Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Lự

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Lự tiếp theo Dân ca Lô Lô.

Người Lự (còn gọi là người Lữ, người Nhuồn, người Duồn) là một dân tộc ít người sinh sống trong các quốc gia Thái Lan, Lào, Việt Nam và Trung Hoa. Tiếng nói chính thức của họ là tiếng Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, tuy nhiên, tại các quốc gia họ sinh sống, họ có thể sử dụng các ngôn ngữ chính thức tại mỗi quốc gia.

Vào thế kỷ thứ XII, những nhóm người Lự đầu tiên đã tới Điện Biên. Trải qua 19 đời chúa Lự thay nhau cát cứ vùng Mường Thanh (huyện Điện Biên), họ đã để lại các di tích như thành Tam Vạn (xã Sam Mứn ngày nay), các địa danh như Nà Lự (ruộng của người Lự).

Tại Lào, theo ước tính của Ethnologue thì có khoảng 134.100 người Lự (Ethnologue ghi là năm 2000) sinh sống tại các tỉnh Phongsali, Luang Namtha, Bokeo, Oudomxai, Xaignabouli, Luang Prabang.

lu4

Tại Thái Lan, theo ước tính của Ethnologue thì có khoảng 83.000 người Lự (Ethnologue ghi là theo ước tính năm 2001 của Johnstone và Mandryk) sinh sống tại các tỉnh Chiang Rai, Phayao, Lamphun, Nan và khắp miền bắc Thái Lan.

Tại Việt Nam, họ là một dân tộc được công nhận. Cư trú chủ yếu tập trung ở hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và một lượng đáng kể di cư vào tỉnh Lâm Đồng. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Lự ở Việt Nam có dân số 5.601 người, cư trú tại 21 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Phần lớn người Lự cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (5.487 người, chiếm 98,0% tổng số người Lự tại Việt Nam), Thái Nguyên (75 người), các tỉnh còn lại có không quá 10 người.

Người Lự gìn giữ nhiều lễ cúng đặc sắc, trong đó có thể kể đến lễ Căm Mường. Đây là dịp để người Lự dâng tế lễ vật, cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe, thần suối phù hộ cho người Lự no đủ, điều lành ở lại, điều dữ mang đi. Thường khi làm lễ xong, cả bản ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi và kiêng nội bất xuất, ngoại bất nhập từ 3 đến 9 ngày, gọi chung là “kiêng bản kiêng mường”.

lu8

Người Lự có truyền thống làm ruộng từ lâu đời. Họ biết dùng cày bừa, đào mương dẫn nước, gieo mạ, cấy lúa, nhưng lại không làm cỏ, bón phân. Họ còn làm thêm nương để trồng lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, bông, chàm và nhà nào cũng có vườn cạnh nhà. Người Lự có tập quán ăn cơm nếp là chính, thích ăn ớt, ưa uống nước chè và đàn ông thường hút thuốc lào. Trong các nghề phụ của người Lự thì nghề dệt phát triển nhất. Mỗi gia đình người Lự thường có vài ba khung cửi. Tài nghệ dệt, may, thuê đều khá cao, từ chiếc quần của đàn ông cho đến váy, áo, khăn của phụ nữ thường có hoa văn trang trí rực rỡ trên nền vải nhuộm chàm, nhất là trang phục ngày lễ hội càng được tranh trí nhiều và đẹp hơn.

Trai gái Lự được tìm hiểu nhau tự do rồi xin ý kiến cha mẹ để kết hôn, nhưng họ phải nhờ thầy số xem tuổi trước, nếu hợp tuổi mới lấy nhau. Con trai phải ở rể vài ba năm rồi ra ở riêng. Con lấy họ theo cha, tên con trai có chữ đệm Bạ, tên con gái có chữ đệm Yý. Người Lự sống tình nghĩa, thủy chung. Vợ chồng rất ít ly dị nhau, nếu trai bỏ vợ, gái bỏ chồng đều bị phạt nặng theo tập tục.

Người Lự ở nhà sàn, hai mái, mái phía sau ngắn, còn mái phía trước kéo dài xuống che cho cả hàng hiên và cầu thang. Cửa ra vào ở hướng Tây Bắc. Trong nhà có hai bếp, một bếp để nấu ăn và một bếp để đun nước tiếp khách.

lu9

Người Lự hay hát dân ca “khăp”, yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, các loại sáo, nhị, trống… Các trò chơi được ưa thích là kéo co, ném én; nam thanh niên thích múa gươm. Gần đây một số bản làng của người Lự ở tỉnh Lai Châu đã trở thành điểm du lịch văn hóa sinh thái hấp dẫn du khách quốc tế. Nét đặc biệt của người Lự là rất quý khách tới thăm nhà và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách chụp ảnh, tìm hiểu phong tục tập quán nhưng không đòi hỏi thù lao như ở nơi khác.

Dưới đây mình có các bài:

– Lai Châu: Người Lự với lễ hội Căm Mường độc đáo
– Độc đáo tục “nhuộm răng đen” của người Lự ở Lai Châu
– Trang phục Dân tộc Lự
– Kiến trúc nhà sàn độc đáo của dân tộc Lự

Cùng với 6 clips tổng thể văn hóa dân tộc Lự để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia & DTV)

Bên cạnh những nét đẹp văn hóa của dân tộc Lự như: kiến trúc nhà sàn, nghề dệt, tục nhuộm răng đen… Lễ Căm Mường không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, gắn với giữ rừng cấm, rừng thiêng mà còn là sinh hoạt cộng đồng gắn kết dân tộc. Ảnh Nguyễn Tuyên Dương.
Bên cạnh những nét đẹp văn hóa của dân tộc Lự như: kiến trúc nhà sàn, nghề dệt, tục nhuộm răng đen… Lễ Căm Mường không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, gắn với giữ rừng cấm, rừng thiêng mà còn là sinh hoạt cộng đồng gắn kết dân tộc. Ảnh Nguyễn Thế Dương.

Lai Châu: Người Lự với lễ hội Căm Mường độc đáo

(TH-Cinet-DTV)

Lễ Căm mường của người Lự (Lai Châu) là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần, nhằm mục đích cầu nguyện một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân bản yên vui no ấm…

Đồng bào Lự chiếm gần 2% dân số, sống chủ yếu ở huyện Sìn Hồ và huyện Tam Đường (Lai Châu). Dân tộc Lự thường cư trú dọc theo các con sông, khe suối. Từ xa xưa, với đời sống ổn canh ổn cư, đồng bào Lự đã biết canh tác lúa nước rất sớm, nên đời sống vật chất của họ tương đối ổn định. Vốn văn hóa tinh thần của dân tộc Lự rất phong phú đa dạng, còn giữ được những nét văn hóa riêng, mang đậm bản sắc dân tộc, đặc sắc và tiêu biểu nhất là Lễ Căm mường (hay còn gọi là Lễ Cấm bản).

Lễ hội Căm Mường chính là dịp để bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe, thần suối thần rồng phù hộ cho bà con dân bản no đủ, điều lành ở lại, điều dữ mang đi.

Lễ Căm Mường mang ý nghĩa tín ngưỡng, nên dân bản thực hiện rất long trọng và thành kính. Trước khi diễn ra, các gia đình phải làm hết việc đồng áng, nương rẫy. Mấy ngày cấm bản thì mọi người chỉ nghỉ ngơi, đi chơi, không phải lao động. Đồng thời, cấm các gia đình mua các thứ từ ngoài đưa về nhà, nên phải chuẩn bị lương thực, thực phẩm ăn uống trong những ngày cấm.

Mỗi gia đình người Lự sẽ cử ra một người đại diện là nam giới đi tham gia phần phụ lễ.
Mỗi gia đình người Lự sẽ cử ra một người đại diện là nam giới đi tham gia phần phụ lễ.

Lễ hội được tổ chức từ 30 tháng 12 đến 05 tháng 01 Âm lịch hàng năm gồm hai phần:

Phần lễ: Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ. Trong lời của thầy cả đề cập tới lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của việc làm lễ và những người sẽ được “thụ lễ” lần này.

Khi bắt đầu lễ các thầy lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn. Trong phần lễ này không có khèn, sáo, trống hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang. Bởi theo quan niệm của người Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng, mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí, linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn cầu của thầy cúng.

Người Lự có truyền thống làm bánh nếp để ăn, mời bạn bè, khách đến nhà chơi.
Người Lự có truyền thống làm bánh nếp để ăn, mời bạn bè, khách đến nhà chơi.

Người Lự ví lễ là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng tế trong buổi lễ. Những lễ vật này do dân bản tự nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ, già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc.

Người Lự có truyền thống làm bánh nếp (khẩu nép) để ăn, mời bạn bè, khách đến nhà chơi. Bản không cấm các gia đình mổ gà, mổ ngan, vịt… Nhưng ít ai làm thịt con vật, vì họ cho rằng ngày cúng lễ là cầu cho vật nuôi không bị dịch bệnh, phát triển tốt.

Tó cáy (chọi gà) - một trò chơi dân gian dân tộc Lự.
Tó cáy (chọi gà) – một trò chơi dân gian dân tộc Lự.

Phần hội:Các chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình. Những lời hát nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no hạnh phúc.

Cùng với các bài hát thì các trò chơi như kéo co, đẩy gậy. Nó thể hiện sức mạnh của mỗi người, đồng thời nếu ai thắng sẽ gặp may mắn trong năm tới, còn ai thua sẽ là gặp không may. Kết thúc lễ hội mọi người cùng té nước để cầu may, cũng như gột rửa những điều không may mắn.

Đối với người Lự, phụ nữ răng càng đen, càng bóng thì càng đẹp, càng hấp dẫn…
Đối với người Lự, phụ nữ răng càng đen, càng bóng thì càng đẹp, càng hấp dẫn…

Độc đáo tục “nhuộm răng đen” của người Lự ở Lai Châu

(TH-Cinet-DTV)

Nhuộm răng đen đã trở thành một tập tục văn hóa độc đáo của một số dân tộc. Đối với người Lự, phụ nữ răng càng đen, càng bóng thì càng đẹp, càng hấp dẫn…

Dân tộc Lự là một trong số ít các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam mà bản sắc văn hóa, lối sống, sinh hoạt và phong tục tập quán hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Người Lự cũng luôn đề cao đời sống văn hóa tinh thần, có cuộc sống lạc quan, yêu đời và rất dễ gần.

Đến bản người Lự ở xã Nậm Pam, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu bạn sẽ gặp rất nhiều phụ nữ nhuộm răng đen. Nếu như tục nhuộm răng ở người Kinh từ lâu đã không còn, thì cho đến nay, hàm răng đen bóng vẫn là một tiêu chuẩn của nhan sắc đối với người Lự. Phụ nữ Lự từ trẻ đến già đều nhuộm răng đen. Trên hàm răng đen nhánh hạt na ấy có hai cái răng cạnh bên phải được bịt vàng.

Các cô gái Lự ngày xưa muốn lấy được chồng không thể bỏ qua tục nhuộm răng đen hoặc cấy răng vàng. Nét cười mà khoe ra hàm răng đen, hay chiếc răng vàng thì dường như tươi tắn hơn trong mắt người Lự.

Giá trị thẩm mỹ của tục nhuộm răng đen, giờ đây, có thể người xuôi thấy lạc hậu, song người Lự thì khác, đó không chỉ là cách làm đẹp của riêng họ mà còn là sự tinh tế trong “bí quyết” nhuộm màu độc đáo đã thành truyền thống của dân tộc.

Từ năm lên 12, 13 tuổi thiếu nữ Lự đã bắt đầu nhuộm răng đen.
Từ năm lên 12, 13 tuổi thiếu nữ Lự đã bắt đầu nhuộm răng đen.

Từ những nguyên liệu như cánh kiến tán nhỏ, vắt nước chanh rừng để khoảng một tuần, khi được thì phết thuốc ấy vào hai mảnh lá cọ rồi ấp vào hai hàm răng vào lúc đi ngủ. Khi nhuộm răng thì phải kiêng nhai. Nhuộm như thế 5, 7 ngày cho răng đỏ già ra màu cánh gián thi bôi thuốc răng đen. Thuốc răng đen làm bằng phèn đen trộn với cánh kiến, nhuộm 1, 2 miếng là đen kịt lại, sau đó lấy dùng dao đốt nóng cho chảy nhựa ra, lấy nhựa ấy phết vào răng sẽ có một nụ cười độc đáo, nhất là vào dịp du xuân thì những nụ cười độc đáo sẽ tràn khắp bản…

Dường như người con gái Lự nhuộm răng đen để ý tứ giữ cho mình những nét duyên, giữ riêng cho người mình yêu những điệu Khắp Lử “Hát Lự” khi màn đêm buông xuống. Khi tiếng sáo “Pấu Pí” đôi của người con trai gửi tình cất lên dìu dặt. Điệu Pấu Pí Khắp như lời gửi tình của đôi trai gái đang tâm sự yêu đương.

Đối với đồng bào Lự, hay một số đồng bào thiểu số miền Tây Bắc, tục xưa đã gắn với bản, với dân tộc thì bằng mọi cách giữ tục như chính sự sống của họ. Giá trị thẩm mỹ của tục nhuộm răng đen giờ đây, có thể người xuôi thấy lạc hậu ở xu hướng tân thời, song đồng bào Lực thì khác, họ cho rằng, đó không chỉ là cách làm đẹp của riêng họ mà còn là sự tinh tế trong “bí quyết” nhuộm mầu của đồng bào mình nên cần lưu giữ một cách kỹ lưỡng.

Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là phong tục nhuộm răng đen đang bị mai một vì lớp trẻ của người Lự giờ không thích nhuộm răng đen. Bây giờ tìm trong bản những người nhuộm răng đen chỉ là phụ nữ có tuổi đời từ 35 trở lên.

Trang phục truyền thống dân tộc Lự.
Trang phục truyền thống dân tộc Lự.

Trang phục Dân tộc Lự

(TQ-DTV)

Từ xa xưa, nghề trồng bông dệt vải phát triển ở hầu hết các gia đình người Lự, mỗi gia đình người Lự thường có vài ba khung cửi.

Đa số phụ nữ ngư¬ời Lự thành thạo các công việc tằm tang, canh cửi và tạo mẫu hoa văn trên nền vải nhuộm chàm. Theo truyền thống, thiếu nữ Lự trước khi lấy chồng phải biết thêu thùa, dệt thổ cẩm, chính vì thế tài nghệ dệt, may, thêu đều khá cao, từ chiếc quần của đàn ông cho đến váy, áo, khăn của phụ nữ thường có hoa văn trang trí rực rỡ và đẹp mắt.

Phụ nữ Lự có bàn tay thêu thùa khéo léo, may, dệt trang phục cho cả gia đình, nhất là váy, áo, khăn của thiếu nữ về nhà chồng trong ngày hôn lễ được thêu hoa văn thổ cẩm trang trí trên nền vải nhuộm chàm rất đẹp. Và ở đâu cũng vậy, trang phục ngày lễ hội thường được trang trí cầu kỳ và tinh xảo hơn nhiều so với y phục mặc thường ngày.

Bộ nữ phục truyền thống dân tộc Lự gồm: khăn đội đầu, áo, váy, thắt lưng. Thường ngày, nữ giới mặc áo chàm, xẻ ngực. Váy cũng là trang phục rất được ưa chuộng của nữ giới

Trang phục Dân tộc Lự.
Trang phục Dân tộc Lự.

Váy có hai loại: loại váy mặc trong nhà và khi lao động, nửa dưới đen tuyền, từ đầu gối trở lên dệt các đường sọc ngang nhỏ, xen kẽ, nhiều màu sắc. Váy mặc trong ngày hội, gấu váy có thêu, phần giữa váy là các màu sắc (xanh, hồng, tím, vàng), đoạn từ thắt lưng trở lên dệt nối tiếp một đoạn. Cũng có kiểu đoạn giữa váy không dệt mà đoạn trên dệt dài hơn, phủ xuống tận gấu váy hình thành 3 đoạn hoa văn. Đây là kiểu váy hai lớp.

Phụ nữ Lự còn đeo các vật trang sức khác nhau bằng kim loại quý, đá hoặc ngà voi được chạm khắc rất tinh sảo và đầu đội khăn cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn thổ cẩm bổ dọc rất đẹp mắt. Đôi khi đồ trang sức đính đầy vào áo, váy. Ví dụ đính tiền bạc trắng vào áo, váy trong những ngày lễ. Nam, nữ đều đeo vòng tay. Nét đặc trưng nhất giúp dễ dàng phân biệt phụ nữ Lự với phụ nữ các dân tộc khác là bộ răng đen. Họ cho rằng, nhuộm răng càng đen càng đẹp, về già răng càng chắc, càng khoẻ.

Trước kia, đàn ông Lự có tục để tóc dài, xăm mình, xâu tai và nhuộm răng những tập tục này giờ đây đã dần mai một. Chiếc quần đen của nam giới rất giống với quần của nam giới người Thái, người lào nhưng từ đầu gối trở xuống hẹp hơn và có thêu nhiều hoa văn. Đặc biệt phải kể tới chiếc áo của nam giới thường ngày (dệt bằng vải thô), mặc ngày hội (dệt bằng tơ lụa). Đây là loại áo xẻ ngực, chỉ ngắn ngang thắt lưng. Với những kiểu chắp nối, áo cắt may khi trải ra tạo thành hình bán nguyệt. Khi mặc, thân phải lót vào trong, còn thân trái bắt chéo sang phải buộc bằng những sợi vải tết thành tua nhiều màu. Đàn ông Lự còn đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen và thường đeo gươm không chỉ để để tự vệ mà còn là tập quán trang trí của người Lự.

Một ngôi nhà sàn người Lự ở bản Hon 1, xã Bản Hon, huyện Tam Đường.
Một ngôi nhà sàn người Lự ở bản Hon 1, xã Bản Hon, huyện Tam Đường.

Kiến trúc nhà sàn độc đáo của dân tộc Lự

(Vân Anh-BLC)

Đến các bản làng người Lự, dù là bản Hon, Pa Pe (huyện Tam Đường) hay vùng thấp huyện Sìn Hồ thì chúng ta cũng luôn thấy những mái nhà sàn san sát và thường quay mặt về hướng Bắc, tạo nên nét riêng biệt, khó quên.

Một ngày đầu tháng 7, chúng tôi có dịp đến bản Hon 1, xã Bản Hon. Khi được biết chúng tôi muốn tìm hiểu về kiến trúc nhà sàn của người Lự, anh Lò Văn Hiềng – Cán bộ văn hóa xã đã dẫn chúng tôi đi trên con đường nông thôn mới sạch sẽ, uốn lượn quanh co, leo bậc thang vào những ngôi nhà sàn kiên cố, vừa để tìm hiểu, vừa để cảm nhận sự yên bình của bản văn hóa.

Qua quan sát, chúng tôi thấy kiến trúc nhà của người Lự là nhà sàn, căn nhà sàn của họ cũng giống như nhà sàn của người dân tộc Thái, song nhà có hai mái, mái phía sau ngắn hơn, còn mái phía trước kéo dài xuống che cả hàng hiên và cầu thang lên xuống. Cửa ra vào của nhà chủ yếu mở theo hướng Bắc. Gầm sàn sạch sẽ, hầu hết các gia đình dùng làm nơi để trữ củi khô, khung cửi và một số đồ dùng khác.

Cầu thang lên nhà thì chỉ có 1 chứ không có 2 như nhà sàn của người Thái hướng từ phía sau nhà đi lên, theo bà con thì để cầu thang như vậy là để tránh những điều không may mắn cho gia đình. Đặc biệt là số bậc cầu thang nhà luôn là số lẻ, ví dụ 7, 9 bậc chứ không cầu thang nhà nào có số bậc thang chẵn.

Bên trong nhà sàn của người Lự thường dành 1 gian giữa để thờ cúng và con dâu trong gia đình không được vào gian này. Nhà bếp thì nối trực tiếp với căn nhà chính, do vậy khi bước chân vào nhà thì thấy ngay nhà ở và nhà bếp là một thể liên hoàn chứ không tách rời nhau.

Dưới những ngôi nhà sàn thoáng mát bà con người Lự se tơ, dệt vải.
Dưới những ngôi nhà sàn thoáng mát bà con người Lự se tơ, dệt vải.

Anh Hiềng cũng cho biết, để làm một ngôi nhà sàn thì người Lự phải chuẩn bị vật liệu từ 2-3 năm. Trong thời gian này những người đàn ông trong nhà thường lấy gỗ trên rừng hoặc đi mua về rồi tự đục, bào từng phần theo dự định cho đến khi đủ thì mới tiến hành. Vì vậy, nghề mộc cũng là một trong những nghề thủ công truyền thống của người Lự, là một trong những tiêu chí để đánh giá khả năng của người đàn ông trong gia đình và cộng đồng có tháo vát hay không. Đàn ông người Lự ai cũng biết làm nhà, căn nhà sàn là một trong những sản phẩm mộc quan trọng nhất, thanh niên từ 16 tuổi trở lên đều phải cầm rìu, cầm đục, bào để làm nghề mộc. Tuy nhiên trong việc dựng nhà thì phải luôn dựa vào sự liên kết của cả cộng đồng.

Còn về việc tại sao không ở xa xa nhau để còn tranh thủ đất làm ruộng vườn quanh nhà thì anh Hiềng chia sẻ, là người Lự, anh cũng chỉ biết rằng từ xa xưa người già trong bản vẫn dạy bảo con cháu của mình rằng, người Lự có truyền thống coi trọng tình làng nghĩa xóm. Ở bản anh mỗi khi có gia đình có việc hiếu hỷ thì cả bản đều đến thăm hỏi, giúp đỡ, chia sẻ. Do vậy có thể hiểu rằng, việc xây dựng các ngôi nhà trong bản thường rất gần nhau trong một không gian vừa phải là để vừa tiện cho việc sinh hoạt, vừa tiện cho việc liên lạc, giúp đỡ nhau những khi cần thiết.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết thêm, hiện nay ở trong cộng đồng người Lự, do việc khai thác gỗ không còn thuận lợi như xưa nữa, việc dựng một ngôi nhà sàn theo kiến trúc nhà truyền thống là rất khó khăn, tốn kém. Vậy nên nhiều gia đình chuyển sang làm nhà đất giống nhà cấp bốn của người dân tộc Kinh bởi vì loại nhà này vừa tốn ít gỗ mà giá thành làm nhà lại rẻ. Do vậy, việc tuyên truyền đẩy mạnh phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững để người dân tộc Lự có điều kiện gìn giữ những nếp nhà truyền thống là việc quan trọng, để bên cạnh những thế mạnh khác của du lịch cộng đồng thì ấn tượng về những ngôi nhà sàn độc đáo của người Lự trở thành một trong những điểm hút du khách bốn phương đến với Lai Châu.

oOo

Văn Hóa Dân Tộc Lự:

 

Lễ cấm bản của người Lự:

 

Độc đáo trang phục của đồng bào Lự:

 

Múa xèo dân tộc lự – Em về làm dâu núi rừng:

 

Mùa xuân vùng cao – Dân ca Lự:

 

Xuân về trên Bản Lự:

5 cảm nghĩ về “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Lự”

  1. Chị Phượng ơi,

    Giai điệu đầu của clip “Múa xèo dân tộc lự – Em về làm dâu núi rừng” (20 giây đầu) nghe giống bài Inh lả ơi của dân ca Thái phải không chị?!

    Inh lả ơi – Xuân Mai

    Em đọc phần giới thiệu thì thấy: “tiếng Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái”. Nên có lẽ vì vậy mà dân ca Lự mang chút âm hưởng của dân ca Thái.

    Các dân tộc anh em có văn hóa vừa kết hợp vừa đặc trưng thú vị quá chị nhỉ.

    Em cám ơn chị ngày ngày chia sẻ tình yêu quê hương đất nước qua âm nhạc.

    Chúc chị luôn vui khỏe ạ.

    Like

  2. Hi Thu Hương,

    Em giỏi thật. Chính xác như em đã khám phá đấy Hương ạ. Chính vì ngôn ngữ của hai dân tộc này cùng ngữ hệ nhóm Tày-Thái nên văn hóa của họ có phần kết hợp nhưng vẫn giữ nét đặc trưng khá thú vị. 🙂

    Hương cũng yêu quê hương đất nước của em có kém chi ai đâu chứ. Em đã thể hiện tình yêu này thông qua sự theo dỏi và tìm hiểu chi tiết về kho tàng văn hóa truyền thống của dân tộc mình bấy lâu nay. 🙂

    Người đời thường nói: “Bất cứ người nào nói rằng ‘Tôi yêu dân tộc, quê hương đất nước của tôi’ mà lại ‘không hề biết đến & không hề yêu thích dân ca dân nhạc đặc thù truyền thống của dân tộc mình’ thì không thể gọi là ‘yêu quê hương đất nước được!’.”

    Chị rất vui có Hương luôn chia sẻ và đồng hành, Chị cám ơn em. XO

    Like

  3. Chị chào Dính,

    Chị không biết em muốn tìm bài nào. Nhưng cho dù là bài nào thì em cũng có thể vào Google để tìm trên mạng. Nếu em tìm không ra thì chị cũng không thể giúp em được vì chị cũng tìm từ Google mà thôi.

    Chúc em may mắn Dính nhé.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s