Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn T’rưng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Trống Mảnh, mình giới thiệu đến các bạn một nhạc cụ chi gõ khác của dân tộc Việt Nam, Đàn T’rưng.

Là một nhạc cụ đặc sắc trong kho tàng nhạc khí Tây Nguyên, Đàn T’rưng có khả năng diễn tấu khá phong phú, đa dạng, thường khi được diễn tấu vào các dịp lễ hội truyền thống hay trong sinh hoạt cộng đồng của các tộc Ba Na, Gia Rai, Ê Đê…

Đàn T’rưng được xếp vào loại nhạc cụ tự thân vang, chi gõ, là loại đàn do nhiều ống đàn hợp thành. Các ống đàn được chế tác từ những ống nứa khô, chắc có chiều dài ngắn, to nhỏ khác nhau. Quan sát kỹ người ta thấy mỗi ống đàn gồm hai phần: ống hơi và thanh cộng hưởng. Giữa ống hơi và thanh cộng hưởng có quan hệ mật thiết để tạo nên các ống đàn có cao độ chuẩn, âm thanh vang.

Đàn T'rưng.
Đàn T’rưng.

Ngày trước mỗi lần chơi đàn người ta buộc các ống đàn trên hai sợi dây, đầu dây phía các âm cao buộc vào thắt lưng người chơi đàn còn đầu kia buộc vào thân cây hoặc bờ đá, hai tay dùng hai dùi ngắn gõ trên những ống đàn. Bằng cách này đàn thường chỉ có từ 6 – 7 âm theo trật tự thang 5 âm không bình quân là các âm:

Si – Rê#1 – Fa1 – Sol#1 – La1 – Si1

hoặc:

Đô1 – Rê1 – Fa1 – Sol1 – La1 – Đô2

Tùy theo bài bản mà người ta thay đổi các ống đàn cho phù hợp.

Ngày nay các nghệ nhân chế tác đàn đã nâng âm vực Đàn T’rưng lên gần 3 quãng 8 (có đàn mắc thang âm Cromatique).

dantrưng_Đàn T'rưng1

Thuở xưa, đàn được diễn tấu trên nương rẫy, trong lễ hội nhưng không được đánh trên nhà vì đồng bào Tây Nguyên cho rằng mỗi ống đàn có một vị thần trú ngụ. Các vị thần này bảo vệ nương rẫy, đuổi chim thú. Nếu đánh đàn trong nhà các gia súc, gia cầm sẽ không lớn được. Ngày nay T’rưng không phải là nhạc cụ kiêng cấm nữa, mà sử dụng để độc tấu, hòa tấu với các nhạc cụ khác và đệm cho hát…

Tương tự như đàn T’rưng của người Việt, Châu Âu có đàn XylophoneVibraphone. Thái Lan, Lào, Cambodia, Indonesia có đàn Thuyền (Lanat).

Đàn Xylophones.
Đàn Xylophone.

 

Đàn Vibraphone.
Đàn Vibraphone.

 

Đàn Thuyền của dân tộc Thái.
Đàn Thuyền (Lanat) của dân tộc Thái.

 

Đàn Thuyền (Lanat) của dân tộc Lào.
Đàn Thuyền (Lanat) của dân tộc Lào.

 

Đàn Thuyền (Lanat) của dân tộc Khmer.
Đàn Thuyền (Lanat) của dân tộc Khmer.

 

Đàn Thuyền (Lanat) của dân tộc Indonesia.
Đàn Thuyền (Lanat) của dân tộc Indonesia.

Dưới đây mình có bài “Chiếc Ðàn T’rưng Việt Nam” của cố NS “Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa cùng với 9 clips nghệ thuật diễn tấu Ðàn T’rưng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Viện Âm Nhạc VN)

'Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa'.
“Sáo thần” Nguyễn Đình Nghĩa.

Chiếc Ðàn T’rưng Việt Nam

(NS “Sáo thần” Nguyễn Ðình Nghĩa)

Nói đến đàn T’rưng, chúng ta liên nghĩ ngay đến những cây như Xylophone, Vibraphone của châu Âu hoặc cây đàn Thuyền của Thái Lan, Lào, Cambodia còn gọi là cây Lanat. Chung chung đây là một bộ gõ (percussion) có cao độ (có nghĩa là có định âm), nốt nhạc cao thấp được sắp xếp tùy theo hệ âm thanh của mỗi nước, mỗi xứ, mỗi miền mà người làm nhạc cụ thực hiện. Chẳng hạn người châu Âu họ xếp theo “dorian scale” (Dô Rê Mi), châu á thường theo “pentatonic scale” Ngũ cung và Ngũ cung còn tùy theo xứ, vùng, miền. Nói tóm lại đây cây đàn gồm nhiều nốt nhạc được cấu tạo thành bởi mỗi thanh (“mảng”) hoặc ống là mỗi nốt của cây đàn. Thành thử khi trình tấu, người nhạc công có thể gõ một lúc nhiều que gõ để tạo nhiều âm thanh phát âm cùng một lúc để có thể tạo ra “đa âm” như hợp âm (chord) chẳng hạn, hoặc có thể là giai điệu vừa đệm phần bè phụ.

Trở lại cây đàn T’rưng Việt Nam, sở dĩ tôi giới thiệu đến các bạn trẻ và giới mộ điệu chiếc đàn này là vì cái độc đáo của nó cũng như chỗ đứng trong tương lai, để gốp phần tạo một vị thế tốt đẹp cho gia tài nhạc cụ Việt Nam và thế giới.

Ðàn T’rưng là tên gọi của đồng bào Kinh Việt Nam chúng ta, chứ người Thượng (đồng bào Cao Nguyên Trung phần, sắc tộc Bana hoặc Rađê họ gọi là Tokro hoặc Khinh Khung. Chiếc đàn T’rưng nguyên thủy được cấu tạo thường là năm ống trúc (hoặc lồ ô con, nứa, hóp v.v…). Ðược cột lại với nhau bằng hai đầu dây. Mỗi đầu do một người vịn và một người gõ để tạo âm thanh. Thường người Thượng họ dùng như một hình thức gõ để báo giờ nghỉ ngơi, cơm nước, tập họp trên nương rẫy, hoặc lễ hội buông làng. Người Bana sử dụng nhạc cụ này thường xuyên và rộng rãi, riêng người Rađê họ rất kỵ dùng trong nhà!

Cái thú vị của giới trẻ ngày hôm nay là cây đàn T’rưng sau khi được cải tiến mở rộng “âm vực”, chẳng những tạo giai điệu trên chiếc đàn mà còn tạo được bè và hợp âm để nâng trình độ “thẩm âm”, không khác gì khi nghe một tấu khúc trên cây đàn dương cầm (piano). Tôi xin trình bày điểm đặc biệt của đàn T’rưng nếu đem so sánh với các cây như Xylophone và Vibraphone nổi tiếng của thế giới thì quả là ta có cái độc đáo mà họ không có được.

Khi so sánh với cây Xylophone và cây Vibraphone bên châu Âu: gõ vào thanh nhạc, có nghĩa là một thanh gỗ hoặc kim loại. Lúc thanh đó phát âm họ phải dùng thêm một ống rỗng (air column) có bầu cộng hưởng, cùng chung một tần số giao động với âm thanh mảng đó để mà khuyết đại âm thanh và làm tăng độ rền đến tai người nghe. Riêng người anh em lân cận chúng ta là Thailand, Cambodia, Lào có một nền âm nhạc lâu đời và được thế giới biết đến nhiều; cũng có chiếc đàn họ hàng với đàn T’rưng, đó là cây đàn Thuyền và còn gọi là cây Lanat (có lẻ là tên gọi của người Lào) có hình dáng như chiếc thuyền gồm nhiều thanh tre “mạnh tông” được cắt gọt thành từng “thanh” (tức là mỗi thanh là một nốt nhạc có hình dáng hình chữ nhật và được cột nối lại với nhau như một chiếc võng. “Bầu cộng hưởng” (thùng đàn) hình dáng giống như một chiếc thuyền. Khi nhạc công tấu (gõ), âm thanh của thanh tre “mạnh tông” (nốt nhạc) sẽ tiệp với tần số giao động của bầu cộng hưởng và “thùng cộng hưởng” với nhau mà khuyết đại độ vang cũng như độ rền đến tai người nghe.

Tôi sơ lược để các bạn nhận thức được, có khái niệm tổng quát là khi muốn tạo nhạc cụ trên người làm nhạc cụ gồm có hai bộ phần phải thực hiện là:

1. âm thanh (nốt nhạc) từ thanh tre còn gọi là mảng hoặc ống, phát ra một cao độ nào đó.

2. bầu cộng hưởng tức là ống hơi có độ giao động cùng chung một tần số với độ rung của mảng thì khi khởi động nốt nhạc, âm thanh đó mới phát âm thực sự là âm thanh của âm nhạc bằng không thì âm thanh sẽ thành một loại ồn ào, tiếng động hổn tạp hoặc là âm thanh câm.

Riêng âm thanh phát âm nốt nhạc của chiếc đàn T’rưng là cái độc đáo mà nhạc cụ thế giới không có ở chỗ cấu tạo của đàn T’rưng, là sự kết hợp chung cùng một thanh. ống trúc cộng với bầu cộng hưởng cùng có chung một tầng số giao động, cùng dính liền chung trên một mảng khi gỏ vào ống trúc. Ví dụ ống đó cho ta tần số giao động là 420 hoặc 440 Hz, tức chiều dài của ống được cùng cắt xén và phù hợp với cột hơi của ống (bầu cộng hưởng), là cùng chung một tần số giao động của mảng. Cho nên khi gõ vào ống đàn T’rưng, chúng ta sẽ có được một âm thanh “âm nhạc thực sự” mà không cần phải dùng đến bầu cộng hưởng (thùng đàn) phụ nào khác.

Lúc tôi giới thiệu trên Diễn Ðàn Sân Khấu Thế Giới, tôi tạm gọi cấu trúc này là “Resonance box was built in” ở chỗ độc đáo là tự nó cấu tạo thành từ trong ống lồ ô của nó. Chúng ta chỉ có, gọt cắt và định hình, cũng như định âm nó qua phương pháp là vừa thổi vừa nghe cột hơi để mà điều chỉnh cùng một lúc với chiều dài của ống.

Ðây là kỹ thuật để cho hai tần số giao động giữa mảng ống và cột hơi của ống cho có phù hợp chung một tần số giao động. Một khám phá độc đáo của người xưa khi đo cột hơi mà không cần đến một thứ máy móc gì cả!

Nói đến đàn T’rưng thật là nhiều nhiều khẽ. Từ độ dầy của ống, động nặng, đóng, mỡ mắt tre, hình dáng phỏng đoán để làm ở nốt nào cho thích hợp với âm thanh đó. Hiện nay chưa có một tài liệu nào chính xác xuất bản, chỉ có qua kinh nghiệm từng cá nhân và góp nhặt chung chung để làm kiến thức cơ bản. Phải thú thật qua kinh nghiệm cũng giống như ông Stradivari khi xưa làm cây vĩ cầm (violin) qua kinh nghiệm mà lúc ông dùng mảnh chai bể hoặc mảnh sành mà bào mặt thùng đàn violin vừa gõ vừa nghe âm vang của độ dầy mỏng mà định hình để tạo “resonance box” (thùng cộng hưởng) cho cây đàn. Như vậy lúc tôi gọt cây đàn T’rưng chẳng khác nào như thế. Khi cầm lên một ống trúc hoặc lồ ô con, tôi có cảm giác ngay là phải làm ở một nốt nào và phải gọt ra sao để thích hợp với nốt đó. Xuyên qua quá trình gọt đẽo và tính về cộng hưởng (accoustic), tôi đã gọt không những tính trên số lượng hàng trăm mà phải nói hàng ngàn ống, thành thử kinh nghiệm tích lũy mà tôi sẽ ghi lại để các bạn trẻ sau này không phải mất thời gian tìm tòi như tôi ở trên (sẽ chỉ dẫn ở một bài khác).

Khi đặt chân đến Mỹ, tôi đã chinh phục được cảm tình khán thính giả ở đất nước này và để họ yêu thích chiếc đàn T’rưng Việt Nam. Ðể hấp dẫn hơn cho người nghe, tôi đã giới thiệu, trình bày thêm một bước tiến nữa đó là cải tiến âm thanh của ống T’rưng từ màu âm đẹp hơn (color of the sound) đến độ vang to hơn cũng như độ ngân lâu hơn (duration) nốt nhạc có thể vang rền lâu như một nốt nhạc của cây piano. Tôi tạm gọi là “stimulate the cell of the bamboo for the duration”, có nghĩa là kích thích tế bào tre nứa để có độ rung, ngân rền lâu dài ở những nốt có giao động tần số chậm và trung. Tôi đã thành công ở những biên độ giao động này và nới rộng khoảng hai “bát độ”. Trong tương lai nếu có điều kiện thuận lợi, tôi sẽ mở rộng thêm hai bát độ nữa ở khóa Fa Trầm cho cây đàn T’rưng Bass. Còn ở biên độ giao động cao tôi đã thực hiện thành công khi tạo ra những ống T’rưng thật ngắn nhỏ ở những nốt thật cao, có nghĩa là đã tạo được nốt nhạc thật sự ở những mảng ống thật ngắn và tạo được “cột hơi” bằng cách mở rỗng hai đầu ống (nếu quí vị nào có nghiên cứu về tác động luồng không khí chuyển động trong ống sáo – turbulance, thì sẽ hiểu dụng ý khi tôi mở rộng hai đầu cột hơi. Tôi sẽ có một bài viết tường tận về phần này khi trình bày về cây sáo cải tiến mười một lỗ bấm của tôi.

Giai đoạn đang xúc tiến nghiên cứu hiện nay là “cách sơn đã ngưu”, tôi tạm đặt tên như thế vì ở những nốt thật cao tuy đã cải tiến mà âm thật sự là âm thanh của âm nhạc nhưng phần ngân rền bị hạng chế. Vì thế tôi sẽ dùng vật thể cũng là tre nứa và được cấu tạo cộng hưởng với âm thanh có cùng chung biên độ giao động và tần số giao động này được hướng dẫn, danh từ khoa học tạm gọi là “velocity waves frequency” để khi gõ một ống T’rưng ở nốt thật cao, thì âm thanh của nốt này cách vật thể kia sẽ truyền qua không gian có hướng dẫn (velocity waves) làm kích động đến nốt ở vật thể giao động kia và cho ta một âm thanh có màu âm đẹp và độ ngân rền vừa phải, đáp ứng được sự đòi hỏi và thỏa mảng lỗ tai người nghe. Thành thử âm thanh nguyên thủy rất là cục mịch ngắn, đó là khuyết điểm của đàn T’rưng cho nên không chinh phục được người nghe cũng như giới mộ điệu để học chơi đàn này!

Với sự cải tiến của tôi, âm thanh được hoàn chỉnh trở nên tuyệt hảo, có những “nốt quí” bạn nghe vang như tiếng chuông đồng, không nghĩ rằng nó phát xuất từ một ống tre. Quả là kỳ diệu cho chiếc đàn T’rưng cải tiến Việt Nam chúng ta. Cộng thêm que gõ “dùi hai đầu” và độ cứng, mềm được bố trí thành bốn góc ở vị trí khác nhau, càng làm phong phú thêm cho màu âm khi trình tấu. Ðây là một loại nhạc cụ dùng luật cộng hưởng thiên nhiên (acoustics), không phải điện tử, để góp mặt trong gia tài nhạc cụ Việt Nam và trình làng với thế giới cái hay cái đẹp của nó. (Nếu bạn nào chưa nghe tiếng đàn T’rưng cải tiến, có thể liên lạc với chúng tôi). Trong một ngày gần đây quí bạn sẽ được nghe CD “Mozart in Bamboo” nhạc Mozart trong tre nứa, cũng như CD “Christmas in Bamboo” nhạc Giáng Sinh trong tre nứa do Nguyễn Ðình Nghĩa trình tấu và thực hiện.

Tóm lại trong tương lai, đàn T’rưng Việt Nam tôi tin sẽ có nhiều người chơi, chẳng những ở chỗ âm thanh đẹp, hấp dẫn của nó mà còn giúp cho người ít hoạt động chân tay khi tấu nhạc đàn T’rưng thường xuyên sẽ giúp cho họ như một hình thức tập thể dục. Cách tấu nhạc trên đàn T’rưng phải vận dụng đôi tay năng động và nhuần nhuyễn, rất có lợi cho sức khỏe.

Ðể bố trí vá sắp xếp các ống (nốt nhạc) đàn T’rưng thành một giàn hoặc hai giàn, tùy theo người sử dụng. Tôi xin giới thiệu sơ lược như sau:

1. Giàn một: sắp theo Ngũ cung Bana

dantrưng3

dantrưng4

Ở giàn một này, quí bạn có thể xếp hai cung này thành hai giàn riêng rẽ khi trình tấu dễ hơn khi ta chạy “arbege” xem như hình thức chữ A trên cây đàn Tranh Việt Nam. Tuy nhiên theo tôi thì quí bạn nên xếp chung thành một giàn sẽ có lợi hơn trong tương lai khi ta tấu những nhạc khúc theo “dorian scale” có thăng giáng. Khi xếp 2 cung này với nhau tôi gợi ý là như thế này:

dantrưng5

Khi cột những ống này, dính liền với nhau quí bạn có thể mở rộng thêm hai, ba hoặc bốn âm vực tùy ý.

2. Giàn hai:

dantrưng6

Khi giàn hai này được xếp gần bên giàn một, lúc trình tấu chúng ta có đủ nốt thăng giáng cho một âm giai “đồng chuyển” (chromatic scale) tức là chạy từ nửa cung nối tiếp nhau. Riêng giàn hai nếu chuyển qua khóa giảm thì chúng ta sẽ đọc như sau:

dantrưng7

Khi chạy Arbege những nốt này, tôi gợi ý quí bạn nên chạy từ cao xuống thấp.

Vì đây là âm giai có sự trùng hợp với âm giai của giai điệu Nhật Bản, họ gọi là “Insen” có nghĩa là âm giai “mềm” hay còn tượng trưng như một loại “gamme mineur” âm giai thứ của Nhật Bản (Ngũ cung). Nên biết trong âm giai insen của Nhật Bản khi chạy từ nốt thấp lên nốt cao hoặc ngược lại thì có một nốt phải thay đổi chứ không dùng chung từng đó nốt như quí bạn đã thấy ở các giai điệu khác trên thế giới. Ví dụ: từ thấp lên cao sẽ là:

dantrưng8

và từ cao xuống thấp sẽ là:

dantrưng9

Như vậy quí bạn thấy khi chạy từ trên cao xuống thấp, họ không dùng nốt Rê (D) nữa mà thay vào nốt Ðô (C) cũng vì lẽ đó tôi đề nghị khi bạn chạy arpeggio đàn T’rưng ở giàn hai nên chạy từ cao xuống thấp khi ta tấu giai điệu Nhật Bản mới thích hợp. Ghi nhớ đàn T’rưng của chúng ta khi xếp ống cho giàn hai khởi đầu từ nốt Fa, thành ra chúng ta có giai điệu Ngũ cung Nhật như sau:

dantrưng10

nốt thứ 5 là Mi giảm (Eb)

Trong giàn hai không có; nếu muốn tấu nốt nhạc này chúng ta phải mượn ở giàn một nốt Rê thăng (D#) tức là Mi giảm (Eb) và khi chạy từ trên cao xuống thì chúng ta có đủ nốt ở giàn hai.

dantrưng11

không dùng nốt (Eb) nữa mà thay thế bằng nốt Rê giảm (Db)

Ðể làm phong phú và hấp dẫn hơn khi trình diễn trên sân khấu ở đoạn “cadenza” tức đoạn “trổ ngón”, là đoạn cao điểm của người tấu nhạc cụ phô bài cái hay và độc đáo của ngón đàn. Tôi có sáng chế ra cây sáo chỉ sử dụng có “một tay”, tôi tạm đặt tên là “Insen Flute”. ở đoạn này người biểu diễn một tay sử dụng sáo trúc và tay khác thì tấu đàn T’rưng cùng một lúc, có nghĩa là một tay sử dụng nhạc cụ bộ hơi và tay kia sử dụng bộ gõ, xem như một tay vẽ hình tròn và tay kia vẽ hình vuông cùng một lúc. Với trổ ngón này gây được sự ngạc nhiên cho khán giả và hiệu quả rất thành công. Cây sáo này chỉ dùng âm điệu Nhật Bản trong bài “Sakura”. Ðây là cây sáo Insen độc đáo mà cả nước Nhật tôi nghĩ là cũng chưa có ngoài tôi ra!

Ðể gợi ý quí bạn đã từng làm đàn T’rưng, tôi tạm ghi lại một số quá trình cải tiến ống đàn T’rưng mà tôi đã thực hiện thành công và có cầu chứng (patent and trademark) tại Mỹ. Quí vị có thể áp dụng phương pháp này mà thực hiện cho mình một chiếc đàn theo ý muốn. Chỉ có điều kỹ thuật cải tiến này nếu được dùng để sản xuất thương mại thì xin các bạn chịu khó thương lượng trước để tránh phiền toái về sau theo luật Tác Quyền.Ðàn T’rưng cải tiến ở giai đoạn 3 là một công trình cải tiến của Nguyễn Ðình Nghĩa từ năm 1981, còn gọi là “kích thích tế bào tre nứa” có độ ngân dài hơn ống T’rưng bình thường và khi qua Mỹ tôi có thêm một vài sửa đổi nhỏ làm tăng khả năng phong phú hơn.

Khái niệm tổng quát và cải tiến về cấu trúc một thanh đàn T’rưng.

1. Ống T’rưng nguyên thủy:

dantrưng12

2. Cải tiến đợt I:

Cho những ống có nốt trầm chiều dài khoảng 0.5m đến 1m hoặc dài hơn.Tạo ống T’rưng có hai cột hơi cộng hưởng áp dụng cho những ống nốt trầm có giao động sóng âm chậm (âm vực trầm). Tiếng đàn T’rưng sẽ có độ rền và vang to hơn ống khoét theo nguyên thủy.

dantrưng13

3. Cải tiến đợt II:

Ống T’rưng cải tiến đợt hai cho những ống có nốt cao chiều dài khoảng một gang tay hoặc lớn nhỏ một chút, tạo cho màu âm của những nốt cao đẹp hơn và thực sự là âm nhạc. Cải tiến này áp dụng luật cộng hưởng giao động của cột hơi trong ống để tạo được những ống có âm vực cao.

dantrưng14

4. Cải tiến đợt III:

Tạo cho tiếng đàn T’rưng kéo dài – kích thích tế bào tre.Trên thực tế khi ta dùng dùi gõ vào mặt ống đàn T’rưng ở điểm A (A = antinode) tức là điểm có giao động chính và rộng của sóng âm thì toàn bộ thân ống sẽ bị chấn động tạo âm thanh; cộng thêm nhờ vào biên độ giao động của cột hơi có cùng chung một tần số với độ rung của mãng ống làm cho âm thanh lớn và tải đến tai người nghe. Tuy nhiên tế bào tre thuộc về thảo mộc, độ rung, đàn hồi bị giới hạn nên tiếng ngân rất ngắn, không đáp ứng được nhu cầu cần thiết tối thiểu cho câu nhạc. Ðể cải thiện phần này, chúng ta cần có độ ngân dài hơn.

Ðể đáp ứng cho nhu cầu này, trước tiên áp dụng cải tiến bước I để có âm thanh to lớn và chúng ta có toàn thân ống không bị gọt mất ở điểm N. (ống đàn T’rưng nguyên thủy người Bana miền thượng du Việt Nam, vì để tạo phần “Lam” của ống T’rưng nên đã gọt mất phần dưới thân làm mất đi điểm tựa).

dantrưng15

A: điểm bụng
E: dây đàn kim loại
N: điểm nút
D: cầu giao động
B: điểm mắc dây
F: khoảng điều chỉnh
C: điểm lên dây

Ðể biết thế nào là kích thích tế bào tre làm cho tiếng đàn T’rưng ngân dài. Trên nguyên tắc khi ta dùng dùi gõ vào ống đàn T’rưng ở điểm (A) của mặt ống, làm cho ống giao động ở một tần số nào đó và có cùng chung tần số của 2 cột hơi bên trong ống làm cho âm thanh được khuyếch đại và đưa đến tai người nghe. Tuy nhiên âm thanh rất ngắn vì độ rung của tre nứa bị giới hạn. Ðể cải tiến, ta gắn thêm 2 cầu (B) và (C) điểm mắc dây và lên dây; dây đàn kim loại – 2 dây đàn ta gọi là vị trí điểm (E). Giữa dây đàn và ống T’rưng ta đặt một khúc tre ngắn nhỏ tạm gọi là “cầu giao thông” (D). Khi ống đàn T’rưng chuyển động tạo âm thanh thì cầu giao động (D) cũng rung chuyển (vì được đặt ở vị trí giao động tạo của sóng âm trên thân ống) vì là dây kim loại nên độ rung kéo dài lâu hơn tre nứa. Khi ống T’rưng không còn khả năng rung nữa, nhưng nhờ dây đàn còn hoạt động nên chuyền qua cầu giao động trợ lực cho ống T’rưng tiếp tục rung nữa. Hiệu quả tạo cho tiếng đàn T’rưng kéo ngân dài hơn bình thường. Chẳng những âm thanh được kéo dài mà màu âm của ống T’rưng tựa hồ như phát ra từ tiếng chuông đồng.

Ðể kết thúc bài này, tôi hy vọng các bạn thực hiện cho mình một chiếc đàn như muốn. Có điểm nào thắc mắc, xin vui lòng liên lạc với chúng tôi, hoặc xem đây như tập tài liệu cho căn bản hiểu biết về cây đàn T’rưng Việt Nam. Tôi sẽ có bài đặc biệt kế tiếp cho sáo trúc Việt Nam với đợt cải tiến mười một (1 lỗ bấm, có khả năng tấu nhạc cổ điển Tây phương và những bài sáo lớn được soạn đặc biệt cho sáo trúc Việt Nam và Ðông Nam Á mà tôi đã ba lần đoạt giải trong những năm 1994, 1998, 2000. Giải được gọi là “The Individual Artist Award” do thống đốc tiểu bang Maryland trao phát. Ðây là giải dành cho cá nhân nhạc sĩ được tấu nhạc xuất sắc nhất cũng là một loại giải văn học nghệ thuật của tiểu bang Maryland. Hẹn gặp lại quí bạn trong số báo tới.

Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa và Đàn T'rưng.
“Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa và Đàn T’rưng của ông.

“Sáo Thần” Nguyễn Ðình Nghĩa

(Du Tử Lê)

Trong sinh hoạt cổ nhạc Việt Nam, nếu chúng ta có một Giáo Sư Nguyễn Hữu Ba, khi mới vừa 18 tuổi đã áp dụng hệ thống ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc Việt; sau đấy, ông cũng là người lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng nền quốc nhạc (1); hoặc chúng ta có một nhà đồ cổ học nổi tiếng, Vương Hồng Sển, với trên 800 cổ vật ông sưu tập được, mà độc đáo nhất là đồ gốm men xanh, trắng thuộc các thế kỷ 17, 18 và 19 (2); hay chúng ta có một Trần Quang Hải, một đời đắm chìm trong nỗ lực sưu tầm, tìm hiểu công dụng, cách sử dụng các nhạc cụ cổ xưa để giới thiệu với thế giới; thì, chúng ta cũng có một Nguyễn Ðình Nghĩa, bậc thầy của các loại sáo trúc và đàn T’Rưng.

Khác hơn những người vừa kể, nơi Nguyễn Ðình Nghĩa là một phối hợp tuyệt vời giữa hai con người. Con người nghệ sĩ trình diễn, trung tâm của những ánh đèn nhiều nghìn watts, nơi những tiền trường sân khấu đông, tây: và con người nghiên cứu, sáng tác.

Ðược biết, họ Nguyễn đã mang tiếng sáo của ông tới những quảng trường đua tranh quốc tế ngay tự khi ông còn rất trẻ.

Nguyễn Ðình Nghĩa đã khiến những tên tuổi lừng lẫy, những chọn lọc cử tọa ở những quảng diễn tại Paris, Bangkok, Manila, Singapore, Cambodia, Laos, phải đứng dậy khi anh trình tấu “Phụng Vũ,” một tổ khúc cổ của triều đình Việt Nam, soạn cho tiêu sáo, bị thất truyền từ hàng trăm năm trước. Ông và những đứa con âm nhạc ưu tú, mang dòng họ Nguyễn của ông, cũng đã khiến cho những cử tọa chọn lọc của những trình diễn quốc tế ở New York, ở Maryland, phải nghiêng mình khi ông độc tấu sáo Mèo, Sáo Tiểu, độc tấu đàn T’Rưng và sáo Ensen cùng với sự phụ họa của những thành viên trong gia đình của mình.

Phải nói nghệ thuật Việt Nam, được thế giới biết đến như một thứ nghệ thuật của một dân tộc có chiều dầy lịch sử gần năm nghìn năm, một phần nhờ nơi tài năng và trí tuệ Nguyễn Ðình Nghĩa.
Chúng ta sẽ không thể thuyết phục được một ai, nếu chúng ta mang vác niềm tự hào gần năm nghìn năm lập quốc mà, không có một trưng dẫn cụ thể.

Chúng ta sẽ không thể khiến một ai lắng nghe, tin tưởng nơi độ dầy lớn lao của truyền thống văn hóa lạc Việt một khi chúng ta không thể trưng dẫn, trình diễn trước thế giới, những nhạc cụ cổ truyền vốn đã ăn ở, đã nuôi nấng tinh thần tổ tiên chúng ta, từ bao nghìn năm trước.

May mắn thay, vinh dự thay cho chúng ta, khi chúng ta có được một Nguyễn Ðình Nghĩa và, những đứa con của ông. Chính Nguyễn Ðình Nghĩa, với cây sáo cổ truyền của Việt Nam, đã mang lại niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt tỵ nạn, khi họ Nguyễn được trao giải thưởng cao quý: Giải “The Indivisual Artist Award,” từ tay thống đốc tiểu bang Maryland, năm 1994, trong một cuộc thi quy tụ hầu hết những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của tiểu bang này. Ðó là cuộc thi “The Best Musician of the Musical Instruments Performance.”

Bên cạnh con người nhạc sĩ trình diễn chói lòa tại các sảnh đường nghệ thuật thế giới, Nguyễn Ðình Nghĩa còn là một nhạc sĩ có công tái tạo và cải biến những nhạc khí cổ truyền của đất nước Việt Nam nữa.

Ðiển hình, trong thời gian chờ đợi giấy tờ đi định cư Hoa Kỳ, Nguyễn Ðình Nghĩa đã bỏ ra 9 năm sống với đồng bào Việt gốc Bahar và Rader ở cao nguyên trung phần để nghiên cứu âm nhạc cổ, các loại nhạc khí cổ mà đồng bào Việt gốc Bahar còn lưu truyền.

Kết quả họ Nguyễn đã tìm lại được chiếc đàn T’Rưng và, năm 1981, ông đã thành công trong nỗ lực cải tiến chiếc đàn này. Ông nâng tổng số ống chia âm độ của cây đàn T’Rưng lên tới con số 51 ống. Nhờ thế mà quãng cách khả dụng của chiếc đàn T’Rưng đã lên tới 4 bát độ. Trước đấy, ông cũng thành công trong nỗ lực cải tiến sáo trúc từ 6 lỗ bấm ra 11 lỗ, 16 lỗ, để có thể trình tấu các loại nhạc mà không ảnh hưởng đến đặc tính của cây sáo nguyên thủy.

Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa và Sáo.
“Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa.

Tháng 7 năm 1984, Nguyễn Ðình Nghĩa và gia đình tới Hoa Kỳ, cùng với cây đàn T’Rưng đã được ông nâng cấp.

Tôi không biết người nhạc sĩ tài hoa của chúng ta, “cây sáo thần” của Việt Nam trước khi từ trần đã mang theo ông về thế giới bên kia,bao nhiêu mơ ước, bao nhiêu sở nguyện chưa hoàn tất?

Nhưng, có một sở nguyện lớn của họ Nguyễn, được nhiều người biết là, sinh thời, ông nuôi tham vọng tìm được và, dựng lại toàn bộ chiếc đàn được coi là cổ xưa nhất của Việt Nam đó là chiếc “Ðàn Ðá Nước.” Trong chỗ riêng tư, đôi lần ông từng tâm sự rằng, theo kết quả dò hỏi của riêng mình, ông được biết, các quốc gia như Pháp, Mỹ và Việt Nam, mỗi nơi hiện lưu giữ được một ít mảnh.

Bên cạnh những thao thức khôi phục nền cổ nhạc của dân tộc, để chứng minh với thế giới, ít nhất trong lãnh vực âm nhạc, dân tộc Việt có một lịch sử đáng kể, nếu không muốn nói là đáng được ngưỡng mộ, họ Nguyễn thời còn ở trong nước, cũng như khi đã ra tới nước ngoài, dường như chưa có một thời gian nào, ông ngưng hoạt động, từ nghiên cứu, sưu tầm, tới những nỗ lực không ngừng làm mới ở lãnh vực trình diễn, cũng như thu âm.

Những người yêu quý tài năng và trí tuệ Nguyễn Ðình Nghĩa còn nhớ năm 1996, họ Nguyễn đã cho ra đời đĩa nhạc “The Magic Flute, Nguyễn Ðình Nghĩa & Family in Concert.”

Gần như ngay tức thì, dư luận báo chí, truyền thông Hoa Kỳ ở vùng Ðông Bắc Mỹ đã đánh giá đĩa nhạc đó của Nguyễn Ðình Nghĩa và các con, là một tác phẩm có giá trị rất lớn về phương diện trình tấu nhạc cụ cổ truyền Việt Nam. Có tờ báo không ngần ngại cho rằng nhờ đĩa nhạc “The Magic Flute, Nguyễn Ðình Nghĩa & Family in Concert” mà những người Mỹ quan tâm tới lịch sử nền nhạc cổ truyền Việt Nam, hiểu độ sâu và mức cao của dòng nhạc dòng phong phú, lãng mạn này.

Nguyễn Ðình Nghĩa nổi tiếng sớm, nhưng đa số chúng ta không biết nhiều về tiểu sử của ông. Mãi khi ông từ trần ngày 22 tháng 12 năm 2005, tại tiểu bang Maryland, thì những chi tiết về tiểu sử của “tiếng sáo thần Nguyễn Ðình Nghĩa” mới được những người có lòng, bỏ công sưu tầm, biên soạn.

Dưới đây là một vài nét chính về tiểu sử của nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa được ghi lại trên một số trang nhà, do trang mạng Bách khoa Toàn thư mở Wikpedia phổ biến:

Theo giấy tờ thì nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa sinh 1943, nhưng sự thực ông sinh năm 1940, ngày 5 tháng 10. Thuở nhỏ ông được gia đình cho theo học chương trình Pháp, rất sớm ông đã cho có cảm ứng mãnh liệt với nhạc Việt. Cũng ngay khi còn tấm bé ông được trau dồi nghệ thuật thổi sáo, từ một nhạc sĩ người Trung Hoa. Từ bước khởi đầu này, không lâu sau, Nguyễn Ðình Nghĩa được nhiều người biết đến qua tài nghệ sử dụng tiêu, sáo, đàn tranh, đàn bầu. Cuối thập niên (19)60, ông mở lớp, và xuất bản sách sử dụng tiêu, sáo.

Không ít học viên theo học ông, cũng đã trở thành những nhạc sĩ trình diễn có hạng, sau này. Tính đến trước tháng 4, 1975, ông cũng là giáo sư thỉnh giảng về nhạc cổ Việt Nam tại các trường Quốc Gia Âm Nhạc và Ðại Học Vạn Hạnh. Trước đó, ông cũng thành công trong nỗ lực cải tiến sáo trúc từ 6 lỗ bấm ra 11 lỗ, 16 lỗ, để có thể trình tấu các loại nhạc mà, không làm đặc tính của cây sáo nguyên thủy.

Trong các năm 1994, 1998, 2000, 2002, nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa đã được trao tặng giải thưởng “Nghệ Sĩ Xuất Sắc” của Hội Ðồng xét định Maryland State Council, tiểu bang Maryland.
Tưởng cũng nên lập lại rằng, ông cùng gia đình trình diễn tại hàng trăm hý viện nổi tiếng ở Hoa Kỳ cũng như Canada. Ðó là các hý viện như Wolf Trap, Kennedy Center, Carnegie Hall, New York, Liberty of Congress tại Washington DC, International Folk Festival, v.v…

Một người con của nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa cho biết, trước khi gặp biến cố tai biến mạch máu não, (ngay trên sân khấu American History of Nature Museum” New York, ngày 11 tháng 5 năm 2003,) ông đã chuyển hóa tâm để vào cõi giới Thiền, với những ca khúc như “Cầu vồng ngũ sắc,” “Hành vân,” Lời một dòng sông,” vốn là một bài kệ của vua Lý Thái Tôn.

Nếu thỉnh thoảng chúng ta được nghe hay, đọc được ở đâu đó cụm từ “…là một mất mát không gì thay thế được,” thì ghi nhận này, ứng hợp hoàn toàn với tài năng và trí tuệ Nguyễn Ðình Nghĩa vậy.

(Du Tử Lê – Tháng 2, 2012)

Chú thích:

(1) Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba sinh năm 1914 tại Triệu Phong, Quảng Trị. Ông mất năm 1997 tại Sài Gòn.
(2) Học giả Vương Hồng Sển sinh năm 1902 tại Sóc Trăng. Ông mất năm 1996 tại Sài Gòn.

oOo

Gia đình Tiếng Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa (phần 6):

 

Gia đình Tiếng Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa (phần 8):

 

Gia đình Tiếng Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa (phần 9):

 

Hòa tấu Cảm Xúc Tây Nguyên – Đàn Trinh T’ram – Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt:

 

Hòa tấu Hát Mừng Anh Hùng Núp – Đàn đá – Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt:

 

Hòa tấu Hành Khúc Thổ Nhĩ Kì – Sáo Ngang 10 lỗ – Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt:

 

Hòa tấu Tây Nguyên Vẫy Gọi – Đàn Tre Lắc Sáo Vỗ – Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt:

 

Hòa tấu Trở Về Tây Nguyên – Đàn T’Rưng – Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt:

 

Hòa Tấu Cùng Hiệp Hội T’rưng – Nhật Bản – Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s