
Câu chuyện của Susan Boyle là ngụ ngôn thời hiện đại của chúng ta. Người phụ nữ trung niên này là một ca sĩ rất tài năng, và đức hạnh, là người con hiếu thảo chăm sóc bà mẹ góa nhiều năm cho đến khi bà qua đời 2 năm trước.
Vì sao Susan Boyle bị cười nhạo khi cô bước ra sân khấu trong cuộc thi vòng loại “ Nước Anh Có Tài Năng 2009” vào một đêm thứ bảy. Cuộc thi này đã kéo dài từ tháng 1 đến tháng 2 / 2009.
Người phụ nữ này, mới đây thất nghiệp, sống một cuộc đời lặng lẽ , chỉ có ca hát làm lẽ sống; mà kinh nghiệm ca hát của cô chỉ giới hạn ở ban đồng ca nhà thờ và hát Karaoke
Khi mới được sinh ra , cô bị thiếu oxy, và do đó rất khó khăn trong học tập. Khi đi học cô học chậm ; với mái tóc quăn, cô thường bị bắt nạt, chủ yếu bằng những lời nặng nhẹ, chê bai, và mắng mỏ. Cô đã kể với một phóng viên rằng những lời nhục mạ của bạn học thời ấy đã để lại những vết sẹo trong tâm hồn cô.
Cô không có bạn trai, là một người lạ lẫm với chuyện yêu đương lãng mạn, chưa bao giờ được hôn, chưa từng có một lần hò hẹn. “Thật đáng xấu hổ !”, cô nói. Và ca hát là chiếc bè cứu đắm cho cuộc đời cô.
Cô sống với cha mẹ trong một ngôi nhà 4 phòng nhỏ ở West Lothian, và khi cha cô chết 10 năm trước, cô chăm sóc mẹ và hát trong ca đoàn.
Khi ban giám khảo và khán giả nhìn thấy người phụ nữ trung niên, to béo, ăn mặc có vẻ quê mùa, vụng về, bước lên sân khấu, họ bắt đầu cười khỉnh. Khi cô nói cô muốn có một sự nghiệp ca hát sánh ngang với Elaine Paige ( một danh ca 61 tuổi của nước Anh), tất cả khán giả đều sửng sốt . Khi cô nói với giám khảo Simon Cowell, rằng cô đã không có cơ hội để phát triển sự nghiệp ca hát của mình cho đến bây giờ đã 47 tuổi , 3000 khán giả cười phá lên và 3 giám khảo không nén được cũng phì cười. Nhưng khi cô cất tiếng hát bài I Dreamed a Dream ( Tôi Đã Mơ một Giấc Mơ) trong vở nhạc kịch Les Miserables ( Những Người Khốn Khổ), tất cả mọi người như bị thôi miên và sau đó hoan hô nồng nhiệt.
Simon Cowell nói giọng của cô “đặc biệt”, Amanda Holden xúc động đến rơi lệ khi nghe cô hát, và người giám khảo thứ ba , Piers Morgan, thừa nhận tài nghệ của cô là độc đáo lạ thường nhất trong 3 năm ông làm giám khảo cuộc thi này.
Giấc mơ của Susan Boyle đã thành hiện thực. Chúng ta học được gì từ câu chuyện như cổ tích, ngụ ngôn thế kỷ 21 này?
1. Nếu không có tài năng thực sự, cô hẳn đã là nạn nhân và đối tượng của những lời nhạo báng, mỉa mai, hay thương hại.
2. Cô rất can đảm, thực sự dũng cảm khi chịu đựng những điều bất hạnh của cuộc đời từ thời thơ ấu, cho đến khi đã bước qua tuổi thanh xuân vẫn không có tình yêu đôi lứa. Trong cảnh ngộ như thế, cô vẫn không đánh mất ước mơ , vẫn đam mê ca hát và kiên trì rèn luyện cho tài năng theo cách của mình : sống âm thầm giản dị và có ích : chăm sóc cha mẹ và hát trong ca đoàn. Nếu không có sự dũng cảm, ý chí kiên trì, và niềm tin vào ước mơ cũng như năng lực bản thân, cô hẳn đã không thắng nổi mặc cảm, quên đi những vết sẹo ấu thơ, và không dám tham gia vào cuộc thi tuyển chọn tài năng của nước Anh
3. Dù bên ngoài cô như một con vịt xấu xí, cô vẫn rất đẹp trong tâm hồn, với lòng hiếu thảo, và tài năng, cô đã tỏa sáng bằng giọng hát của thiên thần của mình.
4. Chúng ta thêm một lần nữa đọc và suy ngẫm lại những câu ngạn ngữ đã được học từ lâu: “Đừng đánh giá con người qua bề ngoài”, “Cái đẹp thực sự là cái đẹp ở bên trong tâm hồn”; “Dù trong cảnh ngộ nào, không được đánh mất ước mơ “; “Có công mài sắt, có ngày nên kim .“
Mời các bạn nghe bài hát “I Dreamed A Dream “ mà Susan Boyle đã hát trong cuộc thi nói trên :
http://www.youtube.com/watch?v=9lp0IWv8QZY
.
I Dreamed A Dream
There was a time when men were kind,
And their voices were soft,
And their words inviting.
There was a time when love was blind,
And the world was a song,
And the song was exciting.
There was a time when it all went wrong…
I dreamed a dream in time gone by,
When hope was high and life, worth living.
I dreamed that love would never die,
I dreamed that God would be forgiving.
Then I was young and unafraid,
And dreams were made and used and wasted.
There was no ransom to be paid,
No song unsung, no wine, untasted.
But the tigers come at night,
With their voices soft as thunder,
As they tear your hope apart,
And they turn your dream to shame.
He slept a summer by my side,
He filled my days with endless wonder…
He took my childhood in his stride,
But he was gone when autumn came
And still I dream he’ll come to me,
That we will live the years together,
But there are dreams that cannot be,
And there are storms we cannot weather!
I had a dream my life would be
So different from this hell I’m living,
So different now from what it seemed…
Now life has killed the dream I dreamed..
.
I Dreamed A Dream (In Les Miserables)
Tôi đã mơ một giấc mơ
Đã có một thời người ta tử tế
Giọng nói của họ nhẹ nhàng,
Và ngôn từ của họ mời mọc.
Đã có một thời tình yêu mù quáng
Và thế giới là một bài ca
Và bài ca ấy thật là kích thích.
Đã có một thời mọi việc không êm xuôi…
Tôi từng mơ giấc mơ của một thời đã qua,
Khi hi vọng còn đầy và cuộc đời đáng sống.
Tôi đã mơ rằng tình yêu không bao giờ chết,
Tôi đã mơ rằng Chúa sẽ thứ tha.
Khi ấy tôi còn trẻ và không hề sợ hãi,
Và những giấc mơ được đắp xây, sử dụng, và bỏ phí.
Không có tiền chuộc nào để trả,
Chẳng bài ca nào không hát, chẳng rượu nào không uống.
Nhưng đàn hổ đến về đêm,
Bằng chất giọng dịu dàng như sấm,
Chúng xé nát hi vọng của bạn,
Và chúng khiến hi vọng của bạn biến thành nỗi nhục,
Chàng ngủ cạnh tôi suốt một mùa hè
Chàng làm đầy những ngày của tôi bằng diệu kỳ bất tận
Chàng lấy tuổi thơ tôi trong bước chàng đi
Và tôi vẫn mơ chàng sẽ đến.
Rằng chúng tôi sẽ sống những năm tháng cùng nhau,
Nhưng có những giấc mơ không bao giờ là thực
Và những cơn bão tố ta không thể chống chọi!
Tôi đã có một giấc mơ rằng đời tôi sẽ
Khác xa địa ngục tôi đang sống,
Giờ đây khác xa những gì tôi tưởng
Giờ đây cuộc đời đã giết giấc mơ tôi đã mơ..
Huỳnh Huệ tổng hợp và dịch







Koto là một loại đàn Tam thập lục. Nó đã từng được dùng như một nhạc khí chính trong dàn nhạc thính phòng, chơi theo lối nhạc cổ truyền Nhật Bản. Chiều dài của Koto vào khoảng 180cm. Một cậy đàn Koto truyền thống có 13 dây, được căng ngang qua 13 thanh ngựa đàn có thể dịch chuyển được ở suốt dọc chiều dài đàn. Người chơi điều chỉnh âm cơ bản của đàn bằng cách di chuyển 13 ngựa đàn này trước khi chơi.
Các sử gia cho rằng Koto ra đời vào khoảng thế kỉ XV – XIII trước Công nguyên ở Trung Quốc. Ban đầu đàn chỉ có 5 dây, sao đó tăng lên 12, và cuối cùng là 13 dây. Đó là đàn Koto 13 dây được du nhập vào Nhật trong thời Nara (710-794). Thời gian đầu, loại đàn này chỉ được chơi trong cung đình, sau đó nó được chơi chủ yếu bởi những nhạc công mù (hầu hết những dòng nhạc Nhật tiền cận đại đều được những nhạc công mù, thầy tu và người trong hoàng cung chơi).
Ban đầu, Koto thường được chơi cùng với các nhạc khí bộ dây và bộ khí khác, nhưng sau này, người ta đã dùng nó để độc tấu. Nó cũng thường được chơi với shamisen và shakuhachi (một loại sáo làm từ tre) hoặc để đệm hát.








Thói quen nghe nhạc của mọi người ở các độ tuổi rất khác nhau, như thời gian nghe, không gian, loại nhạc, giai điệu, nhạc sĩ và ca sĩ…. . Nhưng chắc chắn chẳng ai có thể phủ nhận giá trị của âm nhạc trong đời sống chúng ta. Từ những bài hát dân ca, những câu ca dao mẹ ru ngày ta còn bé tí teo, cho đến khi ta thành những cô cậu nhóc thiếu niên hát những bài thiếu nhi, và lớn hơn chút nữa ở tuổi bắt đầu thích nghe và hát những bài tình ca. Đó là chưa kể đến tác dụng của nhạc đỏ, còn gọi là nhạc cách mạng. “Các ca khúc nhạc đỏ thường để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ kháng chiến , truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng.” (Wikipedia)