, hay… như đầu sào, hay… như răng bò, hay… như kẽm gai”.

Này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được biết gì.

Và Đức Phật, nói thêm:

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta không trả lời ? Này Malunkyaputta, vì điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, điều gì Ta trả lời. “Đây là khổ… Đây là [nguyên nhân] khổ… Đây là [diệt] khổ… Đây là con đường đưa đến [diệt] khổ” là điều Ta trả lời.

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy có liên hệ đến mục đích, điều ấy là căn bản Phạm hạnh, điều ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, vì vậy điều ấy Ta trả lời.

Do vậy, này Malunkyaputta, hãy thọ trì là không trả lời những điều Ta không trả lời. Hãy thọ trì là trả lời những điều Ta có trả lời.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

How Grass and Trees Become Enlightened

During the Kamakura period, Shinkan studied Tendai six years and then studied Zen seven years; then he went to China and contemplated Zen for thirteen years more.

When he returned to Japan many desired to interview him and asked obscure questions. But when Shinkan received visitors, which was infrequently, he seldom answered their questions.

One day a fifty-year-old student of enlightenment said to Shinkan: “I have studied the Tendai school of thought since I was a little boy, but one thing in it I cannot understand. Tendai claims that even the grass and trees will become enlightened. To me this seems very strange.”

“Of what use is it to discuss how grass and trees become enlightened?” asked Shinkan. “The question is how you yourself can become so. Did you even consider that?”

“I never thought of it that way,” marveled the old man.

“Then go home and think it over,” finished Shinkan.
#46

Kiến thợ

Chào các bạn,

Hồi nhỏ mình hay ngắm các đàn kiến làm việc, hoặc là một đàn kiến vàng lớn đang tha mấy con sâu róm lớn bằng cả mấy chục con kiến từ gốc cây mảng cầu lên tổ kiến gần ngọn, hoặc một đàn kiến lửa tha mỗi con một hạt cơm trong góc nhà, hoặc một đàn kiến đen nhỏ đang tha một con dế chết trong góc sân.

Và ai nhìn kiến làm việc cũng phải phục—một đàn chạy tới chạy lui lăng xăng, nhưng luôn luôn trong một con đường nhỏ ngoằn nghèo như sợi chỉ. Các con tha mồi thì một nhóm ring một miếng mồi khổng lồ, các con chạy ngược chiều thì lại cụng đầu các con khác hỏi thăm chi đó… Rất chăm chỉ, trật tự, và hình như kiến không bao giờ đánh nhau.

Và mình thường tự hỏi, không biết trong đàn kiến này có bao nhiêu cấp chỉ huy, bao nhiêu tướng, bao nhiêu tá, bao nhiêu úy, bao nhiêu lính… Sao mà đoàn quân này kỹ luật và hiệu nghiệm đến vậy? Cách thức tổ chức thế nào?

Mình chưa bao giờ có câu trả lời. Câu trả lời duy nhất mình thấy là mọi con kiến và mỗi con kiến đều như nhau, đều siêng năng, đều làm việc tốt, và mình chẳng phân biệt được con nào với con nào cả.

Ngoại trừ kiến chúa, tất cả các kiến thợ còn lại có hệ cấp hay không, có lẽ chúng biết, nhưng ta không biết. Nhưng điều đó chẳng quan trọng gì với ta cả. Kiến làm việc đoàn kết và bình đẳng—đó là điều ta thấy.

Về sau này, khi suy tư về con người, mình cũng thấy là có lẽ con người cũng như kiến. Từ góc độ của các con người nhìn nhau, chúng ta có sang hèn, giỏi dốt, giàu nghèo, ông thằng… và chúng ta thường xử với nhau bằng hệ cấp.

Nhưng từ một góc độ cao hơn và lớn hơn, từ trên cao nhìn xuống loài người, như ta nhìn đàn kiến, thì các hệ cấp đó đều chẳng nghĩa l‎ý gì cả–Mọi con người đều nhỏ bé như nhau, nhìn như nhau, làm việc cho đoàn người lăng xăng chăm chỉ như nhau. Người khổng lồ nào đang nhìn đàn người đó, chắc là không có những ý ‎ nghĩ bất bình đẳng giữa các con người, như chúng ta thường nghĩ về nhau.

Sự khác biệt là ở nơi góc độ nhìn: Cái nhìn thiển cận ở góc độ ngang nhau, hay cái nhìn lớn từ góc độ cao hơn nhiều.

Vì vậy nếu chúng ta có thể phóng tâm đến tầm cao hơn, để có thề nhìn xuống chính mình và mọi người chung quanh, thì chúng ta có thể có cái nhìn rộng lớn và toàn diện, trong đó bằng cấp, chức vị, tiền bạc, danh tiếng, danh dự, hay bất cứ cái gì ta có đều chẳng nghĩa l‎ý gì cả, và ta cũng chỉ là một con người như anh hàng xóm, đều cùng lăng xăng trong một đoàn người như nhau.

Thế thì vì cớ gì mà ta cứ kềm cái đầu sát mặt đất để kiêu hãnh hão với các thứ vỏ ảo tưởng trên mình?

Những thứ phân chia hệ cấp thực ra chẳng nghĩ lý gì cả. Nhưng vì hệ thống quản lý kinh tế chính trị không hoàn hảo của ta tạo ra đủ thứ lăng nhăng như vậy, chung qui chỉ vì lòng tham của chúng ta—mọi người ham hố những thứ phụ tùng đó—nên chúng ta tranh nhau để có chúng, và để thu được “phần thưởng” do chúng mang lại. Từ đó, ta có hệ cấp, phân chia, tranh giành, và chiến tranh khi tranh giành trở thành quá lớn. Đa số các cuộc cách mạng nhân quyền, dân quyền, xã hội, và các cuộc chiến tranh ý thức hệ trên thế giới, chẳng qua cũng chỉ là tranh giành các cái vỏ bên ngoài này, hay là tranh giành quyền phân phát hoặc quyền ấn định hệ thống phân phát các vỏ này.

Thế giới chắc là sẽ tốt hơn một tí, nếu mỗi ngày bạn có thể phóng tâm lên tầng cao và nhìn xuống đoàn người chi chít lăng xăng dưới chân bạn, như một đàn kiến.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Gipsy Kings và nhạc Rumba Flamenca

Chào các bạn,

Gypsy Kings là tên của một ban nhạc ở Pháp, đến từ vùng Arles và Montpellier. Các thành viên là người Pháp gốc Tây Ban Nha; cha mẹ họ là gitanos, gypsi người Tây Ban Nha gốc Romania, đã tị nạn đến Pháp từ Catalonia, thời nội chiến Tây Ban Nha thời thập niên 1930.

Họ chú trọng nhiều đến nhạc Rumba Catalana, một loại Rumba Flamenco của vùng Catalina, thêm một số âm thanh mới của nhạc pop, và mang Rumba Catalina mới này đển với thính giả toàn thế giới. Nhiều bản nhạc của họ cũng có âm hưởng Salsa, vì vậy rất được ủng hộ trong giới vũ Salsa.

Sau đây mời các bạn nghe một vài bản nhạc nổi tiếng thế giới của Gypsi Kings:

1. Volare
2. Baila Me
3. Bamboleo
4. Djobi Djoba
5. Bem bem bem Maria

Chúc các bạn một cuối tuân lang thang Gypsi ! 🙂

Hoành
.

Gipsy Kings – Volare

.

Gipsy Kings-Baila Me


.

Gipsy Kings Bamboleo

.

Gipsy Kings Djobi Djoba


.

Gipsy Kings – Bem bem bem Maria

Ngày thầy thuốc Việt Nam: Biểu tượng y khoa và Hải Thượng Lãn Ông

Chào các bạn,

Hôm nay ngày 27 tháng 2 năm 2010 là 55 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam, kể từ năm 1955 khi nhà nước Việt Nam ấn định 27/2 là Ngày Thầy Thuốc hàng năm. Chúc các bạn đã và đang trong ngành y tế một ngày nhiều tình yêu và tạ ơn. Y sĩ là việc cứu người. Chẳng còn gì quan trọng cấp kỳ hơn thế.

Nhân Ngày Thầy Thuốc chúng ta hãy nói qua một tí về biểu tượng y tế và Hải Thượng Lãn Ông, được xem như ông tổ của đông y Việt Nam.

Biểu tượng ngành y

Biểu tượng nghề y sĩ là một cây gậy với một con rắn quấn quanh, gọi là Gậy Aesculapius hay Gậy Asklepios, dùng tên của vị thần thuốc men trong thần thoại Hy Lạp. Vị thần này có tên Hy Lạp là Asklepios và tên La Mã là Aesculapius, được xem là một vị thần hiền dịu, chữa lành các bệnh tật về thể xác cũng như tinh thần của con người. Các tín hữu của thần này lập các đền thờ gọi là asclepions, đền thờ Asklepios, đền thờ chữa bệnh. Đền thờ lớn nhất tọa lạc trong một khu vườn rộng rãi ở Corinth, một thành phố rất lớn thời cổ đại. Người bệnh khắp nơi đến đền thờ, ngủ lại đêm để chờ lấy thuốc, và thường cúng cho thần một con gà.

Aesculapius có nhiều con, kể cả Hygieia, nữ thần của sức khỏe, từ đó có chữ hygiene (vệ sinh), và Panaceia, nữ thần chữa bệnh, từ đó có chữ panacea, thần dược vạn năng.

Gậy Aesculapius là biểu tượng của y tế tại nhiều nơi trên thế giới kể cả American Medical Asociation và Bộ Y Tế Việt Nam.

Tuy vậy, ngày nay, nhiều nơi đã nhầm lẫn và dùng Gậy Caduceus làm biểu tượng y tế. Gậy Caduceus (phát âm /kəˈdjuːsiəs, -ʃəs/, từ tiếng Hy Lạp kerykeion κηρύκειον) là một cây gậy ngắn với hai cánh ở đầu và hai con rắn quấn quanh thân.

Gậy này trước là do Iris mang. Iris là thần thông tin của nữ thần Hera, vợ của vua trời Zeus. Sau này, gậy này đổi tên là Đũa Thần của Hermes, vì thần Hermes mang nó. Gậy này về sau lại là biểu tượng của thần Mercury, hành tinh trong Thái dương hệ.

Dù chẳng liên hệ gì đến y ‎ tế, ngày nay gậy Caduceus được dùng là biểu tượng y tế nhiều nơi, chỉ vì người ta lẫn lộn nó với gậy Asclepius.

Ông tổ Đông Y Việt Nam

Ở Âu Mỹ, Hippocrates của Hy Lạp (460 B.C. – 377 B.C.) được xem là thủy tổ của y học.

Ở Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông ngày nay được xem là biểu tượng cho y sĩ. Hải Thượng Lãn Ông (“Ông già lười Hải Thượng”) là biệt hiệu của danh y Lê Hữu Trác.

Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý 1720 tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Khi ấy, 20 tuổi, ông vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, nhưng xã hội bấy giờ rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi, ông bắt đầu nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ, “nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình”.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, nhiệt tình chữa khỏi.

Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc “Phùng thị cẩm nang” và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền cho ông.

Ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu “Hải Thượng Lãn ông”. Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. “Lãn ông” nghĩa là “ông lười”, ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi.

Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ “Y tôn tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn ông.

Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.

Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh là công trình y học suất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học. (Theo Wikipedia)

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Đúng và Sai

Khi Bankei mở mùa an cư kiết hạ, đệ tử từ nhiều nơi trên đất Nhật về tham dự. Trong một buổi thiền định, một đệ tử bị bắt gặp đang ăn cắp. Vấn đề được bẩm báo lên Bankei, với yêu cầu là người đệ tử ăn cắp bị đuổi. Bankei lờ vụ này.

Sau đó đệ tử này lại bị bắt gặp ăn cắp như vậy, và một lần nữa Bankei lờ vấn đề. Chuyện này làm các đệ tử khác tức giận; họ viết một thỉnh nguyện thư yêu cầu kẻ cắp bị đuổi, nói rằng nếu không thì họ sẽ rời bỏ.

Sau khi đọc lá thơ, Bankei gọi mọi người đến. “Các anh em rất thông thái,” thiền sư nói với họ. “Anh em biết cái gì đúng và cái gì không đúng. Anh em có thể theo học nơi khác nếu muốn, nhưng người anh em khốn khó này chẳng biết đúng sai. Ai sẽ dạy anh ta nếu tôi không dạy? Tôi sẽ giữ anh ta lại đây dù là tất cả các anh em rời bỏ.”

Một suối lệ chảy dàn dụa trên mặt người đệ tử ăn cắp. Tất cả mọi ham muốn trộm cắp đã tan biến.
.

Bình:

• Thường thì những người tự cho mình là đạo đức, hay ít nhất là mình không xấu, thì thường tìm cách lánh xa và xua đuổi những người họ cho là xấu.

Tuy nhiên, “Người mạnh khỏe không cần y sĩ, nhưng người bệnh thì cần.” (Kinh thánh Thiên chúa giáo, Matthew 9:12)

• Hơn nữa, đồ tể buông đao thành Phật. Không thể nói ai sẽ thành Phật trước—người ăn cắp hay người không ăn cắp.

• Thiền là “vô tâm”, không phân biệt học trò giỏi dở tốt xấu. Lo cho mọi học trò như nhau.

• Thực ra thì ai đúng ai sai? Kẻ cắp đương nhiên biết rằng trộm cắp là sai (chỉ là do yếu đuối vì lý do nào đó mà làm bậy). Các đệ từ khác thiếu trí tuệ, thiếu từ tâm, nhưng lại vẫn nghĩ là mình đúng đến nỗi áp lực cả thầy.

Thế thì ai hiểu biết, và ai si mê?

An cư kiết hạ là mùa chư tăng không ra ngoài, cùng ở nhà với nhau để giữ gìn sức khỏe và học tập tăng cường đạo lực. Tại Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, mùa này bắt đầu từ ngày 16 tháng 4, đến rằm tháng 7, là ngày Tự Tứ đồng thời là Lễ Vu Lan, tổng cộng 90 ngày.

• Bankei là thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác mà ta đã nói đến trong bài Giọng nói của hạnh phúc.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Right and Wrong

When Bankei held his seclusion-weeks of meditation, pupils from many parts of Japan came to attend. During one of these gatherings a pupil was caught stealing. The matter was reported to Bankei with the request that the culprit be expelled. Bankei ignored the case.

Later the pupil was caught in a similar act, and again Bankei disregarded the matter. This angered the other pupils, who drew up a petition asking for the dismissal of the thief, stating that otherwise they would leave in a body.

When Bankei had read the petition he called everyone before him. “You are wise brothers,” he told them. “You know what is right and what is not right. You may go somewhere else to study if you wish, but this poor brother does not even know right from wrong. Who will teach him if I do not? I am going to keep him here even if all the rest of you leave.”

A torrent of tears cleansed the face of the brother who had stolen. All desire to steal had vanished.

# 45

Malagueña Salerosa – bản nhạc lãng mạn Mê-hi-cô của mọi thời đại

Chào các bạn,

Ai đã nghe qua nhạc Flamenco đều biết đến Malagueña Salerosa, hay còn gọi tắt là Malagueña. Bản này đã được mọi nghệ sĩ guitar và vũ flamenco khắp thế giới trình diễn trong vòng hơn 60 năm nay, kể từ khi được hai nhạc sĩ Mê-hi-cô Elpidio Ramírez và Pedro Galindo cho ra đời trên Peer International năm 1947.

Bản nhạc là lời tỏ tình chân chất của một chàng thanh niên nghèo với một cô gái rằng nàng rất đẹp, và chàng rất yêu nàng, nhưng chàng sẽ hiểu nếu nàng từ chối tình yêu vì chàng nghèo quá.

Một cuộc tình say đắm, một chiều, nhưng với hiểu biết, và không cay đắng.

Mắt em đẹp làm sao
Dưới đôi chân mày
Dưới đôi chân mày đó
Mắt em đẹp làm sao!

Mắt em muốn tôi ngắm nhìn
Mắt em muốn tôi ngắm nhìn
Nhưng chỉ nếu em không rời đôi mắt
Dù chỉ để chớp mắt.

Malaguena Salerosa
Tôi muốn hôn môi em
Tôi muốn hôn môi em
Malaguena Salerosa.

Nếu em xem thường tôi vì nghèo
Tôi hiểu lý do
Tôi hiểu lý do
Nếu em xem thường tôi vì nghèo.

Tôi không tặng em giàu có
Tôi tặng em quả tim tôi
Tôi tặng em quả tim tôi
Để thay cái nghèo của tôi

Và tôi nói với em, hỡi người đẹp ơi,
Em đẹp và huyền diệu
Em đẹp và huyền diệu
Như hoa hồng tinh khiết

(TĐH dịch)

Malaguena Salerosa

What pretty eyes you have
Underneath those two eyebrows
Underneath those two eyebrows
What pretty eyes you have!

They want me to watch them,
but (only) if you don’t leave them
but (only) if you don’t leave them,
not even to blink.

Malaguena Salerosa
I wanted to kiss your lips
I wanted to kiss your lips
Malaguena Salerosa.

If you despise me for being poor,
I grant you reason,
I grant you reason,
If you despise me for being poor.

I do not offer you wealth,
I offer you my heart.
I offer you my heart,
In exchange for my poverty.

And to tell you, beautiful girl,
You are pretty and magical
You are pretty and magical
Like the candor of a rose.

Bản nhạc này được ca si Mê-hi-cô Miguel Aceves Mejia làm nổi tiếng trong một cuốn phim Mê-hi-cô, và Jose Feliciano, được xem như người trình tấu guitar Flamemco bản này hay nhất thế giới.

Sau đây mời các bạn thưởng thức:

1. Malaguena qua tiếng guitar Flamenco của Jose Feliciano
2. Malaguena qua tiếng hát của Miguel Aveces Mejia
3. Ca sĩ/tài tử đẹp trai Antonio Banderas trong đoạn mở đầu phim Once Upon A Time in Mexico, với Malaguena là nhạc nền.
4. Malaguena do ban nhạc rock Mê-hi-cô ở Austin, Texas, Mỹ, tên là Chingon, trình diễn ngày ra mắt cuốn phim Kill Bill II (Bản này có trong nhạc nền của phim).

Chúc các bạn một ngày lãng mạn!

Hoành
.

Jose Feliciano – Malagueña Salerosa

.

MIGUEL ACEVES MEJIA hát “LA MALAGUEÑA”


.

Antonio Banderas – La Malagueña (Érase Una Vez En México)


.

Chingon – Malaguena Salerosa (Kill Bill 2)

Kẻ cướp thành môn đệ

Một buổi tối khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên cướp cầm một thanh gươm bén vào nhà, đòi tiền, nếu không thì chết.

Shichiri bảo tên cướp: “Đừng làm rộn tôi. Anh có thể tìm tiền trong hộc tủ đó.” Rồi thiền sư tiếp tục tụng kinh.

Một lúc sau thiền sư ngừng và gọi: “Đừng lấy hết tiền. Tôi cần một ít để đóng thuế ngày mai.”

Kẻ gian lấy gần hết số tiền và sửa soạn ra về. “Cám ơn khi nhận được quà,” Shichiri nói thêm. Chàng cướp cám ơn thiền sư rồi đi mất.

Vài ngày sau chàng cướp bị bắt và thú tội, ngoài các tội khác, còn có tội với Shichiri. Khi được gọi ra làm chứng, Schichiri nói: “Anh này chẳng phải là trộm cướp, ít ra là đối với tôi. Tôi cho anh ta tiền và anh ta cám ơn tôi về việc đó.”

Sau khi mãn hạn tù, anh chàng này đến gặp Shichiri và thành đệ tử của Thiền sư.
.

Bình:

• Từ bi hoán cải.

• Nhưng, Shichiri đối xử từ bi với một tên cướp, hay Shichiri chỉ đối xử bình thường với một người trong nhà—Schichiri xem tên cướp, và tất cả mọi người khác trong thiên hạ, như là người nhà của mình?

Để trả lời, xin đọc lại lời đối thoại.

• Tiếng Anh, “thief” nên dịch là “kẻ trộm”. Tuy nhiên, trong truyện có nói cầm gươm dọa, thì phải là “cướp” (robber) mới đúng.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Thief Who Became a Disciple

One evening as Shichiri Kojun was reciting sutras a thief with a sharp sword entered, demanding either money or his life.

Shichiri told him: “Do not disturb me. You can find the money in that drawer.” Then he resumed his recitation.

A little while afterwards he stopped and called: “Don’t take it all. I need some to pay taxes with tomorrow.”

The intruder gathered up most of the money and started to leave. “Thank a person when you receive a gift,” Shichiri added. The man thanked him and made off.

A few days afterwards the fellow was caught and confessed, among others, the offence against Shichiri. When Shichiri was called as a witness he said: “This man is no thief, at least as far as I am concerned. I gave him money and he thanked me for it.”

After he had finished his prison term, the man went to Shichiri and became his disciple.

# 44

Mr. C The Slide Man – Cha Cha Slide

Chào các bạn,

Một anh dạy thể dục aerobics tên là William Perry (còn gọi là Mr. C hay The Slide Man) biến màn thể dục của anh thành dance hit, năm 2000, khi anh liên kết với đài phát thanh WGCI/Chicago và đưa nhạc vào man thể dục hàng ngày của anh. Đài phát thanh này quảng bá CD và các DVD dạy vũ (thể dục), và từ đó bản nhạc thành dance hit ở vùng Midwest nước Mỹ.– Cha Cha Slide.

Universal Records nhập bọn và đồng ý phát hành CD này rộng rãi. Từ đó Cha Cha Slide trở thành dance hit trên đất Mỹ và thế giới.

Lời nhạc chỉ là các lời như nhạc Rap, của huấn luyện viên thể dục, và vũ thì cũng chỉ là các chuyển động thể dục giản dị.

Các bạn có thể dùng bản này để tập aerobics. Lời “nhạc” theo dưới video.

Sau đó, chúng ta có hai video dạy khiêu vũ cha cha cha cho các bạn thích học vũ. Video đầu căn bản hơn, video thứ hai cao hơn một tí.

Chúc các bạn một ngày cha cha cho khỏe người !

Hoành
.
Mr. C The Slide Man – Cha Cha Slide

Clap your hands everybody
Slide to the left
Take it back now yal
One hop this time
Right foot lets stomp
Left foot lets stomp
Cha Cha now yal

To the left
Take it back now yal
Two hops this time
Two on the left
Two on the right
Cha Cha now yal

Slide to the right
Slide to the left
Take it back now yal
One hop this time
Right foot lets stomp
Left foot lets stomp
Charlie Brown
Cha Cha now yal

Five hops this time
Touch your knees
How low can you go
Can go down low
All the way to floor
Can you bring it the top
Like you never never stop
One hop this time
Right foot lets stomp
Left lets stomp

Reverse Reverse
Reverse Reverse

Cha Cha now yal

How to Dance the Cha Cha : Basic Cha-Cha Dance Steps – Franco Peraza & Valerie Levine


.

How to Dance the Cha-Cha : Demonstration of Cha-Cha Dancing – Kelly-Anne and Steve Vean Louis

Thông báo học bổng tu nghiệp: Revenue Watch Institute fellowship

From: Rebecca Iwerks

Dear Colleagues,

I am happy to announce below and attached that RWI is accepting applicants for the 2010 Petrad and Capacity Advancement Fellowships.  Please distribute widely and send in applications by March 19th, 2010 to fellowships@revenuewatch.org.

Best regards,

Rebecca

RWI Capacity Advancement Fellowship in Extractives

The Revenue Watch Institute (RWI) and the Oil for Development Program (OfD) of the Norwegian Agency for Development Cooperation are pleased to announce that we are accepting applications for the 2010 Capacity Advancement Fellowship in Extractives (CA Fellows) program. The deadline for application is March 19th 2010. The program seeks to broaden and deepen the role of the next generation of civil society activists in promoting the better management of oil, gas and minerals for the public good.  The fellowship is open to civil society activists from the following OfD countries: Afghanistan, Angola, Bolivia, Cambodia, Ecuador, Ghana, Ivory Coast, Iraq, Madagascar, Mauritania, Mozambique, Nigeria, São Tomé e Principe, Sudan, Tanzania, Timor-Leste, Uganda, and Vietnam.

Description:

The CA Fellowship aims to build the capacity of mid-career civil society activists by deepening their understanding of the extractive industries and broadening their skills to connect local, national, and international campaigns.  Fellows are expected to return to their organizations and coalitions with specific knowledge and skills that will enable them to better meet current challenges and develop broader training, advocacy, and research agendas. The program targets key individuals to develop a cadre of future leaders in the extractive industries transparency campaigns.

The year-long fellowship has two components – a period of focused learning and research in New York and a period of application of that learning in their own countries.

During the first half of the program, from August 2010 through January 2011, CA Fellows will be placed at the Revenue Watch Institute office in New York. Fellows will investigate international best practices for extractive resource management and governance and take part in: extractive industry related classes at leading academic institutions, donor and civil society networking events, hands-on support for original research and day-to-day RWI projects activities. Throughout this period they will be partnered with an expert mentor. Fellows are responsible for producing a paper that captures their investigations and learning at the end of this period.

After they return to their home organizations, CA Fellows will implement a project based on their new learning and experience, with the continued support of their expert mentor. They may apply for funding from the fellowship to support this work.  Revenue Watch will publish a short report from each fellow online at the culmination of the year, to highlight what was learned and the impact of the fellow’s activities.

RWI will work with the CA Fellows to co-develop a tailored capacity-building program that corresponds to their particular interests, goals and the primary challenges they expect to face in their revenue governance campaigns upon their return home.  CA Fellows will receive full financial support for the duration of their term in New York, including travel, accommodation and a living stipend.  Financial support for the implementation of home country projects may also be available after competitive review.

Criteria:

The CA Fellowship is designed for mid-level civil society activists involved in extractive industry transparency and management campaigns.  The successful candidate will have introductory knowledge of the extractive industry and related international campaigns, and a position within their organization and career enabling them to capitalize on a significant increase in learning. While exposure to other training opportunities is a plus, it is not required, and applicants must explain how this fellowship opportunity will add particular value to their development and work.  Preference will be given to applicants from newly producing countries or from contexts where civil society is newly engaged in extractive issues.

The successful CA Fellowship candidate will have, at minimum, an undergraduate degree/equivalent; a background in civil society research, monitoring and activism around extractive revenue transparency; a commitment to return to their country and continue their current campaign; a strong ability to work independently; and good English skills. They also must have the explicit support of their current home organization to pursue all aspects of this fellowship.

To apply, please send the following to Page Dykstra at fellowship@revenuewatch.org or fax at +1.212.548.4618 with ‘CA Fellowship’ in the subject line no later than March 19th, 2010:

A. Completed application form;

B. CV or resume;

C. Letter from your current manager/head of your organization recommending you for the fellowship and committing to support fellowship and post-fellowship activities.  This letter should include a brief description of the organization’s work related to extractive industries;

D. An essay (no more than 3 pages) that includes:

  • An outline of extractive related issues in your country and the current work you, your organization, and civil society groups broadly are doing in response;
  • An outline of what you will seek to learn and achieve during the fellowship opportunity;
  • A description of how you will use the learning and products from the fellowship on return to your country and organization; and
  • A description of how this fellowship fits into your current career goals.

All candidates will be judged in an open and competitive selection process that will rate them based on: the relevance of their work experience, training and education; their technical knowledge of the extractives sector; their space and commitment to apply newly acquired knowledge and skills; and their ability to meet the specific mental, relational, and academic challenges of the fellowship.  Short-listed candidates from each region will be interviewed by RWI staff as well as outside advisors.  Additional references may be requested.

RWI Petrad Fellowship

The Revenue Watch Institute (RWI) and the Oil for Development Program (OfD) of the Norwegian Agency for Development Cooperation are pleased to announce that we are accepting applications for the 2010 RWI Petrad Fellowship. The deadline for application is March 19th 2010. The programs seeks to accelerate civil society leaders’ effectiveness in promoting the better management of oil, minerals, and gas for the public good and is open to civil society activists from the following OfD countries: Afghanistan, Angola, Bolivia, Cambodia, Ecuador, Ghana, Ivory Coast, Iraq, Madagascar, Mauritania, Mozambique, Nigeria, São Tomé e Principe, Sudan, Tanzania, Timor-Leste, Uganda, and Vietnam.

Description:

The Petrad Fellowship aims to enable fellows to return to their home organization or coalition equipped to immediately take their campaigns to a more technical and informed level and share this knowledge with their colleagues over time.  By targeting leaders in the movement, this program aims to quickly raise civil society’s ability to engage in technical debates surrounding extractive industries.

Fellows in this 8 week program will be sponsored to attend a course in Stavanger, Norway on Petroleum Policy and Natural Resource Management run by Petrad (www.petrad.no). This intensive course spanning the entire extractive industries value-chain is usually only open to senior government officials. To help bridge the knowledge and skills gained in this course to their work in their home country, the fellows will be provided with a mentor before, during and after the coursework.  Fellows will be expected to conduct the background reading, meet regularly with their mentor, participate actively and constructively in the course in Stavanger, and provide RWI with a report about how they will apply their learning from Stavanger upon their return.

Petrad Fellows will be provided with travel, course tuition, and accommodation for their stay in Stavanger.

Criteria:

The Petrad Fellowship is targeted towards civil society leaders in extractive industry transparency and management campaigns that will be able to quickly apply this new and deepened knowledge of industry policy. The successful candidate must have sufficient background in issues related to petroleum extraction to engage in nuanced discussions about policy and its application.  They also should be in a leadership role in their current organization or coalition that will enable them to promote direct change as a result of the experience.  Preference will be given to newly producing countries or context where civil society is new to engage in extractive issues.

The successful candidate will have, at minimum: an undergraduate degree/equivalent; a background in civil society research, monitoring and activism around extractive revenue transparency; a dedicated commitment to return to their country and their current campaigns; a strong ability to constructively debate issues with multiple actors; and excellent English skills. They also must have the explicit support of their current home organization to pursue all aspects of this fellowship.

Application:

To apply, please send the following to Page Dykstra at fellowship@revenuewatch.org or fax at +1.212.548.4618 with ‘Petrad Fellow’ in the subject line no later than March 19, 2010:

A. Completed application form;

B. CV or resume;

C. Letter from your current manager/head of your organization recommending you for the fellowship and committing to support fellowship and post-fellowship activities.  This letter should include a brief description of the organization’s work related to extractive industries;

D. An essay (no more than 3 pages) that includes:

  • An outline of extractive related issues in your country and the current work you, your organization, and civil society groups broadly are doing in response;
  • An outline of what you will seek to learn and achieve during the fellowship opportunity;
  • A description of how you will use the learning and products from the fellowship on their return to your country and organization; and
  • A description of how this fellowship fits into your current career goals.

All candidates will be judged in an open and competitive selection process that will rate them based on: the relevance of their work experience, training and education; their technical knowledge of the extractives sector; their space and commitment to apply their newly acquired knowledge and skills; and their ability to meet the specific mental, relational, and academic challenges of the fellowship.  Short-listed candidates from each region will be interviewed by RWI staff as well as outside advisors.  Additional references may be requested.

Rebecca Iwerks | Program Officer for Capacity Building

Revenue Watch Institute   | 1700 Broadway| New York, NY 10019

Office: +1 212-548-0136  | Mobile: +1 917 496 9264

www.revenuewatch.org

Thiền trong đời của gã ăn mày

Tosui là một Thiền sư nổi tiếng vào thời của ngài. Tosui đã trụ trì vài chùa và dạy ở nhiều tỉnh.

Chùa cuối cùng Tosui viếng thăm thu hút nhiều môn sinh đến nỗi Tosui nói với họ là ngài sẽ bỏ việc giảng dạy vĩnh viễn. Tosui khuyên họ ra về và đi đâu tùy ý. Sau đó chẳng còn ai biết tông tích ngài ở đâu.

Ba năm sau một đệ tử của Tosui khám phá ra ngài đang sống với vài người hành khất dưới một gầm cầu ở Tokyo. Người đệ tử lập tức nài nĩ Tosui dạy mình.

“Nếu cậu có thể làm như tôi làm, dù chỉ đôi ba ngày, thì tôi có thể dạy,” Tosui trả lời.

Vậy người đệ tử mặc áo quần như hành khất và theo Tosui cả ngày. Đến đêm một người trong đám ăn mày chết. Tosui và người đệ tử khiêng xác nửa đêm và chôn xác trên sườn núi. Rồi họ trở về lại chỗ ở dưới gầm cầu.

Tosui ngủ ngon lành, nhưng người đệ tử không ngủ được. Đến sáng Tosui nói: “Chúng ta không phải đi xin đồ ăn hôm nay. Ông bạn vừa chết của mình đã để lại ít thức ăn đằng kia.” Nhưng người đệ tử chẳng ăn nổi miếng nào.

“Tôi đã nói là cậu không làm như tôi được,” Tosui kết luận. “Đi đi và đừng làm phiền tôi nữa.”
.

Bình:

• Tosui Unkei, thiền sư dòng Tào Động (Soto), là thiền sư lập dị nhất trong lịch sử Thiền Nhật Bản. Ngày nay nhiều người so sánh Tosui với thánh Francis of Assisi (Thiên chúa giáo), hay gọi Tosui “Chàng hippy đầu tiên”, và sách về cuộc đời của Tosui được gọi là “Hippy nhập môn.”

100 năm sau khi Tosui qua đời, thiền sư học giả Menzan Zuiho (1683-1769), thu nhặt tài liệu và các truyện truyền khẩu, viết lại quyển sách về cuộc đời của Tosui. Quyển này ngày nay đã được dịch sang tiếng Anh dưới tên “Letting go: The Story of Zen Master Tosui.” Có thể đọc quyển này trên Google Books.

• Tosui xem ra không thích học trò nghe mà không thực hành. Thường thì nghìn người nghe may ra được một người thực hành nghiêm chỉnh. Bao nhiêu người trong chúng ta đã nghe, đọc, và xem phim ảnh sách vở về tập thể dục. Bao nhiêu người đang tập hàng ngày? Hay là kinh sách Phật? Hay là Thánh Kinh?

Đa số người có ảo tưởng là cứ xem hay đọc điều gì thì mình sẽ có điều đó trong mình. Cứ xem phim Superman và Batman cả đời xem ta có thể thành Superman hay Batman không?

• Có lẽ, đối với Tosui, mang an lạc của Thiền đến cho vài người ăn mày, dưới đáy xã hội, có ý nghĩa hơn là giảng cho cả nghìn người mà chẳng mấy ai thực hành.

• Thực ra Tosui đã dạy cho người đệ tử kèo nài xin theo học rồi. Anh này chỉ học không nổi mà khôi. Thiền là sống thoải mái trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bất kỳ nơi đâu. Kể cả sống đời ăn mày. Sống “ở đây lúc này.”

Anh đệ tử này chỉ thích “nghe” giảng, nhưng thầy chỉ muốn học trò “sống”.

• Thiền là sống không vướng mắc. Vậy thôi.

Mê nghe lời thầy giảng là một vướng mắc lớn. Cả “lời giảng” lẫn “nghe giảng” đều không phải là “sống.”

Thầy muốn thử xem nếu mình phải sống như ăn mày, mình có thể sống với tâm không vướng mắc không?

Sống không QUEN, thì đương nhiên rồi. Ví dụ là khó ngủ vì lạ nơi.

Nhưng không MUỐN ăn đồ ăn của bạn mình vừa chết lại là chuyện khác. Đây là vướng mắc lớn về ý chí.

Hai vướng mắc này rất lớn: Việc nên làm (i.e., ăn) thì không làm. Việc không cần (lời gỉảng) thì lại cầu.

Rất khó để “thấy đường”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Zen in a Beggar’s Life

Tosui was a well-known Zen teacher of his time. He had lived in several temples and taught in various provinces.

The last temple he visited accumulated so many adherents that Tosui told them he was going to quit the lecture business entirely. He advised them to disperse and go wherever they desired. After that no one could find any trace of him.

Three years later one of his disciples discovered him living with some beggars under a bridge in Kyoto. He at once implored Tosui to teach him.

“If you can do as I do for even a couple days, I might,” Tosui replied.

So the former disciple dressed as a beggar and spent the day with Tosui. The following day one of the beggars died. Tosui and his pupil carried the body off at midnight and buried it on a mountainside. After that they returned to their shelter under the bridge.

Tosui slept soundly the remainder of the night, but the disciple could not sleep. When morning came Tosui said: “We do not have to beg food today. Our dead friend has left some over there.” But the disciple was unable to eat a single bite of it.

“I have said you could not do as I,” concluded Tosui. “Get out of here and do not bother me again.”

# 43

Kiến thức giả

Chào các bạn,

Hàng ngày chúng ta nghe báo chí nói nhiều về hàng giả: hàng hiệu giả, rau quả giả , thực phẩm giả… Nhưng ít thấy ai nói về kiến thức giả, dù rằng kiến thức giả là một hiện tượng lớn.

Trong pham vi bài này, chúng ta chỉ dùng các từ “kiến thức” và “giả” theo cách mọi người hay dùng hàng ngày, chẳng có gì đặc biệt cả. Cho nên, các bạn không nên nghĩ về hai từ này như là hai từ triết lý, vì triết lý đến tận cùng như triết l‎ý Phật gia thì mọi kiến thức đều là giả. Hết chuyện nói. 🙂

Không biết chuyện mà cứ nói như là mình biết, đó là giả. (Và chữ “biết” trong câu này cũng là chữ tương đối ta dùng hàng ngày, không phải là chữ “biết” triết lý).

Hãy lướt qua các kiến thức giả ta thường thấy hàng ngày, theo mức độ lớn nhỏ ta thấy, lớn trước nhỏ sau:

1. Lảm nhảm các từ chính trị dù rằng mình biết là nó chẳng nghĩa l‎ý gì trong thực tế, hoặc mình chẳng hiểu nó là gì.

Điều này thì ta thấy trên báo chí, diễn văn, và bài vờ có mùi chính trị trên Internet hàng ngày. Trong các nơi chứa kiến thức giả, thì chính trị là nơi có nhiều nhất. Vẹt nói rất nhiều.

2. Kế đến là các từ tôn giáo, nhất là các từ tôn giáo trong các bài viết chính trị.

Người viết thường là chẳng hiểu tí gì về các từ dùng, hoặc là cố tình dùng nó phản lại ‎nghĩa nguyên thuỷ của nó.

3. Mở miệng ra là “Tử nói”, “Phật nói”, “Decartes nói,” “Pascal nói”… mà không biết rằng câu nói đó chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện đang nói.

4. Nói chuyện theo công thức.

Nguyên một bài diễn văn hai tiếng đồng hồ, có thể chỉ là một con số zero to tướng, vì chỉ toàn là khẩu hiệu (chính trị) cộng lại, như là một công thức toán cộng, chẳng có nghĩa lý gì cả, người nghe chẳng nắm được điều gì cả ngoại trừ những khẩu hiệu và công thức rỗng tuếch nghe đã vài nghìn lần, như là: dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh, phát triển dân chủ cơ sở, nhân quyền nhân bản, tư bản xã hội, tự do kinh tế, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do ngôn luận, dân chủ tự do, công bình bác ái… kiểu AQ đọc diễn văn. Như là dùng computer chọn các khẩu hiệu và công thức bẳng cách may rủi và ghép lại theo cách may rủi, sau đó lên cầm micro đọc. Lâu lâu có dịp tra tấn thiên hạ.

(Nói thì dễ rồi, nghe được năm này qua năm kia mới là siêu! Mà người nói có biết là họ nói vẹt không, hay là họ thực sự hiểu được họ nói gì, mà không ai khác thấy gì cả?).

5. Mới học được đâu đó vài ba chữ mới, xổ ngay ra một chùm, trong khi chính người nói cũng chưa thật sự hiểu được nó là gì, vì mới đọc được loáng thoáng đâu đó.

6. Thích xổ cổ ngữ và ngoại ngữ dù mình chưa hiểu đến nơi.

Trong văn hóa thế giới, đôi khi mình phải kèm theo ngoại ngữ để người đọc hiểu đúng ý mình, vì nói về một câu chuyện ở Đức chẳng hạn, thì một số từ tiếng Việt không đủ chính xác để diễn tả, phải kèm theo tiếng Đức. Đó là chuyện đương nhiên. Ở đây, ta chỉ muốn nói đến các vị thích xổ La Tinh, Hán ngữ, ngoại ngữ cho dù rằng mình chẳng hiểu được sâu xa chữ mình nói.

7. Biết chỉ được một tí, mà nói là biết nhiều.

Vi dụ: “Tôi chắc chắn chuyện này nó phải thế này”, thay vì: “Theo kinh nghiệm của tôi trong hai năm nay, thì chuyện này thường là thế này. Có ngoại lệ không thì tôi chưa được gặp.”

Hay là: “Kiến thức của thầy về việc này chỉ tới đó. Mai này em có thể học cao hơn và nghiên cứu cao hơn. Rồi lúc đó em cho thầy biết kết quả nghiên cứu của em.”

8. Cứ lôi các câu trong sách ra nói, nhất là sách cổ, mà chẳng hiểu gì hoặc chẳng giải thích rõ thêm được gì.

Đây là do lối học từ chương, học thuộc lòng như vẹt mà ra. Nếu không giải thích được cho người nghe, thì đó là vì mình dốt chứ không phải người nghe dốt. Làm ơn tôn trọng sự thông minh của người nghe, và thành thật với cái dốt của mình.

9. Nói mà không ai hiểu được mới giỏi.

Thường là người viết/nói cũng chẳng biết mình viết/nói gì. Nhưng như thế mới là thông thái!

Qui luật viết/nói ngày nay: Tôi viết cho bạn, hoặc nói với bạn, mà bạn không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi nói tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi nghe tồi.

Kiểu kiến thức ngày xưa của các ông đồ nho nói chữ Hán dân quê không hiểu tí gì và phục sát đất, thời bán khai đó đã qua rồi. Ngày nay, anh nấu ăn mà tôi ăn không ngon là anh nấu tồi, chứ không phải tôi ăn tồi. Anh nói tôi không hiểu , đó là vì anh không biết nói, chứ không phải tôi không biết nghe.

Các bạn có thể thêm vào vài ví dụ nữa về vấn đề kiến thức giả.

Điều quan trọng ở đây là chúng ta cần thành thật.

Thành thật là khởi nguồn của trí tuệ.

Thành thật với chính mình để biết kiến thức của mình đến đâu, mình biết đến đâu, và đâu chưa biết.

Rồi thành thật với mọi người, biết đến đâu nói biết đến đó, điều gì chưa chắc thì nói là chưa chắc, điều gì chưa biết thì nói là chưa biết.

Chỉ một chữ “thành thật” thôi, có gì phức tạp đâu. Sao mà khó quá vậy? Sao mà nhiều vấn đề quá vậy?

Nếu chúng ta tiếp tục để kiến thức giả phát triển quá nhiều trên đất nước, kiến thức thật sẽ tiếp tục bị ngộp thở mà chết, như là cây tốt bị chết ngợp giữa đám cỏ hoang.

Các vị giáo chức bị buộc phải dạy các em những điều mình không tin hay chưa tin, vì mình chưa nắm vững vấn đề hoặc mình tin là nó sai, các vị có thể làm một bước trưởng thành tâm linh rất lớn cho đời mình, bằng cách nói với thủ trưởng: “Anh làm ơn cho tôi dạy môn khác, tôi thật là không thể tự dối lòng, huống hồ là dối các em.”

Làm được như vậy là Phật tâm đó! Đó là từ bi bác ái với học trò của mình, và tích cực đóng góp vào việc phát triển tương lai của tổ quốc.

Truyền bá kiến thức mình không tin, là truyền bá kiến thức giả. Đừng làm vậy, nhất là đối với các học trò nhỏ. Giáo dục giả là tội rất lớn với tổ quốc, và với Chúa Phật, vì đó là tích cực hủy hoại đầu óc tuổi trẻ.

Trí tuệ lệ thuộc vào thành thật. Và đôi khi, can đảm.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

ESPAÑA CAÑI (Vũ điệu Gipsy Tây Ban Nha) và vũ điệu Paso Doble

Chào các bạn,

Trong các bản nhac để khiêu vũ vũ điệu đấu bò sinh động Paso Doble, thì España Cañí là bản nhạc số 1 trên thế giới.

España Cañí có nghĩa là “Spanish Gypsy” hay Gipsy Tây Ban Nha. Gipsy là những nhóm người du sinh, gốc Romania và nói tiếng Romany, sống lang thang khắp Âu Châu, sống bằng cách làm thuê theo mùa và buôn bán lặt vặt. Họ thường dùng nhạc và vũ Flamenco hoặc múa bụng, để kêu gọi khách hàng đến quầy hàng của mình, như Sơn Đông mãi võ bán thuốc dạo.

España Cañí, còn có tên là Spanish Gypsi Dance, nguyên thủy là nhạc Flamenco cho guitar Flamenco, do Pascual Marquina Narro (1873-1948) viết vào khoảng năm 1925. Tuy nhiên vì nó quá phổ thông, ngày nay ta thường nghe bản này với dàn đại hòa tấu, hoặc với ban nhạc trong các dạ vũ.

Đây cũng là bản nhạc thường được chọn trong các cuộc biểu diễn hoặc thi đấu vũ điệu Paso Doble.

Hôm nay chúng ta sẽ nghe bản nhạc này, cùng thưởng thức một số màn trình diễn vũ điệu Paso Doble:

1. Dàn Nhạc của soạn giả, nhạc trưởng kiêm nghệ sĩ vĩ cầm Andre Rieu, với dàn vũ minh họa.

2. Dàn hòa tấu vĩ đại chỉ toàn guitar.

3. Thi đấu Paso Doble tại giải IDSF Grand Slam Final 2005.

4. Riccardo Cocchi – Yulia Zagoruychenko biểu diễn Paso Doble, Disney 2016

Chúc các bạn một ngày Paso !

Hoành
.

1. Andre Rieu – Espana Cani (DRESDEN 2008) DIGITAL TV


.

2. ESPAÑA CAÑI – Guitar Ensemble

.

3. Giải IDSF Grand Slam Final 2005 – Vũ Điệu Paso Doble

.

4. Riccardo Cocchi – Yulia Zagoruychenko | Disney 2016 | Showdance Paso Doble