Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 2 (PHẦN 19)

Người dịch: Nguyễn Thùy Dương
Biên tập: Đào Thu Hằng

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 2: Phương Pháp Và Tâm lý Của Sự Trì Hoãn
(Phần 19)

2C. Hội chứng tự kỷ của thị trường: Bốn lời nói dối lan truyền bởi sự cạnh tranh từ năng lượng tái tạo (tiếp theo)

Chuyện hoang đường về sự cạnh tranh

Năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo đang không cạnh tranh trong một sân chơi bình đẳng. Trong hơn một thế kỉ, năng lượng truyền thống đã thụ hưởng sự hỗ trợ chính trị dưới nhiều hình thức; từ một số lượng gần như không thể tin được những khoản trợ cấp trực tiếp hay gián tiếp cho đến các điều luật và đặc quyền.

Ví dụ như nhìn vào nước Đức với luật khai mỏ và hàng thập kỉ trợ giá cho những mỏ than lên tới hàng trăm tỉ; sự ủng hộ công nghệ hạt nhân và Đạo luật Năng lượng nguyên tử chiếm gần như tất cả chi phí phát triển và trách nhiệm pháp lý phải gánh chịu từ các công ty năng lượng cho đến ngày hôm nay; những điều khoản miễn thuế đối với việc xả thải vĩnh viễn hiện đã ở mức hơn 30 tỉ euro, những điều khoản này có thể được sử dụng khi các công ty năng lượng thấy hợp lý và do đó sinh lời từ việc miễn thuế một cách hiệu quả; miễn thuế nhiên liệu nguyên tử và lãi suất ưu đãi đối với khoản vay xây dựng nhà máy điện hạt nhân; cơ sở hạ tầng tài chính hào phóng đến mức không thể so sánh được của các trung tâm nghiên cứu hạt nhân cỡ lớn; cùng với những đóng góp của các thành viên cho Cơ quan Năng lượng nguyên tử Châu Âu (Euratom) và Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA), nơi chỉ riêng nước Đức đã đóng góp hơn 1.3 tỉ euro kể từ năm 1957.

Những đặc quyền hợp pháp kể từ những thập kỉ độc quyền cung cấp điện và khí ga tại địa phương đã chặn lại mọi sự cạnh tranh, cho đến việc xây dựng miễn phí các mạng lưới đã mở đường cho việc vận hành các nhà máy điện cỡ lớn và sự cung cấp khí ga. Ngày nay sự thiên vị chính trị chủ yếu diễn ra dưới dạng miễn thuế nhập khẩu nhiên liệu. Khoản trợ cấp quốc tế gián tiếp lớn nhất là việc miễn thuế cho nhiên liệu hàng hải và hàng không, tương ứng với khoản hao hụt thuế thu nhập thường niên trên 300 tỉ đô la Mỹ.

Tất cả những điều đó, cùng với nhau, đã phục vụ cho việc tập trung công nghiệp năng lượng và cho phép những mô hình độc quyền phát triển. Đến lượt mình, điều này cho phép lợi nhuận độc quyền, lên tới 20 tỉ Euro mỗi năm chỉ tính riêng đối với bốn công ty năng lượng của Đức.

Sự tự do hóa các thị trường điện và khí ga được Liên minh Châu Âu (EU) đưa ra năm 1996, đã làm tăng tốc thay vì cản trở quá trình phát triển này. Trong bối cảnh này, việc yêu cầu năng lượng tái tạo phải bị bỏ mặc cho chìm hoặc để tự bơi trên thị trường mở, và chỉ trích các điều luật được thiết kế để thúc đẩy năng lượng tái tạo như là chống cạnh tranh, thuần túy là sự chỉ trích đầy hoài nghi..

Các điều luật thị trường được thiết kế để thúc đẩy năng lượng tái tạo là điều kiện tiên quyết sống còn cho sự triển khai năng lượng tái tạo. Các điều luật không xâm phạm nguyên tắc thị trường tự do; mà phục vụ cho việc đền bù những khoản trợ cấp khổng lồ và những đặc quyền mà công nghiệp năng lượng truyền thống đã và đang tiếp tục nhận được. Các điều luật này là những phương tiện để tạo ra các điều kiện của thị trường tự do, vì chúng phục vụ cho sự tái thiết lập một phạm vi đa dạng những nhà cung cấp trên thị trường và đáp ứng những nhu cầu khác.

Lựa chọn duy nhất là chấm dứt ngay lập tức các đặc quyền đang tiếp diễn của năng lượng truyền thống và yêu cầu các công ty năng lượng hoàn trả lại các khoản trợ cấp trong quá khứ. Tuy nhiên, sẽ là không khả thi để tính toán những khoản trợ cấp với sự chính xác đầy đủ, cũng như việc thực hiện sự thu hồi đầy đủ khoản trợ cấp. Không có căn cứ nào để phải cắn rứt lương tâm khi đề cập đến những đặc quyền thị trường dành cho năng lượng tái tạo. Ngược lại, đây là cách duy nhất chúng ta có thể đền bù cho những sự mất cân bằng và độc quyền đã được thiết lập.

Điều chúng ta thất bại để tính đến: Chi phí xã hội

Theo lý thuyết, các thị trường cạnh tranh có chức năng xã hội bởi chúng làm tăng năng suất của các nhà sản xuất, giảm giá thành và khuyến khích sự phân phối tối ưu các nguồn đầu tư. Tuy nhiên, điều này chỉ có thể áp dụng với các sản phẩm có chức năng xã hội.

Thế nhưng chúng ta đã nhận thức được từ lâu rằng giá thành của nhiên liệu hạt nhân và hóa thạch không phản ánh được bản chất về “sự thật sinh thái” (ecological truth) của chúng, dùng từ của Ernst Ulrich von Weizsacker. Nền công nghiệp năng lượng đã được thiết lập tiếp tục được xã hội trợ cấp, cả ở hiện tại cho tới nhiều thế hệ tương lai, bởi những tác động dài hạn gây hại đến môi trường. Các khoản trợ cấp này có độ lớn khổng lồ, mặc dù chúng không thể được tính toán chính xác và những tính toán về hiệu suất năng lượng thì bị lờ đi một cách vui vẻ.

Dựa vào những chi phí được cân nhắc như tác hại đến sức khỏe, tài nguyên rừng, nguồn cung cấp nước, tài nguyên đất và núi, sự suy giảm đa dạng loài, cũng như sự gia tăng tác hại từ bão, lũ lụt và hạn hán gây ra bởi biến đổi khí hậu, cũng như dựa vào các mức thuế của chúng, các khoản trợ cấp dao động trong phạm vi từ 10 đến 20 lần so với các chi phí vận hành quốc tế để sản xuất năng lượng.

Một số dạng sản phẩm năng lượng sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo cũng có thể có chi phí xã hội. Đây chủ yếu là trường hợp của nhiên liệu sinh khối, ở nơi không được đền bù bằng cách trồng lại, và với vụ mùa năng lượng phát triển theo dạng độc canh, sử dụng lượng lớn quá mức phân bón và thuốc trừ sâu, với mức tiêu thụ nước lớn ảnh hưởng tới mức nước ngầm, hay việc sử dụng các hạt giống biến đổi gen.

Xây dựng những vùng chứa cỡ lớn làm thay đổi nghiêm trọng quang cảnh, và việc chuyển hướng các dòng sông cũng có thể tạo ra chi phí xã hội. Giải pháp ở đây là sử dụng các phương pháp trồng trọt bền vững để tránh được phần lớn những vấn đề này, hoặc đảm bảo rằng những thiệt hại chúng gây ra rất nhỏ so với thiệt hại do phương pháp sản xuất năng lượng từ hạt nhân và hóa thạch. Ngược lại, các chi phí xã hội của việc sử dụng các nguồn năng lượng truyền thống là cực kỳ đáng kể và không thể tránh được.

Có một nghịch lý là năng lượng tái tạo, với những tác động tới môi trường tối thiểu, lại có chi phí cao hơn trên thị trường so với năng lượng truyền thống vốn có các chi phí xã hội cao. Đối với bất kì loại sản phẩm nào khác, sự không nhất quán như vậy đã phải được tuyên bố từ lâu là không thể chấp nhận được. Đòi hỏi những cơ hội thị trường tương đương cho cả nước uống bị ô nhiễm và nước sạch, hay cho thực phẩm trẻ em nhiễm bẩn và không nhiễm bẩn sẽ gặp phải sự phản đối ồ ạt. Gia súc thậm chí còn bị xẻ thịt hàng loạt để bảo vệ quần thể khi các dịch bệnh gây chết lan tràn.

Lý do kiểu này xa lạ với những “kẻ canh gác thị trường năng lượng” và những đánh giá kiểu này sẽ bị giảm giá trị căn cứ vào việc chúng mâu thuẫn với những nguyên tắc thị trường tự do. Những đặc quyền của thị trường chính trị đối với sản xuất năng lượng, dù có hay không bao gồm các chi phí xã hội đã bị hạn chế, đã tạo ra những nhân tố thiết chế của kinh tế thị trường xã hội, ở đó, cuối cùng những chi phí xã hội của năng lượng hạt nhân và hóa thạch cũng buộc phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc.

Bởi vậy, Đạo luật các nguồn năng lượng tái tạo của Đức (EEG), ví dụ như luật ưu tiên mua bán điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo và đảm bảo giá thành (giá được trả bởi tất cả những người tiêu thụ điện) không phải là một dạng trợ giá như là điều thường xuyên bị tuyên bố một cách đầy trách móc. Đây thực ra là “điểm cộng môi trường” trong tiếp thị điện năng không-phát-thải và bảo vệ tài nguyên. Thậm chí đây là phương tiện nâng cao an ninh năng lượng, bởi vì năng lượng được sản xuất ở địa phương và từ các nguồn không cạn kiệt, khiến đạo luật đồng thời trở thành “điểm cộng về an ninh năng lượng”.

Nhưng các điểm cộng này sẽ hoàn toàn không cần thiết khi trong tương lai dự đoán được, giá thành của điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo sẽ giảm xuống mức bằng với năng lượng truyền thống. Tuy nhiên, những đòi hỏi từ nhiều người tán thành năng lượng tái tạo cho những điểm cộng kiểu này vẫn còn quá hạn chế, vì năng lượng gây hại cho xã hội có giá thành không cao hơn năng lượng mang lại lợi ích cho xã hội. Nguyên tắc kinh tế đã được tuyên bố về việc so sánh sự ưa thích với sự không ưa vẫn sẽ còn tồn tại.

Chừng nào các dạng năng lượng truyền thống vẫn còn được sử dụng, chừng đó vẫn cần phải có một chính sách trợ giá lâu dài cho loại năng lượng không phát thải hoặc ít phát thải. Điều này chỉ có thể đạt được nhờ các công cụ như Đạo luật các nguồn năng lượng tái tạo của Đức (EEG) hay dưới dạng giảm thuế, tương đương với độ lớn của những chi phí xã hội đã bị né tránh.

Chỉ khi đó chúng ta mới đạt tới một hệ thống thị trường xã hội hợp lý. Sự ưu đãi mà năng lượng tái tạo có được trên thị trường cần được nhìn nhận như một nhân tố tích hợp bên trong của hệ thống thị trường xã hội thay vì một giải pháp đặc biệt và nhất thời. Do đó tất cả những người tiêu thụ điện sẽ tự động trở thành những “người tiêu thụ điện sinh thái”, sử dụng những nguồn cung cấp điện từ năng lượng tái tạo trước nhất, trước khi dùng đến năng lượng sản xuất từ các nguồn truyền thống. Giao ước thu mua như vậy hoàn toàn không bất thường, thực chất, chính cách dùng từ “trợ giá” là một sự lừa dối có chủ tâm.

Không một ai mô tả các quy định về tiết kiệm năng lượng cho các tòa nhà, bảo hiểm ô tô bắt buộc với trách nhiệm pháp lý của bên thứ ba, bảo hiểm nhà, bảo hiểm sức khỏe bắt buộc hay phí xử lý rác là những dạng trợ giá, dù trong công nghiệp xây dựng, hay những công ty bảo hiểm, hay những tổ chức xử lý rác. Mỗi hình thức này lúc nào cũng được xem như việc công ích hay việc cần thiết mà từ đó tất cả chúng ta được hưởng lợi ngang nhau, và do đó không thể để cá nhân quyết định là có đầu tư tài chính hay không.

Đây đặc biệt chính là trường hợp của năng lượng tái tạo. Những nhà lý thuyết thị trường không nhận ra điều này là đang sống trong một hành tinh khác. Thứ chúng ta gọi là “tự do mới” thực ra là một nỗ lực không đủ để giải quyết những vấn đề kinh tế vĩ mô sử dụng cách tiếp cận vi mô. Trong công nghiệp năng lượng, kiểu tiếp cận này sinh ra những chi phí xã hội cao mà không được bao gồm trong giá thành năng lượng, và làm tổn hại nghiêm trọng đến mức sống của xã hội.

(còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s