Nhạc cụ cổ truyền VN – Trống Chầu/Trống Đế

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một nhạc cụ chi gõ khác của người Việt/Kinh, Trống Chầu/Trống Đế.

Trống Chầu hay Trống Đế là nhạc cụ gõ, họ màng rung xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu đời. Trong nghệ thuật Chèo nó có tên là Trống Đế, còn trong Ca Trù nó có tên là Trống Chầu.

Đúng như tên gọi, Trống Đế làm nhiệm vụ Đế: có nghĩa là lót, là chỗ dựa, làm điểm xuyết cho diễn viên khi biểu diễn và ca hát trong nghệ thuật Chèo.

Trống Chầu/Trống Đế có hai mặt trống hình tròn, đường kính bằng nhau khoảng 15 cm. Mặt trống thường là da nách trâu nạo mỏng (rất dai và bền) đủ sức chịu đựng độ cǎng mặt trống. Đường viền da bịt mặt trống trùm xuống thân trống khoảng 3 cm, được đóng bằng đinh tre. Da trống căng nhưng phải định âm tương ứng giọng hát của diễn viên. Tang trống cao khoảng 18 cm, bằng gỗ mít nguyên khúc gọi là tang liền, song có khi bằng những mảnh gỗ mít chấp lại, sơn phết bên ngoài. Hai dùi trống dài khoảng 25 cm, bằng gỗ cứng. Phía đầu tay cầm to hơn phía đầu gõ vào mặt trống.

trongchau3

Âm thanh Trống Chầu/Trống Đế cao, vui, lảnh lót, hơi đanh nhưng gọn tiếng. Nghệ nhân đánh vào nhiều vị trí khác nhau trên trống tạo nên nhiều âm thanh khác nhau:

• Đánh vào giữa mặt trống, tiếng trống nghe vang, giòn.
• Đánh vào mặt trống nhưng giữ nguyên dùi, âm thanh sẽ khô, xỉn.
• Đánh vào cạnh mặt trống nghe như tiếng phách.

Khi được kết hợp tài tình kỹ thuật các lối đánh ở mặt và tang trống, gây ra sự đối lập nhưng lại luôn hài hòa về sắc thái cùng âm thanh:

• Ngón vê: Hai tay thay đổi nhau gõ thật nhanh và liên tục hai bên tang trống và trên mặt trống.
• Ngón nóc: Hai tay thay đổi gõ nhanh vào tang trống, nhưng thường là nǎm tiếng một, tiếng sau cùng có độ ngân bằng bốn tiếng đầu.

Trống Chầu/Trống Đế có ở Việt Nam từ lâu đời, được coi là nhạc khí gõ cao âm quan trọng, không thể thiếu trong Ca Trù và sân khấu Chèo truyền thống. Ngoài ra trống cũng được dùng trong một vài thể loại ca nhạc dân tộc khác như Chầu Vǎn nhưng không phổ biến bằng.

Dưới đây mình có bài “Âm nhạc lối hát ả đào – Trống chầu” cùng với 4 clips nghệ thuật diễn tấu Trống Chầu/Trống Đế trong Ca Trù và Dàn Nhạc Hát Chèo để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Ca Trù.
Hát Ả Đào.

Âm nhạc lối hát ả đào – Trống chầu

(Nguyễn Xuân Khoát)

Trong cuộc sinh hoạt của người Việt Nam ta, mỗi khi phải dùng đến âm nhạc thì thế nào cũng có “trống”.

Vào ngày hội ngày hè, kỳ sưu thuế, vụ đê điều thì chiếc “trống cái” oai nghiêm hay thúc giục đã làm vang động cả làng xóm; khi rước sách thì có bộ “trống cà rùng” long trọng và đường hoàng; buồn tẻ như chiếc “trống cơm”, “trống bản” thì dùng vào việc đưa đám; khi nào phải báo hiệu hay ra lệnh thì có chiếc trống khẩu, còn như hát Chèo, hát Tuồng, cúng bái, thì phải dùng tới mấy thứ trống một lúc cả “trống cái”, “trống đế” lẫn “trống cơm”. Riêng về lối hát ả đào này, có một chiếc “trống chầu” thôi (cao 15 phân, mặt rộng 15 phân).

Tuy ở người cầm trống, tiếng trống có khi nghiêm chỉnh, có khi cợt nhả (1), có khi câm (2), có khi vang nhưng bao giờ cũng có một công dụng rõ rệt: điểm mạch điệu khiến cho ta cảm thấy rõ ràng sự hết đoạn, sự hết câu.

Công dụng của tiếng trống chầu

Biết được công dụng chiếc cột của gian nhà gỗ, hiểu được tại sao cột lại phải là một cây gỗ vừa to vừa lớn và nhận được những chỗ cột phải dựng thì không có nhẽ nào lại không biết được sự ích lợi của tiếng trống, vì sao tiếng trống lại phải là một thanh-âm kêu và mạnh và những lúc nào phải điểm trống khi ta nghe âm-nhạc bằng con mắt nhà kiến-trúc, coi đoạn nhạc của lối hát Việt-nam này như là một gian nhà gỗ mà điệu phách là xà là ruỗi mà tiếng trống với tiếng chát (3) là cột là kèo.

Đọc tới đây chắc các bạn đọc âm nhạc Âu-Tây cũng thấy rằng tiếng trống của mình có một công dụng như những tiếng trầm (basses) trong âm nhạc Âu-Tây, chỉ khác là đằng này là một viên đá to và nặng dùng làm nền móng. Những tiếng bổng chìm cùng một hiệp âm (accord) trong một bản nhạc Âu-Tây đã xếp đặt lên nhau, đã hòa hợp vào với nhau như gạch, đá, vôi cát của một bức tường – Âm nhạc Âu-Tây là chiếc nhà gạch, âm nhạc Đông-Phương là gian nhà gỗ.

Tiếng trống trong khúc nhạc giáo đầu

Biết được chiếc xà dài ngắn tới đâu thì việc dựng cột cho chắc nhà không còn là khó nữa; nên ở khúc nhạc giáo đầu này tôi đã chỉ biên những điệu phách thôi, vì công việc bào gọt chiếc cột sao cho tròn cho ngay ngắn, đặt cột sao cho thoáng cho cân-đối nghĩa là công việc nắn nót tiếng trống sao cho xinh cho tròn điểm trống thế nào cho tài tình là thuộc về phận sự của người cầm trống.

Người cầm trống

Là một thính giả, nên ngoài cái phận sự một nhạc công, người cầm trống còn có phận sự một người biết nghe nữa; nghĩa là ngoài việc điểm cho đủ tiếng trống, có sáng kiến lựa chọn xếp đặt tiếng trống với tiếng chát4 có ý tứ biết bài nào nên dặm tiếng, bài nào nên thưa tiếng, bài nào phải đứng đắn, bài nào có thể bay bướm đùa rỡn được, người cầm trống còn phải biết chữ nào, tiếng hát nào, tiếng đàn nào nên thưởng nên khen nữa.

Có làm một nhạc công thì mới hiểu được rằng sự thông cảm của thính giả cần cho việc tấu nhạc là thế nào, cho nên thiết tưởng không còn có cách nào hoàn toàn, kín đáo, tỉ mỉ để tỏ rằng thính giả hiểu biết là giao cho thính giả một nhạc khí, buộc thính giả vào một chức vụ.

Một chức vụ không dễ dãi, không vắn tắt, không a-dua như việc vỗ hai bàn tay vào nhau để khen. Một chức vụ mà phải thính tai (khen tiếng đàn tiếng hát) phải thông minh (chọn khổ trống, chấm câu vǎn) phải mất nhiều công phu (gọt tiếng trống) phải có bản nǎng (cảm thấy điệu) phải có óc sáng tác (đặt bài hát, xếp tiếng trống) thì mới làm được trọn và lẽ tất nhiên khi đã cầm được trống hẳn là có nhiều thú vị.

Tiếng phách cuối cùng của khúc nhạc giáo đầu này đã gieo… Đào nương bắt đầu lên tiếng hát:

“Đàn ai một tiếng dương tranh?
Chưng thuở ngọc-ô chừng não nùng! Chiều ai oán!…”

__________________________
* Thanh nghị, số 17, 1942

(1) Có hai lối đánh chầu: Một lối đứng đắn thưa thớt, ít tiếng, dễ nghe, lối này khó, được nhiều người hoan nghênh; một lối cợt nhả gọi là chầu “sực-tắc” hay “cải-lương”, rậm tiếng; đào nương dễ hát, nhiều người không ưa. Thật ra lối này rậm tiếng quá thành ra cũng không còn có chỗ mà thưởng thức câu hát nữa, nhưng nếu điều độ một chút và đi với một bài hát vui vẻ có ý châm biếm hài hước thì dùng đến cũng hợp.

(2) Ngồi cầm trống cũng có hai cách: một cách lấy tay bịt mặt trống, đã nhiều người bỏ vì dáng ngồi hơi bị câu thúc, một cách không bịt mặt trống, trông có vẻ chững chạc hơn.

(3) Ngoài tiếng trống lại còn có tiếng chát dùng để khen thưởng tiếng đàn tiếng hát, để điểm câu vǎn và để chen vào với tiếng trống, thay đổi khổ trống. 4. Thay đổi tiếng trống với tiếng chát ta có thể tìm ra được từ một đến 5 tiếng, hơn hai chục khổ trống trong đó có hơn chục khổ thường dùng và đã thành tên như: Song châu, Liên châu, Xuyên tâm, Chính điệu, v.v…

oOo

Nhạc cụ dân tộc – Dàn nhạc Nhà Hát Chèo:

 

Giới thiệu NGHỆ THUẬT CA TRÙ (song ngữ Việt – Anh):

 

Ả phiền 36 giọng – Viện Âm Nhạc:

 

Thét Nhạc – Viện Âm Nhạc:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s