Nhạc cụ cổ truyền VN – Trống Bồng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Một nhạc cụ khác trong bộ gõ của người Việt/Kinh mình giới thiệu đến các bạn hôm nay, Trống Bồng.

Trống Bồng là nhạc khí màng rung, chi vỗ của dân tộc Việt/Kinh.

Trống Bồng là nhạc khí phổ biến tại Việt Nam, đồng thời ở một số nước khác ở Châu Á cũng có. Tang trống dài làm bằng gỗ cao 44cm, thắt eo ở giữa. Trống chỉ có một mặt được bịt bằng da trǎn, đường kính 21cm. Ở xung quanh tang trống có một hệ thống dây chằng bằng mây, có tác dụng làm cǎng, trùng mặt trống.

Ðặc điểm: Căng da trống bằng dây “xạ”, không dùng đinh đóng vào tang.

Diễn tấu Trống Bồng.
Diễn tấu Trống Bồng.

Khi diễn tấu, nhạc công dùng hai tay vỗ vào mặt trống phát ra hai âm thanh, một cao, một trầm. Âm thanh Trống Bồng đục, ít vang.

Trống Bồng thường dùng trong Dàn Nhạc Lễ Miền Nam, còn gọi là Dàn Nhạc Ngũ Âm, (thuộc nhóm Võ) và trong Dàn Ðại Nhạc của Cung Đình Huế, trong sân khấu Tuồng, Chèo, hoặc trong đám rước, lễ hội. Người đánh Trống Bồng thường có kết hợp múa.

Dưới đây mình có các bài:

– Bâng khuâng nghe nhịp “Trống Bồng” ngày xuân
– Thùng thùng trống đánh ngũ liên

Cùng với 3 clips nghệ thuật diễn tấu Trống Bồng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Viện Âm Nhạc Việt Nam & Th.S. Võ Thanh Tùng)

Múa trống Bồng trong hội làng Triều Khúc.
Múa trống Bồng trong hội làng Triều Khúc.

Bâng khuâng nghe nhịp “Trống Bồng” ngày xuân

(Bút ký của Khúc Hồng Thiện)

Quyển lịch thời gian đã lật sang tháng “củ mật” rồi mà xem ra tiếng trống Bồng làng Triều Khúc (Thanh Xuân, Hà Nội) vẫn yên ắng lạ lùng. Lại nghe đâu đó đã tắt lửa nghề, ra phố tìm phương kế mưu sinh. Lấy làm lạ, chúng tôi tìm về ngôi làng cổ đất kinh kỳ này để tìm hiểu với một niềm tin rằng, múa trống Bồng hay “Con đĩ đánh Bồng” – điệu múa cổ ấy đã tồn tại hàng ngàn năm thì đâu dễ gì bỗng chốc lại nhạt phai son phấn…

Theo các bậc cao niên trong làng thì điệu múa “Con đĩ đánh Bồng” đến giờ vẫn không xác định được chính xác có từ bao giờ, nhưng chắc nó không dưới 1000 năm tuổi và được xem là một trong những điệu múa cổ nhất của đất Thăng Long – Hà Nội.

Lặng lẽ lửa nghề

Đến Triều Khúc vào một ngày se lạnh, cữ này gió mùa đang về: “Trời không nắng cũng không mưa/ Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung”. Phải chăng chính cái tiết trời “hiu hiu rét” ấy thường gợi cho lòng người bâng khuâng nhớ về một thời quá vãng xa xôi. Mỗi vùng đất, qua thời gian, trải bao thế hệ đều sẽ để lại những chỉ dấu văn hóa đặc sắc.

Múa trống Bồng trong hội làng Triều Khúc

Và, miền quê Triều Khúc đã thu hút chúng tôi, bởi những trầm tích lịch sử, nơi có đền thờ Bố Cái Đại Vương linh thiêng cùng với điệu múa ngàn năm “Con đĩ đánh Bồng” đã trở thành hương hỏa ông bà bao đời để lại.

Khi hỏi thăm các cụ già trong làng về việc chuẩn bị cho điệu múa Bồng đầu xuân này tới đâu, thì nhận lại là những tiếng cười hóm hỉnh: “Cô cậu cứ vào gặp lão Hồng… Làng Bồng còn một “đĩ” Hồng ấy thôi”. Cô bạn đi cùng tôi nghe vậy liền quay đi đưa tay bụm miệng cười, đôi mắt long lanh.

Chúng tôi vòng ra bờ hồ giữa làng, trước cửa đền thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, gặp mấy bà, mấy chị đang đi chợ, hỏi thăm mấy anh là các thành viên trong đội múa Bồng ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội mấy năm trước. Nhưng được biết tất thảy đang bận làm ăn, người chạy chợ, hoặc đi phu hồ, hay chạy xe ôm… Chúng tôi thắc mắc: “Tết này Triều Khúc không múa Bồng nữa à các bác?” – “Cũng chịu thôi, cô cậu ra đình mà tìm cụ Lục, ông Hồng mà hỏi”.

Theo hướng chỉ tay, chúng tôi tìm ra đình làng, sân đình rộng và vắng ngắt. Chờ mãi mới gặp được bác trưởng thôn, may quá, bác vui vẻ: “Đi theo tớ, ông Hồng vẫn đang luyện múa Bồng đấy chứ, nhưng bí mật lắm!”.

Vẻ bí ẩn của bác trưởng thôn khiến chúng tôi không khỏi hồi hộp. Đi qua bao ngõ ngách ngoằn ngoèo, cuối cùng lại ra tới đầu làng, dừng lại trước cổng Trường THCS xã Tân Triều, bác trưởng thôn cười mủm mỉm, khoát tay: “Vào đây!”. Đến một phòng học, nghe ồn ào tiếng dậm chân, tiếng ông Hồng và khoảng 20 học sinh nam đang múa.

Thì ra ông Hồng đang dạy các điệu “Con đĩ đánh Bồng” cho đội thiếu niên này, các “con đĩ” đều non nớt hơn nhiều so với đội múa Bồng tráng niên năm trước. “Đây toàn là con em của Triều Khúc cả. Tập ở đây vừa rộng rãi vừa để các cháu đỡ ngượng, nếu tập ở sân đình thì hay bị trêu lắm!” – ông Hồng vui vẻ giải thích.

Múa trống Bồng vốn là điệu múa thích hợp với con gái vì bao giờ họ cũng múa dẻo và “lẳng lơ”hơn con trai. Do quan niệm xa xưa con gái không được bước vào chốn đình chung, nên múa trống Bồng chỉ chọn thanh niên trai tráng rồi đóng giả nữ.

Ngày xưa khi còn khó khăn, múa trống Bồng không cầu kỳ lắm về phục trang, nhưng càng về sau này phục trang được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, rồi cũng phấn son, cũng gương lược. Nam hóa trang thành nữ mà nhìn vào không ai nhận ra!

Gặp chúng tôi, ông Hồng như được dốc bầu tâm sự: “Mình phải đến từng nhà để vận động, không chỉ động viên các cháu mà còn thuyết phục phụ huynh nữa. Rằng, đây là việc làng, việc Thánh nên cứ thành tâm giúp làng cho cửa nhà mát mẻ. Đã là công việc chung thì không có gì phải nề hà cả”.

Lớp học múa trống Bồng được Ban giám hiệu Trường THCS xã Tân Triều hưởng ứng thành lập và mời ông Hồng hướng dẫn từ hồi đầu năm. Ông Hồng vừa đưa chân khoa tay làm vài động tác múa vừa nói, “Các cháu tiếp thu nhanh, cũng đã vài lần lên xã, lên huyện biểu diễn rồi đó cô chú ạ!”.

Vượt qua sự ái ngại ban đầu, các “con đĩ” bây giờ không còn ngượng ngập nữa, hình như những động tác càng thuần thục, uyển chuyển hơn, kết hợp với nụ cười tươi như hoa lúc nào cũng thường trực trên môi.

Vui buồn điệu múa

Theo các bậc cao niên trong làng thì điệu múa “Con đĩ đánh Bồng” đến giờ vẫn không xác định được chính xác có từ bao giờ, nhưng chắc nó không dưới 1000 năm tuổi và được xem là một trong những điệu múa cổ nhất của đất Thăng Long – Hà Nội.

Theo truyền thuyết thì Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng sau khi thắng giặc Đường ở thành Tống Bình (làng Triều Khúc ngày nay) đã nghĩ ra và sai nam giả nữ múa nhằm khích lệ và động viên quân sĩ. Từ đó đến nay, điệu múa cổ “Con đĩ đánh Bồng” được nhiều thế hệ Triều Khúc giữ gìn và phát triển.

“Con đĩ đánh Bồng” hay còn được gọi là múa Bồng (hoặc trống Bồng), là một tiết mục diễn xướng trong những hình thức nghệ thuật dân gian được lưu truyền và có những bản sắc riêng. Không giống như những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, điệu múa này chỉ nhằm mục đích phục vụ cho việc tế lễ Thành hoàng làng Triều Khúc (tức Phùng Hưng Bố Cái Đại Vương) mỗi năm hai lần vào tiết tháng Giêng và tháng Tám âm lịch.

Vì vậy, nó rất cầu kỳ và phức tạp. Không những thế, những nghệ nhân làng Triều Khúc còn cho biết: Điệu múa phải kết hợp làm sao cho nhuần nhuyễn giữa trống lệnh và tế lễ. Khi bên trong dâng tiễn rượu, thì bên ngoài múa Bồng, cứ ba tuần rượu là ba lần múa.

Tuy nhiên, đã là nam giả nữ thì cũng phải có tính nữ, vì thế múa Bồng là điệu múa lẳng lơ. Đây chính là nét độc đáo mà không một loại hình nghệ thuật nào trên đất nước ta có được.

Triều Khúc xưa có các nghệ nhân múa giỏi và theo đuổi điệu múa độc đáo này từ thời thơ ấu như cụ Bùi Văn Lục năm nay đã ngoài 80. Đáng ghi nhận nhất trong việc bảo tồn điệu múa cổ này ở Triều Khúc, phải kể đến nghệ nhân nay ngoài 60 tuổi Triệu Đình Hồng – người phụ trách đội múa.

Cụ Lục đã già không còn tham gia múa Bồng được nữa, nhưng mỗi lúc buồn chân, buồn tay, nhớ lại hồi trai trẻ, cụ lại chống gậy đi ra lớp tập múa mà ông Hồng đang hướng dẫn, thỉnh thoảng góp thêm ý kiến cho các cháu. Cụ Lục tâm sự: “Múa trống Bồng Triều Khúc thông thường có hai đôi là nam giới cải trang thành nữ chít khăn mỏ quạ, mặc áo váy, phấn son, đeo trống Bồng biểu diễn xen lẫn tiếng chuông trống.

Người múa trống Bồng có động tác đánh trống khoa rộng tay, nhấc chân cao bước rộng, người đảo phóng khoáng và khuôn mặt lúc nào cũng tươi như hoa. Đặc biệt có động tác dựa lưng vào nhau và múa uốn lượn lả lướt mang ý nghĩa hưởng thụ hạnh phúc”.

Gần cuối giờ tập, lúc chúng tôi sắp sửa ra về thì chợt thấy một thanh niên chạy xe máy đến. Ông Hồng giới thiệu là anh Nguyễn Văn Thích, đã ngoài ba mươi tuổi, một trong những “con đĩ” múa đẹp nhất đội Bồng. Anh Thích đi chợ về tiện đường rẽ qua đây xem các em múa, anh chia sẻ: “Chúng tôi đã rất thành thạo với điệu múa của làng rồi nên không cần phải tập nữa, cứ đến hội là diễn thôi. Điều mà tôi trăn trở nhất là lớp trẻ của làng sau này có tiếp nối được truyền thống nữa không…”. Anh nói rồi cười đầy tin tưởng.

Cứ nhìn chòm râu cụ Lục rung lên theo nhịp trống, nhìn ông Hồng còn linh hoạt trong từng động tác múa làm mẫu, gặp những người như anh Thích và thấy các em không còn ngượng nghịu trong mỗi động tác múa Bồng, chúng tôi tràn ngập hy vọng vào tương lai “Con đĩ đánh Bồng” sẽ vẫn tươi tắn như sắc đào mỗi khi mùa xuân về, hội làng lại mở.

Diễn tấu Trống Bồng.
Diễn tấu Trống Bồng.

Thùng thùng trống đánh ngũ liên

(GS TS Trần Văn Khê)

Trống là một nhạc khí dùng chia thời gian thành những quãng đều nhau hay không đều để tạo ra nhịp điệu, tiết tấu. Trên thế giới người ta chia trống thành hai loại: một mặt da và hai mặt da. Bộ phận quan trọng nhất là thùng trống có nhiều hình thức khác nhau (ống dài, tròn dẹp, lưng ong, thùng rượu) với cách đánh khác nhau (đánh bằng dùi hay vỗ bằng tay).

Kỹ thuật chế tạo trống: dán mặt da, đóng đinh, đóng cút, căng dây, và phong cách biểu diễn ở phần lớn các nước đều tương tợ nhau, chỉ khác nhiều về chức năng của trống.

Đặc sắc nhất có thể nói là Ấn Độ với những cách đánh từng loại trống rất tinh vi về nghệ thuật. Trống ở châu Phi thể hiện như ngôn ngữ trò chuyện, thậm chí đối thoại với nhau từ hai bên bờ sông.

Trống Ấn Độ.
Trống Ấn Độ.
Trống Phi Châu.
Trống Phi Châu.

Riêng trống của Việt Nam có một số điểm đặc biệt hơn ở các nước khác, với sự đa dạng về hình thức, độc đáo về màu âm và phong phú về chức năng mà trên thế giới ít nơi nào sánh bằng.

Hình thức đa dạng

Một trong những loại trống độc đáo của chúng ta là cái bồng, một nhạc cụ có vị trí rất đặc biệt trong Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình và Nhạc Lễ ở Miền Nam.

Bồng là loại trống một mặt, thân trống bằng gỗ hay đất nung hình dáng như cái bình, phía dưới bịt kín, phía trên miệng xoè có bịt miếng da trăn. Chung quanh vành da trăn xoi hơn 20 lỗ để lòn dây mây qua căng thẳng mặt trống và thắt chặt ở bên dưới. Một sợi dây mây khác cột miết các sợi dây chằng, khi siết mạnh mặt trống được căng ra và tiếng bồng cao hơn, khi buông thả ra thì tiếng trống trầm. Người sử dụng hoặc ngồi trên ghế kẹp bồng giữa hai đùi, hoặc ngồi xếp bằng để chiếc bồng thắt đáy lưng ong giữa hai chân, hai tay vỗ bồng.

Trống hai mặt thì Việt Nam có rất nhiều, thông thường chia ra hai loại tiểu cổ (trống nhỏ) và đại cổ (trống lớn).

Tiểu cổ tuy gọi là trống nhỏ nhưng bao gồm nhiều loại từ nhỏ cho đến vừa và hơi lớn.

Trống chầu trong Ca trù thuộc loại tiểu cổ, không có kích thước cố định mà chiều cao và đường kính khoảng chừng 20 phân, sử dụng một roi chầu dài để đánh theo phong cách rất riêng, roi trống song song với mặt trống và một tay vịn một tay đánh.

Trống đế trong Chèo cũng là tiểu cổ có hai mặt với đường kính từ 17 đến 20 phân, cao từ 22 đến 24 phân, sử dụng hai dùi và đánh cả trên bề mặt, ở mé trống và cả tang trống.

Nhỉnh hơn một chút có loại dùng trong Rỗi bóng là cái trống dẹp với phong cách đánh đặc thù được bà bóng sử dụng vừa đánh trống vừa hát trong các buổi lên đồng.

Lớn hơn nữa có trống chiến trong Hát bội (Hát tuồng), một tiểu cổ hình ống hai da, cao 45 phân, mặt trống có đường kính khoảng 50 phân và đánh bằng hai dùi.

Một loại trống đặc biệt không phải tiểu cổ cũng chẳng phải đại cổ là trống võ có mặt trong Dàn Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình hay Nhạc Lễ ở Miền Nam, đường kính từ 40 đến 45 phân, cao chưa đến 20 phân, đặt trên giá ba chân bằng gỗ.

Thông thường trống trong dàn Đại Nhạc hơi cao hơn trống của Nhạc Lễ, nhưng đường kính bề mặt lại nhỏ hơn đôi chút. Dàn Nhạc Lễ trong đám tang có một cặp trống nhạc gọi là trống văn và trống võ (hay trống đực và trống cái) bề cao 15 phân, đường kính 40 phân làm bằng da trâu, chính giữa mặt trống có vẽ vòng tròn âm dương, đặt trên một cái giá ba chân. Người đánh trống là nhạc công chánh nên lúc nào cũng phải mặc áo dài đen, quần trắng và sử dụng một cặp dùi đầu nhọn.

Đại cổ là trống chầu, có trong Hát Chèo, Hát Bội, Nhạc Cung Đình và trong tất cả các đền thờ miếu mạo ở miền Nam.

Ngoài ra có một loại trống khác mà ít người để ý là trống cơm, nguồn gốc từ miền Nam Ấn Độ gọi là trống Mridangam, trên mặt trống có một ít cơm nghiền hoặc miếng bột mì trộn nhuyễn như miếng bánh, dán lên làm cho tiếng trống êm ái hơn. Trống cơm là nhạc cụ quan trọng trong Nhạc Lễ và Hát Bội. Còn trong Hát Chèo thì trống cơm chỉ đóng vai trò đánh luồn vào đàn chớ không có bài bản riêng.

Trong âm nhạc truyền thống, trống hiện diện nhiều nhứt là trong Dàn Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình với đủ các loại từ đại cổ, tiểu cổ, cặp trống võ (trống lễ), đến bồng và trống cơm.

Độc đáo màu âm

Trống trong truyền thống Việt Nam có màu âm hết sức đa dạng, sự phối hợp cũng độc đáo với nhiều chức năng phong phú mà ít ai ngờ.

Trong Hát Bội cũng như trong Nhạc Lễ, màu âm của tiếng trống được sử dụng hết sức tinh vi, màu âm khác nhau thì mang ý nghĩa khác nhau.

Tong, thờn, tùng, thùng khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tang, táng, tỏng khi đánh vào vành da, đây là cách đánh sáng. Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trọng giận dữ, hốt hoảng. Tịch là một dùi chặn, một dùi đánh vào giữa mặt da, cũng gọi là cách đánh tối, khi nhân vật biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức. Cắc là đánh vào tang trống hay vào dăm gỗ khiến màu sắc của tiếng trống tươi tắn hơn, linh động hơn. Rù là hai dùi đánh mau và không mạnh lắm vào mặt trống. Khi đánh mau trong một chỗ gọi là tà roong, tà rờn, tà rùng, tà ráng …

Về kỹ thuật biểu diễn, trong các tiếng trống luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần một tiếng trống âm hay dương mà thôi. Phong cách này phù hợp với triết lý của dân gian quan niệm rằng vũ trụ có được do sự phối hợp của hai yếu tố âm và dương, tuy khác nhau nhưng không đối chọi mà bổ sung cho nhau.

Trong Hát Bội và Nhạc Lễ có các bài bản dành riêng cho trống với đầy đủ công thức như câu thủ (mở đầu), câu vĩ (kết thúc). Ngoài những nhịp điệu cơ bản, trống Việt Nam còn có những biến tấu, một khi nắm vững công thức đánh mở đầu và kết thúc thì đoạn giữa có thể ứng tác ứng tấu được. Vì vậy khi học đánh trống thì phải học chân phương, nhưng khi biểu diễn phải có thêm hoa thêm lá, thêm nhưn thêm nhuỵ cho đẹp hơn. Trong yếu tố về mỹ học cho phép người biểu diễn không cần giữ những công thức cố định mà có thể thay đổi cho sinh động.

Cách đánh này chỉ có trong truyền thống Ấn Độ và Việt Nam, còn các nước khác hầu hết đều phải cố định.

Chức năng đa dạng

Ở các nước, đa phần tiếng trống chỉ để phụ hoạ theo nét nhạc, làm thành tiết tấu của bản nhạc mà không có nhiều chức năng như trong truyền thống Việt Nam.

Trước đây, trống đại cổ không chỉ dùng trong các dịp lễ tế thần mà còn sử dụng trong đời sống hàng ngày như trống điểm canh để báo hiệu từng canh giờ trong đêm; hay dùng ở trường học những lúc khai trường, nhập học và tan lớp.

Ngoài ra, chiều về hễ nghe tiếng trống thùng thùng diễu qua các con đường làng thì mọi người đều nôn nao:

Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe tiếng trống chèo vác bụng đi xem

Mặt khác, mỗi khi có tiếng trống vang lên hồi một chính là để báo động các tai biến xảy ra trong làng xóm (cháy nhà, tai nạn, chết người …).

Thời chinh chiến, “thùng thùng trống đánh ngũ liên” ban hiệu lệnh xuất quân thúc giục người chiến sĩ lên đường ra trận giữ yên bờ cõi.

Điểm đặc sắc nhứt là vai trò quan trọng của trống trong các bộ môn nghệ thuật truyền thống như Ca trù, Hát bội, Chèo.

Chèo

Trống đóng vai trò không thể thiếu trong bộ môn nghệ thuật chèo, gồm một trống đại cổ gọi là trống cái (trống chầu) và cái trống đế.

Trống chèo có những chức năng khác như khi khai tràng (mở đầu) có tiếng trống chầu, trống đế (chèo). Đánh những bài đầu thì tiếng trống nổi lên hợp với tiếng mõ và tiếng la tạo ra một không khí sôi động để cho mọi người chú ý để mở màn.

Trống đế dùng hai dùi, khi đánh mau vào hai bên tang trống là róc tang; đánh vào giữa mặt trống là lên mặt; tay trái đè mặt trống, tay phải gõ dùi lên mặt trống la bịt mặt; hai dùi đánh mau trên mặt trống là đổ trống. Đánh theo nhịp gọi là đánh khổ trống với nhiều cách đánh từ đổ 2 nhịp, 4 nhịp, 6 nhịp đến 8 nhịp. Không phải chỉ đánh chân phương mà thường đánh hoa lá, thay đổi theo tình tiết của vở diễn, không khí trầm lắng hay rộn rịp của lớp trò và diễn tả được tâm trọng vui buồn của nhân vật.

Do trống đế là nhạc khí chủ đạo nên người đánh trống đế gần như là chỉ huy dàn nhạc. Người đánh trống càng tinh tế tài hoa thì diễn viên và dàn nhạc càng hứng thú và hiệu quả buổi diễn sẽ càng cao.

Trống Chầu.
Trống Chầu.

 

Hát Bội

Trong Hát Bội nhạc khí đặc biệt nhứt là trống chầu, một chiếc đại cổ đặt bên cạnh sân khấu kế bên dàn nhạc. Người đánh trống chầu không thuộc thành phần nhạc công trong dàn nhạc mà là người am hiểu nghệ thuật Hát Bội để vừa đại diện khán giả, vừa hướng dẫn người xem trong việc phê phán, khen chê một cách chính xác.

Người đánh trống chầu giỏi cũng phải am hiểu văn chương của tuồng để điểm trống cho đúng vì tiếng trống chầu cũng tựa như dấu chấm, dấu phết trong một câu văn. Đánh đúng cách, nói theo giọng nhà nghề là không “đánh lọt vào trong họng” của diễn viên, mà đôi khi còn “đỡ giọng” giúp cho đào kép bằng cách dùng tiếng trống phụ với dàn nhạc gây không khí sôi động cho sân khấu. Đánh một tiếng là điểm câu, hai tiếng là khen vừa, ba tiếng là khen nhiều.

Chính vì vậy ngày xưa trong làng hễ đêm nào nghe tiếng trồng chầu nhiều mọi người bảo nhau: “Chà, hôm nay tiếng trống chầu đánh nhiều, chắc là đoàn này diễn hay lắm, mai phải đi xem mới được”.

Ca Trù

Trong Ca Trù, ngoài đào nương ca, kép đờn đáy phụ hoạ còn có người đánh trống chầu, không chỉ thuần tuý đánh nhịp mà còn nhằm nhận xét, khen chê. Người đánh trống chầu phải là người thật am hiểu Ca Trù và thông thạo lề lối đánh trống, hễ đoạn nào ả đào (diễn viên) hát hay sẽ ngợi khen bằng cách gõ một bên tang trống gọi là Chát, hoặc đánh giữa mặt trống gọi là Tom (vì thế dân gian còn gọi việc đi nghe hát Ca Trù là thú Tom Chát). Có nhiều khổ trống dùng để khen giọng hát hát, tiếng đàn mang tên đầy thi vị như Song Châu, Liên Châu, Xuyên Tâm, Phi Nhạn …

Tóm lại, trên thế giới không có nơi nào có tiếng trống có nhiều cách đánh để bày tỏ sự khen ngợi như vậy, với nhiều công thức khác nhau như khen trước khi dứt câu khác với sau khi dứt câu, cách khen tiếng đàn cũng khác với khen giọng hát…

* * *

Có thể nói, xưa nay người Việt Nam khi thưởng thức âm nhạc ít lưu tâm đến tiếng trống, không cảm nhận được tầm quan trọng của trống trong âm nhạc truyền thống. Rõ ràng nhìn vào bề sâu mới thấy trống có vai trò chủ đạo, dẫn dắt trong sự biểu diễn của một số bộ môn chớ không chỉ đơn thuần đi theo, phụ họa.

Đáng tiếc là một số thanh niên chúng ta ngày nay chỉ mê trống Jazz mà chưa hiểu hết những nét đa dạng, phong phú, sinh động của tiếng trống Việt Nam. Một khi đã biết rồi chắc chắn chúng ta sẽ phải xem đó là một niềm hãnh diện, bởi tiếng trống và cách sử dụng tiết tấu là một trong những ưu thế của âm nhạc truyền thống Việt Nam.

oOo

Trống Bồng – NS Nhứt Dũng:

 

Triệu Đình Hồng – Người “giữ lửa” múa Trống Bồng:

 

Múa trống Bồng – Làng triều Khúc Hà Nội:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s