Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Lá Diêu Bông”, “Tình Cầm” – Hoàng Cầm & Phạm Duy

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các thi khúc “Lá Diêu Bông”, “Tình Cầm” của Thi sĩ Hoàng CầmNhạc sĩ Phạm Duy.

Thi sĩ Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, nay là thôn Phúc Tằng, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Quê gốc của ông ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong gia đình truyền thống nho giáo lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân Dân Xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

Thi sĩ Hoàng Cầm thời trẻ.
Thi sĩ Hoàng Cầm thời trẻ.

Năm 1944, do Thế Chiến Thứ Hai xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại nơi này, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Sau đó ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể.

Cuối năm 1955, ông về cộng tác ở Hội Văn Nghệ Việt Nam, làm việc xuất bản. Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam, và được bầu vào Ban Chấp Hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm”, ông phải rút khỏi Hội Nhà Văn vào năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi.

Ông nổi tiếng với vở kịch thơ “Hận Nam Quan”, “Kiều Loan” và các bài thơ “Lá Diêu Bông”, “Bên Kia Sông Đuống”. Ngoài bút danh Hoàng Cầm ông còn có các bút danh: Bằng Việt, Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi.

Thời gian cuối đời ông sống tại Hà Nội. Ông mất vào ngày 6 tháng 5 năm 2010 vì bạo bệnh.

hoangcam_Tập Thơ

Thi phẩm “Lá Diêu Bông” (Thi sĩ Hoàng Cầm)

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo
— Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày sau Em tìm thấy lá
Chị chau mày:
— Đâu phải lá Diêu Bông

Mùa đông sau Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
Trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ thưở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non, cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu Bông hời..!

Ới Diêu Bông (1959)

hoangcam_ĐB

Thi khúc “Lá Diêu Bông” (Nhạc sĩ Phạm Duy)

Đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ gọi là chồng
Tao sẽ gọi là chồng
Đứa nào tìm được lá diêu bông…
Vài ngày sau em tìm thấy lá
Chị chau mày : đâu phải lá diêu bông!
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu nhìn nắng vãn bên sông.

Đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ nhận là chồng
Tao sẽ nhận là chồng
Đứa nào tìm được lá diêu bông…

Ngày cưới Chị, em tìm thấy lá
Chị mỉm cười, se chỉ, cắm trôn kim
Chị đã ba con, em tìm thấy lá
Xoè tay, phủ mặt, Chị không nhìn…

Đứa nào tìm được lá diêu bông
Thì từ nay tao sẽ gọi là chồng
Tao sẽ gọi là chồng
Đứa nào tìm được lá diêu bông…

. . . . . .

Từ thuở đó, em cầm chiếc lá
Nơi đầu non cuối bể, em đi
Lời vi vút gió quê lắng gọi
Diêu bông hời hỡi diêu bông
Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ…

hoangcam_Tình Cầm

Thi phẩm “Nếu Anh Còn Trẻ” (Thi sĩ Hoàng Cầm)

Nếu anh còn trẻ như năm ấy
Quyết đón em về sống với anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh

Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận
Anh luỵ đời quên bến khói sương
Năm tháng… năm cung mờ cách biệt
Bao giờ em hết nợ Tầm Dương?

Nếu có ngày mai anh trở gót
Quay về lãng đãng bến sông xa
Thì em còn đấy hay đâu mất?
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà…

Thi khúc “Tình Cầm” (Nhạc sĩ Phạm Duy)

Nếu anh còn trẻ như năm cũ…
Quyết đón em về sống với anh!
Những khi chiều vàng phơ phất đến…
Anh đàn em hát níu xuân xanh…

Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ…
Có anh ngồi lại so phím cũ
Mong chờ em hát khúc xuân xưa!!!

Nhưng thuyền em buộc trên sông hận…
Anh chẳng quay về với trúc tơ!
Ngày tháng tỳ bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi chờ!

Nếu có ngày nào em quay gót
Lui về thăm lại bến thu xẳ
Thì đôi mái tóc không còn xanh nữẳ
Mây bạc trăng vàng vẫn thướt tha”.

Dưới đây mình có các bài:

– Lá Diêu Bông
– Hoàng Cầm Ca
– Thử giải mã chuyện tình Lá Diêu Bông

Cùng với 4 clips tổng hợp các thi khúc “Lá Diêu Bông”, “Tình Cầm” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Thi sĩ Hoàng Cầm.
Thi sĩ Hoàng Cầm.

Lá Diêu Bông

(Công Tử Hà Đông)

Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa (Hoàng Cầm)

Những người yêu Thơ Hoàng Cầm đều biết những bài thơ tình hay nhất của ông: Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cây Tam Cúc, Nếu Anh còn trẻ… Nhiều người thắc mắc không biết ở đồng làng Đình Bảng — Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng.. nên nghĩ là hai Chị Em buổi chiều đông xưa đó theo nhau đi ở cánh đồng làng Đình Bảng — có cái lá gọi là lá Diêu Bông thật không, đi tìm lá Diêu Bông để làm gì? Trong đời Thi sĩ có một người chị như ông thường nhắc đến trong thơ thật hay không?

Thi sĩ Hoàng Cầm trả lời người yêu thơ ông những câu hỏi ấy trong bài “Tám Nhịp Tuần Du”, viết năm 1992. Tôi trích một đoạn trong bài ấy.

“Tám Nhịp Tuần Du”. VĂN XUÔI HOÀNG CẦM. Nhà Xuất Bản Văn Học, phát hành Tháng 12 năm 1999. Trích:

“… Nói chung hầu hết những bài thơ của tôi được độc giả ưa thích trong nhiều năm, bao giờ cũng bắt đầu một cách vi diệu là “từ ngoài tôi”, vẳng lên đôi ba câu nghe rất rành rẽ, giọng phụ nữ lảnh lót mà rất xa, như hát mà như đọc. Như một tia nước trong vắt phun lên từ ruột đất khi chúng ta thăm dò mạch nước ngầm để đào giếng, khi đã có đôi ba câu vẳng lên bên tai, tôi ghi ngay, bắt lấy ngay và từ đó là tình cảm, suy tư cuồn cuộn trong người, tôi thường tiếp được mạch ban đầu ấy và nối luôn các đợt sóng tuôn trào cho đến khi trong người thấy yên ắng, nhẹ nhõm là bài thơ cũng hoàn tất. Ví dụ như bài thơ dài Bên Kia Sông Đuống (tôi đã viết rất tỉ mỉ, thuật lại những trạng thái của tâm tư mình trước lúc bật ra thơ..) tôi đang ở trong trạng thái bồn chồn, thao thức, tâm tư rối bời sau khi nghe báo cáo về quê hương mình bị giặc xâm lược kéo lên tàn phá, giết chóc, tôi chưa định viết gì, lúc quá nửa đêm vẳng lặng, bỗng văng vẳng bên tai ba câu:

Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa… cát trắng phẳng lì

Tôi bèn chộp lấy, ghi ngay và cứ thế cảm xúc trào ra một mạch dài, viết rất nhanh, sợ không theo kịp những âm thanh, làn điệu đang cuồn cuộn dâng lên trong lòng mình. Cho đến gần sáng thì xong bài thơ, một trong những bài được các bạn già, trẻ, nam , nữ yêu mến đã gần nửa thế kỷ. Những bài thơ như vậy, thường là không theo một ý nghĩ nào định trước, tác giả giống như một cậu học trò viết chính tả, lúc đầu là có tiếng đọc rành rọt bên tai, sau là viết theo tiếng đọc âm thầm từ trong tâm can mình, ở những trường hợp ấy tôi không hề cấu tứ, nghĩ ngợi gì về câu, chữ, không theo một luật nào của thi pháp về thanh điệu, ngữ điệu gì gì hết. Tôi chỉ tuân theo nhịp rung động của toàn thân, cả tâm hồn và thể chất, khí chất.

Đặc biệt, riêng, riêng có bài thơ Lá Diêu Bông, duy nhất một bài này là những lời vẳng bên tai, từ đầu chí cuối, quá nửa đêm mùa rét 1959, trên giường ngủ, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ 6 oát, bên cạnh người vợ đang ngủ ngon và các con những giường bên cũng đang ngủ say, tôi không gây một tiếng động khả dĩ làm mất giấc ngủ của những người thân. Đêm nào, khi lên giường nằm, tôi cũng để sẵn một tâïp giấy trắng và cái bút chì. Nếu ngủ được thì càng tốt, nhưng thường về đêm, tôi cứ hay bị thao thức, trằn trọc vô cớ. Chẳng có chuyện gì phải lo nghĩ, chẳng có ý định gì trong đầu mà sao về quá nửa đêm một mùa rét ấy tôi vẫn không ngủ được. Bốn bề yên tĩnh.

Nhà tôi ở vào một phố nhỏ, lại lùi tít vào phía trong, nên tiếng xe cộ thưa thớt ngoài đường cũng không lọt vào tai. Im lặng. Chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm rãi, có tiết điệu, nghe như thời nào xa xưa vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về.

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng…

Tôi xoay người trong chăn về phía bên trái và ghi ngay. Giọng nữ vẫn đọc, không vội vàng mà cũng không quá chậm, và tôi ghi lia lịa trong bóng tối mờ. Đến lúc giọng nữ im hẳn, lòng tôi nhẹ bẫng hẳn, một lát sau tôi ngủ thiếp đi. Sớm hôm sau nhìn lại thì có chỗ rõ, đọc được, nhiều chỗ dòng nọ đè lên dòng kia, chữ nọ như xóa mất chữ khác. Phải mất gần nửa tiếng đồng hồ tôi mới tách được ra theo thứ tự đúng như những lời người nữ kì diệu nào đó đã đọc cho tôi viết nửa đêm hôm qua. Bài Lá Diêu Bông ra đời như vậy, nói có người không tin, nhưng tôi nghĩ bây giờ khoa tâm thần học, vô thức luận, tâm linh học có thể lí giải được hiện tượng đó một cách rất khoa học.

Vậy nên, cái Lá diêu bông là cái lá gì, ở đâu, nào tôi có biết. Thần linh đọc diêu bông, tôi chép diêu bông, thế thôi. Nhưng nó có nguồn gốc của nó đấy. Năm 12 tuổi, tôi say mê một người con gái láng giềng hơn tôi những 8 tuổi. Chuyện từ năm lên tám, tôi đi trọ học trên thị xã Phủ Lạng Thương, chiều thứ bẩy, mươi phút xe lửa lại đưa tôi về nhà, ở cái phó ga xép Như Thiết, tên chữ nhà ga đề là Núi Tiết, thực tên là Thiết Sơn, một tổng thuộc huyện Việt Yên. Phó ga ấy cách Hà Nội 44 km. Còn 6 km thì qua cầu sông Thương (con sông Thương nước chẩy đôi dòng), tới ga Phủ Lạng Thương.

Đường số 1 chạy qua trước cửa nhà, sau lưng là đường hỏa-xa Hà Nội-Lạng Sơn. Nhà tôi có tủ thuốc bắc của ông bố, có đôi bồ hàng xén của bà mẹ. Một chiều thứ bẩy, khoảng hơn 4 giờ, tôi về nhà thấy một cô gái đang mua gì của mẹ tôi. Khi cô ấy ngửng đầu lên, nhìn ra đường thì cậu bé lên tám choáng người, như sau này người ta thường gọi là coup de foudre. Người con gái đẹp đến mê hồn. Rồi thứ bẩy sau về nhà, tôi trao bức thư tỏ tình đầu tiên viết bằng thơ lục bát, dài hơn một trang giấy kẻ học sinh trên có vẽ hoa bướn, môt vài ngọn núi, một dòng sông với chữ viết bằng mực tím, nắn nót: “Em gửi Chị Vinh của Em”. Ấy, sở dĩ mới bé tí đã làm được một trang thơ lục bát vì ở trên nhà trọ chỗ thân tình với bố tôi, chủ nhà chính là cái ông xếp cái ga xép Núi Tiết ấy, gia đình ông trên tỉnh đông con, làm nghề hàng xay, hàng xáo, đêm nào cũng xay lúa, giã gạo rồi quạt xẩy đến khuya.

Tôi học bài, làm bài xong, tuy buồn ngủ, các anh, các chị cứ bắt xuống nhà ngang, từ 9 giờ tối, đêm nào cũng phải đọc đủ thứ chuyện dân gian, in khổ nhỏ, bán rẻ từ 2 xu đến 1 hào, đủ các loại truyện, thể thơ lục bát, từ Trê Cóc đến Truyện Kiều, từ Nhị Độ Mai đến Hoa Tiên, rồi Lục Vân Tiên, Hoàng Trừu, Thạch Sanh, Phạm Công-Cúc Hoa, Tống Trân-Cúc Hoa…Vì thực ra, ngay từ bé, tôi sớm có giọng hát hay, ngâm thơ cũng hấp dẫn người nghe lắm. Đọc hết lượt, phải đọc lại. Thể thơ lục bát thấm vào người từ nhỏ, mình lại bẩm sinh yêu thích thơ ca, nên tôi có viết bức thư tình gửi người gái Kinh Bắc, người Chị làm Em say mê ngơ ngẩn suốt năm năm ấy, mà thư tình lại viết bằng thơ lục bát thì hẳn không phải là điều gì đáng ngạc nhiên phải không, thưa các bạn?

Tôi mê say Chị, Chị đi đâu Em theo đấy, chỉ còn biết gọi Chị ơi chứ còn biết nói gì hơn. Người gái tuyệt sắc ấy con một nhà nho chẳng may chết sớm, ba mẹ con, mẹ góa con côi, đèo bòng nhau lên cái phố xép này mở ngôi hàng bán kẹo bánh, nước chè tươi, nước vối, cả bánh đa, bánh đúc, bánh mật, bánh khoai. Chị Vinh võ vẽ chữ nho, đọc thông quốc ngữ, người quê gốc cũng Tiên Du, nên hát quan họ thì làm mê người ta ngang với nhan sắc của chị. Chị cũng thừa biết thằøng bé con này, (tên khai sinh là Bùi Tằng Việt, chỉ đơn giản là tôi ra đời ở thôn Phúc Tằng, huyện Việt Yên, Bắc Giang, nơi bố tôi ở nhờ để gõ đầu trẻ) biết thằng bé con này nó mê đắm mình, nên chị cứ hay trêu đùa, lắm lúc tôi phát khóc, nhưng cũng nhiều giờ phút tôi có một niềm hạnh phúc không có gì so sánh nổi là được chị Vinh cho ngồi sát bên Chị, chầu rìa những cuộc chơi tam cúc ngày Tết, ngày xuân hay ngày hội.

Chị thường nhờ những đêm trăng sáng vào mùa hè, mùa thu, tổ chức những đám thanh niên tụ tập ở cái bãi sau nhà ga, hát ví, hát rrống quân, hát ống, hát giao duyên, hát vấn đáp, đặc biệt về môn quan họ thì Chị là bà chúa của dân ca! Giọng ngọt, say như mật ong, đôi mắt đen buồn thăm thẳm với hàng mi cong và dài, má luôn luôn ửng đỏ, môi luôn luôn đã hồng lại còn cắn chỉ quết trầu, răng đen cũng rưng rức hạt na. Chị Vinh ơi, viết đến đây, em vẫn bồi hồi nhớ từng sợi tóc chị dán trên vừng trán, từng con mắt chị lúng liếng tình tứ, từng giọng hát, từng lời nói, từng nụ cười, em còn ngửi thấy hơi tóc ấm của Chị thoảng mùi hương nhu mới gội buổi chiều, mà nếu Chị buông tóc dài quá đầu gối để hong khô thì cả suối tóc ấy làm thành thế giới mê say của riêng em từ độ ấy đến ngày nay, dẫu tóc em đã trắng hết, em vẫn có thể vẽ đúng chân dung Chị tuyệt vời nếu có người chỉ dẫn cho em đôi điều cơ bản về hội họa. Ảnh Chị in mầu trong hồn em, không một nhà khoa học nào có thể làm ra cho em được những tấm ảnh như em đang có, vẫn còn đầy đủ và tươi tắn, nguyên vẹn từ hơn sáu chục năm rồi đấy, Chị ơi!

Tình cảm Em với người Chị ấy, sơ lược là thế. Tôi sẽ viết tỉ mỉ hơn nhiều trong tập hồi ký sau này, để một số bạn ở xa quê hương hiểu kĩ về thơ tôi hơn, tránh được những điều bình luận sai lạc. Trong tập Về Kinh Bắc thì hai nhân vật Chị và Em ấy đã xuyên qua năm tháng và không gian, qua gió mưa và nắng đẹp, qua biết bao biểu hiện của tâm tư, của số phận, mà trội lên vẫn là cái sầu đơn phương, cứ vương vấn mãi, cho tôi nhớ mãi một kiếp này, biết đâu còn xót xa yêu thương vào tận kiếp sau… Kiếp sau nữa…

Vậy thì chỉ mới sau vụ Nhân Văn-Giai Phẩm có một thời gian ngắn, thơ tôi đã lùi về quá khứ, chẳng biết có phải ẩn dụ, ẩn diếc gì chăng, chỉ có điều là qua 48 bài tôi không một phút nào nghĩ đến thời cuộc chính trị và xã hội trước mắt. Tôi chìm về một quê hương xa, có thực mà như ảo ảnh, là ảo ảnh mà tưởng như gần gũi đâu đây, cứ chập chờn năm tháng và bảng lảng trời mây, xanh mơ mong manh mầu kỷ niệm pha chút tím của tiếc hận, chút hồng của tuổi thơ, chút biêng biếc thắm của say mê, não nùng, của thương cảm không có bến buông neo, và nhìn chung chỉ thấy con mắt của thời gian không hề suy suyển đến một sợi mi cong…Như gần đây tôi đã phải thốt ra: ‘Mắt thời gian càng miên man xanh..’

Rồi Chị Em đi Về Kinh Bắc, lúc thì đố lá Diêu Bông, lúc vào Vườn ổi, lúc Đánh tam cúc, lúc lên Ngọn Sông Thương, lên tít Ngọn Kỳ Cùng, lúc Đếm sao, Đếm nắng, Đếm giờ, Em cứ Theo Đuổi Chị qua hội hè rồi qua cả những tàn tạ của cảnh vật và lòng người, cho đến mùa rét năm 1934. Cái Lá Diêu Bông bắt nguồn từ buổi chiều năm ấy, hình như vào dịp nghỉ lễ Thiên chúa Giáng sinh, những bốn năm ngày liền tôi về nhà, nghĩa là cứ nghỉ học là tôi về ngay nhà với niềm say mê đơn phương, một chuyện tình có Chị, có Em mà tôi vẫn chỉ là một khối cô đơn lẽo đẽo bụi hồng.

Tôi đã 12 tuổi và chị Vinh đã 20. Và chiều mùa đông ấy, nắng hanh vàng rộm. Trời xanh trong màn sương cực mỏng không một gợn mây. Heo may se se lạnh. Chị mặc váy kiểu Đình Bảng, áo cánh lụa mỡ gà đã cũ, có mảnh vá trên vai, ngoài bó chẽn lưng ong bằng cái gi-lê tím, sờn rách, chiếc yếm mầu cánh sen nhạt, dây thắt lưng hoa đào, chị thoăn thoắt đi ra ngoài cánh đồng, ngày ấy lúa đã gặt hết. Cả cánh đồng rộng đầu cái phố ga xép ấy chỉ còn trơ những cuống rạ tít tắp đến chân dãy núi Neo. Cậu bé em 12 tuổi, vốn dĩ lúc nào cũng trông ngóng, ngó nhìn, chờ Chị, thấy Chị đã bỏ cửa hàng chiều vắng khách, mặc cho đứa em trai lên sáu ngồi xua ruồi hoặc ăn vụng cái kẹo vừng, rồi thấy Chị bước nhanh ra cánh đồng, đương nhiên là cậu em theo ngay, và bất kì đi theo Chị ở đâu, đến đâu cũng chỉ cách sau lưng Chị có ba bước.

Chị đi trên bờ ruộng, cứ vạch từng búi cỏ đầu bờ hoặc từng đám cây hoang dại trên mấy cái gò nhỏ giữa đồng và cắm cúi tìm… Tìm… Em chả biết Chị tìm gì vậy. Em cứ theo sau, không hỏi, không nói, trống ngực cứ thì thùng từng phút giây theo đuổi, miệt mài lâng lâng say. Lâu lắm, bỗng chị đứng thẳng người quay mặt nhìn Em, rồi nói, như một lời trách, như một lời quở mắng, lại như một lời mình nói với chính mình (gần 60 năm rồi hôm nay tôi còn nhớ như in từng lời trong bộ não đã hơi suy, trong tấm lòng may thay vẫn là tấm lòng 12 tuổi): ‘Ơ hay! Sao mày cứ theo tao lẵng nhẵng mãi thế nhỉ?’ Máu Em dồn lên nóng ran khắp người, hẳn là cậu Em đang đỏ mặt, môi Em run run không nói lại với Chị được nửa lời. Hình như Em thoáng thấy Chị mỉm cười, rồi Chị lại bước qua bờ ruộng khác, vẫn tìm, tìm mãi. Nắng đã sẫm dần. Mãi sau, Em mới bạo dạn hỏi:

— Chị Vinh ơi! Chị tìm cái gì thế?

Chị Vinh quay phắt lại, hình như má Chị hồng hơn lúc nẫy. Chị nhìn thẳng, nhìn xoáy vào mắt Em và hơn 60 năm rồi tôi vẫn còn nhớ cái miệng như vẽ rất tươi của Chị đậm nét một nụ cười trêu cợt rất kiêu sa. Chị nói, cũng một giọng bỡn cợt như thách đố, như đùa vui trên ghẹo:

— Ừ, chị (các bạn chú ý giùm tôi cách thay đổi chủ từ trong câu nói của Chị) Chị đi tìm cái lá… ấy đấy, đứa nào tìm được cái lá… ấy (Chị càng cười càng tỏ vẻ trêu cợt) ta gọi là chồng!

Các bạn ơi, nghe vậy, tim tôi như lặng đi, ngừng lại vài giây rồi đập rất mạnh, người tôi nóng ran lên trong lúc xế chiều càng lạnh. Lúc đó, Chị nói tên một cái lá có lẽ có thật, chỉ mấy năm sau thì tôi quên bẵng, thôi thì hôm nay tôi cứ gọi cho nó có tên như chị đã gọi tên, Lá Thanh thảo hay Đài bi chẳng hạn hoặc gọi “lá tai voi”, “lá mắt nai” gì đó, xin thú thật với các bạn là ít lâu sau buổi chiều mùa rét ấy, tôi không nhớ nữa. Nhưng ngay lúc bấy giờ, sau cơn nóng bừng toàn thân ấm áp vào tận đáy thẳm tâm hồn ấy, tuy mới 12 tuổi, tôi cũng đã nghĩ ngay ra rằng cái lá ấy rất hiếm, ở những vùng nào nhiều đồi núi, khe suối cơ, may ra mới tìm được, mà tìm lá ấy chắc là để chữa khỏi một cái bệnh gì hiểm nghèo nguy kịch hoặc có khi lại lấy lá vò nát ra, hay giã kỹ lấy nước xoa lên khắp mặt sẽ làm cho da dẻ tươi hồng, mịn màng lên. Nhưng hẳn là khó tìm lắm lắm, chả thế mà Chị đi hết bờ này, bãi nọ, gần cả một buổi chiều, có thấy được đâu! Cái lá oái oăm thế! Chị mới trêu đùa thằng bé mà Chị biết là nó đang say mê mình, nó ‘phải lòng’ mình từ năm năm nay rồi… còn gì! ‘Đứa nào tìm được… ta gọi là chồng!’ Chị Vinh ơi, bây giờ Chị ở cõi nào, nếu còn sống, chị cũng đã gần tám mươi đấy chứ, sao hôm nay Em đã ngoài bẩy mươi, lúc Em viết những trang nhớ lại này, Em hoàn toàn vẫn là đứa Em 12 tuổi đang theo Chị và Chị vẫn đang tuổi hai mươi, ngoài cánh đồng làng Như Thiết ấy, Chị vẫn trẻ đẹp diệu kỳ, Chị ơi! (…)

Trở lại mùa rét năm 1959, nghĩa là đúng một phần tư thế kỷ đã qua sau cái chiều mùa đông có Chị có Em trên cánh đồng quê. Chị tìm lá rồi…Chị đố lá…”Đứa nào tìm được… ta gọi là chồng..” Và bài thơ duy nhất trong đời làm thơ của tôi do thần linh giọng nữ cao đọc từ đầu đến cuối cho tôi chép như viết chính tả. Còn một số bài khác như Cây Tam Cúc, Qua Vườn Oåi, Cỏ Bồng Thi, Bên Kia Sông Đuống, Chùa Hương, Về với ta.. Những bài thơ cũng được nhiều bạn đọc ưa thích trong nhiều năm thì bao giờ cũng ra đời trong đêm và vài ba câu đầu bao giờ cũng không phải là của tôi nghĩ ra, mà đúng thật là những lời văng vẳng bên tai như có một giọng nữ đang hát, hay đang đọc có nhịp điệu, có tiết tấu mà tôi cứ xin gọi là lời của thần linh đọc cho mình chép lại được.

Nếu chợt nghe mà lười biếng, hoặc chủ quan nghĩ rằng để sáng mai sẽ ghi lại ra giấy thì chỉ một vài phút sau muốn nhớ lại, không tài nào nhớ nổi một chữ, đừng nói là cả ba bốn dòng… Trong đời làm thơ của tôi, thời trai trẻ, tôi đã mất khá nhiều những câu thơ ‘xuất thần’ bất chợt trong đêm khuya, lúc chưa ngủ được nên từ hồi đầu kháng chiến chống Pháp, tôi đã rút kinh nghiệm, cứ đến giờ (thường là gần nửa đêm), lên giường ngủ, bao giờ tôi cũng để phía tay trái mình một tập giấy trắng và tay phải cầm sẵn cái bút chì học sinh. Hễ không ngủ được, tâm tư lan man đâu đâu, gì gì đó, mà bỗng nghe vẳng một câu, dẫu chỉ là một câu bâng quơ, tôi phải ghi ngay lập tức. Lười một tí thôi là mất đứt. Mà thường lại là những câu thơ rất có sức gợi cảm. Dẫu tiếng văng vẳng đã tắt, mà còn gợi cảm thì cảm xúc bật trào ra ngay, tôi viết tiếp bằng cảm xúc của mình.

Y như đã có tia nước phun lên thì phải tiếp tục đào đất, chắc chắn sẽ có cái giếng đầy nước. Lúc đó thì cả ba loại thơ (Như các nhà phê bình văn học Trung Quốc đã đúc kết thành lý luận về Thơ) là ngôn thi, tâm thi và thần thi đều có thể xuất hiện trên trang viết. Và cùng lúc đó thì có ba cái “thức” cùng phải hoạt động, phải làm việc cho thơ. Đó là ý thức, tiềm thức và vô thức. Cũng đủ cả một cặp: trí thức và tâm thức nữa. Ở trong tôi thì luôn luôn cái tâm thức làm việc nhiều hơn trí thức, nhất là với toàn tập Vềâ Kinh Băùc, tôi đã huy động tất cả các lực lượng của mình. Cả thể lực, trí lực, tâm lực và đương nhiên ở tôi, thần lực thường tự động làm bật ra rất nhiều những lời thơ, lắm khi tưởng như vô nghĩa, mà ngay chính bản thân tôi cũng không hiểu những từ ngữ mình viết ra mang ý nghĩa cụ thể gì. Ai hỏi tôi Lá Diêu-bông, Cỏ Bồng-thi là lá gì, cỏ gì, ở đâu? Tôi chịu không giải thích được. Ngay cả nhiều sinh viên khoa Văn ở Hà Nội cũng đã hỏi tôi: ‘Miếu Hai Cô’ là ở đâu? Hai cô nào? Tại sao lại thờ? Hoặc ‘Cầu Bà Sấm’ là trên con sông nào, ‘Bến Cô Mưa’ là ở khúc nào của con sông nào, tôi cũng chịu không có lời giải đáp.

Tôi nghĩ rằng trong lĩnh vực thơ ca, những khúc hát hay, những bài thơ, những câu thơ hay thường rất khó giảng được hết cái hay của nó. Vì ngoài ý nghĩa cụ thể của từng câu, từng chữ, thơ lại còn nhạc điệu, mà theo tôi nhận xét, nhạc điệu và âm ngữ trong một bài thơ lại chính là chiếc xe chở cái hồn của bài thơ đi để nhập, để hòa với hồn người đọc. Và người xưa cũng đã nói từ lâu đến ‘Thi tại ngôn ngoại’. Thơ đã có ý là dễ hiểu. Nhưng thơ lại còn cái tứ. Cái tứ ở đâu ra? Từ chữ, từ âm vận, rồi âm điệu. Cái tứ của thơ phải đọc được ở ngoài lời. Có nhiều bài thơ mang một tứ rất lạ, rất khó giảng, khó bình, mà người đọc dẫu yêu thích bài thơ đến mấy, cũng chỉ cảm thấy mà thôi.

Tôi chỉ hy vọng, rất chân thành, được gặp những tâm hồn bầu bạn, có độ lượng để bao dung, có tấm lòng nhân ái để thông cảm, có trí thức đủ để hiểu thấu đáo tác phẩm và tác giả, hiểu cả điểm mạnh và điểm yếu của một người suốt một đời lấy Thơ làm cứu cánh, làm mục đích, làm lẽ sống, chứ không bao giờ lấy Thơ làm phương tiện để cho mình đạt tới những gì gì đó, ví dụ như danh và lợi, sự bon chen, sự cầu cạnh, sự thù hận vv… là những cái rất xa lạ với tôi, có lẽ xa lạ cả Thơ đích thực nữa.

Tôi đã trở về với tâm tư riêng, thế giới riêng của mình như đã nói ở trên, về với quê hương xưa, vùng Kinh Bắc xưa mà vẫn gần gũi, về với những người đã khuất bóng ở nhân gian nhưng mãi mãi hiện diện trong tâm hồn tôi. Và tập ‘Về Kinh Bắc’ đã ra đời như thế, để làm cột xương sống cho toàn bộ thi phẩm của tôi kể từ những năm 40 của thế kỷ này”.

(Hoàng Cầm
Hà Nội những ngày cuối năm Nhâm Thân 1992)

Như vậy là có một người chị thật trong đời Hoàng Cầm, Thi sĩ cho ta biết người chị ấy có nhan sắc tuyệt đẹp, và thi sĩ yêu người chị ấy ngay năm ông mới tám tuổi đời. Và chuyện chị đi tìm đồng chiều cuống ra, chị hứa: “Đứa nào tìm được lá diêu bông..chị gọi là chồng..” là chuyện có thật. Chuyện xẩy ra năm 1934, khi thi sĩ mới 12 tuổi, những hình ảnh nằm mãi trong ký ức thi sĩ, 25 năm sau — năm 1959 — những hình ảnh ấy, những tình ý ấy, những tâm tư ấy mới chuyển thành bài thơ Lá Diêu Bông.

Tôi biết Thơ Hoàng Cầm năm 1946, khi tôi mới mười ba, mười bốn tuổi. Nhờ ông anh tôi thích Thơ, sưu tập Thơ, thấy ai có Thơ là mượn về chép lại, chữ anh tôi thât đẹp, tôi được đọc nhiều Thơ, trong số có Kịch Kiều Loan, tức Người Điên của Hoàng Cầm. Như nhiều người cùng tuổi mấy câu trong Kiều Loan vào tim tôi năm tôi mười mấy tuổi, theo tôi đi kháng chiến, theo tôi trở về Hà Nội, theo tôi vào Nam, theo tôi sống những ngày thật đẹp ở Sàigòn, theo tôi vào nhà tù xã hội chủ nghĩa, theo tôi sang Mỹ, ở với tôi đến tận bây giờ:

Tôi nhớ chàng, đôi mắt trong như ngọc
Đã chìm sâu bùn lạnh đất Kinh Đô
Độ ấy mùa xuân ghen mái tóc
Chồng tôi say đổ nắng trai tơ
Mái tranh nghiêng rót tình phong nhụy
Hoa khép hương vàng, gọi chẳng thưa..

Tôi được sinh ra để viết tiểu thuyết, để ca tụng Tình Yêu, và để phóng tác. Sáu câu thơ Kiều Loan khi vào trái tim tôi trở thành:

Tôi nhớ Nàng, đôi mắt trong như ngọc
Không mờ phai sương khói những thu xưa
Độ ấy mùa xuân ghen mái tóc
Tôi về say đổ nắng trai tơ
Mái tranh nghiêng rót tình phong nhụy
Hoa khép sầu miên, gọi chẳng thưa..

Năm 1950, sau bốn năm đi kháng chiến ở vùng quê hương Kinh Bắc, trở về Hà Nội tôi được đọc Kịch Cô Gái Nước Tần của Hoàng Cầm trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy bộ mới. Kịch Thơ một màn: cuộc tình Quận Chúa Tần Huyềâøn Cơ- Đại Tướng Quân Tần Vũ. Chuyện xẩy ra ở nước Tần thời Đông Chu Liệt Quốc. Kịch một màn, chỉ có ba vai: Tần Vũ, Đại Tướng Nguyên Soái quân Tần, Tần Huyền Cơ, Quận Chúa, Thái Bá, thầy học và quân sư của Tần Vũ. Cốt truyện ngắn thôi: Ngày xưa quân Sở vào Vân Các. Màn mở: Tướng Quân Tần Vũ, trẻ tuổi, đẹp trai, uy vũ, ngồi một mình, buồn nhớ người yêu. Quân Sở vừa kéo vào kinh đô Tần quốc — Thời Đông Chu chỉ có quân Tần tiến vào kinh đô lục quốc, không một lần quân nước nào vào được kinh đô Tần, mãi đến đời Hán Lưu Bang nước Tầu mới có Vân Các — Tần Vũ vừa chỉ huy quân Tần đánh đuổi quân Sở ra khỏi kinh đô. Thái Bá vào, báo cho Tần Vũ biết quân Tần bắt được Quận Chúa Tần Huyền Cơ, người đẹp này can tội “phản quốc, làm gián điệp cho quân Sở!” Nàng là người yêu của Tần Vũ. Thái Bá sợ Tần Vũ vì yêu Huyền Cơ mà tha tội cho nàng nên nói mấy lời khuyên Tần Vũ phải bỏ tình riêng để làm việc công: ” Mà Công tử thì hãy còn trẻ tuổi. Lão chỉ e rồi bể tình đắm đuối..”, Huyền Cơ được đưa vào gặp Tần Vũ, cuối cùng Tần Vũ cũng ra lệnh giết Huyền Cơ. Chỉ được đọc vở kịch có một lần tôi còn nhớ lõm bõm mấy câu:

Ngày xưa quân Sở vào Vân Các
Em rạt về đâu, mấy nhớ thương..!

Nhưng người yêu xông pha trên chiến địa
Có bao giờ nhớ tới Huyền Cơ đâu!
Dây oan khiên giờ đã thắt ngang đầu
Người bạc mệnh có bao giờ hối hận…

Thời gian vỗ cánh bay như quạ.. Những ngày như lá, tháng như mây… Một tối tháng Sáu, hay tháng Bẩy, tháng Tám năm 1975 tôi gặp Lưu Kiếm trên vỉa hè trước chợ Tân Định — Lưu Kiếm đã qua đời ở Sàigòn năm 1985 — anh nói:

— Tao gặp mấy thằng văn nghệ ở Hà Nội vào. Chúng nó đọc mấy bài thơ của Hoàng Cầm cho tao nghe..

Lưu Kiếm không nhớ lời thơ, anh chỉ nhớ ý thơ, anh kể lại hai bài thơ Lá Diêu Bông và Qua Vườn Ổi của Hoàng Cầm. Đây là lần thứ nhất tôi nghe nói đến Lá Diêu Bông và Qua Vườn Ổi. Chỉ mới được nghe ý thơ thôi, cảm giác lạ kỳ đến với tôi, hai đầu gối tôi bỗng dưng nhũn ra, tôi muốn ngồi sụp xuống vỉa hè. Như người hết hơi tôi thều thào nói:

— Thơ như thế mới là thơ..

*

LÁ DIÊU BÔNG

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo
— Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày sau Em tìm thấy lá
Chị chau mày:
— Đâu phải lá Diêu Bông

Mùa đông sau Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
Trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ thưở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non, cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu Bông hời..!

Ới Diêu Bông (1959)

Tối xưa ấy — buổi tối 25 năm xưa — trên vỉa hè Tân Định, chỉ nghe Lưu Kiếm kể ý thơ thôi, tôi nghĩ ngay đến chuyện người chị trong thơ là Đảng, người em trong thơ là người văn nghệ sĩ. Đảng muốn người văn nghệ sĩ cung cấp những tác phẩm tốt, người văn nghệ sĩ đáp ứng lời kêu gọi của Đảng, rất muốn làm đẹp lòng Đảng, nhưng tác phẩm nào của anh cũng bị Đảng chê là không đúng với cái Đảng muốn. Khi người văn nghệ sĩ sáng tác được tác phẩm đúng, Đảng vẫn không dùng vì thời điểm để cho tác phẩm đó ra đời đã qua rồi. Người văn nghệ sĩ thất vọng đi vào lòng dân tộc, nghe tiếng gió quê vi vút gọi tên tác phẩm của mình.
Và đây là bài:

QUA VUỜN ỔI

Em mười hai tuổi tìm theo Chị
Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa
Đi…
ngày tháng lụi
tìm không thấy
Giải yếm lòng trai mải phất cờ
Cách nhau ba bước vào vườn ổi
Chị xoạc cành ngang
Em gốc cây
— Xin chị một quả chín!
— Quả chín..
quá tầm tay
— Xin chị một quả ương
— Quả ương
chim khoét thủng
Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng.

Cũng trong buổi tối 25 năm xưa ấy, trên vỉa hè Tân Đinh, khi nghe bạn kể sơ sơ ý thơ Qua Vườn Ổi, tôi nghĩ ngay đến chuyện người chị trong thơ là Đảng, người em trong thơ là người văn nghệ sĩ. Người văn nghệ sĩ trong chế độ xã hội chủ nghĩa xin Đảng cho mình được hưởng vài lạc thú. Trong thơ trái ổi tượng trưng cho lạc thú. Trái ổi ương bị chim khoét thủng là những lạc thú tiểu tư sản. Đảng thấy người văn nghệ sĩ không nên hưởng những thú vui đã ô nhiễm ấy, quả chín là những thú vui cộng sản nhưng ở trên cao ngoài tầm tay với của Đảng, chưa đến thời kỳ Đảng có thể cung cấp những lạc thú cộng sản ấy cho nhân dân. Thành ra nhân dân trong chế độ XHCN suốt đời chẳng được hưởng một lạc thú nào cả.

Năm 1982, sau lần bị tù hai năm lần thứ nhất trở về, một sáng tôi đến ăn bánh cuốn ở tiệm bà Mỹ Phụng gần cầu Công Lý. Bà cho biết Thi sĩ Hoàng Cầm vào Sàigòn mấy năm trước, có gặp bà và viết tặng bà mấy bài thơ. Nghe nói Thơ Hoàng Cầm, mắt tôi có sáng lên hay không tôi không biết vì tôi không nhìn thấy mắt tôi, tôi chỉ biết là tim tôi rung động, tôi nói bà cho tôi mượn xem mấy bài thơ, được không ạ? Rất dễ dàng bà đáp ứng tôi ngay. Hoàng Cầm viết thơ lên tờ giấy bản khổ to, mầu vàng, chữ mực Tầu đen, nét chữ đẹp, hào hoa, bay bướm. Nhìn chữ Hoàng Cầm, tôi nhớ chữ Đinh Hùng. Trong mấy bài thơ Hoàng Cầm viết tặng bà Mỹ Phụng có bài Cây Tam Cúc, tôi chưa có bài này. Tôi xin bà Mỹ Phụng cho tôi chép bài thơ ngay tại chỗ, bà bằng lòng.

CÂY TAM CÚC

Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây!
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em

Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi
Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì

Đứa được
chinh truyền xủng xoẻng
Đứa thua
Đáo gỡ ngoài thềm
Em đi đêm tướng điều, sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em

Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo đen, nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới Chị
võng mây trôi
Em đứng nhìn theo, Em gọi đôi.

Không biết tại sao vừa đọc bài Cây Tam Cúc tôi nghĩ ngay đến chuyện tác giả muốn nói đến thân phận người văn nghệ sĩ trong chế độ XHCN — có thể nói trong mọi chế độ, trong tất cả các thời, ở tất cả các nước sau chiến tranh. Quan Đốc đồng Tam Cúc là kẻ có súng, kẻ có súng nói chiến thắng là do công của tao, tao có công tao chiếm hết, chúng mày không được hưởng cái gì cả.

Năm 1982, 1983 tôi viết một số bài văn-chính luận gửi ra nước ngoài, trong số có hai bài “Hiện tượng Hoàng Cầm” và “Hiện tượng Dương Quỳnh Hoa”. Trong bài viết về Thơ Hoàng Cầm, tôi suy diễn ba bài thơ Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cây Tam Cúc theo cảm nghĩ của tôi, những cảm nghĩ tôi vừa trình bày. Năm 1983 tôi nghe nói Hoàng Cầm bị bắt ở Hà Nội, tháng 4, 1984 tôi nghe Đài Phát Thánh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh trong một bài bình luận, nói đến Hoàng Cầm, Nguyễn chí Thiện và tôi là những văn nghệ sĩ có thơ văn chống Cộng. Tháng 5, 1984 tôi bị bắt lần thứ hai. Năm 1988 tôi ra tòa án Thành phố Hồ chí Minh, trong cáo trạng về tôi Tòa VC có nói đến hai bài “Hiện tượng Hoàng Cầm, Hiện tượng Dương Quỳnh Hoa”.

Năm 1992 tôi nghe kể anh công an thẩm vấn Hoàng Cầm, nói:

— Thơ anh mấy bài Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi.. có thằng nó suy diễn như thế này, nó viết bài nó đăng ở nước ngoài, anh nghĩ sao?

Hoàng Cầm trả lời:

— Nếu thơ tôi làm cho có người nghĩ như thế thì tôi có tội.

Chuyện trên đây tôi nghe một anh bạn tôi ở Hà Nội kể lại, tôi không đoan chắc là chuyện có thật.

Mời bạn đọc lại mấy câu tâm sự của Hoàng Cầm:

“…Vậy thì chỉ mới sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm một thời gian ngắn, thơ tôi đã lùi về quá khứ, chẳng biết có phải ẩn dụ, ẩn diếc gì chăng, chỉ có điều là qua 48 bài tôi không một phút nào nghĩ đến thời cuộc chính trị và xã hội trước mắt. Tôi chìm về một quê hương xa, có thực mà như ảo ảnh…(…)

…Tôi sẽ viết tỉ mỉ hơn trong tập hồi ký sau này, để một số bạn ở xa quê hương hiểu kĩ về thơ tôi hơn, tránh được những điều bình luận sai lạc”.

Như vậy là những bài thơ Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cây Tam Cúc không có, không mang những ý nghĩa như tôi tưởng, những ý nghĩa đó là do tôi nghĩ ra khi đọc thơ, không phải ý của tác giả. Tôi đã hiểu sai, đã bình luận sai lạc vể những bài thơ đó. Nếu những cảm nghĩ của tôi có làm cho Thi sĩ gặp một vài khó khăn, phiền toái, tôi trang trọng xin lỗi ông.

Tôi thấy từ ngữ Thi Văn có sự huyền diệu là khi nó đánh vào trái tim người thưởng ngoạn, nó gây ra những hồi ứng khác nhau tùy theo tâm trạng mỗi người. Không phải ai đọc, cảm động, thấy hay, những bài Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi… đều có cảm nghĩ như tôi. Tôi khiêm tốn hỏi Thi sĩ, và bạn đọc, cảm nghĩ của tôi về những bài thơ vừa kể nghe có được không, có lý không? Hay tôi cố tình xuyên tạc, trơ tráo gán cho lời thơ những ý nghĩa mà nó không có, tôi bình luận láo lếu, vô lý? Nếu tôi đọc những bài thơ ấy trước ngày 30 Tháng Tư 1975 chắc chắn tôi không có những cảm nghĩ như thế. Sáng tác là quyền của thi sĩ tác giả, nghĩ gì về tác phẩm, có những ý nghĩ gì sau khi đọc tác phẩm là quyền của người đọc.

Trong một thư gửi cho ông bạn ở Hà Nội, viết vào lúc 5 giờ sáng ngày 22/ 9/ 1976, Hoàng Cầm kể:

Trích “Hoàng Cầm Văn Xuôi,” trg.289:

“…Hôm mới vào Sàigòn gặp một anh bạn đưa ngay đến một thầy tử vi, thầy chỉ cần hai phút là gọi hết các sao biến hiện, xuất nhập của lá số tôi, thầy nói (ông thầy mù hoàn toàn) ‘Ngài là một người thông minh, tài giỏi, nhưng cả cuộc đời chỉ là hai chữ ‘dở dang’. Công danh, sự nghiệp dở dang, gia đình, tình yêu dở dang. Dở dang hết, không một cung nào trọn vẹn, trừ cung Phúc Đức, có những sao đắc cách đã cứu Ngài’. Thầy còn nói nhiều, (rất đúng) nhưng tôi khoái câu mở đầu ấy của thầy lắm – Mà quả thế, ông Phấn ạ ‘Đời ông chỉ là hai chữ dở dang’.” (Ngưng trích).

Khi đọc những bài Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cây Tam Cúc và có những ý nghĩ như tôi đã kể, tôi vẫn mong, vẫn định ngày nào được gặp Thi sĩ tôi sẽ hỏi ông có phải khi làm những bài thơ đó ông có ý nói lên bằng ẩn dụ những ý nghĩa như tôi nghĩ không? Cho đến nay tôi chưa có duyên được gặp Thi sĩ lần nào. Tôi mong ông có dịp đọc những bài viết này của tôi, tôi tin sẽ có ngày tôi được gặp ông. Tôi đã viết về ông, Thơ ông, từ hai mươi năm xưa khi tôi ở Sàigòn, hôm nay xa cách nhau một đại dương, tôi viết về ông với lòng cảm mến và thương xót. Tôi vừa đọc GHI của Trần Dần, HỎA LÒ của Nguyễn Chí Thiện; hình ảnh Thi sĩ Hoàng Cầm, một số việc ông làm, được hai ông Trần Dần, Nguyễn Chí Thiện kể làm tôi đau lòng. Tôi sẽ viết về chuyện ấy trong bài tới.

Để kết bài này, tôi muốn nối thêm lời ông thầy bói mù Sàigòn 1976 nói về cuộc đời Thi sĩ Hoàng Cầm:

— Đời ông có một cung không dở dang, một cung trọn vẹn, thật đẹp. Đó là cung Thi Sĩ. Ông được sinh ra để làm thơ, để làm thi sĩ. Ông đã là thi sĩ rồi, ông còn đòi hỏi gì thêm nữa? Ông còn cần gì nữa để phải đòi hỏi? Nếu đời ông có chuyện gì để người đời đàm tiếu thì số ông cũng giống như số cô chị Lá Diêu Bông đồng chiều, cuống rạ, môi trầu cắn chỉ, ổ rơm thơm đọng của ông, cô Thúy Kiều: Rằng tài nên trọng mà tình nên thương!.

(Công Tử Hà Đông)

Phạm Duy

Hoàng Cầm Ca

(Phạm Duy)

Với lời hứa luôn luôn khóc cười theo mệnh nước và vì đời sống lưu vong làm cho tôi gần như cạn nguồn sáng tác, sau khi đã hát lên sự đau khổ của quê hương bị kìm kẹp qua nhũng bài thơ máu lửa của Nguyễn Chí Thiện… bây giờ lòng tôi chùng xuống, tôi tìm về những bài thơ có dính líu tới nước Việt Nam khốn khổ khốn nạn của tôi, những bài thơ dịu dàng hơn, ít căm hờn hơn để cho tôi có thể được gần gũi với mảnh đất quê hương mà tôi đang dần dần bị xa lìa, có thể không bao giờ được gặp lại.

Một tập thơ khác — cũng là thơ chép tay — đã đến với tôi, lại là thơ của một người bạn cũ, đã từng cùng tôi đi làm công tác văn nghệ trên những nẻo đường kháng chiến hồi 1946-47, thơ của một kiện tướng trong vụ NHÂN VĂN GIAI PHẨM, một vụ đấu tranh ôn hoà cho nhân quyền ở Việt Nam hồi cuối 60… Ðó là tập thơ chui của Hoàng Cầm mang tên ÐƯỜNG VỀ KINH BẮC, viết lén lút sau khi thi sĩ cùng các bạn đồng chí hướng như Nguyễn Hữu Ðang, Trần Dần, Lê Ðạt, Văn Cao Tử Phác… bị chính quyền bẻ bút, đập đàn vì tội chống đối…

Tập thơ giúp tôi soạn ra những bài hát rất ngọt ngào nhưng cũng rất đắng cay mà tôi gọi là HOÀNG CẦM CA.

Trước hết, tôi — và hoạ sĩ Tạ Tỵ — ngồi nhớ lại những mẩu thơ tình của Hoàng Cầm, soạn ra vào lúc chàng ta mới 17 hay 18 tuổi. Nhớ ra một mẩu thơ ngắn vô đề, tôi bèn phổ nhạc ngay, có thêm thắt vài câu cho đủ nhịp, đủ phách. HOÀNG CẦM CA số 1 này mang tên TÌNH CẦM, nghĩa là ”mối tình của Hoàng Cầm” hay ”mối tình của người cầm đàn” cũng được:

TÌNH CẦM

Nếu anh còn trẻ như năm cũ
Quyết đón em về sống với anh
Những khi chiều vàng phơ phất đến
Anh đàn em hát níu xuân xanh.

Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ
Có anh ngồi lại so phím cũ
Mong chờ em hát khúc Xuân xưa.

Nhưng thuyền em buộc trên sông Hận
Anh chẳng quay về với trúc tơ
Ngày tháng tỳ bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi chờ.

Nếu có ngày nào em quay gót
Lui về thăm lại bến Thu xa
Thì đôi mái tóc không còn xanh nữa
Mây bạc trăng vàng vẫn thướt tha…

Còn thơ trong thi tập ÐUỜNG VỀ KINH BẮC thì là thơ ẩn dụ, những câu thơ mà nếu đọc lên thì ai cũng thấy bàng bạc hình ảnh và mầu sắc tuyệt vời của quê hương nhưng không ai hiểu Hoàng Cầm muốn nói gì trong đó? Trong những giờ phút lung linh của sáng tạo, tôi bỗng hiểu được ý nghĩa của những bài thơ đầy ẩn ngữ này.

Bài LÁ DIÊU BÔNG là sự đi tìm cái lá bông diêu ở vùng Ðình Bảng (Bắc Ninh), một thứ mỹ phẩm có khả năng tô điểm lại nhan sắc đã mất ở nơi người chị:

LÁ DIÊU BÔNG

Ðứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ gọi là chồng
Tao sẽ gọi là chồng
Ðứa nào tìm được lá diêu bông…

Vài ngày sau em tìm thấy lá
Chị chau mày: đâu phải lá diêu bông!
Mùa Ðông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu nhìn nắng vãn bên sông.

Ðứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ nhận là chồng
Tao sẽ nhận là chồng
Ðứa nào tìm được lá diêu bông…

Ngày cưới Chị, em tìm thấy lá
Chị mỉm cười, se chỉ, cắm trôn kim
Chị đã ba con, em tìm thấy lá
Xoè tay, phủ mặt, Chị không nhìn…

Ðứa nào tìm được lá diêu bông
Thì từ nay tao sẽ gọi là chồng
Tao sẽ gọi là chồng
Ðứa nào tìm được lá diêu bông…
. . . . . .
Từ thuở đó, em cầm chiếc lá
Nơi đầu non cuối bể, em đi
Lời vi vút gió quê lắng gọi
Diêu bông hời hỡi diêu bông
Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ…

Bài QUA VƯỜN ỔI là hình ảnh của đám dân đen, thấp cổ, bé miệng, ngắn tay… không với tới đuợc những thứ ăn rất tầm thường ở trên cây cao, như ổi xanh, ổi ương chẳng hạn:

QUA VƯỜN ỔI

Cách xa ba bước qua vườn ổi
Chị xoạc cành ngang em đứng trông
Này chị ơi ! Xin chị một quả non
Ổi non, em ơi còn xanh chát a à
Ổi non xanh chát lè.

Cách xa ba bước qua vườn ổi
Chị xoạc cành ngang em đứng trông
Này chị ơi ! Xin chị một quả ương
Ổi ương, em ơi bị chim khoét a à
Ổi ương chim khoét rồi.

Này chị ơi ! Xin chị một quả chín
Ổi chín, em ơi tít ngọn cây a à
Ổi chín quá tầm tay.
. . . . . . . . . . . .
Cách xa ba bước qua vườn ổi
Chị xoạc cành ngang em đứng trông…
. . . . . . . . . . . .
Lẽo đẽo em đi đường mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng…

Bài CỖ BÀI TAM CÚC là hạnh phúc xa xưa của dân tộc đã mất… hi vọng có ngày giành lại được hạnh phúc đó:

CỖ BÀI TAM CÚC

Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Chị gọi đôi cây trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa chị tới quê em…

Ghé coi bài, tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa, chị đừng đi
Tướng sĩ đỏ đen chui xấp ngửa
Ổi rơm thơm đọng tuổi xuân thì.

Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Ðứa được bài chinh chuyền xủng xẻng
Ðứa thua bài đáo gỡ ngoài thềm.
Ðứa được bài chinh chuyền xủng xẻng
Ðứa thua bài đáo gỡ ngoài thềm
. . . . . . . .
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Em đi đêm Tướng điều, Sĩ đỏ
Ðổi Xe hồng, đưa chị tới quê em
Pháo, Mã ra bài, năm sau giặc giã
Quan Ðốc Ðồng áo đen nẹp đỏ
Xua Tốt điều đè lũ Tốt đen
Thả Tịnh vàng đưa chị võng mây trôi.
Em đứng nhìn theo
Em gọi: Ðôi !

Bài ÐẠP LÙI TINH TÚ là hình ảnh quê hương buồn bã, ngủ vùi, chỉ có con cá là còn thức và dẫy dụa, khuấy nước, làm tan đi bóng trăng, bóng sao trên mặt ao:

ÐẠP LÙI TINH TÚ

Ta là con bê vàng lạc dáng chiều xanh
Ði tìm sim mà sim chẳng chín
Ta lên đồi thông nằm miếu Hai Cô
Gặm cỏ mưa phùn
Ngoài đồng sương bóng người thấp thoáng
Chiều nay mẹ chẳng về chuồng.

Ta là con chim cu về gù rặng tre
Gọi nắng ấu thơ về sân đất rộng
Mong tin mừng từ những trời xa
Ðưa mây lành về tụ nóc rơm

Ta là con chào mào khát nước
Về vườn xưa hạt nhãn đâm mầm
Ta, cây ổi giơ xương
Chống đỡ mùa Ðông xụp về đánh úp
Ta, cây ổi giơ xương
Chống đỡ mùa Ðông xụp về đánh úp

Ta là con phù du ao trời lận đận
Trên cánh bèo đong gió
Lặn dưới nước tìm sao
Hứng nước mắt con chim vành khuyên nhớ nhà nhớ tổ
Vừa rụng chiều nay, làm dềnh mặt nước gương sen
Ta soi hình vào tận đáy ao đêm
Chỉ thấy mình đạp lùi tinh tú
Ngủ say rồi đôi cá đòng đong.

Bước vào thập niên 90, cùng với sự thay đổi ít hay nhiều tại các nước xã hội chủ nghĩa, Hoàng Cầm và các bạn cùng số phận đã được phục hồi. Anh lại được công khai làm thơ và thơ của anh bây giờ mang nhiều tính chất tâm linh hơn bao giờ hết. Tôi lại được gặp bạn cũ qua thư từ, qua những món quà văn nghệ như thơ và nhạc… Tôi phổ nhạc thêm một bài thơ rất đẹp của Hoàng Cầm:

TRĂM NĂM NHƯ MỘT CHIỀU

Anh đứng đây là đâu?
Là đâu, anh đứng đây là đâu?
Em cười như lá mỏng
Khép cửa vào chiêm bao a á…
Anh đứng đây là đâu?
Là đâu, anh đứng đây là đâu?
Anh đứng đây là đâu?
Là đâu, anh đứng đây là đâu?
Em nói như gió nghẹn
Chiều như mây Thị Mầu
Em nhìn như mưa trắng
Trăm năm bay ngang đầu…
Anh đứng đây là em
Là em anh đứng đây là em…
. . . . . .
Em đứng đây từ bao
Từ bao, em đứng đây từ bao?
Em từ trong lối hẹn
Hé cửa về mai sau a á
Em đứng đây từ lâu
Từ lâu em đứng đây từ lâu
Em đứng đây từ lâu
Từ lâu em đứng đây từ lâu
Anh tới nơi ước hẹn
Chiều nay như thuở nào
Anh nhìn em trong nắng
Trăm năm như một chiều
Anh đứng đây là em
Và em, em đứng đây là anh…

(Phạm Duy)

hoangcam_dau bai1

Thử giải mã chuyện tình Lá Diêu Bông

(Nguyễn Đình Minh)

Lá diêu bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ

Chị bảo
Đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng

Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày
Đâu phải lá diêu bông

Mùa đông sau em tìm thấy Lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
…ới diêu bông…!

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 12 tháng giêng năm Nhâm Tuất (ngày 22/2/1922) tại Bắc Giang, nhưng quê gốc của ông ở Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh, quê hương nổi tiếng cuả Quan họ Kinh Bắc. Ông là nhà thơ nổi tiếng một thời và bài thơ Bên kia Sông Đuống của ông đã xếp vào danh sách những tác phẩm đi cùng năm tháng. Năm thi sỹ tròn tuổi 75, bè bạn đã chọn lọc khoảng 300 bài thơ liên quan đến hình ảnh 13 người đẹp đi vào trái tim nhà thơ để làm tập “Thơ Hoàng Cầm – 99 tình khúc”. Trái tim của Ông vẫn trẻ trung rạo rực: “Tôi biết ơn tất cả những người con gái đã đi qua đời tôi, đã gieo gió bão trên cánh đồng thi ca cuả riêng tôi”. Những tác phẩm của ông trong đó có Lá Diêu Bông đã làm tên tuổi ông đi vào ký ức người Việt…

Hoàng Cầm là một loại dược thảo, lá dài và nhỏ; còn lá “Diêu Bông” được vẽ bằng trái tim yêu. Lá Diêu Bông lãng mạn ấy đã sa vào cuộc đời thi sĩ và trở thành định mệnh tình yêu của chính ông. Suốt một đời tìm lá, nhưng chẳng có chiếc lá nào là lá Diêu Bông! Chiếc lá của sự oái oăm, sự thất vọng, sự khao khát cháy bỏng và rất đỗi mơ hồ ảo mộng.

Hoàng Cầm viết “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” để phác hoạ hình ảnh vùng Kinh Bắc quê ông với bóng dáng trang phục diễm kiều cuả cô gái quê. Năm Hoàng Cầm lên 8 tuổi, phải đi học trên tỉnh. Một lần về thăm nhà, cậu bé Hoàng Cầm đã gặp người con gái 16 tuổi, tên là Vinh bước vào hàng xén cuả mẹ. Cậu bé 8 tuổi với trái tim lãng mạn đã chạm phải “tiếng sét ái tình”. Sự yêu kiều trong y phục “Váy Đình Bảng” và xuân sắc như lửa của tuổi dậy thì nơi chị Vinh ngay lập tức đã “đốt cháy” cậu bé. Hoàng Cầm hồi tưởng: “Tôi còn nhớ mồn một một buổi chiều muà đông… Chị đi về phiá cánh đồng chiều còn trơ cuống rạ Những dãy nuí xanh xanh mờ xa in hình như dao khắc trên nền trời cuối hoàng hôn. Bí mật, tôi lặng lẽ lần theo chị. Tôi thấy chị thẩn thờ tìm đồng chiềụ cuống rạ. Rồi chị lẩm bẩm một mình, dầu chị biết chắc tôi lẵng nhẵng theo sau lưng : Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông, từ nay ta gọi là chồng…”.

Tiếng sét ấy đã đi sâu vào trái tim nhà thơ, gần 70 năm sau Hoàng Cầm tâm sự: “Trước mắt tôi, Chị hiện ra rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức, hồn tôi như bị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên cả đến học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường số 1, xe xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần cuả tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ điù hiu, tỉnh nhỏ… Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng”.

Câu chuyện hồi tưởng ấy, đủ sức chân thành khẳng định cái mối tình định mệnh ấy với chiếc lá Diêu Bông đi suốt cuộc đời nhà thơ như dòng sông thật ảo.

Sự thú nhận chân thành đã giúp chúng ta giải mã vấn đề tình yêu xuất hiện sớm ở độ tuổi thiếu niên của tác giả. Trong cái dòng xúc cảm về hồi ức ấy bài thơ như một chân trời xa cũ sống lại với bầu khí quyển yêu mà cậu bé háo hức. Bài thơ cũng là một đối thoại câm, diễn ra trong một không gian buồn, cánh đồng chiều hoang lạnh trơ lại toàncuống rạ, thơ thẩn hai bóng người.

Điều quan trọng là hai cái bóng ấy đều đi tìm tình yêu của mình trong tâm trạng cô đơn và khao khát. Nhưng cái đích của mỗi người một khác. Ở đây lời thơ gợi về nội dung câu chuyện cổ khởi thủy, Chị và Em đành phải lấy nhau khi thế gian chỉ duy nhất có hai người và sinh hạ ra loài người. Nhưng đó là chuyện cổ, còn sự thật thì không thể nào khác. Và phải chăng như muốn để cắt đứt – một cách rất tế nhị của gái vùng Quan họ – cái tình cảm phảng phất mơ hồ cảm nhận được từ em đang phát sóng, bằng cách yêu cầu tìm một chiếc lá không hề có, cũng như cái khao khát của em không thể có.

Chị bảo:
Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.

Nhưng oái oăm thay, tình của em sục sôi, nên kiên quyết muốn khẳng định, muốn thoát cái xác phàm 8 tuổi để thay bằng sức mạnh của tuổi trưởng thành, minh chứng cho sự trưởng thành; muốn biến cái không thể thành có thể:

Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông.
Muà đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãng bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xoe chỉ cắm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.

Chỉ hai ngày? Thời gian quá dài mà cũng là quá ngắn. Hai ngày cho một câu “đố lá” hiểm hóc của chị thế là ngắn, nhưng hai ngày để em phải kiếm tìm thế là dài. Nhưng hai ngày em đã tìm được lá, lại nói nên độ say mê, sự kiên quyết thực hiện bằng được mục tiêu chinh phục trái tim chị của em.

Nhưng rồi thời gian trôi, em vẫn không từ bỏ lòng yêu, “Mùa đông sau” rồi: “Ngày cưới chị” và ngay cả khi: “Chị ba con” em vẫn đi tìm lá. Một sự dằng dặc, một sụ bền bỉ kéo dài. Cái gì đã làm nên động lực ấy: Thời điểm ấy mọi sự nhận biết đã trưởng thành. Cái không thể của mối tình, cái hoàn cảnh thực tế, chắc chắn chàng trai đã hiểu. Nhưng anh không có ý dập tắt ngọn lửa yêu cháy câm lặng đã châm lên từ thuở thiếu thời. Nó như một thứ vĩnh hằng, một phần của cuộc đời, như hơi thở nhà thơ vậy.

Mười một dòng thơ ngắn nhưng là cả một đời đi tìm kiếm của nhà thơ với hy vọng và thất bại. Thời gian tăng lên không ngừng, kết quả thu lá về của nhà thơ cũng tăng lên nhưng tất cả tỷ lệ nghịch với mong muốn: Thất bại ngày càng lớn dần. Bao nhiêu lá, nhưng vẫn trắng tay chiếc Lá Diêu bông!

Nhưng buồn hơn, nỗi đau khổ của chị cũng tăng dần lên theo thời gian. Có lẽ sẽ xa vào thô thiển nếu đặt câu nghi vấn, nhân vật trữ tình Chị, có yêu em hay không? Nhưng dám chắc vì chuyện yêu của Em mà chị đau khổ. Bắt đầu là giận “Chau mày”, rồi thất vọng “lắc đầu” rồi “Chị cười xoe chỉ cắm trôn kim”, một nụ cười báo hết, đèn đỏ! Vì “Ván đã đóng thuyền”; rồi cuối cùng là “Phủ mặt chị không nhìn”… Hình ảnh người con gái hao gầy dần cả dáng vóc lẫn tâm hồn do sức bào mòn của thời gian và nỗi khổ nơi nhà chồng đã biến chị thành gái “ba con, má ố răng vàng”, rồi chăng? Nó làm chị buồn mà che mặt, hay Chị buồn vì em khiến chị hoài niệm cái kỷ niệm tươi đẹp vô vọng một thời lấp lánh ánh cầu vồng chân mây xa vời mà sự lụi tàn luôn biết trước? Dù gì, thì Chị đã không quên, trong tâm thức chị vẫn có em câu chuyện tình Em… Chị vẫn sống nơi đáy tim người đàn bà ấy.

Có điều, cái không thể vẫn là không thể. Chiếc lá như kỷ niệm buồn, như vật hứa thề trĩu nặng theo bước chân thi sĩ và luôn vang lên da diết:

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời … ới Diêu Bông!

Bài thơ khép lại trong tiếng kêu buồn. Đó là tiếng kêu bất lực của tình yêu ở đầu đời niên thiếu của thi nhân. Tưởng trái tim con trẻ dại khờ, dễ quên, nhưng không phải. Dấu ấn của tiếng sét ái tình ấy đã thiêu đốt nhà thơ suốt cả cuộc đời. Nó như một báu vật thiêng liêng ông nâng niu gìn giữ. Chỉ có điều nó giống như một bóng trăng dưới dáy ao, nhìn vào thì được chứ không thể cầm lên.

Và hình ảnh lá Diêu Bông, một biểu tượng vô vọng đã thoát xác khỏi chính cái vô vọng thực tế để trở thành một ẩn dụ văn chương lung linh về những mối tình vô vọng giữa cuộc đời.

Nhiều nhạc sĩ đã rung rộng với hồn thơ Hoàng Cầm và lấy Lá Diêu Bông làm chất liệu cảm hứng. Nhạc sĩ Phạm Duy viết ca khúc Lá Diêu Bông ở hải ngoại vào giữa thập niên 1980 trong tuyển tập “Thấm thoát mười năm” xuất bản năm 1985. Khoảng năm 1990, nhạc sĩ Trần Tiến phổ biến bài này mang âm điệu dân ca. Hoàng Cầm, trong một bài phát biểu của mình trên VTV, đã cho rằng cả hai nhạc phẩm của Trần Tiến và Phạm Duy đều không làm ông hài lòng. Tuy nhiên, sự thật khi được chắp thêm cánh nhạc người đời, đặc biệt là những trái tim đa cảm đa sầu, đã tìm thấy chiếc “Lá Diêu Bông”- chiếc lá tình yêu lạ, rất tươi xanh trong khí quyển, lấp lánh trong bầu trời tâm hồn thi sĩ.

Thi sĩ Hoàng Cầm và Nhạc sĩ Phạm Duy.
Thi sĩ Hoàng Cầm và Nhạc sĩ Phạm Duy.

Tình Cầm (Phạm Duy – Hoàng Cầm)

(Phạm Anh Dũng)

Trên đời này có biết bao nhiêu người gặp nhau, hay gặp lại nhau, yêu nhau muộn màng lúc đã… già? Muộn màng!

Bài thơ lãng mạn do thi sĩ Hoàng Cầm viết năm 1941, diễn tả nỗi buồn vì một cuộc tình dở dang của người không còn… trẻ nữa.

Có nhiều chữ, nhiều câu thật tuyệt vời. Lấy vài thí dụ giản dị trong bài, để xem tài làm thơ của Hoàng Cầm.

Mở đầu bài thơ, chữ “Nếu” cho thấy đây một chuyện mong ước, giả dụ. Đọc tiếp cho hết câu đầu, “anh còn trẻ như năm ấy”, sẽ thấy rõ đó chỉ là một chuyện không thể có thực.

Nhưng, chữ “Quyết” ở đầu câu thứ hai cho thấy dù chỉ là chuyện giả tưởng, ý tưởng người đàn ông vẫn mạnh mẽ, khi có ý “đón em về sống”.

Có một chữ hơi lạ là “khoảng” của câu thứ ba. Thường người ta sẽ viết là “buổi”. Nhưng đọc “khoảng chiều” nghe thấm thía hơn là “buổi chiều”. Cái cảm giác khi đọc “khoảng chiều” sẽ là những lúc hoàng hôn về, không được trọn vẹn được thành cả buổi chiều, mà chỉ có những khoảng thời gian của những buổi chiều mà thôi. Kết quả làm cả câu thơ buồn hơn, hay hơn.

Chữ “níu” ở trong “níu xuân xanh” phải nói là rất hay, cho thấy tình trạng gần như là tuyệt vọng của mối tình… già, dù đây vẫn chỉ là nói chuyện giả tưởng. Mặc dù chuyện đón người yêu về chỉ là chuyện không có thực, mà tình yêu đã mong manh như vậy rồi!

Đoạn cuối của bài thơ, câu đầu cũng bắt đầu bằng “Nếu”, do đó cũng chỉ là chuyện giả dụ. Tuy vậy, khi đọc tiếp có “ngày mai anh trở gót” thì thấy câu chuyện lại có thể xẩy ra trong tương lai và không phải là chuyện không thật như ở đoạn đầu bài thơ.

Nhưng, lúc đó người “lãng đãng” có thể hiểu là người đàn ông đã mất hồn vì mất… tình đi lang thang khắp nơi, rồi tìm về “bến sông xa” vắng với cái buồn cô đơn.

Câu áp chót của bài thơ là một câu hỏi, “em còn đấy hay đâu mất?”. Và, chữ “Thì” đặt khéo léo ở đầu câu làm cả câu mạnh hẳn lên với ý nghĩa thậm xưng hơn nhiều. Câu thơ, câu hỏi nhưng có vẻ đã biết câu trả lời rồi, gần như thành một nỗi niềm trách móc, ai oán.

Câu cuối cùng của bài thơ, thật hay, đã làm bật ra được cái cảm giác buồn cô độc của thi sĩ. Hai chữ “buồn teo” là buồn hoang vắng. “Cuối xóm buồn teo một tiếng gà” nhấn mạnh đến sự vắng vẻ và buồn. Hoàng Cầm viết “một tiếng gà”, một tiếng động chứ không phải tiếng gáy của gà. Chỉ có một tiếng động nhỏ của một con gà, không có tiếng thứ haị Thi sĩ Hoàng Cầm không viết là một đàn gà, không viết là hai con gà. Đọc câu thơ sẽ có cảm giác chỉ có một con gà mà thôị Tiếng động nhỏ của một con gà từ cuối xóm còn vọng lên nghe thấy được cho thấy xóm buồn vắng vẻ như thế nào!

Mãi đến năm 1985, tức là 44 năm sau, nhạc sĩ Phạm Duy mới phổ nhạc bài thơ. Chắc lúc đó, tuổi đã về chiều, Phạm Duy mới cảm được bài thơ? Ông cho biết bài thơ không có tựa đề và đặt tên bài hát là Tình Cầm. Thật ra, bài thơ có tên Nếu Anh Còn Trẻ (99 Tình Khúc – Thơ Hoàng Cầm, trang 175). Có lẽ, đề tựa bài thơ chỉ được đặt về sau này và Phạm Duy đã không hề biết đến.

Bài thơ tình Nếu Anh Còn Trẻ đã trở thành bài nhạc Tình Cầm. Sau khi được phổ nhạc, âm giai chính là Sol Trưởng, lời bài hát trở thành như sau:

Nếu anh còn trẻ như năm cũ…
Quyết đón em về sống với anh!
Những khi chiều vàng phơ phất đến…
Anh đàn em hát níu xuân xanh…”

Bốn câu khá hay trong đoạn thứ hai của bài hát, không có trong bài thơ, do chính Phạm Duy “liều lĩnh phang” (chữ của Phạm Duy dùng khi viết về bài hát này) thêm vào:

Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ…
Có anh ngồi lại so phím cũ
Mong chờ em hát khúc xuân xưa!!!

Đoạn thứ ba, điệp khúc, lời khác hẳn bài thơ và nhạc chuyển trùng hẳn xuống, buồn hơn vì đổi qua âm giai Sol Thứ:

Nhưng thuyền em buộc trên sông hận…
Anh chẳng quay về với trúc tơ!
Ngày tháng tỳ bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi chờ!

Đoạn kết, nhạc trở về với Sol Trưởng, lại rộng rãi hơn nhưng có lời hát với ý tưởng khác đoạn thơ nguyên thủy:

Nếu có ngày nào em quay gót
Lui về thăm lại bến thu xa
Thì đôi mái tóc không còn xanh nữa
Mây bạc trăng vàng vẫn thướt tha”

(Tình Cầm/thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy)

Có nhạc điệu uyển chuyển, thật hay, bài tình ca Tình Cầm là một trong những bài nhạc được gọi là Hoàng Cầm Ca của Phạm Duy.

Đó là chuyện bài thơ nhạc Nếu Anh Còn Trẻ-Tình Cầm.

Để kết thúc, lại nói thêm một chút chuyện già trẻ ở ngoài đờị Thế nào là già? Như thế nào là trẻ? Vấn đề này chỉ tương đối thôi và tùy theo cảm quan của con người mà thôi.

Thật ra có nhiều người nhiều người trông qua có vẻ trẻ nhưng tình cảm, bên trong lại không trẻ chút nào hết và có những người khác, bên ngoài nhìn thấy là già, mà tâm hồn vẫn trẻ trung.

Những “người thơ” có đầu óc, được tâm hồn như Hoàng Cầm hay Phạm Duy, có thể nói không có tuổi và vẫn trẻ mãi mãi…

(Phạm Anh Dũng)
Santa Maria, California USA

CHÚ THÍCH:
Tầm Dương và tỳ bà.
Tỳ bà tuy là nhạc cụ cổ truyền của VN nhưng có nguồn gốc từ đàn pipa của Trung Hoa.
Tầm Dương là tên một con sông bên Trung Hoa.
Câu thơ của Hoàng Cầm có chữ “Tầm Dương” và do đó câu của Phạm Duy có chữ “tỳ bà” là do câu chuyện sau:
Tầm Dương là một con sông thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc chảy qua huyện Cửu Giang.
Vào đời Đường, nhà thơ Bạch Cư Dị đang làm quan ở kinh đô, bị giáng chức về làm Tư Mã quận Cửu Giang (tức quận Giang Châu).
Ở đây, trong một lần tiễn bạn ở bến sông Tầm Dương, nhà thơ gặp một cô gái giang hồ trên sông, cô gái vốn là một tay đánh đàn tỳ bà nổi tiếng ở kinh đô Tràng An lưu lạc về.
Nghe đàn tỳ bà, lại nghe cô gái kể lể về cảnh ngộ rũi ro, nhà thơ cảm khái làm bài “Tỳ Bà Hành” nổi tiếng được truyền tụng đến ngày nay và đã được Phan Huy ích dịch ra tiếng Việt.
Trong Chinh Phụ Ngâm (nguyên tác Hán Văn của Đặng Trần Côn dịch sang tiếng Việt do Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm, đến nay vẫn không biết chắc chắn là người nào) có câu: Bến Tầm Dương chàng còn ngoảnh lại. Chốn Tiêu Tương thiếp hãy trông theo…
Bài thơ Tỳ Bà Hành của Phan Huy Ích dịch thơ Bạch Cư Dị cũng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành một bài nhạc (khác).

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nếu Anh Còn Trẻ (Tập thơ 99 Tình Khúc-Hoàng Cầm, trang 175-Văn Học xuất bản năm 1996 tại Việt Nam)
2. Tình Cầm (Tập nhạc Thấm Thoát Mười Năm-Phạm Duy, trang 75-Hội Văn Hóa Việt Nam tại Bắc Mỹ, Tủ Sách Cành Nam và Tạp Chí Xác Định xuất bản năm 1985 tại Hoa Kỳ)
3. Về Những Bài Gọi Là Hoàng Cầm Ca (bài Phạm Duy viết trong Tập San Hợp Lưu số 8 tháng Chạp, 1992 và tháng Giêng, 1993

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

oOo

Lá Diêu Bông – Ca sĩ Ý Lan:

 

Tình Cầm – Danh ca Thái Thanh:

 

Tình Cầm – Ca sĩ Sĩ Phú:

 

Tình Cầm – Ca sĩ Tuấn Ngọc:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s