Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Thời Kỳ Baroque

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Bài này sẽ là bài mở đầu cho loạt bài “Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt” trong chuỗi bài “Âm Nhạc Việt Nam” mà mình giới thiệu đến các bạn.

Loạt bài “Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt” gồm có những nhạc phẩm ngoại quốc bất tử trên thế giới xưa nay được các nhạc sĩ Việt Nam hoặc chuyển ngữ hoặc viết lại lời Việt từ khoảng thập niên 50s đến thập niên 70s đã được quần chúng rất yêu chuộng và phổ biến cùng khắp Việt Nam qua nhiều thập kỷ.

Trước tiên mình giới thiệu với các bạn dòng nhạc “Baroque” được hình thành vào thời kỳ hậu Phục Hưng (Renaissance, bắt đầu từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16), và là giai đoạn trước Âm nhạc thời kỳ Cổ Điển (Classic, khoảng năm 1730 kéo dài cho tới 1820). Từ “Baroque” là từ tiếng gốc Bồ Đào Nha “Barroco”, có nghĩa là “Ngọc Trai Không Tròn”.

codien2

Âm nhạc thời kỳ “Baroque” là một phong cách âm nhạc phương Tây, được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1600 đến 1750. Âm nhạc thời kỳ này cho thấy được sự sáng tạo các âm sắc. Trong giai đoạn này các nhà soạn nhạc và các nghệ sĩ biểu diễn sử dụng nhiều các kỹ thuật phức tạp, thực hiện thay đổi trong ký hiệu âm nhạc và phát triển các kỹ thuật chơi nhạc cụ mới. Âm nhạc Baroque mở rộng quy mô, phạm vi và tính phức tạp của hiệu năng nhạc cụ và cũng thiết lập các thể loại âm nhạc như Opera, Cantata, Oratorio, Concerto, Sonata. Nhiều thuật ngữ âm nhạc và các khái niệm từ thời kỳ này vẫn còn đang được sử dụng cho đến ngày hôm nay.

Năm tên tuổi lớn trong thời kỳ nhạc “Baroque” hình thành gồm có các nhạc sĩ:

1. Arcangelo Corelli
2. Antonio Lucio Vivaldi
3. Giuseppe Domenico Scarlatti
4. George Frideric Handel
5. Johann Sebastian Bach

Nhạc sĩ Arcangelo Corelli (1653-1713).
Nhạc sĩ Arcangelo Corelli (1653-1713).

Nhạc sĩ Arcangelo Corelli (sinh năm 1653 tại Fusignano, gần Milano, mất năm 1713 tại Roma) là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ đàn violin, nhà sư phạm nổi tiếng người Ý. Ông là một trong những nhà soạn nhạc thời Baroque quan trọng nhất.

Arcangelo Corelli sinh vào năm 1653 khi âm nhạc Baroque đang trở nên thịnh hành. Ông học nhạc tại Faenza, Lugo và Bologna. Năm 1675, ông đến Roma, trở thành một trong những nghệ sĩ đầu tiên của thủ đô Ý. Từ năm 1687 trở đi, ông là nhạc trưởng phụ trách dàn nhạc của Hồng Y giáo chủ Pamphili và từ năm 1690 cho đến khi qua đời, ông là nhạc trưởng của dàn nhạc trong nhà nguyện của Hồng Y giáo chủ Ottoboni, cư trú ngay trong dinh thự của ông và qua đời tại đây.

Corelli có những cống hiến rất lớn về sáng tác với những bản Sonata Da Camera và những bản Concerto Grossi, các bản Sonata độc tấu. Các bản Concerto của Johann Sebastian Bach và George Frideric Handel đều dựa từ đây mà phát triển lên.

Nhạc sĩ Antonio Vivaldi (1678-1741).
Nhạc sĩ Antonio Lucio Vivaldi (1678-1741).

Nhạc sĩ Antonio Lucio Vivaldi (tiếng Ý: [anˈtɔːnjo ˈluːtʃo viˈvaldi]; 4 tháng 3 năm 1678 – 28 tháng 7 năm 1741) là một nhà soạn nhạc người Ý thời kỳ Baroque, nghệ sĩ vĩ cầm bậc thầy, giảng viên âm nhạc, đồng thời ông là một linh mục. Sinh ở Venice, ông được đánh giá là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất thời kỳ Baroque, trong suốt cuộc đời ông, sức ảnh hưởng của ông lan rộng trên khắp châu Âu. Ông thường được biết đến với các concerto viết cho nhiều nhạc cụ, cho violon và nhiều nhạc cụ khác, cũng như các bản hợp xướng cho nhà thờ và hơn bốn mươi vở opera. Ông nổi tiếng với bộ concerto cho vĩ cầm mang tên Bốn Mùa (Le Quattro Stagioni).

Nhiều tác phẩm của ông được viết cho hợp xướng nữ tại Ospedale della Pietà, một nhà tình thương nơi Vivaldi ở trong khoảng thời gian năm 1703-1715 và 1723-1740 khi ông được thụ phong là linh mục Công giáo. Ông cũng có một số thành tựu khi dựng các vở opera lớn ở Venice, Mantua và Vienna. Sau cuộc gặp gỡ với Hoàng Đế Charles VI, Vivaldi chuyển đến Vienna với hy vọng được thăng tiến. Tuy nhiên, vị hoàng đế này mất sau khi Vivaldi chuyển đến một thời gian ngắn và chính Vivaldi cũng mất chưa đầy một năm sau đó trong cảnh bần hàn.

Sau cái chết của ông, âm nhạc của ông đã đi vào quên lãng cho đến khi được hồi sinh mạnh mẽ vào thế kỷ 20. Ngày nay, ông được xếp vào một trong những nhà soạn nhạc Baroque nổi tiếng nhất và được nhiều người thu âm nhất, chỉ đứng sau Johann Sebastian Bach, người cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Vivaldi.

Antonio Lucio Vivaldi sinh năm 1678 tại Venice, dưới thời Cộng Hòa Venice. Ông được bà đỡ rửa tội tại nhà ngay sau khi ra đời, do vậy mọi người tin rằng cuộc đời của ông sẽ bị đe dọa theo một cách nào đó. Không chắc chắn lắm, nhưng việc một đứa trẻ được rửa tội ngay lập tức sau khi sinh chỉ xảy ra vì một trong hai lý do: sức khỏe yếu hoặc do ngày đứa trẻ sinh ra thì thành phố có động đất. Có thể vì lý do đó mà mẹ của Vivaldi đã hiến cuộc sống của đứa con mình cho tôn giáo thông qua việc làm linh mục. Lễ rửa tội chính thức tại nhà thờ của Vivaldi diễn ra hai tháng sau đó.

Theo thông tin trong sổ đăng ký của San Giovanni tại Bragora, bố mẹ của Vivaldi là ông Giovanni Battista Vivaldi và bà Camilla Calicchio. Vivaldi có năm anh chị em ruột: Margarita Gabriela, Cecilia Maria, Bonaventura Tomaso, Zanetta Anna và Francesco Gaetano. Giovanni Battista là thợ cắt tóc trước khi trở thành một nghệ sĩ vĩ cầm chuyên nghiệp. Ông dạy Vivaldi chơi vĩ cầm và tổ chức lưu diễn vĩ cầm cùng với con trai. Vivaldi có nền tảng vững chắc ngay từ khi rất nhỏ, điều đó được đánh giá qua kiến thức âm nhạc phong phú mà ông tích lũy được ở tuổi 24 khi ông bắt đầu làm việc tại Ospedale della Pietà. Giovanni Battista là một trong những người thành lập Sovvegno dei musicisti di Santa Cecilia, một tổ chức dành cho các nhạc sĩ.

Người điều hành của Sovvegno là Giovanni Legrenzi, một nhà soạn nhạc thời kỳ Baroque giai đoạn đầu và là nhạc trưởng tại St Mark’s Basilica. Rất có thể Legrenzi là người dạy Vivaldi những bài học đầu tiên về sáng tác. Nhà bác học người Luxembourg Walter Kolneder nhận thấy một cách rõ ràng sự ảnh hưởng từ phong cách của Lengrenzi trong tác phẩm Tế lễ Laetatus sum của Vivaldi (RV Anh 31) trong giai đoạn đầu, viết vào năm 1691 khi ông mới 13 tuổi. Bố Vivaldi có lẽ cũng có các tác phẩm của riêng ông: Năm 1689, một vở opera mang tên La Fedeltà Fortunata được Giovanni Battista Rossi sáng tác – tên của bố Vivaldi khi gia nhập Sovvegno di Santa Cecilia.

Sức khỏe của Vivaldi không ổn định, Bênh của ông, strettezza di petto (tức ngực), được xếp vào một trong những triệu chứng của bệnh hen suyễn. Điều này không cản trở việc tập luyện vĩ cầm của ông, kể cả sáng tác hay tham gia các hoạt động âm nhạc, nhưng nó khiến ông phải dừng việc chơi các nhạc cụ hơi. Năm 1693, ở tuổi mười lăm, ông bắt đầu học để trở thành một linh mục. Ông được thụ phong linh mục vào năm 1703 ở tuổi 25, và ngay sau đó được đặt biệt danh là Il Prete Rosso, “Linh mục đỏ”. (Rosso tiếng Ý nghĩa là đỏ, và có thể vì màu tóc đỏ được di truyền của ông.)

Không lâu sau khi được thụ phong, từ năm 1704 ông được miễn khỏi việc tham gia thánh lễ vì lý do sức khỏe. Vivaldi chỉ làm thánh lễ với tư cách một linh mục một vài lần và sau đó được miễn hầu hết những mục vụ, mặc dù ông vẫn là một linh mục.

Tháng 9 năm 1703, Vivaldi trở thành một maestro di violino (thầy dạy vĩ cầm) tại một nhà tình thương tên là Ospedale della Pietà (Devout Hospital of Mercy) tại Venice. Khi đó Vivaldi là một nhà soạn nhạc rất nổi tiếng, ông cũng được biết đến với kỹ thuật vĩ cầm vô cùng điêu luyện. Một kiến trúc sư người Đức Johann Friedrich Armand von Uffenbach nhắc đến Vivaldi như là một “nhà soạn nhạc và là nghệ sĩ vĩ cầm nổi tiếng” và “Vivaldi chơi độc tấu bè đệm rất xuất sắc, và ở đoạn kết, ông ta thêm vào một đoạn ngẫu hứng [một đoạn ứng tác] nó hoàn toàn làm tôi sững sờ, vì nó rất khó đối với kể cả những ai đã luyện tập qua, hay chơi tại chỗ, nhưng lại được chơi ngay một cách ngẫu hứng như vậy.”

Năm 1705, tuyển tập các tác phẩm đầu tiên (Connor Cassara) của ông được Giuseppe Sala xuất bản, bao gồm: Tập (opus) 1 là tuyển tập 12 sonata cho hai vĩ cầm và basso continuo, theo phong cách truyền thống. Năm 1709, tuyển tập thứ hai (opus 2) với 12 sonata cho vĩ cầm và basso continuo. So với tuyển tập đầu tiên, Vivaldi đã có một bước đột phá thật sự với 12 tác phẩm concerto cho vĩ cầm độc tấu, song tấu và tứ tấu và dàn dây, L’estro armonico (opus 3), được Estience Roger phát hành tại Amsterdam năm 1711 với lời đề tặng đại hoàng tử Ferdinand của Tuscany. Hoàng tử này bảo trợ cho nhiều nhạc sĩ bao gồm cả Alessandro Scarlatti và George Frideric Handel. Bản thân hoàng tử cũng là một nhạc sĩ, và Vivaldi có lẽ đã được gặp mặt ông tại Venice. L’estro armonico trở thành một thành công vang dội khắp châu Âu. La stravaganza tập (opus) 4 đã nối tiếp nó vào năm 1714, đây là một tuyển tập concerto cho vĩ cầm độc tấu với dàn dây, đề tặng cho một học trò vĩ cầm cũ của Vivaldi, một quý tộc thành Vienna – Vettor Dolfin.

Tháng 2 năm 1711, Vivaldi và bố đến Brescia, tại đó bản phổ của ông cho Stabat Mater (RV 621) được trình diễn như một phần của buổi lễ thánh. Tác phẩm này dường như được viết trong thời gian khá gấp rút: phần dành cho dàn dây viết đơn giản, phần nhạc của ba chương đầu được lặp lại ba lần sau đó, và lời hát không được viết một cách tron vẹn. Tuy nhiên, đó có thể một phần do sự ép buộc thời gian đó của tác phẩm, tác phẩm này đã trở thành một trong những thành tựu lớn đầu tiên của ông.

Vào khoảng đầu thế kỷ 18, các buổi trình diễn opera là hình thức giải trí âm nhạc phổ biến nhất tại Venice. Điều đó đã đem lại rất nhiều tiền bạc cho Vivaldi do một loạt nhà hát đã tranh giành sự chú ý của công chúng. Vivaldi bắt đầu việc viết opera như một nghề tay trái của ông: Vở opera đầu tiên, Ottone in villa (RV 729) không được trình diễn ở Venice mà là ở nhà hát Garzerie tại Vicenza năm 1713. Năm tiếp theo, Vivaldi trở thành impresario (giám đốc nghệ thuật) của Teatro San Angelo tại Venice, nơi vở opera của ông Orlando finto pazzo (RV 727) được trình diễn. Tác phẩm này không bắt được thị hiếu của công chúng: tên tuổi của nó bị chìm xuống chỉ sau vài tuần và bị thay thế bằng buổi trình diễn lại của một tác phẩm ra đời năm trước đó.

Năm 1715, tác phẩm Nerone fatto Cesare (Rv 724, hiện tại đã bị thất lạc) của ông được ra mắt, với giai điệu được bảy nhạc sĩ khác nhau viết dưới sự chỉ đạo của ông. Vở opera nay gồm mười một aria, nó là một tác phẩm khá thành công. Trong khoảng thời gian cuối năm đó, Vivaldi lên kế hoạch cho một vở opera hoàn toàn do ông viết, Arsilda, regina di Ponto (RV 700), nhưng bị nhà nước cấm công diễn. Nhân vật chính trong vở opera, Arsilda, yêu một người phụ nữ tên Lisea, là một người phụ nữ giả trang đàn ông. Vivaldi được cho phép trình diễn vở opera này trong những năm tiếp theo, và nó đã trở thành một thành công vang dội.

Trong thời gian này, Hội tình thương Pietà được giao cho phụ trách công tác chuẩn bị cho một số buổi lễ thánh quan trọng. Quan trọng nhất là hai otatorio (một thể loại âm nhạc dùng trong thánh lễ). Otatorio đầu tiên của Vivaldi, Moyses Deus Pharaonis, (RV 643) đã bị thất lạc. Otatorio thứ hai, Juditha triumphans (RV 644) dùng để kỷ niệm chiến thắng của Cộng hòa Venice trong việc chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ và tái chiếm đảo Corfu. Được viết năm 1716, đây là một trong những tác phẩm thành công nhất của ông. Tất cả mười một đoạn aria đều được những cô gái của Pietà trình diễn, kể cả những đoạn dành cho giọng nam. Nhiều aria có chứa phần trình diễn độc tấu của nhạc cụ – sáo (recorder), kèn oboe, violas d’amore (một dạng vĩ cầm), và mandolin – đã thể hiện tài năng của các cô gái.

Cũng trong năm 1716, Vivaldi cho ra hai Opera nữa, L’incoronazione di Dario (RV 719) và La costanza trionfante degli amori e degli odi (RV 706). Opera thứ hai La costanza trionfante degli amori e degli odi (RV 706) nổi tiếng đến nỗi sau hai năm trình diễn, vở opera này được chỉnh sửa và đặt tên lại thành Artabano re dei Parti (RV 701, hiện tại đã thất lạc). Nó cũng được trình diễn tai Prague năm 1732. Trong nhiều năm tiếp theo, Vivaldi viết một số vở opera khác và chúng được trình diễn trên khắp nước Ý.

Những thành công nhất của ông trong thể loại opera là La costanza trionfante và Farnace với sáu buổi diễn thành công cho mỗi bản.

Năm 1717 hay 1718, Vivaldi được đề cử cho vị trí danh giá – Maestro di Cappella – nhạc trưởng trong cung đình của hoàng tử Philip of Hesse-Darmstadt, thống đốc Mantua. Ông chuyển đến đây trong vòng ba năm và sáng tác một số vở opera như Tito Manlio(RV 738). Năm 1721 ông đến sống tại Milan, nơi ông đạo diễn vở kịch đồng quê La Silvia (RV 734, 9 aria còn được ghi lại). Ông trở lại Milan lần nữa trong năm tiếp theo với bản oratorio L’adorazione delli tre re magi al bambino Gesù (RV 645, cũng đã thất lạc). Trong năm 1722 Vivaldi chuyển đến Rome, nơi ông cho ra mắt phong cách opera mới của mình. Tân giáo hoàng Benedict XIII đã mời Vivaldi đến chơi đàn cho mình. Năm 1725, Vivaldi trở lại Venice, và ông sáng tác bốn bản opera trong năm đó.

Trong thời gian này ông viết bộ concerto Bốn Mùa, gồm bốn concerto cho vĩ cầm miêu tả phong cảnh của mỗi mùa. Ba trong số bốn concerto hoàn toàn được viết dựa trên ý tưởng riêng, trong khi bản concerto đầu tiên “Mùa xuân” lại mượn motif từ một sinfonia trong những cảnh đầu tiên của một opera cùng thời “II Giustino”. Cảm hứng cho bốn concerto này hầu như đều dựa trên cảnh đồng quê quanh vùng Mantua. Chúng có một sự tuần hoàn trong phần ý tưởng âm nhạc: trong đó Vivaldi miêu tả dòng chảy của những con suối nhỏ, tiếng chim hót (với những sắc thái khác nhau, của các loài chim khác nhau), chó sủa, muỗi vo ve, âm thanh của những người chăn cừu, điệu nhảy của những kẻ say, đêm yên tĩnh, những cuộc đi săn dưới góc nhìn của thợ săn và cả con mồi, cảnh băng giá, trẻ con trượt tuyết, và những ánh lửa ấm áp của mùa đông. Mỗi concerto có tiền đề là một bài thơ ngắn (sonnet), có thể do chính Vivaldi viết, miêu tả phong cảnh được dựng lên trong mỗi tác phẩm. Bốn concerto này được xuất bản như bốn concerto đầu tiên cùng với tám tác phẩm khác trong một bộ 12 tác phẩm, Il cimento dell’armonia e dell’inventione, Opus 8 được Michel-Charles Le Cène phát hành tại Amsterdam vào năm 1725.

Trong thời gian ở Mantua, Vivaldi làm quen với một nữ ca sĩ trẻ đầy tham vọng Anna Tessieri Girò, cô ta trở thành học trò của ông, được ông bảo trợ, và là giọng nữ hát opera chính được ông yêu thích nhất. Anna cùng với người chị cùng cha khác mẹ (hoặc cùng mẹ khác cha) của cô là Paolina trở thành một trong những người thân cận và đồng hành với ông trong nhiều chuyến đi. Có sự nghi vấn về bản chất của mối quan hệ của Vivaldi và Giro, nhưng không có bằng chứng nào khác ngoài những bằng chứng thể hiện mối quan hệ với tư cách là bạn bè và cộng sự giữa họ. Khi mối quan hệ của Vivaldi và Anna Girò bị đặt dấu hỏi, ông đã phủ định một cách cứng rắn về mọi quan hệ lãng mạn giữa hai người trong một lá thư gửi cho người bảo trợ của ông (Bentivoglio) vào ngày 16 tháng 11 năm 1737.

Khi ở đỉnh cao của sự nghiệp, Vivaldi nhận tiền sáng tác từ các quý tộc và hoàng gia châu Âu. Bản serenata (cantata) Gloria e Imeneo (RV 687) là đơn đặt hàng vào năm 1725 của một đại sứ Pháp gửi đến Venice để kỷ niệm lễ thành hôn của Louis XV. Năm tiếp theo, một bản serenata khác, La Sena festeggiante (RV 694), cũng viết cho một đại diện chính phủ Pháp, kỷ niệm sinh nhật của của các công chúa hoàng gia Pháp, Henriette và Louise Élisabeth. Bản Opus 9 của Vivaldi đã được đề tặng cho hoàng đế Charles VI. Năm 1728, Vivaldi tới gặp hoàng đế khi Charles VI đến Trieste để giám sát công trình xây cảng mới. Charles rất ấn tượng với âm nhạc của ông đến nỗi trong buổi nói chuyện đó của hoàng đế với nhà soạn nhạc, Charles VI đã nói với Vivaldi thời gian nhiều hơn thời gian Charles VI nói chuyện với bộ trưởng của mình trong suốt hai năm. Đức vua ban cho Vivaldi danh hiệu Hiệp sĩ, một huy chương vàng và mời ông đến Vienna. Vivaldi tặng Charles VI một bản chép tay của La Cetra, một bộ concerto gần như hoàn toàn khác với bộ concerto cùng tên đã được công bố trong tập (opus) 9 trước đó. Có lẽ việc in ấn đã bị trì hoãn, buộc Vivaldi phải tổng hợp và chép tay lại một bộ các tác phẩm ứng tác để đề tặng cho hoàng đế.

Cùng với cha, Vivaldi đến Vienna và Prague năm 1730, nơi vở opera Farnace (RV 711) của ông được công diễn. Một số vở opera sau đó của ông được viết cùng với sự cộng tác của hai nhà văn lớn của Ý thời bấy giờ. L’Olimpiade và Catone in Utica được Pietro Metastasio, tác gia tiêu biểu của phong trào Aracdian và thể loại thơ tình tại Vienna, thực hiện. La Griselda được Carlo Goldoni viết lại nhờ lấy ý tưởng từ một libretto viết trước đó của Apostolo Zeno.

Cũng như các nhà soạn nhạc cùng thời khác, những năm cuối đời của Vivaldi gặp khó khăn về tài chính. Những sáng tác của ông không còn được coi trọng như thời ông còn ở Venice; sự thay đổi về thị hiếu âm nhạc một cách nhanh chóng khiến các tác phẩm của ông trở nên lỗi thời. Để mưu sinh, Vivaldi chọn cách bán những bản viết tay của ông với số lượng lớn ở mức giá thấp để gom góp tiền bạc để tới Vienna. Lý do Vivaldi rời Venice không được làm sáng tỏ, nhưng có lẽ là sau lần gặp gỡ thành công tốt đẹp của ông với hoàng đế Charles VI, ông hy vọng có được một chân soạn nhạc cho hoàng gia. Trên đường trở về Vienna, Vivaldi có lẽ đã dừng lại ở Graz để gặp lại Anna Girò.

Có thể Vivaldi đến Vienna để tiếp tục viết opera, đặc biệt khi ông chuyển đến ở gần nhà hát kịch Kärntnertor. Sau một thời gian ngắn khi ông chuyển đến Vienna, Vua Charles VI mất khiến nhà soạn nhạc không còn sự bảo trợ nào của hoàng gia đồng thời mất đi nguồn thu nhập ổn định. Rất nhanh sau đó, Vivaldi rơi vào cảnh bần cùng và mất trong đêm ngày 27/28 tháng 7 năm 1741, thọ 63 tuổi, do nhiễm trùng nội tạng, trong căn nhà thuộc quyền sở hữu của một góa phụ của một người làm yên xe tại Vienna. Ngày 28 tháng 7 ông được chôn cất một cách đơn giản tại một nghĩa trang của một bệnh viện công. Lễ tang của Vivaldi tổ chức tại nhà thờ thánh Stephen, nhưng cậu bé Joseph Haydn không thể làm gì hơn cho buổi tang lễ này khi không hề có một khúc nhạc nào được trình diễn tại lễ tang.

Ông được chôn cất cạnh nhà thờ Karlskirche, trong khu vực mà hiện tại là một phần của Đại Học Kỹ Thuật Vienna. Ngôi nhà nơi ông sống khi ở Vienna còn lại đã bị phá hủy; Khách sạn Sacher được xây trên phần đất đó. Bảng tưởng niệm được đặt ở cả hai nơi cũng như “ngôi sao” Vivaldi được đặt tại Viennese Musikmeile và một tượng đài đặt tại Rooseveltplatz.

Trong âm nhạc của Vivaldi có sự đổi mới. Ông đã thay đổi cấu trúc về hình thức và nhịp điệu của concerto trở nên tươi sáng hơn, và ông tìm thấy sự hài hòa và tương phản từ đổi mới giai điệu và giai điệu chủ đề. Phần nhiều sáng tác của ông có âm hưởng vui vẻ năng động, có lúc đến độ hào hứng, bồng bột của tuổi thanh niên.

Các concerto và aria của Vivaldi đã có ảnh hưởng rất sâu sắc đến Johann Sebastian Bach (từ các tác phẩm St John Passion, St Matthew Passion và các cantata). Bach soạn lại sáu trong số các concerto viết cho nhạc cụ phím độc tấu của Vivaldi, ba trong số đó cho organ, một cho harpsichord, dàn dây và basso continuo (BWV 1065) của Bach được dựa trên concerto cho bốn violin, hai viola, cello và Basso continuo (RV 580) của Vivaldi.

Trong suốt cuộc đời của ông, sự nổi tiếng nhanh chóng của Vivaldi khiến tên tuổi của ông được công nhận trên nhiều quốc gia, trong đó có nước Pháp, nhưng sau khi ông mất danh tiếng của ông cũng chìm xuống. Sau thời kỳ Baroque, những bản concerto từng được trình diễn của Vivaldi ít được biết đến và hầu như không được chú ý. Kể cả tác phẩm thành công nhất của ông, bộ giao hưởng Bốn Mùa với bản soạn gốc cũng ít được ai biết đến trong thời gian này, ngoài các nhà sử học và nhạc học.

Ở đầu thế kỷ 20, concerto cung Đô trưởng của Fritz Kreisler, viết dựa trên phong cách của Vivaldi (Kreisler đã viết theo qui cách cũ của Vivaldi) đã khơi dậy danh tiếng của Vivaldi. Từ đó, nhà nghiên cứu người Pháp Marc Pincherle bắt đầu nghiên cứu về nghệ thuật âm nhạc của Vivaldi. Nhiều bản viết tay của Vivaldi được tìm thấy nhờ thư viện trường đại học quốc gia Turin dựa trên sự cung cấp thông tin của các thương gia người Turin – Roberto Foa và Piplipo Giordano, để tưởng nhớ những người con trai của họ. Việc này khơi lại sự yêu thích đối với Vivaldi, trong số đó Mario Rinaldi, Alfredo Casella, Ezra Pound, Olga Rudge, Desmond Chute,Arturo Toscanini, Arnold Schering và Louis Kaufman là những người góp phần cho sự hâm mộ trở lại của nhạc Vivaldi ở thế kỷ 20.

Năm 1926, tại một tu viện ở Piedmont, những nhà nghiên cứu đã tìm thấy bốn mươi bản in của các tác phẩm của Vivaldi mà trước đó người ta cho rằng đã thất lạc trong những cuộc chiến của Napoleon. Một số phần trong các bộ đã được đánh số được tìm thấy trong bộ sưu tập của những người thừa kế của Grand Duke Durazzo, người đã mua trọn các khu tu viện này vào thế kỷ 18. Các phần được tìm thấy bao gồm 300 concerto, 19 vở opera và hơn 100 tác phẩm dành cho thanh nhạc và nhạc cụ.

Các tác phẩm của Vivaldi được nhận dạng bằng kí hiệu RV có đánh số, nó đề cập đến việc nó được xếp vào “Ryom-Verzeichnis” hay “Répertoire des oeuvres d’Antonio Vivaldi”, một danh mục do nhà âm nhạc học Peter Ryom đặt ra vào thế kỷ 20.

Le quattro stagioni (Bốn Mùa) được sáng tác năm 1723 là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Là một phần của Il cimento dell’armonia e dell’inventione (Vấn đề giữa sự hài hòa và sáng tạo”), nó tái hiện các trạng thái và khung cảnh của mỗi mùa trong năm. Tác phẩm này được miêu tả như một ví dụ tiêu biểu của âm nhạc trước thế kỷ 19.

Vivaldi còn viết hơn 500 concerto khác. Khoảng 350 trong số này cho viết cho nhạc cụ độc tấu và dàn dây, trong số này có 230 bản cho vĩ cầm. Các tác phẩm còn lại là cho bassoon, cello, oboe, flute, viola d’amore, recorder, lute, hoặc mandolin. Khoảng bốn mươi concerto viết cho hai nhạc cụ và dàn dây, khoảng ba mươi cho nhiều nhạc cụ hơn và dàn dây.

Ngoài 46 vở opera, Vivaldi còn sáng tác một số lượng lớn các tác phẩm âm nhạc dành cho thánh lễ. Các tác phẩm khác bao gồm các sinfonia, khoảng 90 sonata và tác phẩm thính phòng.

Một số sonata cho flute, công bố với tên Il Pastor Fido, đã bị nhầm lẫn là các tác phẩm do Vivaldi sáng tác, thực tế các tác phẩm này là các tác phẩm của Nicolas Chédeville.

Nhạc sĩ Domenico Scarlatti (1685-1757).
Nhạc sĩ Giuseppe Domenico Scarlatti (1685-1757).

Nhạc sĩ Giuseppe Domenico Scarlatti (sinh năm 1685 tại Naples, mất năm 1757 tại Madrid) là nhà soạn nhạc người Ý đã dành phần lớn cuộc đời của mình trong việc phục vụ các gia đình hoàng gia Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Ông là một trong những nhà soạn nhạc xuất sắc nhất thời kỳ Baroque và có ảnh hưởng trong sự phát triển của phong cách cổ điển. Ngoài ra ông còn là nghệ sĩ đàn clavecin, đàn organ và là nhạc trưởng.

Giuseppe Domenico Scarlatti sinh ra ở Naples, ông là con thứ 6 trong 10 người con của Alessandro Scarlatti, nhà soạn nhạc cũng của thời kỳ Baroque. Cậu bé Giuseppe Domenico Scarlatti đã học nhạc với người thầy đầu tiên chính là người cha Alessandro. Tiếp theo là học với Gaetano Greco, Bernardo Pasquini và Francesco Gasparini ở thành phố trên nước Venice. Năm 1701, ông được bổ nhiệm làm nhà soạn nhạc và nghệ sĩ đàn đại phong cầm tại nhà nguyện hoàng gia ở Naples. Từ năm 1709 đến năm 1720, Giuseppe Domenico Scarlatti sống ở thành Roma. Năm 1709, Hồng y giáo chủ Ottoboni, chủ nhân của George Frideric Handel, tổ chức một cuộc thi đấu giao hảo về đàn organ và đàn clavecin cho Scarlatti và Handel. Cuối cùng, kết quả là hòa: Handel thắng ở phần đàn organ, Scarlatti thắng ở phần đàn clavecin. Năm 1720, Scarlatti chuyển đến Lisbon, một thành phố của Bồ Đào Nha. Năm 1729 ông chuyển đến Sevilla, ở trong bốn năm và đã học được một số kiến thức về flamenco. Năm 1733 ông đinh cư ở Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha cho đến cuối đời.

Ông sáng tác chủ yếu cho đàn clavecin. Âm nhạc của Giuseppe Domenico Scarlatti nổi lên vẻ đẹp và sự phong phú về giai điệu, sự tinh tế, hóm hỉnh, sử dụng nhiều chất liệu âm nhạc dân gian, sinh hoạt đương thời, nhất là âm nhạc nhảy múa lúc đó. Những tác phẩm của ông đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hình thức Sonata cũng như của kỹ thuật chơi đàn phím. Đến nay nhiều tác phẩm của ông được giảng dạy và biểu diễn nhiều.

Năm 1738 ông xuất bản 30 Essercizi, là bộ sưu tập nổi tiếng nhất của ông. Giuseppe Domenico Scarlatti sáng tác trên 10 vở opera, các bản oratorio, 4 bản mixa, những bản cantata và các tác phẩm âm nhạc tôn giáo khác, 545 bản fuga và sonata cho đàn clavecin (có 496 bản được xuất bản và được chính tác giả gọi là Những Bài Tập), những bản serenade và nhiều tác phẩm thanh nhạc khác.

Nhạc sĩ George Frideric Handel (1685-1759).
Nhạc sĩ George Frideric Handel (1685-1759).

Nhạc sĩ George Frideric Handel (tiếng Đức: Georg Friedrich Händel; phát âm [ˈhɛndəl]) (23 tháng 2, 1685 – 14 tháng 4,1759) là nhà soạn nhạc người Anh gốc Đức thuộc thời kỳ Baroque, nổi tiếng với những dòng nhạc opera, oratorio, anthem, và concerto organ. Handel sinh năm 1685, trong một gia đình không quan tâm đến âm nhạc. Ông được đào tạo âm nhạc tại Halle, Hamburg, và Ý trước khi đến định cư tại Luân Đôn năm 1712, rồi nhập quốc tịch Anh năm 1727. Lúc ấy, ông chịu ảnh hưởng sâu đậm từ những nhà soạn nhạc vĩ đại thời kỳ Baroque Ý, và truyền thống hợp xướng đối âm từ miền trung nước Đức.

Trong vòng 15 năm, Handel khởi lập ba công ty opera thương mại nhằm cung ứng âm nhạc opera Ý cho giới quý tộc Anh, nhưng công chúng tìm đến chỉ để thưởng thức giọng hát của các ca sĩ thay vì quan tâm đến âm nhạc. Năm 1737, sau khi bị khánh tận, ông chuyển hướng nhắm vào giới trung lưu. Trong năm 1736, khi Alexander’s Feastđược đón nhận, Handel quyết định sáng tác những bản hợp xướng bằng tiếng Anh. Sau khi thành công với Trường ca Messiah (1742), ông ngưng trình diễn nhạc opera Ý. Dù những bản oratorio theo chủ đề Kinh Thánh liên tục ra mắt công chúng, tài năng âm nhạc của Handel vẫn chưa được công nhận đầy đủ cho đến buổi trình diễn Trường ca Messiah gây quỹ cho Bênh viện Foundling (1750), và mọi chỉ trích nhắm vào Handel đều im tiếng. Cũng có nhận xét cho rằng cảm hứng chủ đạo thể hiện trong những bản oratorio của Handel thuộc phạm trù đạo đức, được thăng hoa không chỉ bởi sự uy nghiêm của nghi thức tôn giáo mà còn bởi những lý tưởng cao cả của nhân loại. Sống ở Anh gần đủ năm mươi năm, và hầu như khiếm thị khi cuối đời, Handel từ trần năm 1759 trong giàu có và danh vọng.

Handel được nhìn nhận như là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của mọi thời đại. Các sáng tác của ông như Water Music, Music for the Royal Fireworks, và Trường ca Messiah vẫn còn được yêu thích cho đến ngày nay. Trong hơn ba mươi năm, ông viết hơn bốn mươi vở opera. Kể từ cuối thập niên 1960, khi nền âm nhạc baroque và trào lưu trình diễn âm nhạc theo phong cách nguyên thủy được phục sinh, những vở opera của Handel ngày càng được ưa chuộng. Chúng đầy tính nhân bản, thể hiện được những đặc điểm nổi trội của bản chất con người; điều này là đặc biệt, nhất là đối với nhà soạn nhạc chưa bao giờ được biết đến như là một nghệ sĩ đa tình đa mang.

Handel sinh năm 1685 tại Halle, lãnh địa Công tước Magdeburg, trong một gia đình giàu có và mộ đạo, là con của Georg Handel và Dorothea Taust. Handel chào đời khi cha đã 63 tuổi, ông là phẫu thuật viên thẩm mỹ nổi tiếng đang phục vụ tại cung điện Saxe-Weissenfels và lãnh địa bá tước Brandenburg. Theo John Mainwaring, người đầu tiên viết tiểu sử Handel, cậu bé “đã sớm có thiên hướng đặc biệt về âm nhạc đến nỗi người cha, vốn muốn con con mình theo học Luật Dân sự, phải cảnh giác. Ông cấm con trai sử dụng nhạc cụ nhưng Handel tìm mọi cách để có được một chiếc đàn clavichord nhỏ cho riêng mình đặt trong căn phòng áp mái. Cậu thường xuyên lẻn vào căn phòng này khi cả nhà đang ngủ”. Từ khi còn bé, Handel đã trình diễn thành thạo đàn harpsichord và đàn ống.

Khi Handel và cha đến Weissenfels thăm họ hàng đang phục vụ Công tước Johann Adolf, công tước đã thuyết phục người cha cho phép con trai theo học Friedrich Wilhelm Zachow, nghệ sĩ organ của Nhà thờ Mari ở Halle, về kỹ thuật keyboard và soạn nhạc. Zachow viết nhạc cho các buổi lễ thờ phượng tại nhà thờ theo giáo nghiLutheran, nhờ đó Handel học hỏi nhiều về kỹ thuật hòa âm và đối âm, sao chép và phân tích những bản tổng phổ. Năm 1689, Handel chơi đàn cho Vua Frederick I và gặp gỡ Giovanni Battista Bononcini tại Berlin.

Năm 1702, theo sắp đặt của cha, Handel khởi sự học luật tại Đại Học Halle; và chơi đàn organ trong vòng một năm cho một nhà thờ Tin Lành Cải cách. Nhưng Handel vẫn chưa hài lòng, năm 1703 cậu gia nhập dàn nhạc giao hưởng Oper am Gänsemarkt Hamburg, chuyên chơi vĩ cầm và đàn harpsichord. Tại đây, cậu có cơ hội gặp gỡ những nhà soạn nhạc như Johann Mattheson, Christoph Graupner, và Reinhard Keiser. Năm 18 tuổi, Handel sáng tác vở opera đầu tay, Almira, ra mắt công chúng năm 1705; năm 1708 thêm hai vở opera Daphne và Florindo. Nhưng không có gì chắc chắn là Handel đã hướng dẫn trình diễn những vở này.

Handel viết vở opera hoàn toàn Ý đầu tiên của mình trong Nhà hát Cocomero ở Florence năm 1707. Vở Agrippina ra mắt công chúng năm 1709 tại Teatro San Giovanni Grisostomo, nhà hát đẹp nhất Venice, chủ nhân của nó là dòng họ Grimani. Vở opera này, do hồng y Vincenzo Grimani viết lời, theo Mainwaring đã trình diễn thành công trong 27 đêm liên tiếp. Khán giả, kinh ngạc trước sự uy nghi cao cả của phong cách Handel, đã vỗ tay hoan hô Il caro Sassone (“chàng Saxon yêu quý” – ngụ ý nguồn gốc Đức của Handel)

Năm 1710, Handel trở thành Kappellmeister (nhà soạn nhạc) cho Hoàng tử Georg, Tuyển đế hầu Hanover. Đến năm 1714, Georg trở thành Vua Vua George I của Anh và Ireland. Năm 1710, trên đường đến Luân Đôn, Handel thăm Anna Maria Luisa de’ Medici và chồng ở Düsseldorf. Handel thành công vang dội với vở opera Rinaldo dựa trên thiên sử thi Gerusalemme Liberata của thi sĩ người Ý Torquato Tasso, dù tác phẩm này được viết trong một thời gian ngắn với nhiều vay mượn từ những sáng tác cũ của ông.

Năm 1712, Handel đến định cư ở Anh. Nữ hoàng Anne cấp cho Handel 200 bảng Anh mỗi năm sau khi ông viết cho nữ hoàng bản hợp xướng Utretcht Te Deum and Jubilate, trình diễn lần đầu năm 1713. Một trong những người đỡ đầu quan trọng của Handel là Bá tước Burlington, thành viên trẻ tuổi của một gia tộc quyền thế gốc Anh-Ái Nhĩ Lan. Handel viết cho Lord Burlington vở opera Amadigi di Gaula, kể chuyện một thiếu nữ gặp nạn, dựa trên một vở bi kịch của Antoine Houdar de la Motte.

Tháng 7, 1717, bản giao hưởng Water Music của Handel được trình diễn trên sông Thames cho Vua George I và quan khách, vì quá hứng thú với bản giao hưởng này mà nhà vua đã yêu cầu dàn nhạc trình diễn ba lần liên tiếp

Năm 1717, Handel trở thành nhà soạn nhạc cho dinh thự Cannons của Công tước Chandos ở Middlesex, tại đây với mười hai khúc ngợi ca Chandos, ông đã lập nền cho sự nghiệp soạn nhạc hợp xướng của mình trong tương lai. Romain Roland nói rằng những khúc ngợi ca này có ý nghĩa quan trọng cho dòng nhạc oratorio của Handel cũng giống như những bản cantata đối với những vở opera cũng của ông. Một tác phẩm khác ông viết cho Công tước Chandos là Acis and Galatea; khi còn sống, đây là tác phẩm được trình diễn nhiều nhất của Handel. Winton Dean ghi nhận rằng “âm nhạc đã làm người ta nín thở và rối loạn trí nhớ”.

Năm 1723, Handel thuê một ngôi nhà kiến trúc kiểu Georgian tại số 25 Đường Brook và lưu trú tại đây cho đến khi qua đời. Trong ngôi nhà này, Handel diễn tập, chép nhạc, và bán vé, nay là Bảo tàng Nhà Handel. Trong quãng thời gian 12 tháng giữa năm 1724 và 1725, những kiệt tác opera của Handel đã được hình thành: Giulio Cesare, Tamerlano, và Rodelinda. Sau Silete venti, ông tập trung viết opera và ngưng soạn những bản cantata.

Năm 1727, Handel được yêu cầu viết bốn bài tụng ca dành cho lễ đăng quang của Vua George II. Một trong bốn tác phẩm ấy, Zadok the Priest, luôn được chọn để trình diễn trong tất cả lễ đăng quang ở Anh kể từ thời điểm ấy. Năm 1728, vở The Beggar’s Opera của John Gay ra mắt công chúng tại Nhà hát Lincoln’s Inn Fields và có 62 buổi trình diễn liên tiếp, một con số kỷ lục cho đến lúc ấy. Sau chín năm, hợp đồng của Handel với Viện Âm Nhạc Hoàng Gia chấm dứt, ông bắt tay thành lập một công ty mới.

Tháng 4, 1737 ở tuổi 52, Handel bị một cơn đột quỵ khiến ông không thể sử dụng bốn ngón tay của bàn tay phải, vì vậy không thể biểu diễn đàn. Đến mùa hè, sự rối loạn từng hồi từng lúc ảnh hưởng đến sự nhận thức của ông. Không ai dám mong đợi Handel trình diễn lần nữa. Song, dù bệnh tật là cơn thấp khớp, đột quỵ, hoặc suy nhược thần kinh, Handel cũng mau chóng gượng dậy. Handel còn đến Aachen có suối nước khoáng để nghỉ dưỡng. Trong sáu tuần lễ, ông tắm nước nóng, rồi chơi đàn organ trước sự ngạc nhiên của khán giả.

Năm 1749, Handel viết Music for the Royal Fireworks, thu hút 12000 người tham dự buổi trình diễn đầu tiên. Năm 1750, ông tổ chức biểu diễn Trường ca Messiah gây quỹ cho Bệnh viện Foundling. Kể từ sự thành công vang dội của buổi trình diễn này, mỗi năm đều có những buổi hòa nhạc Trường ca Messiah cho đến khi Handel qua đời. Để ghi nhận sự đóng góp của Handel, chỉ một ngày sau buổi hòa nhạc, ông được mời làm ủy viên quản trị của bệnh viện. Trước khi từ trần, Handel viết di chúc để một bản sao chép Trường ca Messiah cho bệnh viện. Ngày nay, Viện bảo tàng Foundling ở Luân Đôn có cuộc triển lãm ghi nhận công lao của Handel. Ngoài ra, ông cũng đóng góp cho một tổ chức từ thiện trợ giúp những nhạc sĩ nghèo và gia đình của họ.

Tháng 8, 1750, trên chuyến đi từ Đức về Luân Đôn, Handel bị chấn thương nặng trong một tai nạn xe ngựa trên quãng đường giữa The Hague và Haarlem, Holland. Năm 1751, một mắt của ông bị mất thị lực do bệnh đục nhân mắt. Ngày 6 tháng 4, 1759, dù bị mù lòa và sức khỏe suy kiệt, Handel cương quyết đến dự buổi trình diễn Trường ca Messiah, và đây là lần cuối cùng ông đến xem một sáng tác của mình được trình diễn, tám ngày sau ông từ trần tại nhà riêng trên Đường Brook ở tuổi 74. Handel được an táng tại Điện Westminster. Hơn ba ngàn người thương tiếc ông có mặt trong tang lễ được tổ chức trọng thể.

Handel chưa hề kết hôn, và giữ kín cuộc sống riêng tư.

Handel đã sáng tác hơn 42 vở opera, 20 bản oratorio, hơn 120 bản cantata, tam tấu và song tấu, nhiều bản aria, nhạc thính phòng, một số lượng lớn nhạc tôn giáo, ode và serenata, và 16 bản concerto organ. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, bản oratorio Messiah với phần hợp xướng “Hallelujah” là một trong những sáng tác hợp xướng được yêu thích nhất, đặc biệt trong mùa Giáng Sinh. Những sáng tác nổi tiếng khác của ông có Organ concertos Op. 4, cùng với Opus 3 và Opus 6 concerti grossi. Cần phải kể thêm 16 keyboard suite, nhất là The Harmonious Blacksmith.

Handel cũng ra sức giới thiệu trong các sáng tác của ông các loại nhạc cụ ít được biết đến như: viola d’amore và violette marina (Orlando), đàn lute (Ode for St Cecilia’s Day), bộ ba kèn trombone (Saul), clarinet hay cornett(Tamerlano), đàn dây theorbo, kèn Pháp (Water Music), lyrichord, double bassoon, viola da gamba, bell chimes, positive organ, và đàn harp (Giulio Cesare, Alexander’s Feast)

Sau khi Handel qua đời, những vở opera tiếng Ý của ông dần bị quên lãng. Dù vẫn tiếp tục được trình diễn, người ta tin rằng những bản oratorio của Handel cần phải được chỉnh sửa; trong thời gian này, Mozart điều khiển buổi trình diễn Trường ca Messiah phiên bản tiếng Đức và những tác phẩm khác của Handel. Xuyên suốt thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20, đặc biệt tại những xứ sở nói tiếng Anh, những bản oratorio tiếng Anh đã tạo nên thanh danh cho Handel qua những buổi trình diễn với những ca đoàn khổng lồ quy tụ các ca sĩ nghiệp dư được tổ chức vào những kỳ lễ hội trọng thể.

Kể từ lúc dấy lên phong trào phục hưng nhạc cổ điển, phần lớn trong số bốn mươi hai vở opera của Handel được biểu diễn tại những nhà hát opera và những sảnh hòa nhạc.

Những nhà soạn nhạc danh tiếng như Haydn, Mozart, và Beethoven đều quan tâm nghiên cứu âm nhạc của Handel.

Từ những thập niên qua, công chúng bắt đầu chú ý đến những bản cantata thế tục của Handel cùng những tác phẩm gọi là “oratorio thế tục” hoặc “concert opera”. Trong thể loại cantata thế tục nổi bật nhất là Ode for St Cecilia’s Day (1739), và Ode for the Birthday of Queen Anne (1713). Về những bản oratorio thế tục là các sáng tác Acis and Galatea (1719), Hercules (1745), và Semele (1744). Các tác phẩm này có mối quan hệ gần gũi với những bản oratorio thánh, nhất là phần ca từ tiếng Anh. Chúng được đánh giá cao ngang hàng những vở opera tiếng Ý của Handel. Không chỉ nổi tiếng như là một nghệ sĩ biểu diễn các loại nhạc cụ, viết hợp xướng, soạn ca từ, Handel còn được công chúng đón nhận như là một nhà viết nhạc kịch vĩ đại.

Sau khi nhập quốc tịch Anh, ông được biết đến trong các quốc gia nói tiếng Anh như là “George Frideric Handel”. Tên nguyên thủy của ông, Georg Friedrich Händel, được dùng ở Đức và những nơi khác, còn người Pháp gọi ông là “Haendel”.

Cùng với Johann Sebastian Bach và Henry Purcell, Handel được vinh danh theo lịch phụng vụ của Giáo Hội Giám Nhiệm Hoa Kỳ (Anh giáo) vào lễ kính ngày 28 tháng 7 hàng năm. Theo lịch các thánh của Giáo Hội Luther, ngày 28 tháng 7 là ngày tưởng niệm Handel, J.S. Bach cùng với Heinrich Schütz. Handel cũng được tưởng niệm với Bach theo lịch các thánh của Dòng Thánh Luca của Giáo Hội Giám Lý Hiệp Nhất.

Nhạc sĩ Johann Sebastian Bach (1685-1750).
Nhạc sĩ Johann Sebastian Bach (1685-1750).

Nhạc sĩ Johann Sebastian Bach (21 tháng 3, 1685 – 28 tháng 7, 1750) là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ organ, vĩ cầm, đại hồ cầm, và đàn harpsichord người Đức thuộc thời kỳ Baroque (1600 – 1750). Nhờ kỹ năng điêu luyện trong cấu tạo đối âm, hòa âm, và tiết tấu, cũng như khả năng điều tiết nhịp điệu, hình thái, và bố cục âm nhạc nước ngoài, nhất là từ Ý, và Pháp, Bach đã góp phần làm giàu nền âm nhạc Đức. Nhiều sáng tác của Bach vẫn còn được yêu thích cho đến ngày nay như Brandeburg Concertos, Mass cung Si thứ, The Well-Tempered Calvier, những bản cantata, những bài hợp xướng, những partita, passion, và những bản nhạc dành cho organ. Âm nhạc của Bach được xem là có chiều sâu trí tuệ, đáp ứng những yêu cầu chuyên môn, và thấm đẫm nét đẹp nghệ thuật.

Bach chào đời ở Eisenach, Saxe-Eisenach, trong một gia đình có truyền thống âm nhạc; thân phụ ông, Johann Ambrosius Bach, phụ trách âm nhạc cho thị trấn, tất cả chú bác của ông đều hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp. Cậu bé Bach được bố dạy chơi vĩ cầm, harpsichord, chú Johann Christoph Bach dạy chơi clavichord và giới thiệu về âm nhạc đương đại. Bach đến học ở Trường St Michael tại Lüneburg nhờ khả năng xướng âm của cậu. Sau khi tốt nghiệp, Bach giữ một vài vị trí chuyên trách âm nhạc trên nước Đức: giám đốc âm nhạc cho Leopold, Hoàng tử Anhalt- Köthen; nhạc trưởng ở nhà thờ St Thomas tại Leipzig; và nhà soạn nhạc cung đình cho August III. Từ năm 1749, sức khỏe và thị lực của Bach bị suy giảm, đến ngày 28 tháng 7, 1750, ông từ trần. Các sử gia đương đại tin rằng Bach chết do biến chứng của cơn đột quị và do bệnh phổi.

Sinh thời, dù được trọng vọng khắp Âu châu như là một nghệ sĩ organ tài năng, mãi đến nửa đầu thế kỷ 19 Bach mới được nhìn nhận là nhà soạn nhạc tầm cở khi người ta bắt đầu quan tâm đến tài năng âm nhạc của ông. Ngày nay, ông được xem là một trong những nhà soạn nhạc có nhiều ảnh hưởng nhất của thời kỳ Baroque, và là một trong số những nhà soạn nhạc tầm cở nhất từ trước đến nay.

Johann Sebastian Bach sinh tại Eisenach, Saxe-Eisenach ngày 21 tháng 3, 1685, là con trai của Johann Ambrosius Bach, phụ trách âm nhạc cho thị trấn, và Maria Elisabeth Lämmerhirt. Cậu là con thứ tám của Johann Ambrosius, (con trai đầu của ông được 14 tuổi khi Bach ra đời), người đã dạy Bach chơi vĩ cầm cũng như lý thuyết âm nhạc căn bản. Các chú bác của Bach đều hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp như nghệ sĩ organ cho nhà thờ, nhạc sĩ cung đình, và nhà soạn nhạc. Chú Johann Christoph Bach dạy Bach chơi organ, một người anh họ của Bach, Johann Ludwig Bach, là nhà soạn nhạc và nghệ sĩ organ nổi tiếng. Khoảng năm 1735, Bach soạn một quyển gia phả tựa đề “Nguồn gốc gia đình âm nhạc Bach”.

Mẹ của Bach mất năm 1694, tám tháng sau cha cậu cũng qua đời. Bach, mới 10 tuổi, đến sống với người anh cả, Johann Christoph Bach, nghệ sĩ đàn organ tại Nhà thờ Michael ở Ohrdruf, Saxe-Gotha-Altenburg. Ở đây, người anh dạy cậu em chơi đàn clavichord, và giới thiệu các tác phẩm của những nhà soạn nhạc bậc thầy thời ấy như Johann Pachelbel (từng là thầy của Johann Christoph), Johann Jakob Froberger, Jean-Bapiste Lully, Louis Marchand, Marin Marais, và Girolamo Frescobaldi. Cũng trong thời gian này, cậu đến trường để học thần học, tiếng La-tinh, Hi văn, tiếng Pháp, và tiếng Ý.

Lúc 14 tuổi, Bach nhận học bổng để theo học tại Trường St Michael danh giá ở Lüneburg. Cùng với việc học biết về nền văn hóa châu Âu, Bach hát trong ca đoàn, chơi đàn organ và harpsichord. Cậu cũng có cơ hội tiếp xúc với các con trai của những nhà quý tộc từ miền Bắc nước Đức đến học những môn học khác trong trường. Là một tài năng âm nhạc, Bach có dịp gặp gỡ những nghệ sĩ organ xuất sắc thời ấy ở Lüneburg, Böhm, và khu vực gầnHamburg như Johann Adam Reincken

Tháng 1, 1703, sau khi tốt nghiệp Bach nhận lời chơi đàn organ cho thị trấn Sangerhausen, rồi được bổ nhiệm làm nhạc sĩ cung đình tại nhà nguyện của Công tước Johann Ernst ở Weimar. Nhiệm vụ của ông không rõ ràng, nhưng chắc chắn phải làm những công việc không liên quan đến âm nhạc như hầu bàn. Tuy nhiên, trong bảy tháng ở Weimar, Bach trở thành nghệ sĩ organ nổi tiếng, ông được mời kiểm tra và biểu diễn với chiếc đàn organ mới ở Nhà thờ St Boniface tại Arnstadt, khoảng 40 km tây nam Weimar. Tháng 8, 1703, ông đến nhận việc tại St Boniface với nhiệm vụ nhẹ nhàng và khoản lương khá hậu hĩnh, và một chiếc đàn tốt còn mới.

Năm 1706, Bach đến chơi đàn organ cho Nhà thờ St Blasius ở Mühlhausen với thù lao, điều kiện làm việc, và ca đoàn đều tốt hơn. Bốn tháng sau, Bach kết hôn với Maria Barbara. Bốn trong số bảy người con của họ sống đến tuổi trưởng thành, trong đó có Wilhelm Friedemann Bach, và Carl Philipp Emanuel Bach, cả hai đều là những nhà soạn nhạc xuất sắc. Bach thuyết phục nhà thờ và hội đồng thành phố cấp một số tiền lớn để tân trang chiếc đàn organ của nhà thờ; đổi lại, Bach sáng tác một bản cantata lễ hội – Gott ist mein König, BWV 71— cho lễ nhậm chức của hội đồng trong năm 1708. Hội đồng cho phát hành, và tác phẩm là một thành công vang dội.

Năm 1708, Bach rời Mühlhausen trở lại Weimar, lần này ông vừa chơi đàn organ vừa giữ vị trí vĩ cầm chính cho dàn nhạc hòa tấu tại cung điện công tước; tại đây, ông có cơ hội làm việc với nhiều nhạc sĩ chuyên nghiệp. Năm sau, con đầu lòng của Bach ra đời, chị của Maria Barbara đến sống chung và giúp đỡ vợ chồng Bach cho đến khi bà qua đời năm 1729.

Tại Weimar, Bach khởi sự soạn những bản hòa tấu và nhạc dành cho bộ gõ, cũng như tiếp tục sáng tác và trình diễn đàn organ, và hòa tấu cho ban đồng diễn của công tước. Ông cũng viết những khúc nhạc dạo và tấu pháp về sau được đưa vào kiệt tác Das Wohltemperierte Clavier của ông, gồm hai quyển biên soạn năm 1722 và 1744.

Năm 1717, Leopold, Hoàng tử xứ Anhalt-Köthen, thuê Bach làm giám đốc âm nhạc. Hoàng tử Leopold, cũng là một nhạc sĩ, trân trọng tài năng của Bach, trả lương hậu hĩnh, và để ông tự do trong sáng tác và trình diễn. Hoàng tử là người theo Thần học Calvin không cầu kỳ trong việc sử dụng âm nhạc trong thờ phượng, do đó, hầu hết sáng tác của Bach trong giai đoạn này không liên quan đến các chủ đề tôn giáo như Orchestra Suites, Six Suites for Unaccompanied Cello, Sonatas and Partitas for Solo Violin, và Brandenburg Concertos. Bach cũng soạn những bản cantata cho triều đình như Die Zeit, die Tag und Jahre macht, BWV 134a.

Mặc dù cùng tuổi, ngưỡng mộ nhau, và sống cách nhau chỉ 80 dặm, Bach và Handel chưa bao giờ gặp nhau. Năm 1719 Bach đi 20 dặm từ Köthen đến Halle để gặp Handel nhưng lại nhằm lúc Handel vừa rời khỏi thành phố. Năm 1730, con trai của Bach, Friedmann đi Halle để mời Handel đến thăm gia đình Bach ở Leipzig, nhưng rồi chuyến viếng thăm chẳng bao giờ thực hiện được.

Ngày 7 tháng 7, 1720, khi Bach đang ở nước ngoài với Hoàng tử Leopold, vợ của Bach đột ngột qua đời. Năm sau, ông gặp Anna Magdalena Wilcke, một ca sĩ tài năng giọng nữ cao nhỏ hơn Bach 17 tuổi, lúc ấy đang trình diễn tại triều đình ở Köthen; ngày 3 tháng 12, 1721, hai người kết hôn. Tổng cộng họ có 13 người con, trong đó sáu người sống đến tuổi trưởng thành: Gottfried Heinrich, Johann Christoph Friedrich, Johann Christian, cả ba đều là những nhạc sĩ tài danh; Elisabeth Juliane Friederica (1726–81), kết hôn với học trò của Bach, Johann Christoph Altniko; Johanna Carolina (1737–81); và Regina Susanna (1742–1809)

Năm 1723, Bach được bổ nhiệm phụ trách âm nhạc cho Trường St Thomas thuộc Nhà thờ St Thomas tại Leipzig, đồng thời kiêm nhiệm Giám đốc Âm nhạc cho ba nhà thờ chính trong thành phố: Nhà thờ St Nikolai, Nhà thờ St Pauline, và Nhà thờ Đại học Leipzig. Đây là một vị trí được trọng vọng tại một trung tâm thương mại của Saxony, ông phục vụ ở đây suốt 27 năm cho đến khi qua đời.

Công việc của Bach là dạy hát cho học sinh Trường St Thomas và soạn nhạc cho các nhà thờ chính ở Leipzig. Bach cũng dạy tiếng La-tinh, và được phép sử dụng một phụ tá để thay thế ông trong nhiệm vụ này khi cần thiết. Người ta yêu cầu ông soạn một bản cantata cho mỗi lễ Chủ nhật, và cho những ngày lễ khác trong năm. Bach cũng thường trình diễn những bản cantata của riêng ông, hầu hết đều được sáng tác trong ba năm đầu ông đến sống ở Leipzig. Phần lớn những sáng tác hòa tấu dẫn ý từ những chương phúc âm đọc trong lễ thờ phượng mỗi Chủ nhật và những ngày lễ được ấn định trong lịch giáo nghi của Giáo hội Luther.

Không chỉ sáng tác và trình diễn trong các thánh lễ, tháng 3 năm 1729, Bach nhận lời làm giám đốc Collegium Musicum, chương trình trình diễn do nhà soạn nhạc Georg Philipp Telemann khởi xướng. Nhiều sáng tác của Bach trong hai thập niên 1730 và 1740 được trình diễn bởi Collegium Musicum; trong số đó có những bài Clavier-Übung (thực hành bộ gõ) và nhiều bài viết cho hòa tấu violin và harpsichord.

Năm 1733, Bach sáng tác Kyrie và Gloria trong Mass cung Mi thứ. Ông trình bản thảo cho Vua Ba Lan, Đại Công tước Lithuania và Tuyển đế hầu Saxony, August III; dần dà ông giành được sự tín nhiệm của nhà vua và được phong chức Nhà Soạn nhạc Hoàng cung. Về sau ông phát triển sáng tác ấy thành bài Mass bằng cách thêm vào một Credo, Sanctus và Agnus Dei.

Địa vị Bach đạt được tại hoàng triều là một phần trong cuộc đấu tranh lâu dài với Hội đồng Thành phố Leipzig. Mặc dù toàn bộ tác phẩm Mass chưa lần nào được trình diễn khi Bach còn sống, Mass được xem là một trong những bản hợp xướng vĩ đại nhất trong mọi thời đại.

Tác phẩm cuối cùng của Bach là phần dạo đầu bài thánh ca cho organ tựa đề Vor deinen Thron tret ich hiermit (Con về chầu trước bệ ngai Ngài, Bach-Werke-Verzeichnis BWV 668a), sáng tác trước khi qua đời, được đề tặng cho con rể của ông, Johann Christoph Altnickol. Khi đếm những nốt trên ba khuông nhạc của đoạn kết và xếp chúng theo mẫu tự Roman sẽ xuất hiện ba chữ cái tên của ông “JSB”.

Ngày 28 tháng 7, 1750, Bach từ trần, hưởng thọ 65 tuổi. Con trai Emanuel, và học trò Johann Friedrich Agricola, viết điếu văn cho Bach.

Bach được an táng tại Nghĩa trang Old St John ở Leipzig. Phần mộ của ông bị lãng quên trong gần 150 năm. Đến năm 1894, cuối cùng người ta cũng tìm thấy quan tài của Bach và được dời đến Nhà thờ St John. Trong thời kỳ Đệ nhị thế chiến, ngôi giáo đường này bị Đồng minh đánh bom, năm 1950, di hài của Bach được chôn cất tại Nhà thờ St Thomas ở Leipzig

Sau khi mất, danh tiếng của Bach như là một nhà soạn nhạc bị suy giảm; các sáng tác của ông bị xem là lỗi thời khi so sánh với thể loại nhạc cổ điển vừa mới xuất hiện. Lúc ấy, ông chỉ được nhớ đến như là một nhạc công và một thầy dạy nhạc.

Đến cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, tài năng của Bach được công nhận rộng rãi nhờ những sáng tác của ông cho bộ gõ. Mozart,Beethoven, Chopin, Robert Schumann, và Felix Mendelssohn là những tên tuổi được liệt kê trong danh sách những người ngưỡng mộ Bach; họ bắt đầu chú trọng nhiều hơn đến kỹ năng đối âm sau khi tiếp xúc với âm nhạc của Bach. Beethoven miêu tả Bach là “Urvater der Harmonie”, “cha đẻ của hòa âm”. Thanh danh của Bach lan tỏa rộng một phần nhờ quyển tiểu sử Bach của Johann Nikolaus Forkel phát hành năm 1802. Felix Mendelssohn cũng đóng góp đáng kể cho nỗ lực phục hưng danh tiếng của Bach bằng cuộc trình diễn St Matthew Passion của Bach trong năm 1829 tại Berlin. Năm 1850, Bach Gesellschaft (Hội Bach) được thành lập để quảng bá các tác phẩm của ông; năm 1899 Hội đã phát hành một ấn bản toàn tập các sáng tác của nhà soạn nhạc với rất ít sửa đổi về biên tập.

Tiến trình nhìn nhận giá trị âm nhạc cũng như ảnh hưởng giáo dục một số tác phẩm của Bach tiếp diễn trong suốt thế kỷ 20, đáng kể nhất là nỗ lực của Pablo Casals quảng bá Cello Suites (tuyển tập sáu bài viết cho đàn cello) của Bach. Một đóng góp khác là phong trào “authentic” trình bày âm nhạc theo sát với chủ đích của nhà soạn nhạc, thí dụ như trình bày những bài viết cho bộ gõ với đàn harpsichord thay vì đàn piano lớn và sử dụng ca đoàn nhỏ hoặc giọng đơn ca thay vì những ca đoàn lớn và hùng hậu như thường thấy ở thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Âm nhạc của Bach thường được ví sánh với văn chương của William Shakespeare và thành quả khoa học của Isaac Newton. Trong thế kỷ 20 ở nước Đức, người ta đặt tên đường và dựng tượng để tôn vinh ông. Hơn bất kỳ nhà soạn nhạc nào khác, âm nhạc của Bach xuất hiện ba lần trong Đĩa ghi vàng Voyager, mang những hình ảnh, tư liệu, âm thanh, ngôn ngữ, và âm nhạc chọn lọc về Trái Đất, văn hoá nhân loại đi khắp vũ trụ, với hi vọng một ngày nào đó, một nền văn minh ngoài Trái Đất sẽ có thể nhận được nó. Nó được coi là một phần trong chương trình Voyager.

Phong cách âm nhạc của Bach lập nền trên kỹ năng của ông trong sáng tạo đối âm và kiểm soát nhạc tố, sự tinh tế của ông trong những đoạn ngẫu hứng, khả năng tiếp cận với âm nhạc Pháp, Ý, Bắc và Nam Đức, cũng như niềm đam mê tận hiến dành cho giáo nghi Lutheran. Từ khi còn bé, Bach đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với các nhạc sĩ, sử dụng nhiều loại nhạc cụ, và khả năng sáng tác đã giúp ông phát triển một phong thái âm nhạc phóng khoáng và sung mãn. Từ giai đoạn 1713-14 trở về sau, ông học hỏi nhiều từ phong cách âm nhạc của người Ý.

Trong thời kỳ Baroque, nhiều nhà soạn nhạc chỉ viết phần khung rồi dành phần tôn tạo cho những người trình diễn. Phương pháp này được ứng dụng khác nhau trong các trường phái âm nhạc ở châu Âu; Bach ghi nốt cho hầu hết hoặc tất cả khung nhạc của ông, không còn chỗ cho trình diễn ngẫu hứng.

Bach được biết đến như một nhà soạn nhạc có khả năng kết hợp nhịp điệu của nhạc khiêu vũ Pháp, sự duyên dáng của ca khúc Ý, và sự tinh tế của kỹ thuật đối âm Đức – tất cả những đặc điểm này được thể hiện trong sáng tác của Bach. Song đối với Bach, âm nhạc không chỉ đơn thuần là âm nhạc; gần ba phần tư những sáng tác của ông tập chú vào các chủ đề tôn giáo. Nhiều người gọi Bach là “Người viết Phúc âm thứ năm”; ông còn được miêu tả như là “Nhà thần học viết bằng những phím đàn”.

Bach có mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa của Cơ Đốc giáo theo truyền thống Lutheran; cùng lúc, chuẩn mực cao dành cho nền âm nhạc tôn giáo thời của ông đã giúp nhạc thánh chiếm vị trí trung tâm trong mục tiêu sáng tác của Bach. Ông là người mộ đạo chân thành và tận tụy, khi đang đảm trách vị trí nhạc trưởng tại Nhà thờ St Thomas ông cũng nhận lời dạy lớp giáo lý, và soạn nhạc dựa trên nội dung các bài giảng giáo lý; nhiều sáng tác của ông lập nền trên giai điệu hợp xướng thánh ca Lutheran. Cấu trúc quy mô lớn một số sáng tác của Bach cho nền thánh nhạc là chứng cứ thuyết phục về cung cách làm việc tinh tế, cần cù, và tỉ mỉ của ông. Bach viết nhiều cho bộ gõ theo thang bậc từ continuo đến độc tấu với những harpsichord concerto và obbligato bộ gõ. Những đoạn độc tấu điêu luyện là yếu tố then chốt trong những tác phẩm khác của Bach như Prelude và Fugue cung Mi thứ, BWV 548 cho phong cầm.

Dưới đây mình có 6 clips tổng hợp các sáng tác của Arcangelo Corelli, Аntoniо Lucio Vivaldi, Giuseppe Domenico Scarlatti, George Frideric Handel, Johann Sebastian Bach do các dàn nhạc giao hưởng danh tiếng trên thế giới diễn tấu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

oOOo

Arcangelo Corelli – Violin Sonata Op.5 No.12 (Part 1):

 

Antonio Lucio Vivaldi – Four Seasons – Spring (Part 1):

 

Giuseppe Domenico Scarlatti – Harpsichord Sonatas K1 – K19, Scott Ross 01:

 

BBC Proms 2010 – Johann Sebastian Bach, Day 1 – Toccata And Fugue in d minor bwv 565:

 

George Frederic Handel – ‘For Unto Us a Child is Born’ from “The Messiah”:

 

George Frederic Handel – Trường ca “Messiah” – The Choir of King’s College, Cambridge:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s