All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Người cho nên cám ơn

Lúc Seisetsu giảng dạy tại chùa Engaku ở Kamakura, thiền sư cần phòng ốc rộng hơn, vì nơi giảng dạy của thầy đã quá chật. Umezu Seibei, một thương gia ở Edo, quyết định là sẽ tặng 500 đồng vàng, gọi là ryo, vào việc xây trường rộng thêm. Umeza mang tiền đến cho thiền sư.

Tranh Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma do thiền sư Seisetzu vẽ

Seisetsu nói: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.”

Umezu trao bao vàng cho Seisetsu, nhưng không hài lòng với thái độ của thiền sư. Một người có thể sống cả năm với chỉ 3 ryo, nhưng thương gia này không nhận được cả một tiếng cám ơn.

“Trong bao đó có 500 ryo,” Umezu nhắc khéo.

“Anh đã nói cho tôi biết rồi,” Seisetsu trả lời.

“Dù tôi là một thương gia giàu có, 500 ryo vẫn là rất nhiều tiền,” Umezu nói.

“Anh muốn tôi cám ơn anh?” Seisetsi hỏi.

“Thầy nên làm vậy,” Umezu trả lời.

“Tại sao tôi nên cám ơn?” Seisetsu thắc mắc. “Người cho nên cám ơn.”
.

Bình:

• Seisetsu Genjo Seki hay Seisetsu Genjyo Seki, (1877-1945), là thiền sư dòng Lâm Tế, từ thiền sư Hakuin Vậy À mà ra. Trong thập niên 1920, Seisetsu là sư trụ trì của chùa Tenryu ở Nhật.

Chùa Engaku trong truyện này là một chùa Lâm Tế rất lớn, và là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng cùa Nhật ngày nay. Chúng ta đã nói đến chùa Engaku trong bài Không nước không trăng về ni cô Chiyono.

• Bố thí là một thực hành lớn trong nhà Phật. Con đường Bồ-tát (Bồ Tát Đạo) có 6 nhánh qua sông (lục độ ba-la-mật), tức là sáu phương cách thực hành (“hạnh”) để đến giác ngộ, trong đó Bố thí là “hạnh” đầu tiên–Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Cho đi cái mình có là cách đương nhiên nhất để thực hành “vô ngã” (“không có cái tôi”).

Bố thí thế nào? Kinh Kim Cang, đoạn 4 viết: “Bồ tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí. Này Tu-bồ-đề, Bồ tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng. Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.”

Câu này có nhiều tầng triết l‎ý rất sâu xa, tuy nhiên nói giản dị theo cách sống hàng ngày của chúng ta thì câu này có thể hiểu là bố thí mà chẳng cầu gì cả, chẳng để được thấy tên mình trong danh sách (sắc), hay nghe được tên mình (thanh), hay tiếng tăm lừng lẫy của mình (hương), hay để nếm vị vinh quang của mình (vị), hay sờ được tên mình khắc trên bia đá (xúc), hay vì bất kỳ điều gì trong vũ trụ (pháp).

Bố thí với một tâm hoàn toàn rỗng lặng. Ngay cả dùng đạo pháp làm chủ đích của bố thí cũng không. Đoạn 14, Kinh Kim Cang viết: “Nếu Bồ-tát trụ nơi pháp mà làm việc bố thì thì ắt như người vào trong tối không thể thấy. Nếu Bồ-tát tâm không trụ pháp mà hành bố thí thì như người có mắt lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu soi, thấy các thứ hình sắc.”

(Ghi chú: Bố thí không vì mình mà vì đạo pháp thì hay lắm rồi, vẫn hơn không. Nhưng bố thí mà vượt qua được cả tầng “vì đạo pháp” này mới là chân ngộ của Bồ tát).

Bố thí tự nhiên như hít thở. Bố thí tự nhiên như khát nước thì uống nước mà chẳng hề suy nghĩ gì. Đó mới là bố thí hạnh của Bồ-tát.

• Đương nhiên là bố thí mà cần cám ơn như Umezu là không nên rồi. Và đương nhiên là một câu cám ơn cũng chẳng tốn công gì mà thiền sư Seisetsu lại không thể nói một tiếng cho vui vẻ cả làng. Nhưng, có lẽ là thiền sư biết tâm tính Umezu và cố tình im lặng để dạy cho Umezu một bài học về Phật pháp.

Nhưng tại sao thiền sư nói “Người cho nên cám ơn”?

Thưa, vì bố thí là hạnh Bồ tát, mà muốn thực hành hạnh này thì phải có người nhận. Nếu không có người nhận thì không thể làm việc bố thí được. Mang tiền ra vất ngoài sa mạc không phải là bố thí. Cho nên, người cho phải cám ơn người nhận đã tạo cho mình một cơ hội để thực hành hạnh bố thí.

Chú ý, câu đầu tiên thiền sư nói khi Umezu mang tiền vào: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.” Tức là, tôi cho chú cơ hội làm việc bố thí.

• Không nên xem đây là một cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai người, Umezu và thiền sư, xem ai thắng.

Đa số mọi người trong chúng ta đều như Umezu, đều muốn nghe cám ơn khi bố thí–không những cám ơn mà còn phải cám ơn trên radio, TV, báo chí, Internet thì mới hả dạ. Umezu chẳng ai xa lạ hơn là cái tôi của mỗi người chúng ta.

Nhưng điều chúng ta không biết, và thiền sư Seisetsu muốn dạy, là: Người cho phải cám ơn người nhận.

Trần Đình Hoành dịch và bình
.

The Giver Should Be Thankful

While Seisetsu was the master of Engaku in Kamakura he required larger quarters, since those in which he was teaching were overcrowded. Umezu Seibei a merchant of Edo, decided to donate five hundred pieces of gold called ryo toward the construction of a more commodious school. This money he brought to the teacher.

Seisetsu said: “All right. I will take it.”

Umezu gave Seisetsu the sack of gold, but he was dissatisfied with the attitude of the teacher. One might live a whole year on three ryo, and the merchant had not even been thanked for five hundred.

“In that sack are five hundred ryo,” hinted Umezu.

“You told me that before,” replied Seisetsu.

“Even if I am a wealthy merchant, five hundred ryo is a lot of money,” said Umezu.

“Do you want me to thank you for it?” asked Seisetsi.

“You ought to,” replied Umezu.

“Why should I?” inquired Seisetsu. “The giver should be thankful.”

# 53

Ánh sáng của con có thể tắt

Một học trò Tông Thiên Thai, một tông phái triết lý Phật giáo, đến thiền viện của Gasan học thiền. Vài năm sau cậu ra đi, Gasan cảnh báo cậu: “Học về sự thật bằng phỏng đoán thì lợi ích cũng chỉ như lượm lặt tài liệu giảng huấn. Nhưng nhớ rằng nếu con không thiền quán thường trực, ánh sáng chân l‎ý của con có thể tắt.
.

Bình:

• Gasan Jōseki (峨山 韶碩 1275–23.11.1366) là thiền sư dòng Tào Động Nhật Bản, mà ta đã nhắc đến trong bài Không xa Phật vị.

• Đây là cảnh báo về cách học triết lý lệ thuộc nặng nề vào lý luận và suy tư của Thiên Thai Tông. Trong bài Cỏ cây giác ngộ như thế nào chúng ta đã nói đến sự vô ích của các câu hỏi triết lý rắc rối của học trò Thiên Thai.

Khác biệt giữa “suy nghĩ” và “thiền quán”: Suy nghĩ hay suy tư là “nghĩ”. Thiền quán là chỉ “nhìn” (quán), nhìn sự vật như nó là (seeing thing as it is) mà chẳng “nghĩ” gì cả. Khác biệt về tính danh này đưa đến các khác biệt sau:

1. Khác biệt đầu tiên là tĩnh lặng về cảm xúc. Chúng ta có thể suy nghĩ với đủ loại cảm xúc trong đầu, nhưng thiền quán thì tâm ta phải rất tĩnh lặng,

Ví dụ: Suy nghĩ về cách trả đũa anh chàng chó chết mới chửi mình hồi chiều, vừa suy nghĩ vừa sôi máu. Nếu ta thiền quán về anh chàng này, thì tâm ta phải rất tĩnh lặng, không hờn giận không một gơn sóng, khi ta “nhìn” (quán) anh chàng.

2. Khác biệt thứ hai là tĩnh lặng về tư tưởng. Suy nghĩ thì có câu hỏi, và chạy theo dòng lý luận để tìm câu trả lời; thiền quán thì chỉ “nhìn” thôi, rồi cái gì nó đến thì đến, nó không đến thì không đến, chẳng chạy theo cái gì, nhắm vào câu trả lời nào cả.

Ví dụ: Suy nghĩ “Có thượng đế không?” À, có cái bàn là có ông thợ mộc. Có quả là có nhân. Có vũ trụ phải có người làm ra vũ trụ,. Vậy phải có thượng đế. Có thượng đế thì phải có người sỉnh ra thượng đế. Ai vậy?…

“Thiền quán” thì chỉ “nhìn.” Muốn quán cũ trụ thì cứ nhìn các tinh tú, không gian, các thiên hà, các giới hạn (hay không giới hạn) của vũ trụ… đến các phân tử, nguyên tử li ti của vật thể… rồi chân l‎ý nào đến với mình thì đến, không thì thôi, chẳng đeo đuổi theo ý gì trong đầu cả…

3. Khác biệt thứ ba là sự tập trung và tự do của tâm trí. Đây chỉ là hệ quả của khác biệt thứ nhất và thứ hai bên trên. Khi “suy nghĩ” ta có cả hàng trăm tư tưởng, cảm xúc, lý‎ luận, kết luận, phán đoán chạy tới chạy lui. “Thiền quán” thì ta chẳng có gì trong đầu cả, ngoài trừ một “hình ảnh” của cái mà mình đang quán, như nó là (as it is), mà chẳng có l‎ý luận, phán đoán, kết luận nào cả.

Vi dụ: Suy nghĩ về chuyện cãi nhau hồi chiều với người bạn thân (hay vợ, hay chồng mình), ta có thể suy nghĩ: Cô ấy nói câu này, nói như vậy là rõ ràng làm mình đau, tại sao cô ấy làm mình đau, vì cô ấy ghen tị với mình, cô ấy đang cạnh tranh ảnh hưởng với mình, bởi vậy câu nói của mình với boss bị cô ấy cố tình bẻ méo ‎ nghĩa của nó….

Nếu thiền quán về chuyện cãi nhau này thì tâm mình thật tĩnh lặng, không sóng giận, cũng chẳng suy nghĩ gì, chỉ “nhìn” hình ảnh cãi nhau hồi chiều… và thấy… khuôn mặt cô ấy thật buồn vời vợi khi nói với mình câu này… và mình đã không thấy được các nét ấy lúc đó, và mình đã vội vã thọc cho cô ấy một quả đấm ngôn ngữ kinh hồn… và cô ấy đã nhìn mình với khuôn mặt vừa kinh ngạc vừa buồn vô tận… và lặng lẽ ra ngoài… và mình đã cho là cô ấy khinh thường mình… và mình đã chửi ngóng theo một câu cuối…

Điểm quan trọng ở đây là khi suy tưởng các vấn đề trừu tượng, chúng ta thường theo một trường phái lý‎ luận triết lý nào đó, ví dụ: triết l‎ý hiện sinh, hay duy vật biện chứng pháp, hay Plato, hay Decartes, hay Thiên Thai Tông, hay Trung Quán Luận, hay cynicism… cho nên tư duy thường rất phiến diện, vì bị gò bó trong khung lý luận của trường phái ta đang dùng. (Chính vì vậy mà các triết gia hay cãi nhau, ông nói gà bà nói vit). Khi “quán” ta chỉ “nhìn sự vật như nó là” cho nên ta chẳng theo trường phái nào cả. Cứ nhìn thôi. Vì vậy tâm trí ta thực sự tự do và độc lập, và cái nhìn rõ ràng hơn rất nhiều.

4. Khác biệt thứ tư là kết luận. Đây là hệ quả đương nhiên của ba khác biệt trên: Suy nghĩ chấm dứt bằng một kết luận của suy tưởng lý luận, thường theo công thức của luận lý học.

Quán chấm dứt khi nào mình biết là mình đã nhìn thấy toàn thể, thông suốt hoàn toàn, điều mình nhìn, từ trong ra ngoài, ngoài vào trong, từ mọi hướng nhìn.

Ví dụ: Suy nghĩ về một tên trộm: Hắn vào nhà, lấy cái nhẫn hột xoàn bỏ túi, toàn vụ việc bị thâu vào hệ thống quan sát điện tử. Kết luận: Vậy hắn là tên trộm.

Quán về người này thì nhìn hắn, nhìn hình ảnh hắn lấy hột xoàn, nhìn thái độ đầu hàng dịu dàng của hắn khi bị bắt, nhìn khuôn mặt buồn rười rượi tuyệt vọng của hắn, dáng đi thểu não của hắn…

Trước khi “quán” thì tâm ta phải “định” (samadhi), tức là đứng yên. Nếu tâm còn nhảy choi choi thì không thể quán được. Vì vậy người ta thường phải dùng “thiền chỉ” (samatha), ví dụ tập trung vào hơi thở để định tâm trước, khi đã “định” được rồi, muốn quán (vipassana) gì thì “quán” (và trong khi quán, tâm mình vẫn “định”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Your Light May Go Out

A student of Tendai, a philosophical school of Buddhism, came to the Zen abode of Gasan as a pupil. When he was departing a few years later, Gasan warned him: “Studying the truth speculatively is useful as a way of collecting preaching material. But remember that unless you meditate constantly you light of truth may go out.”

# 52

Nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh: Ngõ Vàng Quỳ – Nghìn Tay Ôm Một Nụ Cười

Chào các bạn,

NS Đỗ Thất Kinh

Hôm nay, nhờ thông tin từ anh Trần Can, mình có dịp giới thiệu đến các bạn một tài năng Tây Nguyên nữa, đó là nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh, tức kiến trúc sư Đỗ Kim Châu của Buôn Ma Thuột

Nhạc của anh Đỗ Thất Kinh mang nhiều màu sắc của du ca thập niên ’70–sinh viên đi qua các nẻo quê hương, hát với cây đàn guitar, cho tình yêu, thân phận, và đất nước.

Thưa em xưa nếm hạt đất vàng
Nằm buông tóc trôi một giòng sông
Ta theo vết hương thẳm đầu núi
Một sớm mai về nơi suối nguồn
(Ngõ Vàng Quỳ – ĐTK)

Ca sĩ Ngọc Huy

Đây là tuổi trẻ không bao giờ già. Những sinh viên của giai đoạn này, cho đến khi chết vẫn hoài chạy theo bóng hình quyến rũ cùa quê hương, tình yêu, và thân phận… như cành tùng chênh vênh sườn đồi nơi đầu gió, muôn thuở còn xanh.

Về với mây hát đôi câu ru hời
Về núi cao rũ vai bụi đường xa
Ngồi hát ngêu mấy con chữ ta bà
Tình hốt nhiên rớt trên mây la đà
(Nghìn Tay Ôm Một Nụ Cười – ĐTK)

Hai bản nhạc chúng ta sẽ nghe đây được ca sĩ Ngọc Huy trình bày. Ngọc Huy có giọng ca rất trầm, ấm, và đầy. Rất truyền cảm. Rất hợp với các bản nhạc này.

Chúng ta có hai links đến audio file để nghe, với âm thanh rất tốt. Bản đầu, Ngõ Vàng Quỳ, do Ngọc Huy hát chính và Đỗ Thất Kinh ca bè. Bản thứ hai do Ngjoc Huy ca solo.

Bản Ngõ Vàng Quỳ còn có link đến Youtube, cho các bạn muốn xem video, nhưng file video âm thanh không tốt, nên không nghe được giọng ca trung thực của Ngọc Huy.

Ngõ Vàng Quỳ
– Đỗ Thất Kinh –

Xưa theo em dưới Ngõ Vàng Quỳ
Bầy chim trắng bay về tựa như bông
Xưa theo em nhớ mãi từng mùi hương
Hỡi em nhu mì như đóa hường

Nay theo em bên ngõ trổ hoa vàng
Mà nhớ mang mang làn hương người xưa
À ơi! À ơi! (i) À ơi!

Thưa em xưa nếm hạt đất vàng
Nằm buông tóc trôi một giòng sông
Ta theo vết hương thẳm đầu núi
Một sớm mai về nơi suối nguồn

Ơi em khép nép đóa dị thường
Vừa hát câu ru lời u trầm Đông Phương
À ơi! À ơi! (i) À ơi!

Thưa em xưa ngõ trổ vàng quỳ
Thưa em nay ngõ trổ vàng quỳ
Thưa em nay ngõ trổ vàng quỳ.
Ai qua vương vấn một mùi hương.
(Ai qua vương vấn một mùi hương…)

Xin nhấn chuột vào đây để nghe Ngọc Huy và Đỗ Thất Kinh song ca Ngõ Vàng Quỳ

Ngọc Huy ca solo Ngõ Vàng Quỳ


.

N g h ì n T a y Ô m M ộ t N ụ C ư ờ i
Nhạc & hoà âm:đỗthấtkinh

Mọc tay dài vói mây cười nghiêng ngả
Kìa trăng lạnh bước ra hồn ngậm sương
Mọc chân dài bước quanh ngày phố lạ
Tìm dấu ai bóng chim khuất non tà

Tìm em nơi nào mông mù phố lạ
Tìm ta hoang quạnh cõi miền rất xa

Về với mây hát đôi câu ru hời
Về núi cao rũ vai bụi đường xa
Ngồi hát ngêu mấy con chữ ta bà
Tình hốt nhiên rớt trên mây la đà

Ngụm mây say tỉnh hớp một hớp tình
Đàn reo tích tịch tang tình tính tang
Có đoá hoa cười giữa muôn hoa
Ta đi vào lạc bước chân ra
Có tiếng chim rộn giữa chân chim
Ta ôm đàn reo cùng cỏ hoa

Từ biết em
Bỗng dưng đời rất lạ
Từ yêu người
Trái tim ngọt cỏ hoa
Mọc tay dài ôm người đâu mệt lả
Mọc tay dài cho ta ôm muôn loài

Nghìn tay ôm một giấc mơ đá quạnh
Nghìn tay ôm người
Trái tim lá xanh…

Xin nhấn chuột vào đây đề nghe Ngọc Huy hát.

Miso chua

Sư nấu bếp tại Dairyo, tu viện của thiền sư Bankei, quyết định là sư sẽ chăm sóc kỹ càng sức khỏe của lão sư phụ của mình và sẽ chỉ cho sư phụ ăn Miso tươi, làm từ đậu nành, lúa mì và men đánh nhuyễn và để lên men. Bankei, thấy là mình được phục vụ miso tốt hơn miso của các đệ tử, liền hỏi: “Ai là người nấu ăn hôm nay?”

Dairyo được gọi đến gặp thầy. Bankei nghe trình là theo tuổi tác và địa vị của thầy, Bankei chỉ nên ăn miso tươi. Cho nên Bankei nói với sư nấu ăn: “Vậy chú nghĩ là thầy không nên ăn gì hết.” Nói xong, Bankei bước vào phòng riêng và khóa cửa.

Dairyo, ngồi ngoài cửa, xin lỗi thầy. Bankei không trả lời. Cả bảy ngày, Dairyo ngồi bên ngoài và Bankei ở bên trong.

Cuối cùng, trong tuyệt vọng một đệ tử nói thật to cho Bankei: “Thầy có thể không sao, lão sư phụ, nhưng anh chàng đệ tử này phải ăn. Hắn không thể nhịn ăn mãi được!”

Đến lúc đó Bankei mở cửa. Thầy mỉm cười. Thầy nói với Dairyo: “Thầy nhất quyết ăn cùng loại thức ăn như những đệ tử thấp nhất của thầy. Khi chú trở thành sư phụ, thầy không muốn chú quên chuyện này.”
.

Bình:

• Bankei đây là Bankei yōtaku (eitaku), Bàn Khuê Vĩnh Trác, mà chúng ta đã nhắc đến trong truyện Giọng nói của hạnh phúc.

• Xem ra đây là một luật lệ ăn uống đã có sẵn trong tu viện nhưng Bankei không biết. Người đến tuổi nào đó và có chức vị nào đó thì được ăn uống loại thực phẩm nào đó. Đây là ăn uống theo “hệ cấp” và Bankei chống đối “hệ cấp”. Nếu Bankei yếu sức khỏe hay bệnh hoạn và đầu bếp nấu thức ăn đặc biệt để chữa bệnh, chắc là thiền sư không phiền hà gì.

• Xã hội con người là xã hội hệ cấp dày đặc tới nghẹt thở: Chức vị đi trước hay sau tên (bác sĩ, luật sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, giáo viên… cô, dì, chú, bác..); văn phòng (làm lớn văn phòng lớn, làm nhỏ văn phòng nhỏ), xe cộ (làm lớn đi xe có tài xế), áo quần (làm lớn mặc veston, làm nhỏ mặc quần jean), lương bỗng.…

Nói chung là các thứ trang điểm cho hệ cấp này như vài mươi lớp áo dày phủ kín người chúng ta. Rồi chúng ta có thể tự thêm vài tầng hệ cấp nữa bằng cách xưng hô ăn nói quan liêu từ trên nói xuống. Rốt cuộc, ta chỉ là một hình nộm to đùng đứng đuổi chim giữa đồng.

Khó ai thấy được con người thật của mình. Và rất có thể là mình cũng không biết được con người thật của mình, nếu mình không bao giờ trút bỏ các lớp vỏ.

Có lẽ là ta sẽ không bao giờ bỏ hết được tối thiểu là một bộ quần áo mặc trên người. Nhưng nếu ta có thể trút bỏ rất nhiều bộ đồ đang chất chồng không cần thiết trên cơ thể, thì ta sẽ dễ thở và thong thả hơn rất nhiều, và nhiều người sẽ thích thú con người thật của ta, hơn là một hình nộm tới 27 lớp áo quần.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Sour Miso

The cook monk Dairyo, at Bankei’s monastery, decided that he would take good care of his old teacher’s health and give him only fresh miso, a paste of soy beans mixed with wheat and yeast that often ferments. Bankei, noticing that he was being served better miso than his pupils, asked: “Who is the cook today?”

Dairyo was sent before him. Bankei learned that according to his age and position he should eat only fresh miso. So he said to the cook: “Then you think I shouldn’t eat at all.” With this he entered his room and locked the door.

Dairyo, sitting outside the door, asked his teacher’s pardon. Bankei would not answer. For seven days Dairyo sat outside and Bankei within.

Finally in desperation an adherent called loudly to Bankei: “You may be all right, old teacher, but this young disciple here has to eat. He cannot go without food forever!”

At that Bankei opened the door. He was smiling. He told Dairyo: “I insist on eating the same food as the least of my followers. When you become the teacher I do not want you to forget this.”

#51

Em

Em

Em đã vào đời
Như cánh mây trôi trên gió thoảng
Từ trời
Mang đến tôi
Hơi thở nồng nàn của Tạo Hóa
Để quả tim tôi tuôn chảy mạch sống không cùng
Để tôi biết được
Có một điều kỳ diệu
Goi là Tình Yêu
Gọi là Nhịp Đập
Gọi là Sự Sống
Cầm tay dẫn tôi đi trong bóng tối
Đỡ chân tôi bên bờ vực thẳm
Mang tôi lên đôi cánh bằng lướt gió
Để tôi có thể
Đến tận đỉnh non cao
Nhìn xuống cuộc đời
Với những đồng cỏ xanh tươi
Những dòng sông lặng lờ uốn khúc
Những đàn nai chạy dài trên những sườn đồi
Những cánh hải âu chơi vơi trên mặt sóng
Để tôi quên những mũi gai đã đạp
Những sướt rách vừa đến trong cánh rừng hoang
Để những sa mạc đẹp màu hoang dã
Và những rừng già âm u lập lòe đóm sáng
Của những linh hồn vẫn vui trong cõi chết
Và những đáy đại dương sâu thẳm
Tối đen
Vẫn có những chàng cá dài không mắt
Luôn mang giấc mơ trở thành thần điểu
Và tất cả mọi điều
Không thể
Đều như hoa tuyết
Rơi vào biển lửa
Tan biến
Khỏi trái tim nhân loại


Tôi có Em
Vì tôi có
Một điều kỳ diệu đến
Từ Tạo Hóa
Gọi là Tình Yêu
Gọi là
Em.

(Tặng Túy-Phượng, người cho mình thi hứng, và các nàng của Vườn Chuối, và một nửa thế giới còn lại, ngày 8 tháng 3, 2010)

TĐH
LOW, 9:18 pm Saturday, March 06, 2010

Bình đẳng giới tính

Chào các bạn,

Tại Việt Nam, chúng ta có đến hai ngày phụ nữ, 8/3 là Ngày Quốc Tế Phụ Nữ và 20/10 là Ngày Phụ Nữ Việt Nam. Chẳng có ngày nào cho phụ nam cả. 🙂 Xem ra đây là một bất công cho phái nam. Nhưng “bất công” này thật sự là bằng chứng cho bất công bình đối với phái nữ, vì nếu hai bên đã công bình thì chẳng ai cần đến ngày phụ nữ làm gì trong khi chẳng có ngày nào cho phái nam.

Thật sự là xã hội mọi nơi trên thế giới dành nhiều khó khăn, và tại vài vùng trên thế giới, nhiều bất hạnh, cho phụ nữ. Ngày Phụ Nữ không chỉ là ngày mua hoa hồng và đưa nàng đi ăn, mà là ngày để mọi người, nhất là phái nam, ‎ ý thức được những bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu tại khắp nơi trên thế giới. Và những bất công này làm chậm đà phát triển văn minh của con người.

Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon mới nói hôm thứ tư vừa qua: “Với tư cách một người con, một người chồng, một người cha và và một người ông cho các cháu gái, là một danh dự, và với tư cách Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, là nhiệm vụ của tôi—bình đẳng giới tính và trao năng lực cho phụ nữ là các vấn đề nền tảng cho chính bản thân Liên Hợp Quốc.”

Ông nói rằng nếu phụ nữ chưa được giải phóng khỏi nghèo khổ và bất công, sẽ khó có được phát triển hòa bình, an ninh và bền vững.

Năm nay là kỷ niệm 15 năm ngày Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên Ngôn Bắc Kinh và Kế Hoạch Hành Động (Beijing Declaration and Platform for Action), kết quả của Đại Hội Thế Giới Lần 4 về Phụ Nữ ở Bắc Kinh năm 1995.

Ban Ki-moon nói rằng đã đạt được nhiều tiến bộ từ năm 1995: “Ngày càng có nhiều quốc gia đưa ra chính sách và luật lệ ủng hộ sự bình đẳng giới tính và sức khỏe sinh sản. Giờ đây có nhiều bé gái được cắp sách đến trường, nhất là cấp tiểu học. Ngày càng có nhiều phụ nữ làm chủ doanh nghiệp và vay được tiền nhiều hơn. Phụ nữ giờ đây cũng tham gia chính quyền nhiều hơn.”

Tuy nhiên, ông cảnh báo hiện tượng bất công và phân biệt đối xử phụ nữ vẫn còn tồn tại ở khắp nơi. Hiện tượng này xuất hiện dưới nhiều dạng, tệ nhất là bạo hành—“khoảng 70% phụ nữ trên thế giới là nạn nhân của bạo hành một lần nào đó trong đời.” Còn các dạng khác là tảo hôn hoặc ép hôn, các vụ giết hại phụ nữ về tội gọi là “làm mất danh dự gia đình”, hãm hiếp, và buôn người. Ban Ki-moon cho rằng những hành vi như vậy là lạm dụng và tội phạm, chống lại các quyền căn bản của phụ nữ.

Ông cũng ghi nhận các tổ chức dân sự (NGO), nhất là các tổ chức của phụ nữ, đã đóng vai trò chính trong các thắng lợi đạt được. Ông nói: “Phụ nữ khắp nơi đang vận động để đòi bình đẳng và có thêm sức mạnh, và họ đang thành công.”

Liên Hợp Quốc đã làm gương. Tại Liên Hợp Quốc, kể từ khi Ban Ki-moon nhậm chức, số phụ nữ lãnh đạo cao cấp đã tăng đến 40%.

Tại Việt Nam, theo báo Nhân Dân thì: “Việt Nam là một nước có hệ thống chính sách tốt về giới. Ngoài Hiến pháp, chúng ta còn có Luật Hôn nhân và Gia đình (1986). Mới đây nhất, Luật Bình đẳng giới (2007) và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2008) là những luật chuyên môn về giới. Chính sách bình đẳng giới còn được đề cập trong các luật khác và nhiều nghị quyết, chính sách riêng cho công tác phụ nữ… Năm 1995 Việt Nam được LHQ xếp thứ 72/130 nước theo chỉ số phát triển giới (GDI). Chỉ số này được giữ vững trong nhiều năm, đến năm 2007 – 2008, Việt Nam đứng hàng thứ 91/177 nước với chỉ số là 0,732 thuộc nhóm nước tốt nhất Ðông-Nam Á – Thái Bình Dương (UNDP, Báo cáo phát triển con người).”

91/177 là vẫn còn dưới trung bình.

Chúng ta cần nhìn vấn đề bình đẳng giới tính rõ ràng hơn. Phụ nữ tại nhiều nơi trên thế giới, và ở nước ta, không được coi trọng bằng phái nam từ trong gia đình ra ngoài xã hội (con trai quý hơn con gái); ít có cơ hội được giáo dục, nhất là giáo dục cao cấp; mang nhiều gánh nặng gia đình hơn (kể cả khi người phụ nữ đi làm bên ngoài); và khi đi làm thì ít khi nắm các chức vụ chỉ huy như nam.

Nhiều loại tội ác gần như dành riêng cho phụ nữ là nạn nhân, như là bạo hành trong gia đình, mãi dâm, buôn người, “hôn nhân” lừa bịp với người nước ngoài, v.v…

Vấn đề này là vấn đề tranh đấu của phụ nữ, nhưng là vấn đề ‎ý thức của phái nam về năng lực và tiềm năng phụ nữ.

Và đây không phải chỉ là vấn đề ga-lăng của các anh đối với các chị, dù rằng ga-lăng cho đáng mặt nam nhi cũng là chuyện tốt. Đây là vấn đề chính sách phát triển. Bất kỳ kỳ thị dưới hình thức nào cũng làm chậm phát triển đất nước—kỳ thị dân tộc đối với các dân tộc thiểu số, kỳ thị vì l‎ý do tôn giáo, kỳ thị vì lý do lý lịch, kỳ thị vì lý‎ do giới tính…

Khi chúng ta kỳ thị, chúng ta không cho người bị kỳ thị cơ hội để phát triển tối đa tiềm năng của họ, và như vậy là quốc gia thất thoát nhân tài.

Cho nên, chúng ta cần nhìn kỳ thị giới tính, cũng như mọi kỳ thị khác, sâu sắc hơn, với con mắt của những người làm chính sách phát triển cho quốc gia.

Rồi sau đó, là con mắt của người đàn ông tốt cho người phụ nữ của mình. 🙂

Chúc các bạn một ngày 8/3 rộn rã tiếng cười.

Hoành
.

Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon, nhân ngày 8/3/2010

Ryonen đắc ngộ

Ni cô Ryonen sinh năm 1797. Cô là cháu của Shingen, một võ tướng nổi tiếng của Nhật. Thiên tài thi phú và sắc đẹp khuynh thành của cô tuyệt đến mức mới 17 tuổi cô đã thành người hầu cận của hoàng hậu. Dù còn trẻ thế, danh vọng đang chờ đợi cô.

Hoàng hậu yêu quý chết bất thần và mọi giấc mơ của Ryonen tiêu tán. Cô thấy rất rõ tính vô thường của đời sống trong thế giới này. Vì vậy cô muốn học thiền.

Tuy nhiên, thân nhân của cô không đồng ‎ý và ép cô lập gia đình. Với lời hứa hẹn là cô có thể đi tu sau khi đã sinh ba đứa con, Ryonen đồng ý. Cô làm tròn điều kiện này trước khi đầy 25 tuổi. Chồng cô và mọi người thân chẳng thể cản cô được nữa. Cô cạo đầu, lấy tên là Ryonen, có nghĩa là đạt ngộ sáng lạn, và bắt đầu hành hương.

Cô đến thành phố Edo và xin thiền sư Tetsugya nhận làm đệ tử. Nhưng chỉ liếc mắt qua một tí là thiền sư đã từ chối, vì cô quá đẹp.

Ryonen đến gặp một thầy khác, Hakuo. Hakuo cũng từ chối với cùng lý do, nói là sắc đẹp của cô chỉ gây rắc rối.

Ryonen lấy một thanh sắt nóng ép vào mặt. Chỉ trong một lúc là sắc đẹp của cô đã tiêu tán vĩnh viễn.

Hakuo bèn nhận cô làm đệ tử.

Để k‎ỷ niệm chuyện này, Ryonen viết một bài thơ trên mặt sau của một tấm gương nhỏ:

Phục vụ Hoàng Hậu, ta đốt hương xông thơm quần áo lụa là
Nay khất thực không nhà, ta đốt mặt để vào thiền viện.”

Khi sắp sửa lìa đời, cô viết một bài thơ khác:

Sáu mươi sáu lần đôi mắt này đã chứng kiến mùa thu thay đổi.
Ta đã nói đủ về ánh trăng,
Đừng hỏi nữa.
Hãy chỉ lắng nghe tiếng nói của thông và tuyết tùng khi gió lặng.

.

Bình:

• Ryonen không những đẹp mà còn rất trí tuệ khi còn trẻ. Một biến cố là đủ để cô nhận chân tính vô thường của đời sống.

• Và ‎ý chí thật là vững chắc. Đã nói đi tu là đi tu, chẳng có gì cản được, kể cả sắc đẹp của mình.

Có lẽ cô đã giác ngộ cả trước khi đi tu.

• Các thiền sư thường làm một bài thơ trước khi qua đời, gọi là “bài thơ chết” (the death poem). Đây là lời dạy cuối cùng, và do đó là lời dạy quan trọng nhất, của người ra đi. Bài thơ chết của Ryonen cũng không ngoài lệ đó:

Sáu mươi sáu lần đôi mắt này đã chứng kiến mùa thu thay đổi: Ta đã thấy rất rõ lẽ vô thường (trong 66 năm sống).

Ta đã nói đủ về ánh trăng, đừng hỏi nữa: Ta đã nói đủ về giác ngộ, về tỉnh thức, đừng hỏi nữa.

Hãy chỉ nghe tiếng nói của thông và tuyết tùng khi lặng gió: Hãy chỉ nghe tiếng nói của tĩnh lặng.

• Tất cả những người đã đắc đạo đều dạy chúng ta “nghe” tiếng nói của tĩnh lặng, nghe tiếng vỗ của một bàn tay. Đây là một chân l‎ý mà người chưa nắm được không thể hiểu được.

Thực ra vấn đề rất giản dị để ta có thể trực nghiệm hàng ngày, nếu ta muốn trực nghiệm: Khi một đám đông đang điên cuồng hò hét “Giết nó! Giết nó!”, nếu bạn không chạy theo đám đông và có thể ngồi tĩnh lặng, bạn sẽ thấy vấn đề rõ và sâu hơn đám đông rất nhiều. Nhiều điều bạn thấy, chẳng ai trong đám đông thấy cả.

Khi chúng ta tĩnh lặng chúng ta nghe tiếng nói của trí tuệ từ trong tĩnh lặng.

• Tĩnh lặng đây không có nghĩa chỉ là (1) mất hết âm thanh, mà còn là (2) mất hết các dao động trong tâm—tức giận, buồn chán, ghen ghét, v.v… và mất hết (3) các suy nghĩ và tư tưởng chạy ngược xuôi trong đầu.

Tâm hoàn toàn rỗng lặng.

• Bạn muốn hiểu sâu xa các hiện tượng chính trị, kinh tế, giáo dục… của xã hội, hay những hỉ nộ ái ố bi lạc dục trong lòng bạn? Sâu xa hơn người khác, và hơn cả chính bạn, rất nhiều?

Vậy thì, tĩnh lặng.

Nhiều người tưởng là đọc nhiều, ngốn nghiến nhiều sách vở và thông tin. Không. Không phải vậy.

Tĩnh lặng. Và bạn sẽ đọc một hiểu mười.

(Không tĩnh lặng, và bạn sẽ đọc mười hiểu một).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Ryonen’s Clear Realization

The Buddhist nun known as Ryonen was born in 1797. She was a granddaughter of the famous Japanese warrior Shingen. Her poetical genius and alluring beauty were such that at seventeen she was serving the empress as one of the ladies of the court. Even at such a youthful age fame awaited her.

The beloved empress died suddenly and Ryonen’s hopeful dreams vanished. She became acutely aware of the impermanency of life in this world. It was then that she desired to study Zen.

Her relatives disagreed, however, and practically forced her into marriage. With a promise that she might become a nun after she had borne three children, Ryonen assented. Before she was twenty-five she had accomplished this condition. Then her husband and relatives could no longer dissuade her from her desire. She shaved her head, took the name of Ryonen, which means to realize clearly, and started on her pilgrimage.

She came to the city of Edo and asked Tetsugya to accept her as a disciple. At one glance the master rejected her because she was too beautiful.

Ryonen went to another master, Hakuo. Hakuo refused her for the same reason, saying that her beauty would only make trouble.

Ryonen obtained a hot iron and placed it against her face. In a few moments her beauty had vanished forever.

Hakuo then accepted her as a disciple.

Commemorating this occasion, Ryonen wrote a poem on the back of a little mirror:

In the service of my Empress I burned incense to perfume my exquisite clothes,
Now as a homeless mendicant I burn my face to enter a Zen temple.

When Ryonen was about to pass from this world, she wrote another poem:

Sixty-six times have these eyes beheld the changing scene of autumn.
I have said enough about moonlight,
Ask no more.
Only listen to the voice of pines and cedars when no wind stirs.

# 50

Phật mũi đen

Một ni cô đang đi tìm giác ngộ, làm một bức tượng Phật và dát vàng lên tượng. Bất kỳ đi đâu cô cũng mang tượng Phật vàng này theo.

Nhiều năm trôi qua, vẫn còn mang tượng Phật, ni cô đến sống trong một ngôi chùa nhỏ ở một xứ có rất nhiều Phật, mỗi vị Phật có đền thờ riêng.

Ni cô muốn thắp nhang trước tượng Phật vàng của cô. Không thích hương thơm của nhang mình đi lạc qua chỗ người khác, cô chế ra một cái phểu lớn, chuyển khói nhang đến tượng Phật của cô mà thôi. Điều này làm mũi của tượng Phật vàng bị nám đen, nhìn rất xấu.
.

Bình:

• Phật đâu có ngoài ta. Khi tâm ta trở lại với “mặt mũi nguyên thủy” (bản lai diện mục), không còn bị màn si mê bao phủ, thì tâm sáng láng. Đó là Phật.

Có tượng Phật để giúp nhắc nhở mình con đường mình đang đi, thì hay. Nhưng xem tượng như là cứu rỗi của mình thì hỏng. Vì chỉ có mình giải thoát được mình thôi.

Chính vì vậy mà tổ Lâm Tế nói “Gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma”; tức là những gì mình thấy đều là ảo tưởng, chỉ tâm tĩnh lặng của mình (chân tâm) là thật.

Đan Hà thiền sư chẻ tượng Phật gỗ ra làm củi sưởi ấm đêm đông, cũng là thế.

• Dù là mỗi người phải tự giải thoát, Phật giáo vẫn có khái niệm “trợ lực” hay “trợ duyên”, như truyện Mục Kiền Liên nhờ chư tăng tụng kinh cầu nguyện để giúp mẹ thoát khỏi địa ngục khổ đau; hay trong Tịnh Độ Tông, người thành tâm niệm Phật Adiđà thì chết có thể được hóa độ đầu thai tại Tây Phương Tịnh Độ do Phật Adiđà cai quản.

Trên phương diện tâm lý, khi chúng ta tụng kinh cầu nguyện cho ai đó, người được hưởng lợi đầu tiên là ta (người tụng kinh), vì chính lời cầu nguyện và lời kinh sẽ ảnh hưởng đến tâm ta trước nhất.

• Trong bài này, không lo tự giải thoát mà tìm giải thoát ở tượng Phật vàng là đã sai đường rồi, lại còn sai đến mức chuyển khói hương đến tượng Phật, tức là sự tôn sùng bức tượng lên đến mức chống lại tất cả những gì khác tượng Phật của mình.

Giác ngộ, giải thoát, cũng không; mà ngay cả tượng vàng để trang trí cũng không giữ được cho sạch.

• Mỗi người chúng ta có bao nhiêu tượng Phật vàng mang theo kè kè?

1. Tiền: Bao nhiêu người chạy theo tiền như là Chúa Phật để mưu cầu hạnh phúc?

2. Quyền lực: Bao nhiêu người tôn thờ quyền lực và chức vị?

3. Tiếng tăm: Bao nhiêu người tin rằng đời mình chỉ có hạnh phúc nếu mình nổi tiếng?

4. Chủ nghĩa: Mấy từ tiếng Anh có chữ cuối là ISM, nhất là các ism chính trị, được bao nhiêu quí vị tôn thờ đến mức khùng điên?

5. Sách và kiến thức: Bao nhiêu người tôn thờ sách, hay là kiến thức nào đó, như đó là con đường giải thoát?

Mọi thứ này đều có giá trị tương đối của chúng. Nhưng tôn thờ chúng là đã si mê rồi. Tôn thờ đến mức chỉ biết chúng là duy nhất, hương khói đời mình cứ chăm vào đó, thì ngay cái giá trị ngoài da của chúng cũng bị mình làm cho đen mũi.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Black-Nosed Buddha

A nun who was searching for enlightenment made a statue of Buddha and covered it with gold leaf. Wherever she went she carried this golden Buddha with her.

Years passed and, still carrying her Buddha, the nun came to live in a small temple in a country where there were many Buddhas, each one with its own particular shrine.

The nun ished to burn incense before her golden Buddha. Not liking the idea of the perfume straying to others, she devised a funnel through which the smoke would ascend only to her statue. This blackened the nose of the golden Buddha, making it especially ugly.

#49

Đầu ngày

Đầu ngày

Mù sương che khuất dãy đồi
Triền non mây đọng chắn đôi địa đàng
Tùng lay huyễn ảo sơ hoang
Bỗng từ đỉnh núi rực vàng ánh dương

TĐH
LOW, 10:14 am, Sun., Feb. 28, 2010

Beginning of the day

The fog hides the hills
On mountainside the cloud freezes and divides the earth
The pines sway unreal and primordial
Suddenly from the mountaintop come the golden sunrays

translated by TĐH
LOW, 4:51 pm, Wed. March 3, 2010

Quê Hương trường ca – Đoạn 7

Ôi quê hương!
Em đã đi và xa, đã xa và nhớ.

Khi bất chợt khóm dừa Yên Sở
Giữa trùng trùng rặng tre quê Bắc – vươn mình
Khi mỗi giọng Nam Ai xứ Huế
Em thấm bao điệu hát thân quen.

Khi chạm những Makara, Garuda trên tháp đền Hà Nội
Khi chiều Tây Nguyên giáp mặt Yang Praung
Khi Phan Rí u huyền mắt gái Cham-Ywơn
Khi Sài Gòn phố đông chàng trai da màu bánh mật
Lững thững
Bước qua đường
Em bắt gặp quê hương.

Là quê hương khi em đi chuyến tàu Thống nhất
Thoắt lúa đồng xanh, thoắt núi rừng xanh, thoắt biển bờ xanh
Hay lúc em trên xe đò con đường Cái quan
Chợt thành phố, chợt xóm plây, làng bản
Qua từng ánh mắt, mỉm môi ẩn hiện
Em nhận mặt quê hương.

Ôi quê hương
Ta muốn điểm danh sự vật quê hương như thầy giáo
trường làng mỗi sáng điểm danh học sinh
(Dù chỉ bằng cái liếc nhanh, người đủ biết ai vắng mặt)
Điểm danh từng cánh đồng, khu rừng, miếng đất
Điểm danh dòng sông chết, con kênh đào.
Điểm danh tất cả đỉnh cao, vũng sâu
Điểm danh người còn, điểm danh kẻ mất
Điểm danh trong ta bao suy tư, cảm xúc
Để chắt qua chiều lớp không-thời gian nguồn suối hơi thơ.

Inrasara

Tỉ lệ chính xác

Sen no Rikya, một trà sư, muốn treo một lẳng hoa trên cột nhà. Thầy nhờ một người thợ mộc giúp, chỉ cho anh ta treo cao hơn hay thấp hơn một tí, nhích qua bên phải hay bên trái, cho đến khi thầy tìm được đúng chỗ. “Chỗ đó đó,” cuối cùng Sen no Rikya nói.

Anh thợ mộc, muốn thử thầy, bèn đánh dấu chỗ đó rồi giả vờ quên mất. “Chỗ này phải không? Có lẽ, nó là chỗ này?” anh thợ mộc cứ hỏi, chỉ vào vài chỗ khác nhau trên cột.

Nhưng cảm quan về tỉ lệ của thầy chính xác đến nỗi chỉ đến khi anh thợ mộc chỉ đúng vào điểm đã đánh dấu thì thầy mới chấp nhận.
.

Bình:

• Cái đẹp luôn luôn là vấn đề tỉ lệ hài hòa. Lẳng hoa không đứng một mình; lẳng hoa đứng trong tương quan với tất cả mọi thứ khác trong phòng.

Lấy ảnh một cô gái thật đẹp, rồi dùng computer di chuyển hai con mắt cô gần hơn hay xa nhau hơn một tí, miệng đi xuống hay đi lên một tí, mũi nhích xuống hay nhích lên một tí… rồi xem thử cô ấy còn đẹp không, hay đã có thể thành dị dạng. Cũng những bộ phận đẹp đó, nhưng chỉ đổi tỉ lệ, là không còn hài hòa, không còn đẹp.

• Dĩ nhiên là cái đẹp, và tỉ lệ, còn lệ thuộc một phần vào điều người nghệ sĩ muốn diễn tả–quân bình tĩnh lặng, hay chênh vênh, hay sôi nỗi… Mỗi vị thế có một tỉ lệ mới và một cảm xúc đẹp mới.

• Cuộc sống của chúng ta cũng là những tỉ lệ. Nếu tỉ lệ đúng thì mọi sự đều đẹp, từ cách ăn uống ngủ nghỉ, đến cách làm việc hàng ngày, đến cung cách cư xử với mọi người chung quanh… Những cung cách cực đoan thường bị mất tỉ lệ và không hiệu nghiệm. Các cung cách hợp tỉ lệ, trong từng trường hợp, thường đưa lại hiệu quả tốt.

• Cũng như cái đẹp và tỉ lệ lệ thuộc phần nào vào ‎ý sáng tạo diễn tả của người nghệ sĩ, tỉ lệ của cung cách sống hàng ngày còn lệ thuộc vào ý muốn của chúng ta–chúng ta muốn gì trong tình huống nào.

• Và cũng như người nghệ sĩ luôn luôn chỉ đúng vào một điểm nếu anh ta biết cái đẹp mình muốn diễn tả, nếu ta biết mục đích của ta trong mỗi tình huống, ta luôn luôn “chỉ” đúng điểm cho vị thế của mình trong mỗi tình huống.

Vấn đề khó khăn nhiều người gặp hàng ngày là họ không biết họ muốn gì trong một tình huống, cho nên họ không biết phải cư xử thế nào cho “hợp tỉ lệ.”

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Accurate Proportion

Sen no Rikyu, a tea-master, wished to hang a flower basket on a column. He asked a carpenter to help him, directing the man to place it a little higher or lower, to the right or left, until he had found exactly the right spot. “That’s the place,” said Sen no Rikya finally.

The carpenter, to test the master, marked the spot and then pretended he had forgotten. Was this the place? “Was this the place, perhaps?” the carpenter kept asking, pointing to various places on the column.

But so accurate was the tea-master’s sense of proportion that it was not until the carpenter reached the identical spot again that its location was approved.

# 48

Enya – Công nương New Age

Enya tên thật là Eithne Patricia Ní Bhraonáin, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1961, là môt ca sĩ và nhạc sĩ Ireland, và là một nhạc sĩ cột trụ của làng nhạc New Age thế giới kể từ 1988 khi album solo đầu tiên của chị, Watermark, ra đời năm 1988 và ngay lập tức nổi tiếng trên thế giới.

Âm nhạc của Enya có sắc thái riêng, với nhiều lớp giọng ca trong trẻo của chị chồng lên nhau, với giai điệu dân ca cổ truyền Ireland, nhạc nền synthersizer, và âm thanh vang dội nhè nhẹ như nhạc từ trời.

Năm 2000 album A Day Without rain của chị chiếm kỷ lục bán 15 triệu bản, biến chị thành nữ nghệ sĩ có nhạc bán chạy nhất năm 2001. Hiên nay chị là nghệ sĩ xuất cảng nhạc thứ hai của Ireland, chỉ sau ban U2, với 70 triệu đĩa năm 2009.

Chị đã thắng 4 giải Grammy và được đề nghị một lần cho giải Oscar.

Sau đây mời các bạn nghe 3 bản nhạc trượng trưng của Enya:

1. Watermark

2. We are free now. Dùng trong phim Gladiator.

3. Caribbean blue

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành.
.

1. Watermark


.

2. We are free now


.

3. Caribbean Blue

Điều kiện cần thiết cho sáng tạo

Chào các bạn,

Nếu chúng ta quan sát đời sống con người, ta có thể nhận ra ngay điều kiện cần thiết cho sáng tạo là “đối chọi” hay “đối phó.” Con người ở trong vùng bị lụt hàng năm chẳng hạn, sẽ phát minh ra nhiều cách để đối phó với lũ lụt, từ đê điều, đến hệ thống kinh rạch thoát nước, đến hệ thống thuyền bè di tản. Người ở vùng sa mạc, thì đương nhiên là sẽ biết cách tìm nước từ trong gốc cây kẻ đá, nơi mà không ai khác có thể biết, hoặc là cách nào chỉ uống một ngụm nước nhỏ mà đi cả chục cây số.

Đối phó với thử thách tạo ra phát minh mới, qui luật này ai cũng biết. Vì vậy, trong quản lý người ta tạo ra các tình huống đối chọi để tìm phát minh hàng ngày. Ví dụ, brainstorming, động não, dùng hầu như hàng ngày để tìm sáng kiến, là hình thức một nhóm người thảo luận vô giới hạn về tư tưởng. Hoặc cạnh tranh thi đua giữa các nhóm sẽ thúc đẩy các nhóm phát minh ra phương cách để chiến thắng. Hoặc devil’s advocate (biện hộ cho chúa quỷ) khi các nhóm viên chia thành hai phe tranh luận nhau để tìm ‎ý mới.

Không có đối chọi, đối phó, thì rất khó để ‎ý tưởng sáng tạo ra đời.

Bởi vì vậy, các nền kinh tế chính trị mạnh nhất thế giới ngày nay đều là các quốc gia rất trân trọng tranh luận trên mọi lãnh vực. Và chính nhờ sự trân trọng tranh luận này mà khối Âu Mỹ trở thành nền văn minh mạnh nhất thế giới ngày nay, vượt qua hẳn những nền văn minh lớn thời cổ đại nhưng không mở rộng thảo luận—như Trung quốc, Ấn Độ, Ai Cập.

Đây cũng là vấn đề đã kéo dài cả bao thế kỷ, và ngày nay vẫn còn tiếp diễn với dân Việt. Chúng ta chú trọng đến gọi dạ bảo vâng, cho nên óc sáng tạo của người Việt nói chung thì rất là khiêm tốn. Và các hệ thống quyền lực chính trị của Việt Nam, từ thời quân chủ cho đến ngày nay, cũng là nạn nhân của truyền thống đó—thích quản lý bằng gọi dạ bảo vâng hơn là tạo điều kiện để nhân dân tranh luận.

Và vì không quen tranh luận, nên mỗi khi tranh luận ta có khuynh hướng đánh nhau hơn là tranh luận.

Và “đánh nhau” lại là l‎ý do để các hệ thống quyền lực hạn chế hay cấm tranh luận.

Nói chung là ta nằm trong vòng lẩn quẩn ngàn năm, không bước ra được, chung qui cũng chỉ vì văn hóa chống tranh luận, gọi dạ bảo vâng.

Đây là việc các nước tiền tiến trên thế giới đều đang làm để khuyến khích tranh luận:

1. Thầy cô khuyến khích các em phát biểu ‎ kiến riêng từ hồi mới vào vườn trẻ.

2. Năng lực đóng góp của một em vào thảo luận nhóm luôn luôn là điểm quan tâm số một của các giáo chức, cũng như của cha mẹ. Nếu các em có vấn đề ở trường là bố mẹ được thông báo ngay.

3. Bố mẹ dạy các em nói ra điều mình muốn từ lúc 2, 3 tuổi, chứ không tập các em chỉ vâng dạ điều bố mẹ muốn cho các em (Dĩ nhiên, là bên cạnh đó các em cũng được dạy vâng lời trong một số việc).

4. Trong học đường các em được dạy phân tích và thảo luận mọi vấn đề và tìm kết luận riêng cho mình thay vì chỉ nuốt các phân tích và kết luận có sẵn của thầy cô.

Và hệ thống xã hội thì:

1. Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền hiến định cao cả nhất. Từ đó đưa đến tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình (trật tự) để phát biểu ý ‎ kiến với chính phủ…

2. Nhà nước áp dụng luật để bảo đảm sân chơi tự do cho nhân dân được tự do ngôn luận.

3. Nhà nước không rớ vào và xía vào tranh luận của nhân dân. Nhà nước chỉ hành xử luật khi có người phạm luật.

4. Các đại học có quy chế đại học tự trị và tự do nghiên cứu cũng như phát hành ấn phẩm.

Nói chung, toàn hệ thống xã hội, từ gia đình đến trường học đến guồng máy công quyền được tổ chức để khuyến khích và nâng cao khả năng mỗi cá nhân nói lên ý tưởng của mình, và tìm ý tưởng mới qua tranh luận thảo luận tự do.

Xã hội của ta thì ngược lại. Từ gia đình đến học đường đến guồng máy công quyền đặt trọng tâm vào gọi dạ bảo vâng.

Nếu chúng ta không tìm cách thoát ra khỏi vòng kim cô của cách sống thiếu sáng tạo này thì chúng ta sẽ tiếp tục nghèo đói vài ngàn năm nữa. Đây không phải là chuyện nhỏ.

Có ai quan tâm không vậy?

Mà ngay cả khi không quan tâm đến tổ quốc, thì có ai lo cho cái đầu của chính mình và của con cháu trong nhà mình không vậy?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Họa sĩ tham lam

Gessen là một thiền sư họa sĩ. Trước khi vẽ hay sơn một bức tranh, thiền sư luôn luôn yêu cầu trả tiền trước, và giá của thiền sư rất cao. Thiền sư có tiếng là “Họa sĩ tham lam.”

Một nàng ca kỹ hỏi thiền sư vẽ tranh. “Cô có thể trả bao nhiêu?” Gessen hỏi.

“Bất cứ giá nào ông tính,” cô gái trả lời, “nhưng tôi muốn ông vẽ trước mặt tôi.”

Rồi ngày nọ nàng ca kỹ gọi Gessen. Cô đang mở tiệc khoản đãi các thân chủ của cô.

Gessen vẽ rất đẹp. Khi đã xong, thiền sư đòi giá cao nhất cho thời gian làm việc của mình.

Thiền sư được trả tiền. Rồi nàng ca kỹ quay về hướng khách khứa của cô và nói: “Anh chàng họa sĩ này chỉ muốn tiền. Tranh của ông ta thì được nhưng đầu của ông ta bẩn thỉu; tiền có thể làm đầu óc ông ta đầy bùn. Tranh vẽ từ cái đầu bẩn thỉu như vậy không đáng để trưng bày. Chỉ đáng để làm đẹp váy lót của tôi.”

Nàng cởi váy, rồi bảo Gessen vẽ một bức tranh khác trên mặt sau của váy lót của nàng.

“Cô trả bao nhiêu?” Gessen hỏi.

“Ô bao nhiêu cũng được,” cô gái nói.

Gessen ra một gái rất cao, vẽ bức tranh theo cách yêu cầu, rồi ra về.

Sau này người ta biết được Gessen có những ly’ do này để cần tiền:

Tỉnh của Gessen thường bị nạn đói. Người giàu không giúp người nghèo, vì vậy Gessen có một nhà kho bí mật, chẳng ai biết. Thiền sư giữ đầy gạo trong kho, chuẩn bị cho những khi khẩn cấp.

Từ làng của thền sư đến Đền Thờ Tổ Quốc đường xá rất xấu và nhiều khách lữ hành khốn đốn khi đi đường. Thiền sư muốn làm một con đường tốt hơn.

Thầy của Gessen đã qua đời mà không thực hiện được giấc mơ xây một ngôi chùa. Thiền sư muốn hoàn thành y’ nguyện cho thầy.

Sau khi Gessen đã hoàn thành ba ước nguyện này, thiền sư vất cọ, vất đồ nghề vẽ, và rút lên núi ở, không bao giờ vẽ nữa.
.

Bình:

• Nếu lấy quy luật khế ước mua bán tự do trong kinh tế thị trường để xét đoán thì họa sĩ tính giá cao bao nhiêu và đòi trả trước cách nào, mà người mua vẫn muốn mua, thì có nghĩa là bức tranh vẫn xứng đáng tất cả đòi hỏi đó. Chẳng có gì phải phàn nàn cả. Nếu cho là đòi hỏi quá đáng, thì đừng mua. Tranh chứ đâu có phải cơm gạo đâu mà phải mua dù không thích.

• Gessen bị nàng ca kỹ làm nhục mà không nổi giận. Đó là gạt giận qua một bên để tập trung vào việc kiếm tiền, hay đó là thiền sư không bao giờ nổi giận vì đã là thiền sư đạt đạo?

• Xem ra Gessen làm việc như một nhà kinh doanh chuyên nghiệp: Có mục tiêu kiếm tiền, tiền bạc thẳng thừng tiền trao cháo múc, gạt hết tất cả tự ái qua một bên để đạt được mục đích kiếm tiền. Thế nghĩa là rất “có tâm” và tâm rất vướng mắc vào mục tiêu kiếm tiền.

Sao lại có thể thiền vô tâm được?

Đây là công án cho các bạn. Chúc các bạn giải được công án.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Stingy Artist

Gessen was an artist monk. Before he would start a drawing or painting he always insisted upon being paid in advance, and his fees were high. He was known as the “Stingy Artist.

A geisha once gave him a commission for a painting. “How much can you pay?” inquired Gessen.

“‘Whatever you charge,” replied the girl, “but I want you to do the work in front of me.”

So on a certain day Gessen was called by the geisha. She was holding a feast for her patron.

Gessen with fine brush work did the paining. When it was completed he asked the highest sum of his time.

He received his pay. Then the geisha turned to her patron saying: “All this artist wants is money. His paintings are fine but his mind is dirty; money has caused it to become muddy. Drawn by such a filthy mind, his work is not fit to exhibit. It is just about good enough for one of my petticoats.”

Removing her skirt, she then asked Gessen to do another picture on the back of her petticoat.

“How much will you pay?” asked Gessen.

“Oh, any amount,” answered the girl.

Gessen named a fancy price, painted the picture in the manner requested, and went away.

It was learned later that Gessen had these reasons for desiring money:

A ravaging famine often visited his province. The rich would not help the poor, so Gessen had a secret warehouse, unknown to anyone, which he kept filled with grain, prepared for these emergencies.

From his village to the National Shrine the road was in very poor condition and many travelers suffered while traversing it. He desired to build a better road.

His teacher had passed away without realizing his wish to build a temple, and Gessen wished to complete this temple for him.

After Gessen had accomplished his three wishes he threw away his brushes and artist’s materials and, retiring to the mountains, never painted again.

# 47