Đạo đức là nền

Tác giả: GS.TS Cao Huy Thuần

(VEF) – Nhấn mạnh nền tảng văn hóa bao nhiêu cũng không đủ trong tình trạng làm giàu vô kỷ luật ở ta. Trên thửa đất trống đạo đức, ai thừa cơ múa gậy vườn hoang nếu không phải là tham nhũng?

Ngôi đền Kofukuj hàng ngàn năm tuổi (ảnh NYT)

LTS: GS.TS Cao Huy Thuần sinh ra tại Huế, là sinh viên Viện Đại học Huế trước khi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Paris đầu năm 1969. Sau đó, ông là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về Cộng đồng châu Âu tại Đại học Picardie.

Hiện ông là giáo sư giảng dạy tại Đại học Picardie, Pháp. Cùng với những trí thức Việt kiều khác, ông thường xuyên về Việt Nam tham dự các cuộc hội thảo về các lĩnh vực chính trị, xã hội.

Ông đã in rất nhiều tác phẩm bằng tiếng Pháp về khoa học chính trị và quan hệ quốc tế. Với tiếng Việt, ông cũng đã in và viết rất nhiều bài báo tại Việt Nam và được đánh giá là các tác phẩm văn chương chính trị, điển hình, như Thượng đế, Thiên nhiên, Người, Tôi và Ta (Triết lý luật và tư tưởng Phật giáo); Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam; Từ Đông sang Tây (chủ biên); Tôn giáo và xã hội hiện đại…

Trong bài tham luận “Từ bao giờ và bằng cách nào, người Nhật thoát khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc” gửi Hội thảo hè năm 2010 tại Philadelphia (Mỹ), GS Cao Huy Thuần đã phân tích những biến hóa tư tưởng của hai học giả Nhật Sorai và Norigana, để tìm hiểu tại sao, vào thế kỷ 17-18, xã hội Nhật còn đóng, cô lập với thế giới nhưng tư tưởng lại có thể mở, đi trước thời đại và chính nhờ đó, vua Minh Trị đã dám quả quyết mở nước Nhật cho thế giới bên ngoài.

Nếu bài viết đó dựa trên một công trình nghiên cứu bác học, theo tác giả, bài viết này tóm tắt một tác phẩm luận đề. Cả hai đều giống nhau trên cùng một quan điểm: hiện đại hóa không nhất thiết đồng nghĩa với Tây phương hóa.

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam (VEF) – Báo VietNamNet xin trân trọng giới thiệu với độc giả.

Bất cứ ai đã từng dạo chơi vào môn xã hội học đều biết luận thuyết trứ danh của Max Weber: chủ nghĩa tư bản đã phát triển được ở châu Âu là nhờ ảnh hưởng tác động của đạo đức Tin Lành. Khám phá này, tuy chẳng phải là định lý có thể giải thích tất cả như một định lý khoa học, nhưng đã rọi ánh sáng vào một yếu tố then chốt của quá trình phát triển kinh tế: yếu tố đó là văn hóa. Giữa phát triển kinh tế và môi trường văn hóa, tương quan rất khăng khít.

Theo gót Weber, nhiều tác giả đã thử rọi thứ ánh sáng đó vào các trường hợp phát triển kinh tế khác. Nhật Bản là trường hợp điển hình. Là quốc gia đầu tiên phát triển thành công lên kinh tế tư bản trong một bối cảnh văn hóa khác Tây phương, kinh nghiệm Nhật Bản vừa có thể chứng minh luận thuyết của Weber vừa nới rộng luận thuyết đó bằng cách thay thế đạo đức Tin Lành bởi đạo đức Khổng giáo. Michio Morishima là tác giả danh tiếng đã thử làm công việc đó trong những năm 1980, khi Nhật Bản đang vươn lên đến bậc cường quốc kinh tế thứ hai sau Mỹ. “Tại sao Nhật Bản thành công?” là nhan đề quyển sách của ông[1]. Để củng cố công trình lý thuyết của ông, Morishima phải giải quyết vấn nạn đầu tiên: Khổng giáo là triết lý của Trung Hoa, vậy tại sao Trung Hoa lại lệt đệt như vịt bầu trong khi Nhật Bản cất cánh như diều hâu? Trả lời của tác giả dựa trên Weber: giống như thánh kinh là một, nhưng Thiên chúa giáo và Tin Lành giải thích hai cách khác nhau, Khổng giáo là một nhưng Nhật giải thích không giống Tàu. Khổng giáo làm nền tảng cho phát triển kinh tế ở Nhật, vì vậy, là Khổng giáo Nhật Bản, không phải Khổng giáo ở chính quốc. Hai thứ đạo đức khác nhau tạo ra hai cá tính dân tộc khác nhau, đưa hai nước đi theo hai con đường riêng trên quá trình hiện đại hóa, anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa Khổng giáo đôi ta có thế thôi. Cũng vậy, thứ Khổng giáo đặc biệt Nhật Bản đó, thứ đạo đức đặc biệt Nhật Bản đó, thứ cá tính dân tộc đặc biệt đã làm Nhật Bản là Nhật Bản đó, tóm lại, thứ văn hóa nền tảng đó, cũng đã làm tư bản chủ nghĩa ở Nhật phát triển không giống ai, nghĩa là không giống tư bản chủ nghĩa ở chính quốc Tây phương.

Đó là hai phần trong thuyết giảng của Morishima về phát triển kinh tế của Nhật. Hai phần như hai mặt của một đồng tiền duy nhất, đồng tiền đạo đức Khổng giáo Nhật Bản. Mặt thứ nhất cắt nghĩa Khổng giáo Nhật khác Khổng giáo ở Trung Quốc thế nào. Mặt thứ hai cắt nghĩa như thế nào tư bản Nhật khác tư bản gốc.

Khổng giáo Nhật Bản

Nhật là hòn đảo, đại dương cách biệt, chẳng núi liền núi sông liền sông, nên khi Khổng giáo đến Nhật thì cách hiểu cũng chẳng liền nhau. Đức Khổng dạy: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Học ngài, Trung Hoa đặt “nhân” lên hàng đầu, quan trọng nhất trên tất cả mọi giá trị. Cũng học ngài, Nhật không nhấn mạnh “nhân” mà lại xem trọng nhất là “trung”. Khổng Tử cũng dạy trung hiếu tiết nghĩa, nhưng cốt tủy trong triết lý của ngài vẫn là nhân. Khác biệt đó là căn bản, giải thích tất cả, theo Morishima.

Vua Minh Trị, trong huấn lệnh ban cho quân sĩ, sắp hạng lại năm giá trị của Khổng giáo theo thứ bậc khác: trung, lễ, dũng, tín và đạm bạc. Không chỗ nào nói đến nhân. Quân đội cũng như toàn thể dân chúng, năm giá trị đó áp dụng như nhau. Mà điều đó cũng chẳng có gì mới: từ xưa đã vậy, chỉ càng ngày càng rõ hơn, khi nước Nhật đi vào hiện đại hóa.

Ý nghĩa của “trung” cũng khác nhau giữa Nhật và Trung Hoa. Ở Trung Hoa, “trung” còn hàm nghĩa thành thật với lương tâm. Trung với chúa có khi đặt vấn đề trái hay không trái với lương tâm của mình. Ở Nhật, ai cũng hiểu “trung” là tận tâm tận lực phò chúa cho dù phải hy sinh thân mạng, chuyện lương tâm không đặt ra. Ý nghĩa đó sâu đậm trong những năm cuối cùng của triều đại Tokugawa rồi phổ thông trong thời Minh Trị. Trung thành với chủ, hiếu để trong gia đình, tôn trọng bậc trưởng thượng: đó là ba giá trị chỉ huy các mối quan hệ trên dưới trong xã hội, đặt cơ sở trên quyền lực, huyết thống, tuổi tác. Trong suốt lịch sử của Nhật, cá nhân chủ nghĩa chẳng bao giờ phát triển, cho nên tự do chủ nghĩa cũng chưa hề có đất đứng.

Khác nhau trên bậc thang giá trị, Nhật Bản và Trung Hoa còn khác nhau trên định chế chính trị. Trung Hoa cai trị bằng một bộ máy quan liêu hoàn toàn dân sự, cho dù lãnh thổ thống nhất hay chia năm xẻ bảy giữa các chư hầu. Ở Nhật, trái lại, chỉ một dòng họ trị vì suốt lịch sử, nhưng từ 1192 đến 1867, quốc gia đặt dưới hai trung tâm chính trị khác nhau, một dưới quyền uy hữu danh vô thực của thiên hoàng, một dưới thực quyền của Tướng Quân, trung tâm thứ nhất gồm quan chức dân sự, nhưng trung tâm thứ hai là bộ máy cai trị quân sự do giới võ sĩ lãnh đạo. Triều đại Tokugawa (1603-1867) là mô hình rõ nhất của chế độ quân sự: các tướng quân cầm đầu một bộ máy hành chánh võ sĩ cha truyền con nối.

Tôn giáo của vua là thần đạo, nhưng ý thức hệ chính trị của cả hai trung tâm là Khổng giáo. Trung Hoa, như vậy, là một quốc gia Khổng giáo và dân sự; Nhật Bản là một quốc gia Khổng giáo và quân sự. Đặt nặng trên “nhân”, Khổng giáo ở Trung Hoa phù hợp với đặc tính dân sự của chế độ chính trị. Đặt nặng trên “trung”, Khổng giáo của Nhật đáp ứng đặc tính quân sự của xứ sở võ sĩ. Đạm bạc là giá trị của con nhà võ, cung đình ở Nhật không có thái giám và ba ngàn cung nữ. Trên nguyên tắc, võ sĩ chỉ ngủ với thanh gươm.

Vừa thờ thiên hoàng vừa thờ tướng quân, làm thế nào anh võ sĩ thời Tokugawa dung hòa được lòng trung thành với cả hai? Bằng cách triệt để tôn trọng thứ bậc, đẳng cấp. Anh võ sĩ quèn ở cấp dưới trung thành với tiểu tướng quân của anh ở cấp trên trực tiếp; anh tiểu tướng quân trung thành với cấp trên trực tiếp là đại tướng quân; đại tướng quân trung thành với thiên hoàng. Bằng thứ bậc trung thành như thế, toàn thể dân chúng, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, trung thành với vua. Dù quyền uy chính trị nằm trong thế lưỡng đầu, đạo đức trung thành vẫn không gặp mâu thuẫn, ít nhất là trên lý thuyết.

Cả lý thuyết lẫn thực tế, nếu Khổng giáo Trung Hoa được xem như là “nhân bản”, thì Khổng giáo Nhật Bản đúng là mang tính dân tộc chủ nghĩa. Một dân tộc chủ nghĩa lúc đầu hãy còn đậm bản năng tự vệ, phát sinh do mặc cảm tự ty về văn hóa so với văn minh Trung Hoa. Yếu kém, lạc hậu về văn hóa, Nhật phải xác nhận đặc tính dân tộc của mình là dũng khí và kỹ luật đạm bạc. Cũng vậy, cũng vì tự ty mặc cảm đối với tiến bộ Tây phương hồi thế kỷ 16, Nhật phải canh tân trên cùng cơ sở văn hóa dân tộc chủ nghĩa ấy để lấp đầy khoảng trống cách biệt.

Trong khi guồng máy quan chức Trung Hoa rung đùi với thơ phú, guồng máy võ sĩ đạo của Nhật chú mục vào khí giới của Tây phương, mà khí giới là khoa học, kỹ thuật. Từ đó, nẩy mầm một đặc điểm mấu chốt của chủ nghĩa tư bản Nhật: khác với động lực tự do cá nhân đã thúc đẩy tư bản chủ nghĩa ở Tây phương, ở Nhật động lực là quyết tâm của giới lãnh đạo phải bắt kịp cho bằng được tiến bộ quân sự, khoa học, kỹ thuật của phương Tây. Cá nhân ở đây không phải là giá trị tối thượng như trong triết lý Tây phương mà phải biết hy sinh để phụng sự lý tưởng chung: “trung” là vậy. Là vậy, đó là xương sống của chủ nghĩa tư bản Nhật.

Khác về giá trị xử thế, khác về định chế xã hội, Nhật còn khác Trung Hoa về cấu trúc xã hội. Sĩ, nông, công, thương là bốn giai cấp trong xã hội Trung Hoa, trong đó sĩ đứng đầu, cung cấp nhân sự cho guồng máy chính trị và hành chánh. Ở Nhật, sĩ cũng đứng đầu, nhưng quý vị này không phải là các nhà nho mà là samourai. Trung dũng là giá trị của họ. Triều đại Minh Trị mở rộng giai cấp võ sĩ này ra bằng cách phổ biến Khổng giáo và mở mang giáo dục phổ thông cho đến tận hang cùng ngõ hẻm.

Ngày trước, Khổng giáo chỉ hạn chế trong giới thượng lưu, bây giờ làng xóm đều mở trường dạy học, con trẻ đâu đâu cũng ê a chữ nghĩa thánh hiền. Đồng thời với phát triển kinh tế, trình độ học thức của giới võ sĩ cũng được nâng lên. Trước, võ sĩ quèn nhiều anh mù tịt chữ; bây giờ anh buộc phải học. Ba giới kia, nông công thương, nếu có học thức cũng được xem trọng như võ sĩ, xếp hàng ngang nhau. Từ đó, pha trộn xã hội đã xảy ra từ cuối triều đại Tokugawa: một anh nông dân có học xin đeo chiếc nhẫn cưới vào ngón tay của cô quý nữ con nhà samourai là chuyện vui vẻ cả làng. Giáo dục càng được dân chủ hóa với Minh Trị, giai cấp võ sĩ sùng Khổng càng nới rộng ra: Khổng giáo trở thành ý thức hệ phổ thông. Ý thức hệ đó tồn tại song song với thần đạo, tôn giáo của thiên hoàng mà dân chúng tôn thờ.

Hậu quả của tình trạng đó là thăng tiến xã hội, thăng tiến giữa hàng ngũ võ sĩ cũng như thăng tiến giữa các giai cấp khác. Điều này cắt nghĩa tại sao sau khi chủ nghĩa tư bản đã được an bài ở Nhật dưới thời Minh Trị, người Nhật không xem kinh tế tư bản như thiết lập trong nước họ, khác với Tây phương, một xã hội giai cấp với hai giai cấp đối nghịch nhau, tư bản và công nhân. Với giáo dục được mở rộng và hiện đại, con cái của các giai cấp dưới đều có điều kiện để học lên cao, đều được bổ nhiệm vào những chức vụ tương xứng, chẳng có kính hiển vi nào chiếu vào lý lịch.

Ở đền Kasuga, Nhật Bản, trẻ em ăn mặc như võ sĩ samurai và tập luyện cho lễ hội tôn giáo (ảnh NYT)

Thăng tiến xã hội; giáo dục hiện đại, phổ thông; hành chánh lành mạnh, hữu hiệu; lãnh đạo sáng suốt; nhân dân kỹ luật; than ôi, sao người ta làm ăn hay thế nhỉ? Phát triển kinh tế là cái xác, người ta biết thế. Cho nên, than ôi, người ta cũng biết chú trọng cái hồn. Vì vậy, than ôi, ông Minh Trị kia mới dám đưa ra khẩu quyềt để đời: “hồn Nhật, kỹ thuật Tây”. Bên trong ông mạnh nên bên ngoài ông mới thắng. Hình như bí quyết nào cũng đơn giản thế thôi.

Minh Trị và tư bản Nhật

Cách nhìn vấn đề như đã nói ở trên chia lịch sử nước Nhật ra làm hai thời kỳ: từ thế kỷ thứ 6 đến giữa thế kỷ 17 khi nước Nhật ý thức được hiểm họa an ninh đến từ Trung Hoa; thời kỳ thứ hai bắt đầu với cuối trào Tokugawa khi hiểm họa an ninh đến từ yếu kém khoa học, kỹ thuật. Hai thời kỳ được khâu lại với nhau bằng một sợi chỉ điều văn hóa: đạo đức Khổng giáo được dân tộc hóa, quân sự hóa.

Với đạo đức đó, Minh Trị phát triển kinh tế. Lịch sử phát triển có thể chia ra ba giai đoạn: giai đoạn một kéo dài đến cuối thế giới chiến tranh thứ nhất; giai đoạn hai nằm giữa hai chiến tranh; giai đoạn ba sau khi Nhật thất trận. Trong thời kỳ đầu, chủ nghĩa tư bản Nhật là chủ nghĩa tư bản Nhà nước, xây dựng trên việc thành lập những xí nghiệp công, hiện đại, tầm vóc khổng lồ, tổ chức hoàn bị, kỹ luật chặt chẽ, phát động tinh thần thượng võ sẵn có. Đâu phải dễ dàng gì lúc đầu, cái gì cũng thiếu, thiếu doanh nhân đã đành, thiếu cả nhân viên, thiếu cả công nhân có tay nghề. Chuyện đầu tiên là tìm nhân viên ở đâu? Tất nhiên trong giới võ sĩ. Do đó, hồi mở đầu, các doanh nghiệp Nhà nước nhận giới võ sĩ vào làm nhân viên. Giới này làm việc với tinh thần võ sĩ đạo của họ, nghĩa là vì chủ quên mình, và chủ ở đây là Nhà nước, là lý tưởng dân tộc.

Công nhân cũng thiếu, tìm đâu? Tìm cả nữ, và nữ công nhân được tuyển trong gia đình giới võ sĩ cấp dưới. Còn nam? Hai vấn đề phải giải quyết: một là kiếm cho ra số lượng công nhân có tay nghề, hai là kiếm ra rồi thì phải giữ họ thật lâu để tránh họ vượt biên qua hãng khác. Đào tạo công nhân có khả năng là bước đầu tiên. Công việc đó được trao cho giáo dục. Tuy vậy, lúc đầu tình trạng khan hiếm công nhân chuyên môn trầm trọng đến mức các xí nghiệp phải “ăn cắp” công nhân lẫn nhau. Giáo huấn, tôi luyện tính trung thành với xí nghiệp coi bộ chưa đủ, trung thành bèn được củng cố thêm bằng một biện pháp cụ thể: trả lương hậu. Từ đó, bắt đầu xuất hiện chính sách trả lương theo thâm niên.

Khởi thủy, biện pháp đó được áp dụng cho nhân viên bàn giấy trong các đại xí nghiệp, nghĩa là đa số các võ sĩ thời đại mới. Các xí nghiệp nhỏ và vừa không đủ sức để mua trung thành theo kiểu đó. Bù lại, các xí nghiệp lớn buộc nhân viên và công nhân phải làm việc suốt đời với hãng. Nhảy rào qua hãng khác bị xem như một hành động phản bội, và kẻ phản bội không bao giờ được tha thứ trong xã hội võ sĩ. May lắm là anh phản bội kiếm được chỗ dung thân trong một xí nghiệp tư nhỏ và vừa.

Nói một cách khác, có hai thị trường lao động. Thị trường thứ nhất mở rộng thường xuyên, gồm các xí nghiệp nhỏ và vừa. Thị trường thứ hai chỉ mở ra một lần duy nhất trong đời của các anh kẻ sĩ Nhật. Một lần tuyển dụng là trăm năm chăn gối. Anh gắng học cho giỏi, đỗ thật cao, xuất thân từ trường danh tiếng, thế là anh mới có triển vọng được tuyển dụng. Tuyển xong, liệu cái thần hồn, đừng hòng mơ tưởng ly dị với ly thân. Tầng lớp thượng lưu trong thế giới kỹ nghệ Nhật không có chút tự do nào trong đời sống nghề nghiệp. Hoàn cảnh của họ y hệt như cha ông họ trước đây, tôi ngay trung thành một chúa.

Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, các cường quốc tư bản Tây phương xâu xé nhau, kinh tế Nhật thừa cơ chiếm lĩnh thêm thị trường. Sản xuất, sản xuất, sản xuất tăng gia không ngừng, nhân công lại thiếu. Thể thức thâm niên được nới rộng ra thêm, áp dụng cho cả công nhân. Như vậy có phản kinh tế chăng? Có hại cho việc sinh lời chăng? Chẳng lẽ lương cao chỉ vì tuổi tác? Vì sống lâu lên lão làng? Hay là phải hạ mức lương khởi đầu, khi tuyển dụng, để mức lương cuối không quá cao? Cũng không ổn, vì giới trẻ, khi bắt đầu vào nghề, tội gì không chọn chỗ nào trả lương cao?

Biện pháp cuối cùng đề ra là đặt nặng việc đào tạo nghề nghiệp trong nội bộ xí nghiệp. Công nhân được đào tạo tại chỗ, trẻ học tay nghề, già truyền kinh nghiệm, trẻ khởi hành với việc tay chân, già từ từ kết thúc với việc phối hợp, điều khiển. Giữa trẻ với già, ngay cả trong xí nghiệp, giá trị Khổng giáo vẫn giữ được trọn tình trọn nghĩa. Vì vậy, trong nội bộ xí nghiệp, sự phân biệt giữa hai hạng công nhân, làm việc tay chân hay không, không rõ ràng. Người thợ không có ý thức phân minh về chuyên môn nghề nghiệp; ý thức rõ ràng nhất trong đầu họ là làm việc cho xí nghiệp nào. Suốt đời họ làm việc cho xí nghiệp ấy, từ việc tay chân qua việc không tay chân, chính xí nghiệp định đoạt thay cho họ công việc mà họ làm, họ làm suốt đời cho xí nghiệp, trung thành với xí nghiệp, chứ không phải suốt đời cho một nghề, trung thành với một nghề. Điều này cắt nghĩa tại sao phong trào thợ thuyền yếu đến thế ở Nhật. Nâng cao tinh thần tranh đấu với cái búa không phải là việc của chàng công nhân; việc của chàng là nâng cao hiệu quả qua không khí làm việc trong xí nghiệp, tình đồng đội đồng sở, tình gia đình, tình gia trưởng.

Bởi vậy, các xí nghiệp lớn đi xa hơn nữa trong chính sách đào tạo nghề nghiệp nội bộ.  Họ mở trường dành riêng cho nhân viên. Hiệu quả sản xuất tăng vọt so với các xí nghiệp vừa và nhỏ. Lương cũng vậy. Lúc đầu, lương ở các xí nghiệp Nhà nước vượt lương ở các xí nghiệp tư nhân, dần dần khoảng cách cũng diễn ra giữa các xí nghiệp tư nhân với nhau. Cái này lôi kéo theo cái khác: hiệu quả kinh tế cao kéo theo lời cao, lời cao kéo theo lãi cao, lãi cao kéo theo tích lũy tư bản cao, kéo theo canh tân kỹ thuật, kéo theo hiệu quả kinh tế, và cứ thế vòng tròn xoáy ốc tái diễn. Nghĩa là gì? Là lương cao vượt xa các xí nghiệp nhỏ. Mà đâu phải chỉ lương: còn bao nhiêu lợi ích xã hội khác nữa đãi ngộ nhân viên. Chưa đủ, các xí nghiệp lớn còn đào tạo luôn cả tính nết của nhân viên, nâng cao kiến thức văn hóa, truyền đạt nghệ thuật làm chủ. Đến mức họ có cả một đội bóng, một câu lạc bộ thể thao, một hội thơ văn, những buổi trà đạo, hoa đạo. Rồi họ hoạt động như một ngân hàng tiết kiệm, nhận tiền ký thác của nhân viên với mức lãi cao hơn bên ngoài, như một hãng bảo hiểm, như một hợp tác xã, cung cấp dịch vụ tốt hơn, gần gũi hơn.

Với bao nhiêu lợi ích đó, nhân viên, công nhân gắn bó với xí nghiệp suốt đời. Không chừng hơn cả cưới nhau. Khi dạm mặt – nghĩa là tuyển dụng – xí nghiệp xem thử anh chàng ứng viên kia tính nết thế nào, trung thành hay không, keo sơn đến đâu, ấy là chuyện chính. Khả năng nghề nghiệp tính sau. Tư bản chủ nghĩa ở Tây phương đâu có chơi kiểu đó!

Gia trưởng là tinh thần làm việc trong xí nghiệp, giống như trong gia đình. Xí nghiệp là một gia đình đoàn kết trên dưới. Toàn thể nhân viên trong xí nghiệp là một ê kíp, đối đầu với các xí nghiệp khác, cũng như một ê kíp. Trăm người như một. Giữa nhân viên, đồng nghiệp, không có tranh đua cá nhân, chỉ một lòng hợp tác, tương trợ, tranh đấu tập thể. Làm việc trong xí nghiệp cũng giống như làm việc trong cảnh sát, quân đội. Vinh quang không phải dành cho cá nhân mà cho tập thể. Cá nhân hài lòng khi lòng trung thành được chứng tỏ. Nếu cần, sẵn sàng làm thêm giờ không thù lao. Nếu đội bóng của hãng cần mình đến cổ võ, phải biết sẵn sàng bỏ một cuộc hẹn cuối tuần với cô bạn gái. Những cử chỉ trung thành như thế, hãng sẽ không quên, sẽ tưởng thưởng xứng đáng. Trong bối cảnh xã hội như vậy, kẻ nào rêu rao tự do cá nhân, kẻ ấy chỉ có thể là tên phản bội, khiêu khích, tự mình cô đơn hóa số phận.

Tây phương không thể hiểu nổi thứ hợp đồng lao động đó. Trung thành là giá trị tột bậc. Mà, học cho kỹ nhé, thị trường trung thành chỉ mở ra một lần duy nhất trong đời anh samourai tân trào. Nếu vô phúc anh không thích chủ nữa, tương lai duy nhất của anh sẽ y hệt anh samourai cựu trào, nghĩa là samourai vô chủ, xách kiếm lang thang giết mướn chém thuê. Xưa cũng như nay: hai thị trường lao động song song, ai muốn tự do cứ tìm trên thị trường lính thuê. Nhưng thị trường này chỉ dành cho những kẻ đã hỏng chân trên thị trường trung thành. Tự do, đâu có phải ai cũng biết chết với nó!

Tóm lại, hai cấu trúc xí nghiệp tồn tại song song. Cạnh tranh có không trong tư bản Nhật? Có, và khiếp lắm. Nhưng cạnh tranh giữa các xí nghiệp, không phải giữa các cá nhân. Mỗi xí nghiệp là một xã hội riêng, tổ chức đủ mọi hoạt động, lo lắng cho nhân viên cả phần xác lẫn phần hồn. Chủ nghĩa tư bản Nhật là tư bản “dân tộc chủ nghĩa, gia trưởng chủ nghĩa, phi cá nhân chủ nghĩa”.

Nhưng đừng quên: mục tiêu của Minh Trị là xây dựng một Nhà nước hiện đại. Các xí nghiệp có bổn phận góp phần vào lý tưởng đó. Giống như các Tướng Quân ngày xưa, trung thành với Nhà nước là nỗi lòng của xí nghiệp. Cạnh tranh nhau, được. Nhưng khống chế Nhà nước, không. Chưa đầy 50 năm, Nhật trở thành cường quốc.

****************

Bài tóm tắt nhỏ này được viết không ngoài mục đích bổ túc thêm cho một bài viết đã được phổ biến vài tháng trước đây dưới nhan đề: “Từ bao giờ và bằng cách nào Nhật Bản thoát ra khỏi quỹ đạo văn hóa của Trung Quốc?”

Bài viết kia dựa trên một công trình nghiên cứu bác học. Bài viết này tóm tắt một tác phẩm luận đề. Cả hai đều giống nhau trên cùng một quan điểm: hiện đại hóa không nhất thiết đồng nghĩa với Tây phương hóa. Nhưng luận đề thì dễ bị bắt bẻ từ căn bản. Ngoài những bắt bẻ mà Weber đã nhận lãnh, hoặc đúng hoặc sai, trình bày của Morishima còn bị thêm nhiều phản biện khác. Có cần phải viện dẫn Khổng giáo để giải thích chính sách cứng rắn của Minh Trị trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa? Có nước chậm phát triển nào không can thiệp gân guốc như vậy để cất cánh kinh tế, kể cả nước Đức, kể cả nước Nga? Mà Nhật đâu có phải chỉ có Khổng giáo? Đâu là ảnh hưởng của thiền tông trên tinh thần võ sĩ đạo? Nơi nhan đề của quyển sách, tác giả đã đặt hai chữ thành công trong ngoặc kép: “Tại sao Nhật Bản “thành công”?. Ông biết dân tộc chủ nghĩa và quân sự chủ nghĩa đã đưa nước Nhật đến thảm họa nào. Và ông cũng biết thành công kinh tế của Nhật cũng xây dựng trên sự khai thác nông dân và công nhân.

Tất cả những điều đó đã khiến tác giả phải xác nhận ngay trong phần mở đầu và lặp lại trong phần kết thúc: “Lịch sử nước Nhật là một lịch sử đặc biệt”. Những giá trị văn hóa làm nòng cốt cho phát triển kinh tế cũng là những giá trị riêng biệt của Nhật. Hạn chế tầm nhìn như vậy thì giảm giá trị phổ quát của một luận đề mà Weber muốn chứng minh, nhưng lại có cái lợi là cũng hạn chế chỉ trích.

Bởi vì, dù sao đi nữa, không ai chối cãi được tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong quá trình cất cánh kinh tế. Trước Morishima, một tác giả Mỹ, Robert Bellah, đã trình bày cùng một quan điểm trong quyển sách của ông, “Tokugawa Religion” (Beacon Press, Boston, 1957). Không ai bác bỏ được mấy câu mào đầu của Morishima trong nhập đề: Nếu các biến đổi về những điều kiện vật chất có thể dần dần làm thay đổi những đặc điểm văn hóa, thì ngược lại, “cấu trúc kinh tế và những quan hệ kinh tế cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những giá trị đạo đức của một dân tộc. Nhiều trường hợp cho thấy dù cho những điều kiện vật chất có giống nhau đến mấy đi nữa, cái gì xảy ra được ở Nhật có thể không xảy ra ở Tây phương và ngược lại”.

Nhấn mạnh nền tảng văn hóa đó bao nhiêu cũng không đủ trong tình trạng làm giàu vô kỷ luật ở ta. Nhưng vừa nói xong thì đã nghẹn lời. Ai có chút lòng với đất nước đều chua xót: Phát triển kinh tế ở ta không dựa trên một đạo đức gì cả. Đạo đức cá nhân cũng không. Đạo đức dân tộc cũng không. Trên thửa đất trống đạo đức, ai thừa cơ múa gậy vườn hoang nếu không phải là tham nhũng?


[1] Why has Japan “succeeded”. Western Technology and the Japanese Ethos, Cambridge University Press, 1984, 2nd edition. Bằng tiếng Pháp: Capitalisme et Confucianisme. Technologie occidentale et éthique japonaise, Flammarion, 1987. Michio Morishima (1923-2004) đã từng dạy tại các đại học danh tiếng nhất: Oxford, Yale, London School of Economics.

6 thoughts on “Đạo đức là nền”

  1. Dear Khánh Hòa,

    Làm giàu hay phát triển kinh tế là vấn đề “hot” của Việt Nam những thập kỷ qua. Có lẽ đó là sự bung ra sau một thời gian dài hàng thế kỷ nhịn ăn, nhịn mặc, hi sinh tất cả cho lý tưởng của cuộc chiến giải phóng và thống nhất đất nước, hay sự mặc cảm của một nước “nghèo” “đang phát triển”.

    Và mình nghĩ sự “loạn lạc” ngày nay phát sinh từ việc đã quá chú trọng việc làm giàu hay phát triển kinh tế mà quên đi những giá trị khác của xã hội và mỗi con người.

    Người Việt Nam vốn ghét phục tùng sẽ chẳng dễ dàng hi sinh cá nhân mình cho một cá nhân khác mà không có lý do rõ ràng – hay nói cách khác là một lý tưởng đủ cao đẹp. Mà phát triển kinh tế đất nước là gì nếu không phải là những con người nào đó giàu lên? Mình cảm thấy, càng nói chuyện phát triển kinh tế, mỗi người càng căn cứ trên luận đề “dân giàu, nước mạnh” và “lấy dân làm gốc” để thi nhau … làm giàu, thậm chí dần quên mất những giá trị khác cần gìn giữ, vun xới và phát triển.

    Với cá nhân mình, mình thấy, cuộc sống kiểu gì cũng đủ nếu mình không cảm thấy những điều hiển nhiên kiểu “không mua được giường nệm sao mà khổ quá”, “không đi bar cuối tuần được với bạn sau mà khổ thế”, …Nếu đã biết đủ, cũng sẽ chẳng có khái niệm nghèo. Nếu không sung sướng với những tận hưởng vật chất hay so bì, cũng sẽ chẳng có khái niệm giàu.

    Nếu với bản thân mình, vật chất không phải điểm đến, tại sao nó lại là điểm đến của gia đình mình? Nếu với gia đình mình, giàu có không phải mục tiêu, tại sao nó lại là trọng tâm (đến hầu như duy nhất) của đất nước, xã hội mình ?

    Thú thật mình hơi thất vọng khi đọc bài này so với điều mình mong đợi qua tiêu đề, vì tác giả lấy đạo đức làm nền cho phát triển kinh tế. Tức phát triển kinh tế vẫn là mục tiêu cuối cùng của phát triển xã hội.

    Mình thì nghĩ cần chú trọng xây dựng lại bộ giá trị của xã hội làm nền tảng và mục tiêu của phát triển con người, phát triển xã hội. Một người làm việc chân thành, chăm chỉ và một người giàu một cách nhàn hạ thì mình sẽ chọn là người nào ? xã hội sẽ trân trọng người nào? Mình nghĩ một xã hội mà phần lớn người dân đều làm việc một cách chân thành, chăm chỉ, hướng đến công việc chứ không phải hướng đến làm giàu thì chắc chắn xã hội đó sẽ giàu thôi – mỗi người có đủ và thỏa mãn với những gì mình làm ra hay có được.

    Vài điều chia sẻ với Khánh Hòa nhé! 🙂

    Like

  2. Hi QL,

    Người vô thần có chủ nghĩa hữu dụng (utilitarianism) để định nghĩa đạo đức. Nói chung đạo đức là điều gì tốt cho xã hội. Vấn đề là lý thuyết này dựa trên lý luận, và lý luận thì mọi luật sư đều biết rồi, cãi đàng nào cũng được. Cho nên chỉ gây ra tranh cãi và đánh nhau (điển hình, cách mạng cộng sản đánh với mọi người không đồng ý). Chẳng được gì cả.

    Các tôn giáo có sức mạnh tâm linh, vượt lý luận, và người ta chấp nhận vì cảm thấy con tim đồng ý thế. Như là, con tim bảo mình tin được Thượng đế và làm điều Thượng đế dạy–yêu người. Và lòng tôn kính của con người vào các đấng cao hơn mình, làm con người khiêm tốn, để có được các đức hạnh khác. Mất lòng tin vào các bậc cao hơn, con người không còn khiêm tốn nữa (và thường trở thành cao ngạo), và đạo đức gì thì cũng chết theo.

    Khiêm tốn là nguồn gốc của mọi đức hạnh.
    Cao ngạo là nguồn gốc mọi tội lỗi và đau khổ.

    Like

  3. Dear anh Hoành,

    Dù sao, hiện nay, Việt Nam vẫn là một đất nước vô thần – phần lớn nhân dân vô thần hay dù có theo đạo thì cũng rất hời hợt một cách nghi thức. Nhưng đạo đức vẫn là một giá trị phổ quát.

    Rõ ràng tôn giáo dạy đạo đức. Nhưng có nhất thiết phải bám trên tôn giáo mới có đạo đức không? Có một lý luận nào về đạo đức của người vô thần không?

    Like

  4. Hi Quỳnh Linh, Khánh Hòa và các bạn,

    Tôn giáo, nói chung, thì rất giống nhau về đạo đức. Đạo nào thì cũng dạy khiêm tốn, nhân ái, thành thật…. Cho nên mình nghĩ rằng sự khác biệt trong các ý niệm đạo đức giữa các tôn giáo không phải là điểm chính. Mình nghĩ là điểm chính nằm ở 3 điều: (1) dân tộc đó, do các điều kiện lịch sử địa lý văn hóa, tự tin đến đâu, (2) dân tộc đó tôn trọng các tôn giáo đến đâu, và (3) các giáo dục tôn giáo được hiểu sâu sắc và uyển chuyển đến thế nào.

    (1) Tự tin: Các dân tộc bị trị như Việt Nam thì thường là thiếu tự tin, vì bị trị mà. Nếu ta có con chó trong nhà mà cứ đánh đập chửi mắng nó hoài, xem nó có tự tin không. Chúng ta phải tự cho chúng ta lời khen về một thành quả rất lớn là dù bị trị nghìn năm chúng ta đã chưa trờ thành Tàu, dù là văn hóa ta chịu ảnh hưởng văn hóa Trung quốc cực mạnh. Dù vậy, vẫn rất khó để tự tin khi ta hoặc là nô lệ của Tàu hoặc là “độc lập” thì cũng phải là xử như là thần dân Trung quốc, vua ta phải được vua Trung quốc phong “vương”. Vua Trung quốc là đế, và vua ta chỉ là vương của vua Trung quốc. Thế thì đối với Trung quốc (và thế giới lớn rộng bên ngoài) rất khó để ta tự tin. Rồi sau Trung quốc là Pháp, thì ta lại cũng như là một loại thần dân nhỏ nhoi của mẫu quốc Phú Lang Sa.

    Rất may là tiền nhân ta đã nhiều lần đuổi được Trung quốc về nước (phần lớn cũng là nhờ vị thế địa lý xa xôi hiểm hóc của VN đối với TQ. “Xa xôi” theo nghĩa thời xa xưa) và gần đây ta đã liên tiếp thắng Pháp và Mỹ, hai cường quốc hàng đầu thế giới. Các chiến thắng này góp phần rất lớn giúp chúng ta lấy lại được tự tin như là một dân tộc.

    2. Tôn giáo của ta trong vòng hơn hai trăm năm nay trở thành rất yếu kém.

    Ngày xưa ta có tam giáo: Khổng Lão Phật. Lão giáo thì nói vậy thôi, chứ ngoài thi văn với một vài tư tưởng Lão Trang đây đó, chẳng có dấu hiệu gì là Lão giáo đã có ảnh hưởng mạnh ở Việt Nam. Phật giáo thì, dưới các thời Lý, Trần, đã giúp Việt Nam rất cường thịnh. Nhưng Khổng giáo thì đã bị hư từ thời nhà Tống của Trung quốc. Chỉ là công thức chết cứng vô hồn, dùng để duy trì một hệ thống xã hội áp bức, thiếu sức mạnh, thiếu sáng tạo. Trung quốc đi đâu, VN theo đó, cho nên khổng giáo (loại Tống nho mạt rệp) ảnh hưởng Việt Nam mấy trăm năm sau này, cho đến khi Tây phương đến. Ảnh hưởng mạnh mẽ của Tống nho cũng làm cho Phật giáo bị suy yếu vừa trên bình diện quyền lực xã hội vừa trên giáo pháp. Rất nhiều giáo pháp Phật giáo bị hiểu rất rẻ theo kiểu Tống nho, vì lớp trí thức Việt không hiểu được khác biệt sâu xa giữa Phật pháp và Tống nho.

    Đó là tình trạng yếu kém của tôn giáo ta cho đến thời thế kỷ 18. Rồi Tây Phương bắt đầu xâm lấn. Và Công giáo trở thành tôn giáo quyền lực và là ánh sáng trí tuệ. Tất cả các tôn giáo cũ mất hết sức mạnh xã hội chính trị và được các lớp trí thức trẻ tây học cho là hủ lậu cũng như bao điều khác trong văn hóa truyền thống. Cho nên Tam giáo cổ truyền trở thành cực kỳ yếu kém.

    Nhưng công giáo, dù có sức mạnh trong các hoạt động xã hội, thì lại rất hạn hẹp về tư duy, rất cứng ngắc, thiếu dân chủ, và rất chính trị. Và ngày cả sau khi người Pháp đã phải rời xa, công giáo (qua gia đình TT Ngô) đã chứng tỏ được quyền lực áp bức của công giáo ở miền nam.

    Cho nên mọi nhóm tôn giáo ở VN đều đã bị làm yếu. Cho đến khi Đảng ta làm cách mạng với một luồng tư tưởng Tây phương mới, tư duy Công sản chính thống: “Tôn giáo là thuốc phiện”, thì vai trò tôn giáo lại càng bị hạn chế và làm cho yếu kém, ít nhất là cho đến giữa thập niên 9x.

    Vì thế trong luồng tư duy chính của VN trong các năm gần đây, tôn giáo đóng một vai trò cực nhỏ. Người ta chỉ nói đến các phương trình kinh tế, các công thức quản lý, các luật lệ và hình phạt, tiền bạc… trong bàn luận chính sách, chứ các giá trị tâm linh và tôn giáo của con người chẳng bao giờ là trọng tâm của các tư duy về chính sách. Rất nhiều người làm chính sách mà hầu như chẳng bao giờ nghĩ rằng chính sách chỉ có thể tốt nếu có người đạo đức thi hành chính sách và tôn giáo là nơi dạy đạo đức.

    (3) Các hiểu biết về tôn giáo của chúng ta rất thấp kém và hạn hẹp.

    Đây cũng chỉ là hệ quả về các yếu kém về vị thế xã hội của tôn giáo đã nói trên. Tầng lớp trí thức trong các tôn giáo của ta hiểu biết rất nông cạn về tôn giáo của chính họ. Ngoại trừ một vài người nổi bật, ngay cả tầng lớp tu sĩ của các tôn giáo, hiểu rất nông cạn về các giáo huấn của chính tôn giáo của mình. Đa số người hiểu các giáo huấn rất công thức, hời hợt, và không nắm được chiều sâu tâm linh. Vì thế các giá trị tôn giáo không có tính thuyết phục, nhất là đối với các lớp trí thức trẻ ngày nay cần được thuyết phục bằng sức sống và sức sáng tạo.

    Các điều này có nghĩa là mọi nền tảng tôn giáo của VN đã có sẵn đó lâu rồi, nhưng đã bị làm cho yếu kém. Chúng ta phải phục hồi nó bằng cách (1) nghiên cứu học hỏi để hiểu rất sâu các giáo huấn các tôn giáo, (2) ta tự THỰC HÀNH, dạy lại cho mọi người và khuyến khích mọi người thực hành, (3) giới lãnh đạo và giới trí thức cần rất rõ ràng về việc dùng đạo đức con người là trọng tâm của quản lý–nói về điều này thường xuyên để nó thành trọng tâm của các tư duy về chính sách.

    Chúc cả nhà vui khỏe.

    Like

  5. Mình cũng rất thích bài viết này. Cảm ơn anh Hoành đã giới thiệu 🙂

    Hi Quỳnh Linh,

    Theo phân tích của GS Cao Huy Thuần trong bài viết này thì mình rút ra hai điều quan trọng:

    1. phát triển kinh tế là mấu chốt trong sự phát triển (development) của quốc gia nói chung, nhất là các nước còn nghèo,

    2. một nền tảng văn hóa “mạnh” góp phần lớn giúp các nước phát triển kinh tế nhanh (như Nhật, Mỹ, Hàn Quốc…).

    Từ “mạnh” ở đây theo mình hiểu là các giá trị đạo đức mà góp phần gắn kết các cá nhân trong xã hội với nhau, không chỉ sống, làm việc vì mục đích cá nhân mà còn phục vụ lợi ích chung của xã hội.

    Mỗi cá nhân ai cũng mong muốn làm giàu cho bản thân và gia đình, đó là ước vọng chính đáng, nhưng ở Nhật thì tinh thần Samurai giúp họ đặt lợi ích tập thể lên trên cả lợi ích của cá nhân, vì thế mà xã hội (hay cơ quan, xí nghiệp của họ) mới mạnh. Còn ở Mỹ thì các giá trị này thể hiện trong niềm tin vào Tin Lành “love God, and love your neighbor”. Nếu chỉ love God mà quên đi neighbor thì thành ích kỉ. Vì có love neighbor nên mọi người không chỉ sống để phục vụ ý Chúa, mà còn chia sẻ tình yêu của mình cho bạn bè, đồng nghiệp….và kết quả của nó là mọi người cùng giúp nhau đi lên, làm cho xã hội vững mạnh. Nếu không có ý thức cộng đồng này thì chắc chắn là mọi người chỉ chăm chăm lo cho bản thân, tư lợi thì xã hội sẽ bị xâu xé và không thể nào phát triển nhanh được (giống như Việt Nam bây giờ ?? )

    Ngoài yếu tố đạo đức thì tầm nhìn của người lãnh đạo cũng quan trọng. Mình không rõ về Trung Quốc lắm nhưng xã hội Trung Quốc cũng đặt Khổng giáo làm gốc, và theo mình hiểu thì xã hội của họ đặt niềm tự hào dân tộc lên đầu chứ không phải chữ “nhân” (mỗi người Trung Quốc đều luôn như bị ám ảnh bởi chính cái tên nước của họ Trung Quốc – nước trung tâm của thế giới). Niềm tự hào dân tộc này là động lực để gắn kết các cá nhân trong xã hội lại chăng?

    Quỳnh Linh khỏe nhé.

    Hòa

    Like

  6. Đọc đến đoạn kết của bài này, mình cũng đi đến một câu hỏi “Đạo đức là gì nhỉ?”. Cách nhìn của tác giá trong bài cho thấy đạo đức trong xã hội Nhật Bản, trong xã hội Trung Quốc, trong xã hội Phương Tây rất khác nhau. vậy với câu hỏi đâu là đạo đức trong xã hội Việt Nam, liện đó là không có – dù bất kỳ thể loại nào – hay chỉ là chưa định dạng rõ ràng? Và cuối cùng đạo đức là gì?

    Phải chăng đạo đức là một bộ giá trị phổ quát định hướng cho cuộc sống của từng cá nhân, và của toàn xã hội?

    Mình đã nghe một vị giáo sư già người Ấn Độ nói: mỗi người nếu không theo một tôn giáo nào đó thì sẽ theo một bộ giá trị. Mình cảm thấy câu này đúng.

    Vậy vấn đề của xã hội Việt Nam là gì? Các bộ giá trị mỗi cá nhân quá khác nhau và không có sự đồng nhất đủ để tạo nên bộ giá trị xã hội? Hay bộ giá trị xã hội … không giá trị cho lắm!? (ví dụ như theo đuổi kinh tế, lợi ích vật chất và sự giàu có một cách thái quá).

    Liệu có thể xem làm giàu, cho cá nhân mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng của mình có phải là là một giá trị để theo đuổi? Nếu không thừa nhận làm giàu cho cá nhân là một giá trị thì làm giàu cho đất nước cũng không phải là một cái gì cần theo đuổi cho lắm, vì đất nước không phải là tập hợp của các cá nhân sao? Nhưng cho dù có thừa nhận làm giàu là mọt giá trị đích thực thì còn những giá trị nào đứng trên giá trị này nữa?

    Một vài suy nghĩ của mình khi đọc bài này, xin chia sẻ với cả nhà và rất mong cùng trao đổi.

    Like

Leave a comment