Tân Nhạc VN – Ca Khúc Vượt Thời Gian – “Tình Khúc Thứ Nhất”, “Em Đến Thăm Anh Đêm 30”, “Đời Đá Vàng”, “10 Bài Không Tên”

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các ca khúc “Tình Khúc Thứ Nhất” (Lời: Nguyễn Đình Toàn), “Em Đến Thăm Anh Đêm 30”, “Đời Đá Vàng”,“10 Bài Không Tên” nổi tiếng qua nhiều thập kỷ của Nhạc sĩ Vũ Thành An.

Nhạc sĩ Vũ Thành An là một trong những nhạc sĩ lừng danh của miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954 – 1975. Các “Bài Không Tên” là những dấu ấn gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp sáng tác của ông. Hiện nay, ông là một Phó tế của Giáo Hội Công Giáo Rôma (Rome), đã ngừng sáng tác nhạc Tình Ca mà chỉ sáng tác nhạc Thánh Ca.

Nhạc sĩ Vũ Thành An sinh tại Hải Hậu, Nam Định năm 1943. Năm 1954 ông theo gia đình di cư vào miền Nam. Năm 1960, ông vào học trường trung học Nguyễn Trãi, đồng thời theo học nhạc với Nhạc sĩ Chung Quân cùng lúc với NS Ngô Thụy Miên, NS Đức Huy. Năm 1961 ông thi hỏng Tú Tài và về trường Hưng Đạo học tiếp Đệ Nhị. Năm 1963, ông thi đậu Tú Tài toàn phần.

vuthanhan1

vuthanhan_Em Đến Thăm Anh Đêm 30

vuthanhan_Bài Không Tên Số 1

vuthanhan_Bài Không Tên Số 2

vuthanhan_Bài Không Tên Số 3

Sau đó ông được linh mục Trần Đức Huynh, giám đốc trường Hưng Đạo cho dạy lớp Đệ Thất để có tiền học Đại Học. Cuối năm 1963, ông vào làm phóng viên ở Đài Phát Thanh Sài Gòn, nơi đây ông gặp nhà thơ Nguyễn Đình Toàn.

Năm 1965 NS Vũ Thành An sáng tác nhạc phẩm “Tình Khúc Khứ Nhất” (Lời: Nguyễn Đình Toàn) để kỷ niệm một mối tình, và ông nổi tiếng ngay từ ca khúc đầu tay này. Sau đó ông sáng tác tiếp các “Bài Không Tên Số 1, 2, 3, 4”. Cuộc tình của ông kéo dài được một năm thì chấm dứt, tác phẩm “Bài Không Tên Cuối Cùng” đánh dấu thời điểm đó. Sau “Bài Không Tên Cuối Cùng”, NS Vũ Thành An quay lại sáng tác tiếp các “Bài Không Tên Số 5, 6, 7″… không theo một thứ tự nào.

Năm 1967, ông nhập ngũ khóa 25 Sĩ Quan Dự Bị Thủ Đức và 1969 ông lập gia đình.

Năm 1969, ông phát hành tập nhạc “Những Bài Không Tên”. Các tác phẩm của NS Vũ Thành An được mọi người yêu thích ở khắp miền Nam khi đó. Người ta có thể nghe tại gần như hầu hết các quán cà phê có nhạc của Sài Gòn và những thành phố lớn khác, nhất là trên các làn sóng phát thanh thường xuyên. Tên tuổi của NS Vũ Thành An cùng với các nhạc phẩm: “Tình Khúc Thứ Nhất”, “Em Đến Thăm Anh Đêm 30”, và các “Bài Không Tên” gắn liền với giới trẻ thời bấy giờ. NS Vũ Thành An cùng với NS Trịnh Công Sơn, NS Ngô Thụy Miên, NS Từ Công Phụng, NS Lê Uyên Phương tạo thành một thế hệ nhạc sĩ mới tài năng trong thời gian này.

Nhạc sĩ Vũ Thành An.
Nhạc sĩ Vũ Thành An.

vuthanhan_Bài Không Tên Số 4

vuthanhan_Bài Không Tên Số 5

vuthanhan_Bài Không Tên Số 6

Năm 1971, NS Vũ Thành An tốt nghiệp đại học Luật Khoa Sài Gòn. Ông tiếp tục làm việc tại Đài Phát Thanh Sài Gòn với cấp bậc sĩ quan, và trải qua nhiều chức vụ: Trưởng cơ sở dân vận Gia Định 1973, Trưởng phân khối văn hóa, Phụ tá trưởng khối chương trình, Trưởng khối chương trình và Trưởng phân khối kế hoạch hệ thống truyền thanh 1974.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, NS Vũ Thành An là người cuối cùng rời Đài Phát Thanh Sài Gòn, lúc 10 giờ 30 giờ sáng. Sau đó ông phải học tập cải tạo suốt mười năm dài từ 1975 đến 1985 tại miền Bắc. Theo lời NS Vũ Thành An, ông bắt đầu sáng tác Thánh Ca, Những Bài Nhân Bản, trong thời gian cải tạo từ năm 1981.

Năm 1991, NS Vũ Thành An rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1996, ông ghi danh học chương trình Cao Học Thần Học của Tổng Giáo Phận Portland, Oregon.

Năm 2000, NS Vũ Thành An được đào tạo làm Phó Tế và phụ trách Đài Phát Thanh Việt Nam Hải Ngoại ở Portland, Oregon. NS Vũ Thành An ngừng sáng tác tình khúc và chỉ tiếp tục soạn các bản thánh ca, và tham gia các công việc từ thiện.

vuthanhan_Bài Không Tên Số 7

vuthanhan_Bài Không Tên Số 8

vuthanhan_Bài Không Tên Số 9

vuthanhan_Bài Không Tên Cuối Cùng

vuthanhan_Đời Đá Vàng

NS Vũ Thành An sáng tác tổng cộng khoảng 50 “Bài Không Tên”, trong số đó một vài bài vẫn mang một tên khác như “Bài Không Tên Số 11” là “Cuối Dòng Sông Khô”, “Bài Không Tên Số 13” là “Tình Xưa Gái Huế”, “Bài Không Tên Số 37” là “Rưng Rưng Lệ”, “Bài Không Tên Số 40” là “Đời Đá Vàng”, “Bài Không Tên Số 41” là “Một Thời Phóng Đãng”… Về sau NS Vũ Thành An còn sáng tác tiếp một số “Bài Không Tên” khác như “Bài Không Tên Cuối Cùng Tiếp Nối”, “Không Tên Trở Lại Cuối Cùng”, “Không Tên Trở Lại Số 7”, “Không Tên Tiếp Nối Số 28”…

Theo một bài phỏng vấn NS Vũ Thành An, ông cho biết việc không đặt tên các bài hát là một dụng ý để thu hút sự chú ý của người nghe nhạc.

vuthanhan_nguyen-dinh-toan

Nguyễn Đình Toàn, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936, là một nhà văn, thi sĩ, và nhạc sĩ. Ngoài ra ông còn có bút hiệu Tô Hà Vân khi viết văn, và Hồng Ngọc khi viết nhạc.

Ông sinh tại huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh (về sau đổi thành quận Gia Lâm thuộc tỉnh Gia Lâm) và di cư vào Nam năm 1954.

Ông đóng góp nhiều sáng tác văn học nghệ thuật dưới nhiều dạng: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, bút ký, thơ, nhạc. Tác phẩm “Áo Mơ Phai” của ông đoạt “Giải Văn Học Nghệ Thuật” của Việt Nam Cộng Hòa năm 1973.

Nguyễn Đình Toàn viết nhiều truyện dài đăng thành nhiều kỳ trên các báo chí Miền Nam trước 1975 như tạp chí Văn, Văn Học, và các nhật báo như Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, và Tiền Tuyến.

Ông cũng có tay trong việc phát triển tân nhạc Miền Nam qua chương trình phát thanh “Nhạc Chủ Đề” trên đài phát thanh quốc gia VTVN mỗi tối Thứ Năm.

Sau năm 1975, ông bị nhà nước miền Bắc bắt giam và học tập cải tạo 10 năm mới được thả. Năm 1998 ông cùng gia đình được tiếp nhận xuất cảnh sang Mỹ và định cư tại California, nơi ông tiếp tục viết cho báo Viet Tide.

Một số bản nhạc của ông được nhiều người biết đến là “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” (“Nước Mắt Cho Sài Gòn”) và lời cho ca khúc khét tiếng “Tình Khúc Thứ Nhất” do nhạc sĩ Vũ Thành An sáng tác nhạc. Ca sĩ Khánh Ly đã thu âm và phát hành 2 đĩa nhạc với những sáng tác của ông.

Nguyễn Đình Toàn và tác phẩm:

Tiểu thuyết truyện dài

• Chị Em Hải (1961)
• Con Đường (Nhà xuất bản Giao Điểm 1965)
• Ngày Tháng (Nhà xuất bản An Tiêm 1968)
• Đêm Hè (Nhà xuất bản Hiện đại 1970)
• Đêm Lãng Quên (Nhà xuất bản Tân Văn 1970)
• Giờ Ra Chơi (Nhà xuất bản Khai Phóng 1970)
• Không Một Ai (Nhà xuất bản Hiện đại 1971)
• Thành phố (Nhà xuất bản Kẻ Sĩ 1971)
• Áo Mơ Phai (Nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng 1972)
• Tro Than (Nhà xuất bản Đồng Nai 1972)
• Những Kẻ Đứng Bên Lề (Nhà xuất bản Giao Điểm 1974)
• Đồng Cỏ (Nhà xuất bản Đồng Dao/Úc châu 1994)

Tập truyện

• Phía Ngoài (viết chung với Huỳnh Phan Anh, Nhà xuất bản Hồng Đức 1969)
• Đám Cháy (Nhà xuất bản Tân Văn 1971)

Bút ký

• Bông Hồng Tạ Ơn I & II (Nhà xuất bản Đêm trắng 2006, 2012)

Thơ

• Mật Đắng (Nhà xuất bản Huyền Trân 1962)

Kịch

• Cơn Mưa

Tập nhạc

• Hiên Cúc Vàng (tập nhạc, 1999)
• Tôi Muốn Nói Với Em (tập nhạc, 2001)
• Mưa Trên Cây Hoàng Lan (tập nhạc, 2002)

Dưới đây mình có bài:

– Nhạc sĩ Vũ Thành An: Cuộc đời như đại lộ không đèn
– NGUYỄN ĐÌNH TOÀN Từ ĐỒNG CỎ tới ÁO MƠ PHAI

Cùng với 25 clips tổng hợp các ca khúc “Tình Khúc Thứ Nhất”, “Em Đến Thăm Anh Đêm 30”, “Đời Đá Vàng”, và các “Bài Không Tên” để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Nhạc sĩ Vũ Thành An.
Nhạc sĩ Vũ Thành An.

Nhạc sĩ Vũ Thành An: Cuộc đời như đại lộ không đèn

(Hương Giang)

“Khóc cho vơi đi những nhục hình,
nói cho quên đi những tội tình.
Đời con gái cũng cần dĩ vãng,
mà em tôi chỉ còn tương lai…”.

Đó giai điệu của một trong số nhiều bản tình ca không tên đã làm hàng triệu trái tim khán giả Sài Gòn trước 1975 thổn thức.

Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Trịnh Công Sơn và Vũ Thành An tạo thành một nhóm “ngũ nhạc” làm rạng danh bầu trời âm nhạc Việt Nam suốt những thập niên 50, 60 và 70 của thế kỷ trước. Họ chính là đại diện tiêu biểu cho một thế hệ cầm bút viết tình ca bằng những đứt đoạn con tim, trái ngang và day dứt khôn nguôi của tình chia lìa. Sau những triết lý về kiếp đời trần ai của Trịnh Công Sơn, những cuộc tình sầu bi của Từ Công Phụng và sự lãng mạn, mơ hồ với những vết thương ngọt lịm cứa sâu vào tim của Ngô Thụy Miên… khán giả Sài Gòn nói riêng và khán giả trên ba miền dọc chiều dài đất nước nói chung không khỏi ngỡ ngàng với một loạt những sáng tác không tên của nhạc sĩ tài năng Vũ Thành An.

Cuộc đời như đại lộ không đèn

Nhạc sĩ Vũ Thành An sinh năm 1943 tại Hải Hậu, Nam Định. Năm 1954, ông bắt đầu theo gia đình di cư vào Sài Gòn. Trong thời kỳ học sinh, Vũ Thành An theo học âm nhạc trong lớp học của nhạc sĩ Chung Quân cùng Ngô Thụy Miên và Đức Huy. Ông tham gia hoạt động âm nhạc, nghệ thuật rất tích cực và thể hiện rõ những ưu điểm, khả năng sáng tác ca khúc.

Năm 1959, Vũ Thành An sáng tác ca khúc đầu tay và bị nhạc sĩ Chung Quân hết lời chê bai. Nhớ về kỷ niệm này, ông vẫn còn nói vui: “Tôi chỉ muốn nói với các bạn trẻ rằng, bước vào con đường âm nhạc sẽ luôn gặp khó khăn, gập ghềnh. Và đừng vội vàng vì những lời khen, chê mà tỏ ra nản chí”. Sau đó, ông chuyển sang sáng tác những ca khúc não tình, già dặn và từng trải hơn so với tuổi đời của mình rất nhiều. Những nhạc khúc: Bài không tên số 2, Bài không tên số 6, Bài không tên số 8…lần lượt ra đời, tạo thành một chùm các ca khúc không tên với thanh âm đau đớn, khắc khoải, bộc lộ tâm trạng chán chường, ủ rũ của tác giả. Bắt đầu từ đây, cái tên Vũ Thành An gắn với một loạt những tình khúc không tên.

Mặc dù vô cùng say mê với nghệ thuật sáng tác ca khúc nhưng đến năm 1965, Vũ Thành An cũng tạm thời…bỏ quên con đường sáng tác của mình khi vào làm phóng viên tại đài phát thanh Sài Gòn. Chính nơi đây đã chắp nối cho mối lương duyên giữa ông và nhà thơ Nguyễn Đình Toàn, người sau này đã giúp Vũ Thành An “mượn hồn thi ca để sáng tạo âm nhạc”. Tình khúc thứ nhất ra đời từ cuộc chuyển giao trên mảnh đất văn chương và trở nên nổi tiếng ngay lập tức.

Những năm tháng sau đó, Vũ Thành An tiếp tục chắp bút viết một loạt những bài không tên khác. Cũng chính năm 1965, cuộc tình đẹp như cổ tích của ông với người bạn gái đầu tiên đã chấm dứt sau những tháng ngày đau thương, rạn vỡ. Chính nỗi đau chia lìa thời tuổi trẻ sôi nổi đã khiến Vũ Thành An thăng hoa với bản nhạc tình đến giờ vẫn còn làm lay động hàng ngàn đôi tai khán giả: Bài không tên cuối cùng. Ca khúc này trở nên phổ biến với rất nhiều khán giả, đặc biệt là giới trí thức Sài Gòn ngày đó. Họ nghe nó ở bất cứ đâu và trong các buổi văn nghệ.

Bài không tên cuối cùng luôn nhận được sự ủng hộ nhiệt tình nhất. Sức lan tỏa mạnh mẽ, rộng rãi của tình khúc này đã khiến tên tuổi Vũ Thành An trở nên nổi tiếng hơn bao giờ hết. Chữ “cuối cùng” mà sau này Vũ Thành An giải thích “ở đây mang ý nghĩa đó là kỷ niệm cuối cùng với người con gái mà tôi đã thầm yêu” và nó cũng là mở đầu cho một loạt những bài ca không quên khác ra đời lần lượt sau đó.

Lời ca “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa” của “người viết tình ca” Trịnh Công Sơn tự khi nào lại nên thân quen, gần gũi và phù hợp với tâm trạng, hoàn cảnh của Vũ Thành An đến thế. Sau một cuộc tình buồn, ông tiếp tục nếm trải hương vị chia ly của mối tình thứ hai và lúc này Bài không tên số 2 lại ra đời đánh dấu “chữ ký âm nhạc” Vũ Thành An, người chuyên viết bi ca trên địa hạt âm nhạc Sài Gòn thời đó.

Đến năm 1969, Vũ Thành An quyết định chấm dứt đời độc thân, kết thúc những đoạn tình buồn của mình bằng cách lập gia đình và cho phát hành tuyển tập những bài không tên. Các nhạc phẩm được thể hiện qua giọng ca ngọt ngào của nữ ca sĩ Thanh Lan trên sóng phát thanh và đặc biệt là phong trào du ca Sài Gòn tại hội quán Văn cùng thời điểm với cặp song ca đình đám Trịnh Công Sơn – Khánh Ly. Cuộc hội ngộ âm nhạc đó trở thành dấu son sáng ngời trên con đường sự nghiệp, cống hiến cho vòm trời Tân nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Vũ Thành An.

Vì những lý do chính trị, sau năm 1975, Vũ Thành An đã có 10 năm sống trong trại cảo tạo (1975-1985). Thời gian này, Vũ Thành An trở nên nhạy cảm và bắt đầu chuyển hướng âm nhạc. Từ một người chuyên sáng tác nhạc não tình, bi thương Vũ Thành An viết nhạc Thánh ca và tuyên bố không bao giờ viết nhạc tình nữa. Theo lời Vũ Thành An, ông bắt đầu sáng tác Thánh ca, những baầi Nhân bản trong thời gian cải tạo từ năm 1981. Đối với nhiều người yêu mến âm nhạc của ông, đây là một sự đổi thay mang nhiều tiếc nuối. Biến cố quan trọng giai đoạn này của Vũ Thành An là được rửa tội và bước vào Thiên chúa giáo. Ông lập lại gia đình lần hai và chính thức di cư sang Mỹ sinh sống như nhiều văn nghệ sĩ Sài Gòn thời bấy giờ vào năm 1991.

Nhạc sĩ Vũ Thành An hạnh phúc với công việc từ thiện hiện nay.
Nhạc sĩ Vũ Thành An hạnh phúc với công việc từ thiện hiện nay.

Đạo trong âm nhạc

Giữa khói lửa chiến tranh lúc đó, nhạc tình của Vũ Thành An là nơi ẩn trú cho những tâm hồn mệt mỏi, cô đơn. Cuộc đời thật bất an, ngắn ngủi giữa chốn đạn lạc tên bay; và khi người lính ngả lưng nằm nghỉ bên đồi, bật lên một làn sóng radio tình cờ, thì nhạc của ông lúc đó đã như thoáng mây bay giữa trời, gợi lên hình ảnh người bạn gái năm xưa, thật nhạt, thật mờ nhưng có thể làm cay khóe mắt.

Chính thập niên 1960 cũng là thập niên kỳ dị nhất của âm nhạc Việt Nam. Phạm Duy và một số nhạc sĩ đồng vai vẫn sáng tác mạnh mẽ. Nhưng bên cạnh đó, giới âm nhạc cũng xuất hiện thêm nhiều tài năng lớn, và mỗi người với một sự độc đáo riêng. Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng và dĩ nhiên Vũ Thành An. Thời này, những thử nghiệm âm nhạc cũng được đẩy xa hơn, như với phong trào nhạc trẻ. Không phải vì chiến tranh dữ dội mà các nhạc sĩ phải đi tìm một thế giới tư riêng của thơ mộng. Nhạc tình Vũ Thành là một kết hợp của âm điệu nhẹ nhàng, lả lướt với lời hát như quyện vào tâm hồn người nghe. Những đau thương, trách cứ, giận hờn theo từng cung bậc dồn vào tâm khảm đến rã rời, nó trở thành dấu ấn lãng mạn của thời nhạc Vàng.

Khi định cư tại Mỹ, Vũ Thành An sáng tác nhiều nhạc phẩm mang phong cách và ca khúc đổi thay hơn xưa. Nhưng rồi thất bại, ông viết tiếp Bài không tên cuối cùng tiếp nối như một chấp nhận hiện thực của sự trở về.

Tên tuổi của nhạc sĩ Vũ Thành An đã gắn liền với những khoảng đời của tuổi trẻ Việt. Những dòng thơ của Nguyễn Đình Toàn, trong Tình khúc thứ nhất và Em đến thăm anh đêm ba mươi vẫn lơ lửng, phảng phất trong đầu của những người một thời ngồi các quán cà phê bên đường Sài Gòn và tập hút những điếu thuốc đầu tiên trong đời của các năm 60.

Một sinh hoạt của Văn Bút trước 1975: bán tác phẩm để cứu trợ nạn nhân bão lụt miền tây. Từ trái qua: Phạm Việt Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Minh Đức Hoài Trinh, Vũ Hoàng Chương.
Một sinh hoạt của Văn Bút trước 1975: bán tác phẩm để cứu trợ nạn nhân bão lụt miền tây. Từ trái qua: Phạm Việt Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Minh Đức Hoài Trinh, Vũ Hoàng Chương.

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN Từ ĐỒNG CỎ tới ÁO MƠ PHAI

(Ngô Thế Vinh – 08.03.2015)

“Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai.” (Nguyễn Đình Toàn)

TIỂU SỬ:

Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học [trong nhiều năm, Nguyễn Đình Toàn phụ giúp Trần Phong Giao tuyển chọn thơ và truyện cho báo Văn]; Nguyễn Đình Toàn cũng viết feuilleton cho các nhật báo Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, Tiền Tuyến; biên tập viên đài phát thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề trong những năm 1970s. Sau 1975, cùng chung số phận như mọi văn nghệ sĩ Miền Nam, Nguyễn Đình Toàn bị bắt hai lần và đi tù cải tạo một thời gian gần sáu năm. Sang Mỹ định cư từ cuối năm 1998, Nguyễn Đình Toàn và vợ, chị Thu Hồng cùng phụ trách chương trình Đọc Sách cho đài phát thanh VOA, Nguyễn Đình Toàn còn viết cho tuần báo Việt Tide mục Văn Học Nghệ Thuật của nhà văn Nhật Tiến cho tới khi nghỉ hưu. Gia đình Nguyễn Đình Toàn hiện sống tại Nam California.

Tác phẩm đã xuất bản:

Văn: Chị Em Hải (truyện, Nxb Tự Do 1961); Những Kẻ Đứng Bên Lề (truyện, Nxb Giao Điểm 1974); Con Đường (truyện, Nxb Giao Điểm 1965); Ngày Tháng (truyện, Nxb An Tiêm 1968); Phía Ngoài (tập truyện, viết chung với Huỳnh Phan Anh, Nxb Hồng Đức 1969); Đêm Hè (truyện, Nxb Hiện Đại 1970); Giờ Ra Chơi (truyện, Nxb Khai Phóng 1970); Đêm Lãng Quên (Nxb Tân Văn 1970); Không Một Ai (truyện, Nxb Hiện Đại 1971); Thành Phố (truyện, Nxb Kẻ Sĩ 1971); Đám Cháy (tập truyện, Nxb Tân Văn 1971); Tro Than (truyện, Nxb Đồng Nai 1972); Áo Mơ Phai (truyện, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972); Đồng Cỏ (truyện, Nxb Đồng Dao/ Úc châu 1994).

Thơ: Mật Đắng (thơ, Nxb Huyền Trân 1962)

Kịch: các vở kịch Nguyễn Đình Toàn đều là kịch truyền thanh, trừ Cơn Mưa được trích đăng trong bộ môn Kịch Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, những bản thảo khác đều thất lạc.

Nhạc: Hiên Cúc Vàng (tập nhạc, 1999); Tôi Muốn Nói Với Em (tập nhạc, 2001); Mưa Trên Cây Hoàng Lan (tập nhạc, 2002).

Ký: Bông Hồng Tạ Ơn I & II (Nxb Đêm Trắng 2006, 2012)

Áo Mơ Phai đoạt giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1973.

CHỊ EM HẢI

Có lẽ Nguyễn Đình Toàn viết khá sớm từ những ngày niên thiếu ở Hà Nội, cũng lập bút nhóm và chọn bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân. Khi di cư vào Nam, thời gian ban đầu, Nguyễn Đình Toàn sống chung với gia đình Nhật Tiến. Không có tiền mua giấy trắng, những trang bản thảo đầu tiên của Nguyễn Đình Toàn đã được viết trên mặt sau của các bản tin VN Thông Tấn Xã phế thải. Khi bắt đầu có tác phẩm xuất bản, Toàn quyết định lấy tên thật làm bút hiệu.

Chị Em Hải là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Đình Toàn, ít được nhắc tới nhưng đã mang ngay dấu ấn văn phong của Con Đường Nguyễn Đình Toàn xuyên suốt qua các tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Toàn sau này. Bản thảo Chị Em Hải, được k. giả Lô Răng Phan Lạc Phúc chuyển tới nhà báo Phạm Xuân Ninh rồi tới tay nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, tác giả Khói Sóng, lúc đó đang là tổng thư k. nhật báo Tự Do. Như Phong nhìn ngay được viên ngọc ẩn thạch, nhận ra văn tài của Nguyễn Đình Toàn nên đã để cơ sở báo chí Tự Do xuất bản ngay cuốn sách này cùng với cuốn Thử Lửa của Thao Trường [tiền thân của bút danh Thảo Trường sau này]. Cùng năm sinh 1936, với hai tác phẩm đầu tay, Nguyễn Đình Toàn và Thảo Trường đều mau chóng trở thành hai tên tuổi văn học của Miền Nam.

ÁO MƠ PHAI

Vào thập niên 1960s, nhiều nhà văn Miền Nam, có số lượng sách khá đồ sộ một phần do lối viết feuilleton cho các nhật báo, bên cạnh đó là những truyện kiếm hiệp Kim Dung, truyện dịch Quỳnh Dao nhằm đáp ứng nhu cầu mọi thành phần độc giả thời bấy giờ. Viết feuilleton, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ

còn gọi viết truyện nhật trình; đó là những tiểu thuyết, truyện dài được các tác giả viết mỗi ngày và đăng từng kỳ báo. Điển hình là nhà văn Mai Thảo, cùng một lúc nhận viết truyện dài cho nhiều tờ báo, đôi khi tới ngồi viết ngay tại toà soạn, đưa từng trang viết chưa ráo mực cho nhà in để kịp sắp chữ.

Rồi cũng phải kể tới tình huống một feuilleton do nhiều người viết, điển hình là truyện dài “Một Triệu Đồng” của nhà báo Như Phong đăng trên nhật báo Tự Do, khi Như Phong bị lao phổi, do truyện đang ăn khách, toà soạn quyết định tiếp tục. Trong hồi k. Tôi Làm Báo, nhà văn nhà giáo Tạ Quang Khôi kể lại: “Do, ông Nguyễn Hoạt yêu cầu mỗi người viết một đoạn để chờ ông Như Phong đi làm lại”. Và truyện dài của nhà báo Như Phong đã được nhà thơ Đinh Hùng, nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và sau đó là Tạ Quang Khôi viết thay cho tới khi nhà báo Như Phong trở lại toà báo.

Gần như một phong trào, không thiếu những nhà văn danh tiếng cũng tham dự vào phong trào viết tiểu thuyết feuilleton như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Thảo Trường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nhã Ca, Tu. Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ… nhiều người xem đó như thứ sản phẩm giải trí ngắn hạn đáp ứng nhu cầu của xã hội tiêu thụ. Nhà văn Sơn Nam cũng viết feuilleton nhưng chính Sơn Nam sau này lên tiếng phủ nhận, không coi đó là những tác phẩm văn học. Công bằng mà nói tiểu thuyết feuilleton không phải không có tác phẩm hay phải nói là rất hay. Chất lượng tác phẩm tuỳ theo thái độ chọn lựa và cách viết của mỗi tác giả.

Nguyễn Đình Toàn cũng không là một ngoại lệ. Trừ Chị Em Hải là tác phẩm được viết xong rồi xuất bản, hầu hết các tác phẩm còn lại của Nguyễn Đình Toàn đều là tiểu thuyết feuilleton sau đó được in thành sách như Con Đường [nhật báo Tự Do], Đồng Cỏ [nhật báo Chính Luận], Áo Mơ Phai [nhật báo Xây Dựng], và những cuốn khác trên nhật báo Tiền Tuyến mà chính Nguyễn Đình Toàn cũng không còn nhớ. Nguyễn Đình Toàn có một đức tính là các trang bản thảo chỉ viết một lần, không sửa chữa và giao thẳng cho thợ nhà in sắp chữ. [Nguyễn Mộng Giác sau này là người thứ hai cũng viết bản thảo chỉ một lần không sửa chữa]. Nguyễn Đình Toàn cho rằng chưa hề hy sinh tính văn chương khi chọn viết những truyện dài feuilleton như vậy.

Nếu theo thứ tự xuất bản, thì Áo Mơ Phai là cuốn sách feuilleton thứ 13 của Nguyễn Đình Toàn, và cũng là tác phẩm được trao giải Văn Học Nghệ Thuật 1973.

Khi viết bài điểm sách Áo Mơ Phai, Huỳnh Phan Anh, đã nhận định: “Phải nhìn nhận rằng yếu tố ‘truyện’ là cái gì quá nghèo nàn trong Áo Mơ Phai, truyện dài. Một độc giả bình thường có thể thất vọng sau khi đọc Áo Mơ Phai. Người đọc có thể xếp cuốn sách lại với nỗi bàng hoàng nào đó, có lẽ người đọc sẽ khó thâu tóm ‘câu truyện’ mà tác giả đã dùng trên 300 trang sách để kể. Có thể câu truyện thật sự của Áo Mơ Phai không thể tách rời khỏi từng trang Áo Mơ Phai, nghĩa là không thể giản lược tóm thâu mà không làm mất . nghĩa của nó. Có thể vì câu truyện thực sự của Áo Mơ Phai là cái gì chưa hoàn tất, nói một cách nào đó, hãy còn vắng mặt, hãy còn hứa hẹn.” [Văn Học 10/02/1974]

Cũng trên tạp chí Văn Học 1974, Nguyễn Đình Toàn đã nói về kỹ thuật xây dựng Áo Mơ Phai như một tác phẩm tâm đắc của mình: “Mỗi tác phẩm đã viết ra như que diêm đã được đốt cháy, nhà văn có bổn phận phải sáng tạo, dù rằng toàn bộ tác phẩm chỉ là sự nối dài từ cuốn đầu tiên. Nhiều người đã nói tôi dùng lối viết quá dài, cả trang không chấm trong Áo Mơ Phai này mới mang đủ sắc thái không khí của Hà Nội. Nhân vật chính trong tác phẩm không phải là những nhân vật được nhắc tới trong sách mà chính là thành phố Hà Nội. Ai sống ở nơi này thường có cái cảm tưởng đang sống trong một giấc mơ, có lẽ là giấc mơ không bao giờ phai nhạt với sương mù cơn mưa sướt mướt hơi lạnh của mùa thu… Áo Mơ Phai thoát ra từ cơn mơ đó từ khi tôi xa Hà Nội mới 17 tuổi.”

Ba mươi hai năm sau [9/10/2006] trong buổi mạn đàm với Hoàng Khởi Phong trên RFA, khi được hỏi về Áo Mơ Phai Nguyễn Đình Toàn bày tỏ:

“Có những người thức thời, nhìn xa trông rộng, có thể tiên đoán dự liệu được những biến chuyển của thời cuộc, dĩ nhiên có những điều họ tiên đoán cũng có điều sai. Mà đúng hay sai thì chỉ khi nào sự việc xảy ra thì họ mới biết được. Tôi viết cuốn sách đó chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử như chịu đựng sự đổi thay của thời tiết”. [HKP mạn đàm với NĐT, RFA 9/10/2006]

Phát biểu của Nguyễn Đình Toàn khiến người ta liên hệ tới bài diễn văn của Albert Camus khi dự lễ nhận giải Nobel văn chương 1957 tại Stockholm, Camus đưa ra nhận định rằng ngày nay nhân loại gồm số nhỏ người làm lịch sử và đông đảo những người phải gánh chịu những hậu quả do biến cố lịch sử. Và tác giả La Peste/Dịch Hạch cho rằng vị trí của những người làm văn học nghệ thuật là đứng về phía những người khổ vì lịch sử.

[Le rôle de l’écrivain, du même coup, ne se sépare pas de devoirs difficiles. Par définition, il ne peut se mettre aujourd’hui au service de ceux qui font l’histoire: il est au service de ceux qui la subissent. [Albert Camus, Discours de Suède 1957]

Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri. Đọc văn Nguyễn Đình Toàn, để sống với Hà Nội những ngày sắp mất nhưng cũng không bao giờ mất qua hơn 300 trang sách Áo Mơ Phai:

“Tháng bẩy rồi tháng tám [1954, ghi chú của người viết] qua mau lẹ như những trận mưa đổ xuống không giờ giấc trong những đêm khuya, những buổi chiều. Người Hà Nội bỏ đi và chỉ trong một thời gian ngắn, Hà Nội như một cơ thể mắc chứng hoại huyết. Từ những vùng quê xa, từng đoàn người lam lũ, lầm lũi, ngày ngày gồng gánh, lếch thếch đắt díu nhau về Hà Nội, nằm la liệt tại các công viên, xó xỉnh, vỉa hè, đầy ắp trong Toà Thị Chính, chờ để được đưa đi tới các phi trường, bến tầu, di cư vào Nam.

Nguyễn Đình Toàn, ký hoạ Tạ Tỵ.
Nguyễn Đình Toàn, ký hoạ Tạ Tỵ.

Chiều chiều Lan thường ngồi trên bao lơn nhìn xuống khu phố đôi lúc vắng vẻ, đôi lúc chen chúc những đám dân quê níu áo nhau đi như chạy, nhìn những tàn cây trước nhà, cây gần nhất có những cành xoè tới sát bao lơn như những cánh tay, những hàng cây xa dọc theo các khu phố, một ngày, một buổi chiều, bao nhiêu lá đều vàng hết, rồi cũng trong một ngày nữa, tất cả lá như tấm áo khoác của thành phố ấy phai thêm một lần nữa, trút khỏi cành như những giấc mơ rời khỏi vầng trán khô cằn, những sợi tóc rụng khỏi chiếc đầu đau ốm.

Trong nhiều ngày, Lan có cảm tưởng cơn bệnh của thành phố, của những hàng cây lây sang nàng, Lan thấy chân tay nặng nề không muốn cử động, hơi thở khó khăn.

Nàng mong đợi ngày đi để đi cho xong, cầu nguyện cho ngày khởi hành đừng đến vội, để còn được ở lại đây thêm nữa, ở lại Hà Nội, chia xẻ nỗi đau đớn của Hà Nội, sống với Hà Nội, chết với Hà Nội, rũ rượi với Hà Nội, rõ ràng là Hà Nội đang kiệt sức, những giọt mưa đọng trên các cành cây, những ngọn lá, chẳng khác Hà Nội khóc.” [Áo Mơ Phai, Ch.9, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972]

GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LẦN HAI

Sau 1975, những gì đốt được thì không còn, Nguyễn Đình Toàn cho biết: “không còn một tấm hình nào về cái ngày phát giải VHNT ấy cả. Nhưng cái huy chương thì lạ lắm. Có một người bạn trẻ, đã mua được tấm huy chương đó trên một vỉa hè ở Hà Nội, mang về đây tặng lại cho mình. Hắn nói ‘cháu trao tặng bác giải thưởng lần thứ hai’. Bữa hắn mang tới cho mình có mặt Cao Xuân Huy và bạn Huy là Trần Như Hùng, đài phát thanh Úc Châu. Sự việc, Cao Xuân Huy cho là quá hi hữu, có y viết thành một truyện ngắn”. Toàn nói: đó là “cuộc phiêu lưu của con dế mèn” [tên một truyện nhi đồng của Tô Hoài]. Cầm trên tay tấm huy chương bằng đồng mạ vàng đã hoen rỉ theo màu thời gian của 42 năm lưu lạc, tôi nói đùa với vợ chồng Nguyễn Đình Toàn: cũng may là không phải vàng ròng, nếu không thì cũng đã bị đốt chảy trong một tiệm kim hoàn nào đó ngoài Hà Nội.

Sách Nguyễn Đình Toàn được xếp vào loại văn hoá đồi truỵ sau 1975; nên tất cả bị tịch thu và trở thành “Tro Than”, như tên một tác phẩm định mệnh Nguyễn Đình Toàn trong chiến dịch đốt sách lan rộng khắp Miền Nam thời bấy giờ.

Giải Văn Học Nghệ Thuật 72-73 không phải chỉ có tấm huy chương, mà còn kèm theo số hiện kim 600,000 đồng tương đương với 40 lượng vàng theo thời giá bấy giờ. Tưởng cũng nên nói thêm về giải Văn Học Nghệ Thuật 1961, với số hiện kim 40,000 đồng lúc đó đủ cho nhà văn Nhật Tiến mua một xe hơi Renault 4CV còn chạy tốt cho tới những năm về sau này.

Cho dù Nguyễn Vỹ có than thở “nhà văn An Nam khổ như chó” nhưng thực ra trong xã hội Việt Nam, họ vẫn là thành phần được quý trọng.

NHÓM ĐÊM TRẮNG

Từ 1954, trong vòng 20 năm của Miền Nam, các phong trào văn học được tự do nở rộ. Tự Lực Văn Đoàn được tiếp nối với Văn Hoá Ngày Nay của Nhất Linh, nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo Thanh Tâm Tuyền phủ nhận nền văn học tiền chiến với nỗ lực làm mới văn chương, nhóm Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ; rồi tới nhóm Đêm Trắng [cũng có thể gọi là nhóm La Pagode nơi họ tụ tập sinh hoạt] được xem như nhóm Tiểu Thuyết Mới của Sài Gòn. Nhóm 6 người ấy đa số xuất thân nhà giáo: Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, trừ Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Quốc Trụ. Ý kiến khởi đầu lập Nxb Đêm Trắng là từ Huỳnh Phan Anh, để chỉ xuất bản các sáng tác của nhóm. Tuy mang tên nhóm nhưng họ là những cây bút độc lập, có chung ý hướng là tự làm mới cách viết của mỗi người.

Trên là hai mặt của tấm huy chương Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáng lập. Ông Nguyễn Đình Toàn giải chính thức tiểu thuyết (72-73) với tác phẩm Áo Mơ Phai. Dưới là bìa tác phẩm Áo Mơ Phai Trên là hai mặt của tấm huy chương Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáng lập. Ông Nguyễn Đình Toàn giải chính thức tiểu thuyết (72-73) với tác phẩm Áo Mơ Phai. Dưới là bìa tác phẩm Áo Mơ Phai.
Trên là hai mặt của tấm huy chương Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáng lập. Ông Nguyễn Đình Toàn giải chính thức tiểu thuyết (72-73) với tác phẩm Áo Mơ Phai. Dưới là bìa tác phẩm Áo Mơ Phai Trên là hai mặt của tấm huy chương Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáng lập. Ông Nguyễn Đình Toàn giải chính thức tiểu thuyết (72-73) với tác phẩm Áo Mơ Phai. Dưới là bìa tác phẩm Áo Mơ Phai.

Nổi bật trong nhóm này là Nguyễn Đình Toàn với kỹ thuật viết mới, viết truyện mà không có truyện, những trang chữ là một chuỗi những hình ảnh tạo cảm xúc và là một trải dài độc thoại nội tâm. Nguyễn Đình Toàn thành công trong nỗ lực tự làm mới văn chương nhưng không vì thế mà bảo ông chịu ảnh hưởng và chạy theo phong trào tiểu thuyết mới của Pháp. Thanh Tâm Tuyền và Dương Nghiễm Mậu là hai tên tuổi khác cũng được nhắc tới khi nói về khuynh hướng tiểu thuyết mới ở Sài Gòn lúc bấy giờ.

Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, Hoàng Ngọc Biên không ở trong nhóm Đêm Trắng nhưng chính anh là người đầu tiên thực sự nghiên cứu về phong trào Nouveau Roman của Pháp, vào giữa thập niên 1950’s với các tên tuổi như Alain Roble-Grillet, Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon.

Hoàng Ngọc Biên đã dịch một số tác phẩm của Alain Roble-Grillet và cũng thể hiện quan niệm tiểu thuyết mới ấy qua tập truyện Đêm Ngủ ở Tỉnh do Cảo Thơm xuất bản Sài Gòn, 1970. Cũng theo Hoàng Ngọc Biên, thì ngoài danh xưng, trong 20 năm Văn Học Miền Nam thực sự đã không có một phong trào Tiểu Thuyết Mới tại Sài Gòn “theo cái nghĩa thời thượng” của phong trào Tiểu Thuyết Mới xuất phát từ Tây Phương.

NHẠC THOẠI CỦA NHẠC CHỦ ĐỀ

Vào thập niên 1960, có ba chương trình nhạc được thính giả yêu thích là chương trình Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Tiếng Nhạc Tâm Tình do ca sĩ Anh Ngọc và Mai Thảo phụ trách, và chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Mỗi chương trình có một sắc thái hay riêng, nhưng có lẽ “Nhạc chủ đề” trên đài phát thanh Sài Gòn ngày ấy vào mỗi tối thứ Năm được chờ đợi đón nghe nhiều nhất. Những lời dẫn quen thuộc với giọng đọc trầm ấm của Nguyễn Đình Toàn như nhập tâm vào mỗi thính giả:

“Tình ca – những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau… Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…”

Không phải chỉ có nữ giới, mà cả phái nam cũng rất mê chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ở Sài Gòn là giới thanh niên sinh viên, nơi chiến trường xa là những người lính.

Người lính, sau này trở thành thương phế binh, nhà thơ Phan Xuân Sinh hiện sống ở Houston Texas đã bồi hồi kể lại: “Cho đến bây giờ lớp tuổi trên dưới 60… tôi còn nhớ lúc đó ngoài chiến trường với chiếc radio transistor nhỏ bằng bao thuốc, một cái ecouteur gắn vào tai. Chúng tôi có những giây phút chìm vào chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông đã mang lại cho chúng tôi những giờ nghỉ ngơi thật tuyệt vời khi đối đầu với chiến trường”.

Gs Nguyễn Văn Tuấn từ Viện nghiên cứu Y khoa Garvan Úc Châu trước và sau 1975 là một “fan” của chương trình Nhạc Chủ Đề. Anh Nguyễn Văn Tuấn viết: “Tôi tưởng tượng rằng như có một phép màu nào, xoay ngược lại thời gian. Kìa tôi, trong một hình hài nào đó, giữa đêm lập loè ánh điện, đang ngồi áp tai vào radio, ngồi nuốt từng lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn, thả hồn vào những giai điệu tuyệt đẹp tuyệt vời của những bản tình ca không bao giờ tàn lụi…” Rồi mới đây sau khi nghe lại CD Tình Ca Việt Nam Nguyễn Đình Toàn 1970, anh đã phải thốt lên: “mỗi lời dẫn cho một bản nhạc ở đây là một “nhạc thoại” một tác phẩm khác. Nó thể hiện tính thẩm văn và thẩm nhạc của người tuyển chọn là Nguyễn Đình Toàn”. Rồi cuối cùng, hai người bạn họ Nguyễn ấy như Bá Nha Tử Kỳ cùng một kiếp tha hương, họ cũng đã gặp nhau không phải trên “một quê hương Việt Nam sợ hãi – chữ của Nguyễn Đình Toàn trong Đồng Cỏ” mà trên lục địa Mỹ Châu thênh thang tự do nhưng vẫn là lưu đầy.

Nguyễn Đình Toàn trái, photo by Trần Cao Lĩnh; phải, photo by Nguyễn Ngọc Dung, con gái nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm.
Nguyễn Đình Toàn trái, photo by Trần Cao Lĩnh; phải, photo by Nguyễn Ngọc Dung, con gái nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm.

Truyện Nguyễn Đình Toàn rất giàu hình ảnh và nhiều chất thơ có thể đọc như một bài thơ xuôi/ prose poem. Khi đặt lời cho một bản nhạc thì tự thân phần lời ấy đã là một bài thơ. Nguyễn Đình Toàn viết nhạc, nổi tiếng với một số nhạc khúc, nhưng có lẽ những nốt nhạc được cất cánh từ những ý thơ ban đầu của Nguyễn Đình Toàn. Lời bản Tình Khúc Thứ Nhất đã là một thi phẩm trước khi kết hợp với phần nhạc của Vũ Thành An.

TÌNH KHÚC THỨ NHẤT

Tình vui theo gió mây trôi
Y sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền
Dù trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường
Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm tình yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế

NƯỚC SÔNG MEKONG MÁU CỦA ĐẤT

Các tác phẩm văn học lớn thường mang những dự cảm hay cả viễn kiến có thể liên hệ với cuộc sống. Truyện Kiều là một ví dụ: hoàn cảnh nào cũng có thể liên hệ với một câu thơ của Nguyễn Du.

Tôi không nói rằng Nguyễn Đình Toàn đã sáng tác những tác phẩm lớn, nhưng từ các trang sách của anh, tôi đã tâm đắc tìm thấy ở đấy những dự cảm để dễ dàng đưa vào trích dẫn. Nguyễn Đình Toàn đã ví nước sông Mekong như “máu của đất” trước viễn tượng một Cửu Long Cạn Dòng.

Và khi có tin cặp vợ chồng ngư dân Nguyễn Văn Chơn cư ngụ tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp mười ngày trước Giáng Sinh đã rất đỗi vui mừng khi lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 k.. Cá đuối hay Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn là giống cá nước mặn. Trong niềm vui lưới được con cá đuối nước mặn to khủng trên khúc sông Tiền cũng chính là tín hiệu của thảm hoạ:“Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai” như lời thơ Nguyễn Đình Toàn, bởi vì nạn ngập mặn / salt intrusion đã càng ngày càng lấn vào rất sâu vào vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi vốn là vùng đất của “phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng…” [CLCD BĐDS, Ch. XIV, Nxb Văn Nghệ 2000]

BÀ TÚ XƯƠNG THU HỒNG

Tôi quen Nguyễn Đình Toàn có lẽ khởi đầu từ những trang sách Chị Em Hải, rất sớm khi còn là sinh viên Khoa học. Quán cà phê La Pagode thường là nơi có thể dễ dàng gặp Toàn và các bạn văn nghệ của anh, cũng là nơi hình thành nhóm Đêm Trắng sau này. Nguyễn Đình Toàn ngoài giờ làm ở đài phát thanh, hầu như thường ngày ra ngồi viết nơi quán Cái Chùa này.

Chỉ được gặp chị Toàn khi tới thăm căn nhà rất nhỏ của anh chị, trước nhà có hàng cây trứng cá, trong một con hẻm cũng rất nhỏ phía sau đài phát thanh Sài Gòn. Chị Thu Hồng, tên người bạn đời tấm cám hơn 60 năm của Nguyễn Đình Toàn, chị nhỏ hơn Nguyễn Đình Toàn sáu tuổi, chị có vẻ đẹp với cá tính mà các hoạ sĩ rất muốn vẽ, một thứ người mẫu cho những bức tranh của Modigliani cộng thêm với cái trán cao bướng bỉnh khi chọn lựa và chấp nhận sự thách đố của số phận. Chị cũng là xướng ngôn viên cho một chương trình của đài phát thanh Sài Gòn. Thời kỳ ấy, Toàn thì bị lao phổi khá nặng, lại mới có một đứa con đầu lòng. Thuốc chữa bệnh lao lúc đó rất hiếm hầu như chỉ có hai thứ: thuốc viên Rimifon, và thuốc chích Streptomycin có thể gây điếc. Toàn thường ho ra máu, sức khoẻ suy kiệt và thường xuyên bị ám ảnh bởi cái chết giữa tuổi mới ngoài 20 ấy. Tập thơ Mật Đắng được sáng tác trong giai đoạn đen tối và gần như tuyệt vọng này. Võ Phiến khi viết về thi phẩm Mật Đắng của Nguyễn Đình Toàn, thay vì bốn cái khổ: sinh, bệnh, lão, tử “trong Mật Đắng không có cái lão, nhưng thay bằng cái ái, càng tệ hơn… Sinh, bệnh, ái, tử, nghe có hơi lạ tai một chút, dù sao cũng là chuyện của mọi nơi chốn, mọi thời đại”. [Văn Học Miền Nam, Thơ, Nxb Văn Nghệ 1999].

Trong bài thơ Úp Mặt, Nguyễn Đình Toàn viết:

Bàn tay vuốt mặt xương lồi
Hai mươi tư tuổi một đời cũng xong

Có lẽ sức sống toả sáng nơi căn nhà nhỏ chật của vợ chồng Nguyễn Đình Toàn lúc ấy là nụ cười luôn luôn rạng rỡ và cả ẩn nhẫn của chị Thu Hồng, vợ Toàn. Với tôi, chị là hình ảnh nguyên mẫu của một bà Tú Xương lúc ấy và cho tới suốt cả những năm về sau này, chị bền bỉ đảm đương một gia đình bốn con và cả thăm nuôi Nguyễn Đình Toàn trong suốt thời gian tù đầy.

“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, bà Tú Xương của thời hiện tại đã đảo nghịch lời tiên tri Mật Đắng, và Nguyễn Đình Toàn thì nay cũng đã vượt xa cái ngưỡng tuổi “cổ lai hy”, tới tháng Chín 2015 này, Nguyễn Đình Toàn tròn 80 tuổi.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn và bà Tú Xương Thu Hồng. Huntington Beach Library 2014. Photo by Đặng Tam Phong.
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn và bà Tú Xương Thu Hồng. Huntington Beach Library 2014. Photo by Đặng Tam Phong.

Rồi vợ chồng Nguyễn Đình Toàn cũng sang được Mỹ tuy khá trễ 1998. Và kể từ sau những năm 2000, sau bao tháng năm thăng trầm, chị Thu Hồng vẫn là hình ảnh một bà Tú Xương ngày nào, nhưng chị đã bắt đầu quên nhiều điều, quên những chuyện nhân sinh hiện tại. Nhưng mỗi khi phone tới nhà không gặp Toàn, xin nói chuyện với “bà Tú Xương” thì bên kia đầu dây là một giọng cười ròn rã, chị nhận ra ngay ai đang nói chuyện với chị và nhớ lại đủ mọi điều. Một hôm tới thăm anh chị cách đây không lâu, nửa buổi sáng câu chuyện rộn rã, khi ra về anh chị xuống thang đưa tiễn tôi ra xe, chị Toàn nói hồn nhiên: “hôm nào anh Vinh tới nhà tụi này chơi” Toàn nhắc chị, anh ấy vừa mới từ nhà mình xuống đây mà. Chị Toàn thì vẫn cười hồn nhiên. Tôi vẫn nghĩ nếu không có bà Tú Xương, có lẽ Toàn đã chẳng thể sống sót cho tới cái tuổi gần 80 như hôm nay. Toàn không phủ nhận điều ấy và dí dỏm nói, “cũng vì vậy mà bây giờ tôi đang trả nợ cho bà ấy”, Toàn nói tới vai trò không thể thiếu hàng ngày phải chăm sóc người bạn đời của mình.

Hai vợ chồng sống như đôi chim liền cánh, từ bấy lâu nay, Toàn đã không thể để chị ở nhà một mình.

Quanh năm buôn bán ở ven sông, Nuôi đủ năm con với một chồng.

Nói tới thành tựu của một nền văn học, người ta chỉ nhắc tới những nhà văn, nhà thơ nhưng có lẽ không thể không nhắc tới những bà Tú Xương của mọi thời đại với bao nhiêu công khó hy sinh của họ.

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ

Ca sĩ Quỳnh Giao, trong bài viết về “Nguyễn Đình Toàn, Dẫn Em Vào Nhạc” đã cho rằng “Nguyễn Đình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu” điều đó có lẽ đúng với các thế hệ sống ở Miền Nam trong giai đoạn 1954-1975. Nhưng với các thế hệ sinh ra và lớn lên sau 1975 ở trong nước cũng như ở hải ngoại, những bài viết giới thiệu một Nguyễn Đình Toàn tài năng trong nhiều lãnh vực văn, thơ, nhạc, kịch vẫn là điều cần thiết. Và đáng mừng là đã có rất nhiều bài viết về mọi khía cạnh của Nguyễn Đình Toàn, nghĩ tới một bài viết mới về Nguyễn Đình Toàn, câu hỏi được đặt ra là liệu còn gì để viết nữa nếu không phải là những chia xẻ chút riêng tư với một bạn văn và cũng là cố tri.

Bài viết này gửi tới bà Tú Xương Thu Hồng và Nguyễn Đình Toàn tác giả Mật Đắng khi anh sắp bước vào tuổi 80 gần như một phép lạ.

(NGÔ THẾ VINH – California 08/03/2015)

oOo

Tình Khúc Thứ Nhất – Ca sĩ Linh Phượng – Trần Đình Hoành (Guitar):

 

Tình Khúc Thứ Nhất – Ca sĩ Lệ Thu:

 

Tình Khúc Thứ Nhất – Ca sĩ Tuấn Ngọc:

 

Tình Khúc Thứ Nhất – Ca sĩ Trần Đức:

 

Đời Đá Vàng – Nhạc sĩ Vũ Thành An và Ca sĩ Khánh Ly:

 

Đời Đá Vàng – Ca sĩ Tuấn Ngọc:

 

Đời Đá Vàng – Ca sĩ Khánh Hà:

 

Đời Đá Vàng – Ca sĩ Phan Đinh Tùng:

 

Em Đến Thăm Anh Đêm 30 – Ca sĩ Khánh Ly:

 

Em Đến Thăm Anh Đêm 30 – Ca sĩ Anh Khoa:

 

Em Đến Thăm Anh Đêm 30 – Ca sĩ Nguyên Khang:

 

Bài Không Tên Số 1 – Ca sĩ Duy Quang:

 

Bài Không Tên Số 2 – Ca sĩ Khánh Hà:

 

Bài Không Tên Số 3 – Ca sĩ Tuấn Ngọc:

 

Bài Không Tên Số 4 – Ca sĩ Khánh Hà:

 

Bài Không Tên Số 5 – Ca sĩ Vũ Khanh:

 

Bài Không Tên Số 6 – Ca sĩ Vũ Khanh:

 

Bài Không Tên Số 7 – Ca sĩ Khánh Hà:

 

Bài Không Tên Số 7 – Ca sĩ Vũ Khanh:

 

Bài Không Tên Số 8 – Ca sĩ Sĩ Phú:

 

Bài Không Tên Số 8 – Ca sĩ Ngọc Lan:

 

Bài Không Tên Số 9 – Ca sĩ Khánh Ly:

 

Bài Không Tên Cuối Cùng – Ca sĩ Sĩ Phú:

 

Liên khúc Bài Không Tên Cuối Cùng – Ca sĩ Elvis Phương & Tuấn Ngọc:

 

Nhạc sĩ Vũ Thành An và 10 Bài Không Tên:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s