Nhạc cụ cổ truyền VN – Kèn Bầu

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Nhạc cụ cổ truyền đầu tiên trong bộ hơi mình giới thiệu đến các bạn hôm nay là Kèn Bầu.

Kèn Bầu là nhạc khí hơi, sử dụng dăm kép (còn gọi là Kèn già nam, Kèn loa, Kèn bóp, Kèn bát).

Kèn Bầu rất phổ biến tại Việt Nam, đồng thời một số nước khác ở Châu Á cũng có. Kèn Bầu được nhập vào Việt Nam và trở thành nhạc khí của người Kinh và một số tộc khác như Thái, Chămpa…

Kèn Bầu là nhạc cụ do nam giới sử dụng trong việc đón khách, đám cưới, đám ma, trong hội hè của các dân tộc thiểu số và là thành phần quan trọng trong nghệ thuật Nhã Nhạc Cung Đình Huế và Chầu Văn của người Kinh. Người ta thường diễn tấu nhạc cụ này với trống, chũm choẹchuông, đôi khi kết hợp với thanh la…

Do Kèn Bầu là nhạc cụ phổ biến nên tên gọi của nó rất đa dạng theo vùng miền. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái trong đó có Nùng, Giáy đều gọi nhạc khí hơi này bằng một mạo từ và họ cũng còn gọi là Pí Lè.

Người Dao gọi Pí LèDặc, người Chămpa gọi là Kèn Saranai, một số dân tộc khác gọi là Pí Kẻo hay Pí Kiểu. Một số nhạc sĩ người Việt gọi nhạc cụ này là Suona, thật ra đây là tên gọi của một nhạc cụ cổ truyền Trung Hoa.

kenbau_daubai

Kèn Bầu có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, chia làm 3 loại:

Loại âm cao: Kèn Tiểu, Kèn Vắt, Kèn Củn.
Loại âm trung (sử dụng nhiều): Kèn Trung pha, Kèn Trung đục, Kèn Nàm.
Loại âm trầm: Kèn Ðại, Kèn Ðại trường, Kèn Quá khổ.

Kèn bầu có 3 phần chính:

Dăm và vong kèn: là loại dăm kép, làm bằng ống sậy mềm (hoặc có thể bằng nguyên liệu khác),phần trên vót mỏng, một đầu bóp bẹp, cuối dăm để tròn để cắm vào đầu một cái thắng (vong). Cái thắng là một ống bằng kim loại nối liền giữa dăm kèn với thân kèn. Dăm kèn là bộ phận quan trọng nhất của kèn: dăm cứng quá khó thổi những âm trầm, dăm mềm quá khó lên âm cao. Dăm không tốt sẽ ảnh hưởng màu âm.

Thân kèn (suốt kèn): một ống rỗng lòng, dài từ 25 đến 30 cm, đường kính 2 đầu ống khác nhau vì có cấu tạo ống thuôn to dần. Trên lưng ống có 7 lỗ bấm và 1 lỗ nằm dưới thân ống nơi gần đầu ống do ngón cái đảm nhiệm. Các lỗ bấm của Kèn Bầu được khoét với khoảng cách đều nhau để có thể phát ra các âm theo thang âm 7 cung chia đều. Thông thường người ta chỉ sử dụng 7 lỗ bấm ở trên lưng ống, lỗ phía dưới thân ống chỉ được dùng cân tạo âm cao ở quãng tám.

Loa kèn (Bát kèn): làm bằng vỏ bầu khô (nên còn gọi là Kèn Bầu), hình chóp cụt, cũng có thể bằng gỗ cuốn đồng lá, cao từ 15 đến 17 cm, đường kính đáy từ 10 đến 12 cm.

Âm thanh Kèn Bầu khỏe, vang, hơi chói tai (ở âm cao) thích hợp nhạc điệu mạnh, chân thực, đồng thời có khả năng thể hiện tình cảm, đôi khi ảm đạm và có màu bi thảm. Muốn thay đổi màu âm có thể dùng bộ phận hãm tiếng, âm thanh sẽ giảm đi nhưng có phần mờ đục.

Âm giai của kèn.
Âm giai của kèn.

Tầm âm Kèn Loa (Fa) rộng hai quãng tám: từ Fa1 đến Fa3 (f1 đến f3)

Khoảng âm dưới: âm thanh hơi rè, diễn tả tình cảm bi thiết.
Khoảng âm giữa: âm thanh vang, trong sáng, hùng mạnh.
Khoảng âm cao: âm thanh sắc nhọn, chói chang.

Dưới đây mình có các bài:

– Các phương thức ký âm cổ truyền cho kèn dăm kép trong lịch sử âm nhạc Việt Nam
– Kèn Bầu

Cùng với 14 clips tổng hợp diễn tấu Kèn Bầu & các loại kèn cùng loại trên thế giới để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Kèn Bầu.
Kèn Bầu.

Các phương thức ký âm cổ truyền cho kèn dăm kép trong lịch sử âm nhạc Việt Nam

(TS Nguyễn Bình Định)

Trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam, nói về nhạc cụ hơi thì có nhiều loại khác nhau như: kèn (kèn dăm kép: kèn bóp, kèn bầu), sáo, tiêu, khèn, tù và, kloong put v.v… Tuy nhiên, trong số đó chỉ có kèn dăm kép là có được vị trí không thể thiếu trong các thể loại nhạc chính thống, quan trọng, mang tính chuyên nghiệp, bác học như: nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc sân khấu v.v…

Trong các tiết mục độc tấu hoặc hòa tấu nhạc cổ truyền Việt Nam mà có sử dụng nhạc cụ hơi thì chỉ có kèn dăm kép được giao nhiệm vụ đảm nhận giai điệu chính. Do vậy, các bản ký âm cổ truyền cho nhạc cụ hơi chủ yếu là cho kèn dăm kép.

Qua khảo sát, nghiên cứu các bản ký âm cho nhạc cụ hơi, chúng tôi thấy, phương thức ký âm cổ truyền cho nhạc cụ hơi bao gồm hai cách cơ bản:

– Cách thứ nhất: Sử dụng chữ Hán-Nôm để ký âm cao độ theo hệ thống Hò Xự Xang.
– Cách thứ hai: Sử dụng các chữ Hán-Nôm để ký âm cao độ bằng các từ tượng thanh ở vần “H”, chẳng hạn như:

kenbau1

Mỗi từ trong số đó sẽ tương ứng với một cao độ cụ thể (sẽ trình bày ở phần sau). Cần lưu ý rằng, chữ Hò (合??) ở đây không bắt buộc phải có ý nghĩa là âm Hò trong hệ thống âm Hò Xự Xang.

1. Cách ký âm cho kèn dăm kép sử dụng chữ Hán-Nôm để ghi cao độ theo hệ thống Hò Xự Xang

Hình thức bản phổ của cách ký âm này có nhiều điểm giống với cách sử dụng chữ Hán-Nôm viết theo chiều dọc để ký âm cho nhạc cụ dây.

Các ký hiệu cao độ cơ bản và sự phân biệt vị trí quãng 8 vẫn là như sau:

kenbau2

Nếu cho chữ Hò bằng nốt C1, ta sẽ có cao độ tương ứng là:

kenbau3

Các ký hiệu cao độ trên vẫn được viết theo chiều dọc với tuần tự từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Phách mạnh được đánh dấu bằng dấu phảy viết ở bên phải phía dưới ký hiệu cao độ. Sản phẩm của cách ký âm này cũng là một loại Văn tự phổ (Letter notation), nó thường được dùng ký âm các bản nhạc cho kèn trong nhạc cung đình và nhạc lễ. Ví dụ bản ký âm bài Kèn chiến viết cho kèn trong tập Phả nhạc cổ Quảng Trị (trích):

kenbau4

Nhìn vào bản ký âm trên ta thấy, phía dưới tên bài Kèn chiến có ghi số 25, tức là toàn bài có 25 nhịp. Đếm trong bài ta thấy có 25 điểm (bằng dấu phẩy) đánh dấu phách mạnh đầu nhịp. Như vậy, nội dung thể hiện của bản ký âm này chỉ gồm có phần cao độ, vị trí của các âm nằm ở phách mạnh đầu nhịp; ngoài ra, không có ký hiệu nào về trường độ, không có ký hiệu sắc thái và cũng không có ký hiệu chỉ kỹ thuật diễn tấu nhạc cụ. Những yêu cầu đó hoàn toàn phụ thuộc vào vốn liếng hiểu biết của nhạc công về tác phẩm trong bản ký âm và trình độ sử dụng nhạc cụ của người đó. Trên cơ sở những quy định đã được đề ra trong bản ký âm (về các cao độ chính, vị trí phách mạnh, số lượng nhịp), người biểu diễn có thể thêm nốt, thay đổi tiết tấu, xử lý những rung, nhấn, tô điểm cần thiết v.v… để tạo ra tác phẩm. Nguyên tắc đó trong âm nhạc cổ truyền người ta gọi là Biến tấu lòng bản. Vì vậy, từ một bản ký âm, người ta có thể trình diễn ra nhiều dị bản khác nhau mà vẫn đảm bảo những yêu cầu cơ bản của tác phẩm, của làn điệu. Dựa theo cao độ, vị trí phách mạnh và số lượng nhịp của bản ký âm bài Kèn chiến nêu trên, nếu chuyển sang lối ký âm trên khuông nhạc 5 dòng kẻ, ta có thể có giai điệu của nó như sau (trích 10 nhịp đầu):

kenbau5

Trong bản chuyển ghi trên, chúng tôi đã sử dụng âm Hò nhất (Hò cao độ bằng note C1)[1]; nếu so sánh với bản ký âm bàiKèn chiến trong nhạc lễ cung đình Huế do cụ Trần Kích[2] ký âm ở Hò tư (Hò = Xon) thì âm điệu của hai bài có khá nhiều điểm tương đồng. Từ đây, ta có thể đặt vấn đề nghi vấn rằng: Không biết bài Kèn chiến trong nhạc lễ dân gian ở Quảng Trị có nguồn gốc từ bài Kèn chiến trong nhạc lễ cung đình Huế, hay bài Kèn chiến trong nhạc lễ cung đình Huế đã tiếp thu, ảnh hưởng từ bài Kèn chiến trong nhạc lễ dân gian ở Quảng Trị? Bài nào có trước? Giải quyết vấn đề này là phạm vi của một đề tài nghiên cứu khác, ngoài nội dung của bài viết này. ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh một vấn đề có ý nghĩa là: việc nghiên cứu để nắm được những hiểu biết cần thiết về chữ nhạc cổ truyền, lối ký âm cổ truyền (phương thức ký âm bằng chữ Hán-Nôm) sẽ góp phần vén lên bức màn bí mật của khá nhiều vấn đề quan trọng trong nghiên cứu âm nhạc cổ truyền ở nước ta.

Hiện nay, cả hai bản Kèn chiến vẫn đang được sử dụng. Một bản với tư cách là nhạc cung đình Huế, nằm trong số các bài được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của thế giới, còn một bản kia vẫn thường được tấu lên trong các lễ hội, các nghi thức tế lễ làng xã ở Quảng Trị.

Cũng sử dụng cách ký âm như vậy, nhưng bản Xàng xê dưới đây là loại nhạc Thiền (âm nhạc trong các nghi thức của đạo Phật), được ký âm trong cuốn Phả nhạc cổ Quảng Trị như sau (trích):

kenbau6

Từ bản nhạc phổ Hán-Nôm trên, ta có thể chuyển ghi sang lối ký âm trên khuông nhạc 5 dòng kẻ để thấy rõ giai điệu:

kenbau7

Các bản nhạc Kèn chiến, Xàng xê và nhiều bài khác nữa được ký âm cho kèn bằng chữ Hán-Nôm viết dọc với hệ thống âm Hò Xự Xang, có đánh dấu phách mạnh đầu nhịp nói trên, nhìn chung nhạc công sẽ khó sử dụng được hoặc diễn tấu ra không sát với yêu cầu của bài nếu như không được nghe tác phẩm ấy ít nhất một lần. Nói cách khác, những bản ký âm như vậy chỉ phù hợp để sử dụng cho phương pháp truyền ngón, truyền khẩu, truyền nghề.

2. Cách ký âm cho kèn dăm kép sử dụng chữ Hán-Nôm để ghi cao độ bằng các từ tượng thanh ở vần “H”

Trước hết, tại sao trong cách ký âm này người ta lại sử dụng các từ tượng thanh ở vần “H” để làm ký hiệu cao độ? Trong dân gian, khi mô tả tiếng kèn người ta hay dùng các từ “tò, tí, te” nhưng trên thực tế, từ xưa đến nay tất cả các nghệ nhân, kể cả những người thổi kèn đều khẳng định không có kiểu ký âm nào sử dụng các từ đó làm ký hiệu cao độ, mặc dù 3 từ đó không phải là không có chữ Hán để viết.

Nhà viết sử Phạm Đình Hổ (1768-1839) sống ở cuối thời Lê đầu thời Nguyễn, trong cuốn Vũ trung tùy bút đã cho biết những tên gọi cổ của dân tộc để chỉ các âm của đàn là: Tính, tỉnh, tình, tinh, tung, tang, tàng; còn các tên gọi để chỉ các âm của kèn là: Tí, um, bô, tịch, tót, tò, te. Các từ này viết bằng chữ Hán như sau:

僻? 陰AA 餔O 寂 卒 徂 希
tí um bô tịch tót tò te

Tuy nhiên, theo khảo sát của GS-TS Trần Vân Khê, trong bản luận án Tiến sĩ của mình, ông cho biết, khi ông hỏi các nhạc sĩ già, họ đều trả lời rằng, họ không thấy có hệ thống ghi bằng nốt kiểu đó[3]. Thực ra, những tên âm kiểu như vậy trước kia các nghệ nhân chỉ dùng cho nhớ bài bản để truyền khẩu chứ không dùng để ký âm trên giấy. Việc sử dụng các từ tượng thanh ở vần “H” để làm ký hiệu cao độ ký âm cho kèn với các từ như: Hộ, hô, hò, họi, ha, hu, hy đã ra đời từ bao giờ? Đây là một vấn đề lịch sử còn tồn nghi, chưa có lời giải đáp một cách cụ thể và chính xác.

Còn về nguồn gốc ra đời của nó hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Trong số đó, chúng tôi lưu ý tới ý kiến của nhà nghiên cứu Hoàng Kiều[4]. Đại ý sự giải thích của ông cho rằng, trong đời sống của dân tộc ta, việc hiếu, việc hỉ là hai việc trọng đại đối với một đời người. Đặc biệt là việc hiếu (tang lễ), đã có hẳn sách Thọ mai gia lễ ghi chép về qui trình bắt buộc khi tổ chức tang lễ. Trong tang lễ, những việc không thể thiếu là khóc cho người quá cố và nhạc kèn trống (sống dầu đèn, chết kèn trống). Những tang lễ gọi là có qui củ, đúng phép tắc thì việc khóc cho người quá cố cũng có nội dung bài bản và trình tự nhất định thậm chí có tang chủ còn thuê thêm người khóc mướn để tỏ lòng hiếu nghĩa. Nhạc kèn trống trong lễ tang vừa phụ họa cùng tiếng khóc để tỏ lòng thương tiếc, nhớ ơn người đã mất; vừa là âm thanh trung gian để giao tiếp giữa thế giới trần gian với thế giới âm (giữa thế giới con người với thế giới thần linh) đồng thời tiếng nhạc ấy cũng là để ru hồn, tiễn hồn người chết về nơi chín suối. Hơn thế nữa, nó còn có ý nghĩa cùng với những lời cầu khấn truyền tải những mong muốn của người thân, cầu nguyện cho linh hồn của người quá cố được siêu thoát, được thuận buồm xuôi gió tới cõi tiên cảnh, vĩnh hằng ở thế giới bên kia. Chắc chắn, kèn đã được sử dụng trong tang lễ bình dân trước khi nó được dùng trong nhạc lễ cung đình, nhạc sân khấu và các loại hình âm nhạc khác từ rất lâu. Đám tang nào của người Việt cũng có tiếng kèn, tiếng khóc. Người ta có cảm giác tiếng kèn thổi trong tang lễ nghe như là sự bắt chước tiếng khóc. Cho nên, khi nói đến kèn là người ta nghĩ ngay đến “Kèn đám ma”; trước khi nghĩ tới các loại kèn khác. Chính vì vậy, nhà nghiên cứu Hoàng Kiều cho rằng, việc sử dụng các từ tượng thanh ở vần “H” (ha, hô, hu…) là xuất phát từ việc bắt chước tiếng khóc trong tang lễ nói trên.

Cần lưu ý rằng, trong quá trình nghiên cứu các bản ký âm cho kèn, chúng tôi thấy, cách ký âm bằng các từ tượng thanh Ha, Hô, Hu…không được dùng để ký âm các bản nhạc lễ cung đình[5] mà nó chỉ được dùng để ghi chép các bản nhạc lễ ngoài dân gian (một bộ phận của âm nhạc chuyên nghiệp bình dân, sử dụng trong lễ tế tổ, lễ tế thành hoàng, lễ tang…) hoặc các bản nhạc lễ Phật giáo ví dụ như các bài: Lai kinh, Tấn trạo, Thới bường, Bài phát, bài Hiệp, Cải hối…

Mặt khác, do có sự khác nhau trong cách nói (cách phát âm, ngữ điệu địa phương); cách sử dụng cơ cấu dàn nhạc lễ (chẳng hạn như: dàn nhạc lễ Bắc Bộ là dàn nhạc Bát âm, còn dàn nhạc lễ Nam Bộ là dàn nhạc Ngũ âm); cách sử dụng điệu thức, cũng như các kỹ thuật trình diễn (rung, nhấn, láy, vuốt…), cho nên nhạc lễ ở ba miền cũng có những đặc điểm khác nhau, dẫn tới việc sử dụng các từ tượng thanh để ký âm cho kèn cũng không hoàn toàn giống nhau.

Theo nghiên cứu của GS-TS Trần Văn Khê, ở miền Nam Việt Nam, các từ hay được dùng để ký âm cho kèn là:

kenbau8

Tiếc rằng chúng tôi chưa tìm được tư liệu về những bản ký âm có sử dụng những chữ Hán nói trên ký âm cho kèn ở miền Nam để làm ví dụ minh họa[6].

Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, ở miền Trung Việt Nam, các từ hay được dùng để ký âm cho kèn là:

kenbau9

Nếu ta cho cao độ của âm Hò tương ứng với cao độ của âm C1, ta sẽ có cao độ tương ứng của các chữ ở vần “H” nói trên được dùng để ký âm cho kèn như sau:

– Cao độ dùng để ký âm những bài ở điệu thức Bắc:

kenbau10

– Cao độ dùng để ký âm những bài bản ở điệu thức Nam [7]:

kenbau11

Trong một số trường hợp, có thể có những chữ được thay thế bằng một chữ khác để tránh những từ “phạm húy” hoặc những từ bất tiện khi nói ra. Chẳng hạn như chữ Hê (夏)[8], đôi khi được thay thế bằng chữ Đa (多?) hoặc chữ Hỡi (海). Về hình thức trình bày, trong các bản ký âm cho kèn sử dụng các từ tượng thanh Ha, Hô, Hu, các chữ Hán-Nôm vẫn được viết theo lối cổ, tức là viết theo hàng dọc với thứ tự từ trên xuống dưới, từ phải sang trái.

Nội dung thể hiện của các bản ký âm này chủ yếu là phần cao độ (không có trường độ rõ ràng) và vị trí phách mạnh ở đầu các nhịp. Sự phân chia cao độ cho các từ tượng thanh cũng được dựa vào sự khác nhau tương đối giữa các từ trong tiếng Việt, do dấu giọng sinh ra. Các từ không dấu và các từ mang dấu sắc thường có độ cao cao hơn các từ mang dấu nặng và dấu huyền. Chẳng hạn như: Hô cao hơn Hộ, Hù thấp hơn Hu, Ha cao hơn Hạ v.v… Trong các bản ký âm ấy, hầu hết đều không có ký hiệu biểu thị sắc thái, nhịp độ và kỹ thuật diễn tấu nhạc cụ.

Cách đánh dấu phách mạnh trong các bản ký âm cho kèn ở miền Trung Việt Nam cũng có ba quy ước khác nhau:

– Đánh dấu phách mạnh bằng dấu phảy (hoặc dấu huyền).
– Đánh dấu phách mạnh bằng một gạch dọc.
– Không đánh dấu phách mạnh, để cho người biểu diễn tự xử lý.

Dưới đây ta thử xem xét vài trường hợp cụ thể:

– Trong bản ký âm bài Cách uy dành cho kèn trong tập Phả nhạc cổ Quảng Trị; đây là một bài nhạc lễ được dùng phổ biến ở vùng Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, ta thấy cao độ đã được ghi bằng các chữ như sau:

kenbau12

Hỡi dùng thay cho Hê khi Hê đứng trước Hy[9]. Các phách mạnh ở đầu nhịp được đánh dấu bằng dấu phảy viết ở phía dưới, bên phải ký hiệu cao độ. Số lượng nhịp có trong bài đã được ghi rõ ngay bên cạnh tên bài (viết ở bên phải tên bài). Ví dụ bản ký âm bài Cách uy cho kèn trong Phả nhạc cổ Quảng Trị:

kenbau13

Ta có thể chuyển ghi bản ký âm bài Cách uy cho kèn nói trên sang lối ký âm trên khuông nhạc 5 dòng kẻ như sau: [10] (trích 6 nhịp đầu)

kenbau14

Để ký âm bài Phần hóa ở điệu Nam, người ta cũng đánh dấu phách mạnh bằng dấu phảy viết ở phía dưới, bên phải ký hiệu cao độ nhưng qui ước dùng chữ thay thế phức tạp hơn ở bài Cách uy. Cụ thể là chữ Hê (âm Xang, tương đương với nốt Pha, khi cho Hò = Đồ) khi đứng trước chữ Hy (âm Xê, tương đương với Xon) thì thay thế bằng chữ Hỡi (海) khi đứng trước chữ Ha (âm Xừ, tương đương với Mi giáng) và ở vị trí mạnh hơn Ha thì thay bằng chữ Đa (多?). Như vậy, các chữ Hán được dùng để ký âm cao độ gồm có:

kenbau15

Ví dụ nhạc phổ bài Phần hóa viết cho kèn trong Phả nhạc cổ Quảng Trị:

kenbau16

Ta có thể chuyển ghi nhạc phổ bài Phần hóa cho kèn ở trên sang lối ký âm trên khuông nhạc 5 dòng kẻ như sau (trích 8 nhịp đầu):

kenbau17

Trong bản ký âm Bài hạ. một bản nhạc lễ, người ta lại đánh dấu phách mạnh bằng một gạch dọc ghi ở ngay dưới ký hiệu cao độ. Gạch dọc này còn có hàm ý là, âm nằm ở phách mạnh đầu nhịp thường có trường độ dài hơn các âm khác ở trong nhịp. Các ký hiệu cao độ sử dụng trong bài được bố trí như sau:

kenbau18

Hù Hò Ha Hê Hy Hu Hô
Cồng Hò Xự Xang Xê Công Liu

Ví dụ bản ký âm bài Lớp hạ trong cuốn Phả nhạc cổ Quảng Trị (trích):

kenbau19

Ta có thể chuyển ghi bản ký âm trên sang lối ký âm trên khuông nhạc 5 dòng kẻ như sau: (trích 5 nhịp đầu)

kenbau20

Đối với những bài bản ở nhịp độ tự do (tương tự như trường hợp Ad libitum trong âm nhạc phương Tây) người ta sẽ ký âm bằng cách không đánh dấu phách mạnh, tức là không phân chia nhịp, để cho người biểu diễn được tùy ý thể hiện. Bản ký âm bài Lớp trung dành cho kèn dưới đây là một ví dụ, toàn bài chỉ có các ký hiệu cao độ với các chữ được sử dụng như sau:

kenbau21

Hộ Hò Ha Hê Hy Hô Hó
Cộng Hò Xự Xang Xê Công Liu

Trong số các chữ Hán dùng làm ký hiệu cao độ ở trên, ta thấy có chữ mới được sử dụng, chưa từng gặp trong bất kỳ một bản ký âm nào. Đó là trường hợp dùng chữ Hó ( ) thay cho chữ Liu (六) để ký âm cao độ của âm cách âm Hò một quãng 8 về phía trên. Ví dụ bản ký âm bài Lớp trung cho kèn trong tập Phả nhạc cổ Quảng Trị:

kenbau22

Bản chuyển ghi sang lối ký âm trên 5 dòng kẻ dưới đây[11] có thể coi là một trong những phương án trình diễn bài Lớp trungcho kèn nói trên: (trích)

kenbau23

ở miền Bắc Việt Nam, hiện tại không còn tìm thấy một bản ký âm nào cho kèn từ trước kia để lại mà trong đó có sử dụng lối viết bằng chữ Hán-Nôm. Một phần của sự mất mát là do chiến tranh, do điều kiện thiên nhiên, điều kiện bảo quản không tốt gây ra. Bên cạnh đó, có một lý do khác dẫn tới sự hiếm hoi, thiếu thốn của loại tư liệu này là, do thói quen sinh hoạt nghề nghiệp của những người thổi kèn đã thay đổi. Không biết từ bao giờ nhưng có lẽ cũng từ khá lâu rồi, những người làm nghề thổi kèn ở nước ta (kèn Bóp, kèn Bầu) nói chung, đặc biệt là ở miền Bắc hầu như không còn sử dụng các bản nhạc được ký âm trên giấy khi luyện tập, biểu diễn cũng như khi truyền dạy mà chủ yếu họ đã tiến hành các công việc ấy bằng phương pháp truyền khẩu. Tuy nhiên, qua các đợt điều tra, khảo sát, điền dã tại một số địa phương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ như Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Tây, chúng tôi vẫn tìm thấy những nguồn tư liệu có liên quan đến cách ký âm cho nhạc cụ hơi (kèn) sử dụng chữ Hán-Nôm để ghi cao độ bằng các từ tượng thanh ở vần “H”. Chẳng hạn như, tại thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh có gia đình ông Nguyễn Đức Tiết đã 5 đời làm nghề thổi kèn trong các ban nhạc lễ ở địa phương[12]. Ông Tiết cho biết, anh em, con cháu trong gia đình ông đều được học thổi kèn bằng lối truyền khẩu, truyền ngón từ các thế hệ trước. Họ đã được học thuộc lòng tất cả các bài bản cần biết, trước khi bước vào thổi kèn.

Trong các bản nhạc kèn mà họ đọc ra, có nhiều bản thuộc dạng sử dụng chữ Hán-Nôm để biểu thị cao độ bằng các từ tượng thanh ở vần “H”. Qua ghi chép, nghiên cứu, phân loại, chúng tôi thấy ở đó thường sử dụng các từ sau đây để biểu thị cao độ:

kenbau24

Căn cứ vào băng cassette ghi âm những bản nhạc do ông Nguyễn Đức Tiết đọc xướng âm và gõ nhịp, chúng tôi có thể ký âm ra bản phổ của các bản nhạc lễ mà ban nhạc gia đình ông thường dùng để phục vụ cho các lễ tang tại địa phương. Bản Hãm là một trong những bản nhạc chính được sử dụng trong thời gian cúng tế vong linh người quá cố; người ta còn gọi là điệu Kèn thờ rất phổ biến ở các địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nếu sử dụng chữ Hán-Nôm để ký âm, ta sẽ có bản phổ của bản Hãm như sau:[13]

kenbau25

Nếu chuyển ghi bản nhạc trên sang lối ký âm trên khuông nhạc 5 dòng kẻ, ta sẽ có hình dáng giai điệu của nó như sau: (trích 10 nhịp đầu)

kenbau26

Bài Thới bường (đọc trại đi của Thái bình) cũng là một bản nhạc cho kèn thổi trong lễ tang khi rước linh cữu trên đường đi ra huyệt mộ. Các chữ Hán-Nôm được dùng để biểu thị cao độ trong bài này cũng tương tự như ở bài bản Hãm nhưng có một vài trường hợp âm đọc đã bị thay đổi. Ví dụ nhạc phổ bài Thới bường ký âm bằng chữ Hán-Nôm với các từ tượng thanh ở vần “H” (trích)[14]:

kenbau27

Ví dụ nhạc phổ bài Thới bường cho kèn chuyển ghi sang lối ký âm trên 5 dòng kẻ (trích 4 nhịp đầu).

kenbau28

Ngày nay, các phương thức ký âm cổ truyền cho nhạc cụ hơi ở nước ta đã lặng lẽ đi vào dĩ vãng, trở thành quá khứ lịch sử. Khoảng từ mấy chục năm trở lại đây, hầu như không còn có mấy ai biết cách ghi chép cũng như sử dụng những bản phổ theo lối cổ truyền ấy nữa. Liệu có phải do nó không còn tác dụng gì, hoặc là do chúng ta hoàn toàn không có nhu cầu cần đến nó cho cuộc sống xã hội hiện nay nữa? Câu trả lời là: cả hai lý do đều không đúng. Chúng tôi cho rằng, cần phải xác định lại vấn đề này; chí ít là theo những định hướng nhận thức như sau:

– Thứ nhất, dù gì đi chăng nữa thì các phương thức ký âm cổ truyền cho nhạc cụ hơi cũng là một thành quả sáng tạo của cha ông ta để lại cho hậu thế. Trong đó nó hàm chứa những khía cạnh khác biệt ở cách nghĩ, cách làm so với các nước, các dân tộc khác. Vì thế, nó cần phải được bảo tồn, lưu truyền để khẳng định và tôn vinh bản sắc văn hóa của dân tộc.

– Thứ hai, những tri thức và những bản phổ ký âm theo lối cổ truyền cho nhạc cụ hơi mà ngày nay chúng ta còn được biết đến không chỉ là những bằng chứng chứng minh cho sức sáng tạo nghệ thuật vô hạn của cha ông ta, mà thông qua đó, chúng ta có cơ sở để lần tìm về cội nguồn, để biết được trước kia các thế hệ đi trước đã làm được gì, làm như thế nào, ở trình độ ra sao, có những kinh nghiệm gì đối với nhạc cụ hơi trong quá trình xây dựng và phát triển nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc.

– Thứ ba, thông qua những bản ký âm còn lưu lại đến ngày nay, chúng ta có thể nhận ra lòng bản của một số bài bản cho nhạc cụ hơi trong nhạc cung đình, nhạc chuyên nghiệp bình dân, nhạc tế lễ, nhạc Phật giáo, nhạc tâm linh…của những thời đại trước. Những tư liệu ấy sẽ có ý nghĩa và giá trị không nhỏ nếu chúng ta biết khai thác đúng cách, phục vụ cho các công tác nghiên cứu, sáng tác, biểu diễn và đào tạo.

________________________________________
[1]. Các danh từ Hò nhất, Hò nhì, Hò ba, Hò tư là để chỉ việc xác định cao độ chuẩn của âm Hò và nó cũng được dùng để chỉ cách lên dây nhạc cụ dân tộc, thường được dùng nhiều nhất là ở Nam Bộ.
[2]. Cụ Trần Kích là một trong những nhạc công cuối cùng trong cung đình Huế còn sống đến ngày nay. Bản phổ của các bản nhạc lễ Cung đình Huế có thể tham khảo trong bản luận văn Nhạc lễ Cung đình Huế (1999) của Nguyễn Đình Sáng, hiện là Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch tỉnh Thừa Thiên – Huế. Tư liệu lưu trữ tại Viện Âm nhạc.
[3]. Trần Văn Khê (1962), Âm nhạc truyền thống Việt Nam, xuất bản tại Pari, bản dịch sang tiếng Việt lưu trữ tại Viện Âm nhạc.
[4]. Hoàng Kiều, Quá trình cải tiến chữ nhạc, tư liệu bài viết lưu trữ tại Viện Âm nhạc.
[5]. Trong các tập nhạc phổ Hán-Nôm ký âm nhạc Cung đình, không hề có bản ký âm nào sử dụng các từ ha, hô, hu… để ghi cao độ.
[6]. GS-TS Trần Văn khê cũng chưa tìm được tư liệu cụ thể nào bằng văn bản để minh họa.
[7]. Theo nhiều nhà nghiên cứu, hai điệu thức cơ bản nhất trong âm nhạc cổ truyền Việt nam là: Điệu Bắc (giống điệu Chủy) và điệu Nam (giống điệu Vũ). Tham khảo thêm: Nguyễn Đình Sáng, Khảo sát nhạc lễ Cung đình Huế, trang 136.
[8]. Thực ra âm đọc thật của chữ này là Hạ (夏) nhưng được đọc chệch đi thành Hê.
[9]. Chữ Hỡi (海) này thực ra là chữ Hải trong chữ Hán nhưng đã được đọc chệch đi thành Hỡi. Một trong những lý do khiến người ta không đọc “Hê Hy” mà đọc “Hỡi Hy” là để tránh những từ không hay, không nghiêm túc, không nên nói ra trong những tế lễ tôn nghiêm, trang trọng. Nghĩa đen của từ “Hê Hy” trong tiếng Hán là đùa giỡn, cười cợt.
[10]. Ngoài tập nhạc phổ cổ ký âm bằng chữ Hán-Nôm do Viện Âm nhạc tìm thấy ở Điếu Ngao, Đông Hà, Quảng Trị (9-12-1993), chúng tôi còn có băng cassette ghi phần xướng âm các bản ký âm đó do cụ Hoàng Ân đọc. Cụ Hoàng Ân sinh năm 1920, hiện là chủ nhân của tập Phả nhạc cổ nói trên. Tư liệu này cũng là cơ sở để chúng tôi đối chiếu, kiểm chứng khi xác định cao độ của các từ Ha Hô Hu cũng như khi chuyển ghi sang lối ký âm trên khuông nhạc 5 dòng kẻ.
[11]. Do Nguyễn Bình Định thực hiện chuyển ghi.
[12]. Tư liệu điền dã cùng Viện Âm nhạc tiến hành tại xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ngày 14-3-1999.
[13]. Tư liệu băng ghi âm do Viện Âm nhạc cung cấp. Nguyễn Bình Định ký âm ra nhạc phổ Hán-Nôm. Chú ý cách đọc bản chữ nhạc này: đọc theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Chữ “Hy” khi đứng trước chữ “Hô” thì đọc là “Tú”.
[14]. Chú ý cách đọc bản chữ nhạc này: đọc từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Chữ “Ha” (訶) khi đứng trước chữ “Họi” (亥?) hoặc đứng sau chữ “Hô” (呼) thì đọc là “Ta”. Chữ “Hy” (希) khi đứng trước chữ “Hô” (呼) thì đọc là “Tí” (nếu có luyến âm) hoặc là “Tú” (nếu không có luyến âm).

kenbau_2

Kèn Bầu

(Võ Thanh Tùng)

I. Giới thiệu sơ lược:

Kèn Bầu là nhạc khí hơi, sử dụng dăm kép (còn gọi là Kèn Già Nam, Kèn Loa, Kèn Bóp, Kèn Bát). Kèn Bầu là nhạc khí hơi rất phổ biến trong Dân tộc Việt và một số Dân tộc như Thái, Chăm … Các Dân tộc nói ngôn ngữ Tày-Thái (Xaranai) trong đó có Nùng, Giáy đều gọi nhạc khí Hơi bằng một mạo từ “Pí”và họ cũng gọi là Pí Lè.

II. Xếp loại:

Kèn Bầu là nhạc khí hơi dăm kép phổ biến tại Việt Nam, đồng thời một số nước khác ở Châu Á cũng có. Kèn Bầu được nhập vào Việt Nam và trở thành nhạc khí Việt Nam.

kenbau29

III. Hình thức cấu tạo:

Kèn Bầu có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, chia làm 3 loại:

Loại âm cao: Kèn Tiểu, Kèn Vắt, Kèn Củn.
Loại âm trung (sử dụng nhiều): Kèn Trung Pha, Kèn Trung Đục, Kèn Nàm.
Loại âm trầm: Kèn Ðại, Kèn Ðại Trường, Kèn Quá Khổ.

1. Dăm Kèn: là loại dăm kép, làm bằng ống sậy mềm (hoặc có thể bằng nguyên liệu khác) một đầu bóp bẹp, cuối dăm để tròn để cắm vào đầu một cái thắng. Cái thắng là một ống bằng kim khí nối liền giữa dăm kèn với thân kèn. Dăm kèn là bộ phận quan trọng nhất của kèn: dăm cứng quá khó thổi những âm trầm, dăm mềm quá khó lên âm cao. Dăm không tốt sẽ ảnh hưởng màu âm.

2. Thân kèn: (còn gọi là dọc kèn): hình ống, một đầu nhỏ, một đầu to dần. làm bằng gỗ cứng, Kèn Bầu có 7 lỗ bấm hình tròn nằm dọc trên thân và một lỗ dưới thân, do ngón cái đảm nhiệm, phía sau hàng lỗ này có lỗ bấm thứ 8, các lỗ bấm của Kèn Bầu được khoét với khoảng cách đều nhau để có thể phát ra các âm theo thang âm 7 cung chia đều.

3. Loa Kèn: làm bằng vỏ bầu khô (nên còn gọi là Kèn Bầu), cũng có thể làm bằng gỗ, bằng tre, nứa, hay bằng đồng. Miệng loa kèn có loại cụp vào (âm thanh nghe đỡ chói tai) và loại loe ra âm thanh lớn hơn.

• Kèn Loa La với âm cơ bản là La1
• Kèn Loa Fa với âm cơ bản là Fa1
• Kèn Loa Rê với âm cơ bản là Rê1

IV. Màu âm, Tầm âm:

Âm thanh Kèn Bầu khỏe, vang, hơi chói tai (ở âm cao) thích hợp nhạc điệu mạnh, chân thực, đồng thời có khả năng thể hiện tình cảm, đôi khi ảm đạm và có màu bi thảm. Muốn thay đổi màu âm có thể dùng bộ phận hãm tiếng, âm thanh sẽ giảm đi nhưng có phần mờ đục.

Ví dụ: (332-1)

kenbau30

Khoảng âm dưới Khoảng âm giữa Khoảng âm cao

Tầm âm Kèn Loa (Fa) rộng 2 quãng tám: từ Fa1 đến Fa3 (f1 đến f3)

Khoảng âm dưới: âm thanh hơi rè, diễn tả tình cảm bi thiết.
Khoảng âm giữa: âm thanh vang, trong sáng, hùng mạnh.
Khoảng âm cao: âm thanh sắc nhọn, chói chang.

Ví dụ: (333-2)

kenbau31

Ví dụ: (345-13)

kenbau32

Ví dụ: (346-14)

kenbau33

Ví dụ: (347-15)

kenbau34

Ví dụ: (348-16)

kenbau35

Ví dụ: (349-17)

kenbau36

Ví dụ: (351-21)

kenbau37

Ví dụ: (352-19)

kenbau38

kenbau39

V. Kỹ thuật diễn tấu:

Kèn Bầu có các kỹ thuật thổi: rung hơi, luyến hơi, đánh lưỡi, vuốt hơi, nghệ nhân có thể thổi liên tục hàng giờ không cần ngắt hơi, các kỹ thuật bấm: ngón láy, ngón vuốt…

Cách thổi hơi:

Luyến hơi: là kỹ thuật độc đáo, bằng phương pháp giữ hơi nghệ nhân có thể thổi kèn ngân dài và luyến được nhiều âm.

Ví dụ: (334-33)

kenbau40

Ví dụ: (353-20)

kenbau41

Rung hơi: là cách dùng hơi thổi vào dăm kèn từng đợt mạnh, nhẹ, nhiều, ít để tạo ra tiếng rung như làn sóng, thường ít khi rung nhanh. Rung chậm tiếng kèn càng có hiệu quả để diễn tả tình cảm bi tráng. Ví dụ: rung nhanh, rung chậm:

Ví dụ: (335-3)

kenbau42

Ðánh lưỡi: dù thổi bằng dăm Kèn Loa vẫn có thể đánh lưỡi, có phương pháp đánh lưỡi đơn, đánh lưỡi kép.

Ví dụ: (336-5)

kenbau43

Ví dụ: (337-6)

kenbau44

Ví dụ: (338-7)

kenbau45

Vuốt hơi: là cách thổi sao cho âm cao dần lên hoặc thấp dần xuống từ một nửa cung đến một cung, hoặc có thể thổi cho âm lên cao rồi xuống ngay, hoặc âm xuống rồi lên cao ngay.

Ví dụ: (342-9)

kenbau46

Ví dụ: (343-4)

kenbau47

Ví dụ: (344-12)

kenbau48

Các ngón bấm: Ngón láy: có thể sử dụng láy đơn, láy kép, láy rền.

Ví dụ: (339-10)

kenbau49

Ngón vuốt: là làm cho âm thanh luyến dần lên hay luyến dần xuống một cách mềm mại, gần như tiếng nói.

Ví dụ: (340-8)

kenbau50

Cách thổi hơi và bấm kết hợp:

Rung vỗ: là kỹ thuật tạo nên những âm rung đặc biệt như ngón rung của đàn dây.

Ví dụ: (341-11)

kenbau51

VI. Vị trí Kèn Bầu trong các Dàn nhạc:

Kèn Bầu được sử dụng trong các Dàn nhạc Cung đình, Dàn Ðại nhạc, trong Ban nhạc đám ma, đám rước, Dàn nhạc Tuồng và gần đây tham gia Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp.

kenbau52

kenbau53

VII. Những nhạc khí tương tự ở Ðông Nam Á và các nước:

Nhiều nước có Kèn Bầu như: Á Rập, Thổ nhĩ Kỳ có (Zurna) Zourna, Ba Tư có Sorna, Ấn Ðộ có Shanai, Trung Quốc có (Souna) Sona, Miến Ðiện có Hne, Mã Lai có Saroenai, Indonesia có Saroene. Ðây chính là loại nhạc khí họ Oboe nổi tiếng trong Dàn nhạc Giao hưởng Châu Âu. Oboe rất có thể là kèn dăm kép của người Á Rập được các Dân tộc ở Châu Âu cải tiến, cũng như các loại kèn loa Châu Á, Ðông Nam Á từ những chiếc Zurna, Sorna… vùng Trung Ðông.

oOo

Kèn Bầu:

 

Hòa tấu Kèn Bầu (Gourd Oboe) trong Nhã Nhạc:

 

Hòa tấu – Đại Nhạc:

 

Hòa tấu – Đại Nhạc – Tam Luân Cửu Chuyển:

 

Kèn Saranai:

 

Kèn Zurna:

 

Kèn Sorna:

 

Kèn Shanai:

 

Kèn Hne:

 

Kèn Oboe của Âu Châu:

 

Antonio Vivaldi sonata for Oboe and Continuo in C minor:

 

Beethoven Oboe trio:

 

A. Vivaldi Oboe Concertos:

 

Johann Sebastian Bach: Concertos For Oboe & Oboe D’Amore:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s