I wish you Love so deep and true that you know that you ARE Love.
Tôi mong ước cho bạn, Tình yêu thật sâu và chân thật để bạn biết rằng, bạn LÀ Tình yêu.
.
I wish you joy that bubbles up from your toes and pours forth from your heart like a waterfall.
Tôi mong ước cho bạn, niềm vui sướng sủi tăm từ ngón chân của bạn, và tràn ra từ trái tim như một thác nước.
.
I wish you beauty that surpasses what the eyes can see or the mind can define.
Tôi mong ước cho bạn vẻ đẹp vượt qua những gì mắt có thể thấy hay trí óc có thể định nghĩa.
.
I wish you peace that you feel in every cell of your being as an abiding awareness that All is well.
Tôi mong ước cho bạn bình an, mà bạn cảm thấy trong từng tế bào của bạn như một nhận thức thường trực rằng, Tất Cả đều tốt đẹp
.
I wish you abundance in your Earthly life that you may be free to give the gifts of who you are.
Tôi mong ước cho bạn, sung túc trong cuộc sống trần thế, để bạn có thể tự do mang chính mình ra làm quà tặng.
. Hãy cảm nhận năng lượng quanh ta
I wish you experience of the Truth of Oneness that you may see the face of God in all beings and in every moment.
Tôi mong ước bạn có sự trải nghiệm của Sự thật nhất thể, để bạn có thể thấy khuôn mặt của Thượng đế trong mọi sinh linh và trong mọi thời điểm.
.
I wish for you what I wish for myself…that you remember who you are.
Tôi mong ước cho bạn điều tôi mong ước cho tôi… rằng bạn nhớ bạn là ai.
Khoa học gia nghiệp dư giúp sưu tầm dữ liệu bảo vệ ếch quí hiếm , Suzie Jirachareonkul, 33 tuổi, cô giáo và mẹ của 2 đứa con, ở Capetown, Nam Phi, lặn lội những đêm mưa để đuổi các chú ếch con dễ thương khỏi đường đi, hòng tránh xe cán dẹp. Một người bạn khoa hoc biết chuyện và cùng cô lập nhóm toadNUTS (Điên vì ếch), sưu tầm dữ kiện về loại ếch qúy hiếm này. Các dữ kiện này được sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học.
.
Tin sáng quốc nội, chị Thùy Dương tóm tắt và nối links.
Cả làng cùng bảo vệ môi trường – việc bảo vệ môi trường đã được thực hiện suốt mười năm nay tại thôn Chiết Bi, xã Thủy Tân (Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế).
Náo nức tìm hiểu sử Việt – Những ngày này tại nhiều trường học đang rộ lên phong trào tìm hiểu lịch sử sôi nổi từ hiệu ứng cuộc thi “Tự hào sử Việt”.
Vở xiếc “Làng tôi” lưu diễn thế giới – do Liên đoàn Xiếc VN và Hội đoàn Scène de la Terre (Sân khấu địa cầu, Pháp) đầu tư sản xuất sẽ công diễn đêm duy nhất 5-5 tại Nhà hát lớn Hà Nội, trước khi lên đường lưu diễn ba năm trên thế giới.
Ban nhạc Ozomatli đến Việt Nam – Ban nhạc Mỹ nổi tiếng thế giới từng đoạt giải Grammy, giải Billboard Latin lần đầu tiên đến VN sẽ biểu diễn tại TP.HCM và Bình Dương từ ngày 11-15/5/2009.
Thành tích cực “oách” của cậu bé 11 tuổi – “Nói tiếng Anh như gió”, giỏi toàn diện các môn, 5 năm liền giành được học bổng Vallet (Pháp)… là những phác họa sơ qua về thành tích của Liên đội trưởng Lê Đức Bảo Trung – học sinh lớp 5B Trường Tiểu học Đồng Mỹ (TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình).
Vào những ngày đầu tháng năm, trên những vùng quê Nhật Bản bạn sẽ bắt gặp hình ảnh những chú cá chép màu sắc sặc sỡ đang bơi lội trên bầu trời xanh. Và nếu có dịp đi đến thăm những gia đình có bé trai, bạn sẽ được ngắm nhìn những bộ áo giáp, mũ của các samurai, hay những hình nộm samurai được trang trí trong phòng khách. Tất cả những điều này là một trong những nghi thức cầu chúc cho sự trưởng thành của những bé trai ở những gia đình người Nhật Bản.
Koinobori
Ở Nhật Bản, có tất cả 5 ngày quan trọng nhằm đánh dấu sự thay đổi của thời điểm chuyển mùa trong năm. Ngày 5 tháng 5 là một trong những ngày quan trọng đó (Tết đoan ngọ), là ngày báo hiệu cho một mùa xuân, mùa cây xanh đâm chồi nảy lộc, mùa sinh trưởng của tất cả mọi loài, đồng thời cũng là giai đoạn dễ phát sinh dịch bệnh, dễ đau ốm do chuyển tiết, chuyển mùa. Bắt nguồn từ những phong tục, nghi lễ được tiến hành trong dịp lễ tết Đoan ngọ của Trung Quốc, gia đình Nhật hoàng và giới quý tộc triều đình cũng tổ chức việc phân phát lá thuốc phòng bệnh, hay tổ chức những buổi lễ phi ngựa bắn cung nhằm phòng trừ tà ma ác quỷ.
Đến thời Kamakura (1185 -1333: bắt đầu thời kì Samurai), các tập tục này được các gia đình Samurai thay đổi bằng việc treo những lá cờ (Nobori), mũ giáp (Kabuto), hay những vũ khí chiến đấu trước cổng và hàng rào nhà mình. Còn với người dân thường thì thay thế bằng những mũ giáp và hình nộm Samurai to lớn, dũng mãnh được làm từ giấy.
Kabuto
Cho đến thời Edo, việc chính phủ Nhật quy định đây là ngày lễ quan trọng trong năm càng làm cho phong tục này lang rộng trong dân gian. Có một điều khác biệt ở đây là ở các gia đình dân thường vì không có cờ để treo như các gia đình Samurai, thay vào đó là những Koinobori (cờ cá chép) rất được yêu thích.
Cờ cá chép bắt nguồn từ chuyện kể về một loại cá chép sống ở sông Hoàng Hà (Trung Quốc) vượt dốc bơi lên thượng nguồn. Do vậy người xưa cho rằng đây là loài cá xuất thế, làm biểu tượng cầu mong cho những đứa trẻ trong nhà sau này lớn lên có thể tự thân lập nghiệp, thành công trên đường đời. Nếu bạn chú ý hơn nữa sẽ thấy cờ cá chép có ba màu sắc: đen, đỏ, xanh biểu hiện cho người cha, người mẹ và trẻ con.
Theo thuyết ngũ sắc:
* Màu đen biểu hiện cho nước vào mùa đông. Mùa đông là mùa vạn vật đều tĩnh lặng, ít hoạt động. Người cha theo quan điểm của người xưa là người phải trầm tính. Còn nước là nơi bắt nguồn của mọi sự sống.
* Màu đỏ là màu của lửa vào mùa hạ. Lửa làm cho vạn vật sinh trưởng dồi dào, cũng là biểu hiện cho trí tuệ. Mùa hạ là mùa sinh sôi nảy nở của muôn loài. Nên có thể nói là biểu trưng cho hình ảnh người mẹ.
* Màu xanh là màu biểu hiện cho cây vào mùa xuân,mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, vươn thẳng, biểu hiện cho lớn lên của đứa trẻ.
Như vậy, ba chú cá chép biểu hiện cho sự an định và cung cấp nguồn sống, trí tuệ và nuôi dưỡng, sự trưởng thành và phồn vinh, là những yếu tố không thể thiếu được trong một gia đình đầm ấm, làm cơ sở cho sự trưởng thành hài hòa của những đứa trẻ.
Gần đây, do các gia đình sống trong thành phố, vì không có sân vườn để có thể treo cờ cá chép, nên cờ cá chép cũng được thu nhỏ lại để có thể treo ở ban công, cửa sổ trong nhà . Đồng thời, bên cạnh cờ cá chép còn có chong chóng, các sợi dây đủ màu sắc cũng được treo cùng, bay phất phơi trong gió.
Dưới đây là 1 đoan video clip với bài hát “Koinobori”. Mời các bạn thưởng thức.
Bài hôm qua (4.5.2009) vẫn còn nhiều điều chúng ta phải tiếp tục bàn. Tuy nhiên, ta vẫn cứ thêm một bài dịch nhỏ cho thử thách hôm nay. Bài này do chị Huỳnh Huệ gởi đến–bài thơ Dreams của Langston Hughes, và một giới thiêu ngắn về tác giả do chi Huệ viết.
Các bạn cứ tiếp tục dịch và post nhé. Rôi chúng ta sẽ cùng nghiên cứu từng câu từng chữ.
Mến,
Hoành
DREAMS ( by Langston Hughes)
Hold fast to dreams
For if dreams die
Life is a broken-winged bird
That cannot fly.
Hold fast to dreams
For when dreams go
Life is a barren field
Frozen with snow.
James Mercer Langston Hughes, (1/02/ 1902 – 22/05/1967) là một nhà thơ Người Mỹ gốc Phi. Ông còn là tiểu thuyết gia, kịch tác gia, cây viết truyện ngắn và nhà bình luận. Ông là một trong những nhà cách tân đầu tiên của thơ ca mới kết hợp nhiều thể loại và nhạc jazz của người da đen. Ông nổi tiếng nhất với những tác phẩm trong thời kỳ Phục Hưng Harlem.
Langston Hughes là tác giả của 16 tập thơ, nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch và truyện viết cho thiếu nhi. Đáng kể nhất có thể kể đến các tập thơ: Shakespeare in Harlem (Shakespeare ở Harlem, 1942), One Way Ticket (Vé một chiều, 1949), Montage of a Dream Deferred (Dựng lại giấc mơ bị hoãn, 1951), The Panther and the Lash (Con báo và cái roi, 1967); các vở kịch: Mulatto (Người da ngăm, 1935), Black Nativity (Giáng sinh đen, 1961); các tập truyện: Laughing to Keep From Crying (Cười để khỏi khóc, 1952), The Big Sea (Biển lớn, 1940); tiểu thuyết: Not Without Laughter (Cười qua nước mắt, 1930)… Một đặc điểm của thơ Langston Hughes là sự kết hợp nhiều thể loại và sử dụng những bài hát dân gian của người da đen.
Ai trong chúng ta cũng muốn có mối quan hệ sâu sắc với người khác. Ai cũng muốn ảnh hưởng được người khác, mong họ làm theo ý của chúng ta. Ấy vậy mà trong không ít trường hợp, kết quả lại ngược lại. Chúng ta bị xa lánh hay người mà ta muốn ảnh hưởng lại làm ngược ý của chúng ta. Vì sao?
Về mặt chủ quan, chúng ta luôn nghĩ rằng ta muốn điều tốt cho người khác, ví dụ như khi cha mẹ dạy con hay sếp góp ý cho cấp dưới, nhưng thông điệp phát ra không vô thưởng vô phạt. Nó bị tác động bởi những yếu tố chủ quan chi phối người phát ra nó. Ví dụ như những động cơ, nhu cầu, những cảm xúc không làm chủ được khiến cho mục đích truyền thông bị sai lệch.
Ông B ưa “nổ” và trở thành “trung tâm của vũ trụ” trong một tập thể. Ông đùa cũng có duyên nhưng lần lần người ta cũng ngán rồi xa lánh ông. Nhu cầu thầm kín của ông là được coi trọng, nể nang mà ông không có được từ người thân.
Bà C đi đâu cũng khoe con, khoe của vì mặc cảm thua kém. Chị E dạy con rất khắt khe nhưng không hiệu quả vì chị hay nặng lời với chúng khi giận chồng, nghĩa là chị giận cá chém thớt. Anh H toàn báo cáo tích cực với sếp vì muốn lấy điểm và những vấn đề thật của cơ quan không được giải quyết.
Đối với người phát có hai cơ chế tâm lý cần quan tâm. Đó là khái niệm hay hình ảnh về bản thân và cơ chế tự vệ. Hình ảnh về bản thân là cách chúng ta tự đánh giá mình một cách không ý thức… Nó hình thành từ cách người xung quanh phản ứng, đối xử, đánh giá chúng ta từ lúc nhỏ và hình ảnh này có xu hướng tự khẳng định với thời gian dù nó có thể thay đổi khi hoàn cảnh thay đổi đột ngột và mạnh mẽ. (Khái niệm này được giải thích cặn kẽ trong loạt bài “Ý thức về giá trị bản thân” – TTCN 2003).
Nếu tự đánh giá mình thấp, ta có mặc cảm tự ti, ta có thể khép kín, không dám tự khẳng định mình, không dám bày tỏ nhu cầu, nguyện vọng của mình. Ngược lại, ta có thể che giấu mặc cảm thua thiệt bằng cách “nổ” hay khoe khoang như trường hợp ông B và bà C kể trên. Nếu tự đánh giá mình tích cực thì ta tự tin và người tự tin không cần khoe khoang, màu mè. Họ trung thực, giản dị, dễ hòa đồng. Các mối quan hệ sẽ trong suốt, trôi chảy.
Cơ chế thứ hai ảnh hưởng quá trình truyền thông là cơ chế tự vệ. Những cố gắng để đối phó với những khó khăn, đau khổ, bực dọc, lo âu, mặc cảm tội lỗi… trong cuộc sống có khi rất khó chịu đựng nên ta có xu hướng lờ đi hoặc tránh né bằng những cách như sau:
a) Đè nén: là cố tình gạt ra ngoài ý thức các ý tưởng, cảm xúc mà ta không thích. Ta tự dối mình bằng cách tránh né thực tế không vui thay vì công nhận nó. Bằng cách này, ta tự chôn mình trong một thế giới theo ý muốn và đứng ngoài thực tế.
b) Tránh né: ta không chối bỏ thực tế đau buồn, nhưng tô hồng nó như bà C tô hồng thực tế bằng cách khoe khoang của cải, con cái.
c) Bù đắp: là cố gắng che đậy một khuyết điểm, khuyết tật bằng cách phát triển một nét tích cực khác. Điều này khá bình thường và không có gì xấu. Ví dụ như người mù có thính giác tốt nên cố học ngoại ngữ, học hát thật hay… Tuy nhiên, nếu làm thái quá có thể mất tác dụng. Ông B tận dụng sự có duyên của mình để vui với bạn bè, để bù đắp cho sự thiếu quan tâm của vợ con. Nhưng khi ông “nổ” quá thì người ta ngán.
d) Phóng chiếu: là gán cho người khác những ý kiến hay lỗi lầm của mình. Không thích một thầy giáo trong lớp, N tuyên bố “đa số” học sinh chống đối thầy. Hoặc ta đổ lỗi cho số phận về những thất bại của ta.
e) Viện lý lẽ: đưa ra những lý lẽ không đúng sự thật để biện minh cho hành động của ta: “tôi đánh con vì tôi thương con”.
f) Giận cá chém thớt: như bà mẹ E giận chồng lại đánh con kể trên.
g) Thoái bộ: là trở lại hành vi thơ ấu để tránh né thử thách, khỏi có trách nhiệm. Đứa bé đã lớn đột nhiên đái dầm, bắt mẹ đút ăn vì mẹ mới có em bé. Nó sợ mất tình thương của mẹ, sợ mất vị trí ưu tiên nên muốn trở thành em bé. Người lớn cũng có những lúc đau ít mà tỏ ra đau nhiều để được chăm sóc…
Trên đây là những phản ứng mà ta có thể quan sát hằng ngày khi con người phải đối phó với những khó khăn thử thách nội tâm và không có sức mạnh để nhìn nhận thực tế. Chúng chi phối thái độ và hành động của ta khiến ta không còn thật với mình và với người khác. Điều này làm cho các mối quan hệ thêm khó khăn, nội dung truyền thông bị rối nhiễu.
Do đó, để truyền thông có hiệu quả, cần biết mình, biết các động cơ và cảm xúc chi phối mình. Làm chủ chúng, điều chỉnh chúng để phát ra những thông điệp càng khách quan càng tốt. Khi truyền thông, ta muốn điều tốt cho người kia nhưng lắm khi ta lại làm tổn thương họ, gây mất tin tưởng, làm cho đôi bên khó gần nhau. Ta tưởng ta giúp họ nhưng thực tế ta đang giải tỏa nhu cầu của chính ta.
Xin giới thiệu với các bạn William Arthur Ward, một nhà giáo dục lỗi lạc của nước Mỹ .
William Arthur Ward (1921-1994), tác giả của Fountains of Faith ( Suối Nguồn của Niềm Tin).
Ông là tác giả của rất nhiều danh ngôn được trích dẫn nhiều nhất Hơn 100 bài báo, bài thơ và suy tưởng của ông đã được xuất bản trong các tạp chí như Reader’s Digest, This Week , The Upper Room, Together, The Adult Teacher, The Adult Student, Science of Mind, Sunshine, vv… Mục Danh Ngôn trên báo Fort Worth Star –Telegram của ông được đề cao không chỉ Mỹ mà ở nước ngoài.
Sinh ra và lớn lên ở bang Louisiana, ông tham gia vào quân đội Mỹ năm 1942 và trải qua 4 năm quân ngũ ở Philippines . Ông tốt nghiệp Đại học Mc Murry, nhận bằng Thạc sĩ tại trường Đại học Oklahoma, và Tiến sĩ Luật danh dự ở trường này vì những đóng góp to lớn về học thuật, giáo dục, văn chương, nhân văn và xã hội của ông. Ông tham gia làm quản lý giáo dục tại Đại học Texas Wesleyan ở Fort Worth và nhiều cơ sở giáo dục khác.
Tiểu sử của ông được nêu trong Who’s Who – Giáo Dục của nước Mỹ , và Who’s Who- Quan Hệ Xã Hội.
Có thể nêu ra vài câu trong số nhiều danh ngôn nổi tiếng nhất của ông như :
1. “The pessimist complains about the wind; the optimist expects it to change; the realist adjusts the sails.”
Người bi quan phàn nàn về gió; người lạc quan mong muốn nó đổi chiều, người thực hiện điều chỉnh những cánh buồm.
2. “The more generous we are, the more joyous we become. The more cooperative we are, the more valuable we become. The more enthusiastic we are, the more productive we become. The more serving we are, the more prosperous we become.”
Chúng ta càng độ lượng, chúng ta càng vui tươi. Chúng ta càng hợp tác, chúng ta càng trở nên quý giá. Chúng ta càng hăng hái, chúng ta càng sáng tạo. Chúng ta càng phụng sự, chúng ta càng giàu có.
Và câu thứ ba là một trong những lời vàng của tôi cũng như các đồng nghiệp:
3. “The mediocre teacher tells. The good teacher explains. The superior teacher demonstrates. The great teacher inspires.”
Người thầy trung bình nói. Người thấy tốt giảng giải. Người thầy giỏi chứng minh. Người thầy tuyệt vời truyền cảm hứng.
Sau đây là bài thơ WHILE của William Arthur Ward
TRONG KHI
Hãy tin tưởng trong khi ai khác nghi ngờ.
Hãy hoạch định trong khi ai khác chơi đùa.
Hãy học hỏi trong khi ai khác đang ngủ.
Hãy quyết định trong khi ai khác trì hoãn.
Hãy chuẩn bị trong khi ai khác mơ màng.
Hãy bắt đầu trong khi ai khác do dự.
Hãy làm việc trong khi ai khác mơ ước.
Hãy tiết kiệm trong khi ai khác lãng phí.
Hãy lắng nghe trong khi ai khác đang nói.
Hãy mỉm cười trong khi ai khác cau mày.
Hãy ca ngợi trong khi ai khác chỉ trích.
Hãy kiên trì trong khi ai khác từ bỏ.
WHILE
Believe while others are doubting.
Plan while others are playing.
Study while others are sleeping.
Decide while others are delaying.
Prepare while others are daydreaming.
Begin while others are procrastinating.
Work while others are wishing.
Save while others are wasting.
Listen while others are talking.
Smile while others are frowning.
Commend while others are criticizing.
Persist while others are quitting.
Chúng ta cùng thực hiện những “Hãy” mà William Arthur Ward đã nêu trên và trước hết hãy là người lạc quan và người bắt tay thực hiện.
Hôm nay bạn có gì vui ? Hôm nay bạn quan sát thấy gì hay? Hôm nay bạn làm điều gì có ích? Hôm nay bạn có ý tưởng gì sáng tạo? Hôm nay bạn làm được gì sáng tạo?
Ý tưởng nào thực tiễn và cụ thể, mà nếu áp dụng, sẽ làm môi trường kinh doanh của Việt Nam tốt hơn? Làm đường phố nơi bạn ở tốt hơn? Làm thành phố nơi bạn ở tốt hơn? Làm nước mình tốt hơn? Các bạn cứ đặt thêm câu hỏi nhé?
Hôm nay bạn học được điều gì mới? Bạn có mơ ước gì mới ? Bạn có hy vọng gì mới?
Bạn có nghe được câu nói nào làm bạn bừng sáng?
Hôm nay bạn thấy ai làm được điều gì tốt?
Đừng để ký ức trôi qua vụt mất, hãy ghi lại và giúp các bạn khác cảm được cái vui của bạn, biết đâu, đó lại là nguồn sáng duy nhất rọi sáng một ngày ảm đạm của một ai đó? Hay ý tưởng không dùng tới của bạn có thể được thực hiện bởi một ai đó giùm bạn?
Mình xung phong trước nhé:
1) Hôm nay mình dậy sớm tập thể dục
2) Mình dich một bài viết Giành nhiều thời gian hơn để lắng nghe để chia sẻ với độc giả của blog Đọt chuối non.
3) Hôm nay mình nghĩ ra topic này để chúng ta tích cóp tích cực và ý tưởng hàng ngày. Chỉ tích cực thôi nhé! 🙂
4) Mình quan sát thấy bên Mỹ tuyên truyền ý thức môi trường bằng business rất tốt, ví dụ trên các mug (cốc nước) có ảnh nghệ thuật reduce, reuse, recycle, nếu ai cũng dùng cốc đó hàng ngày, tự nhiên có ý thức. Vậy nếu mình cũng áp dụng được ở Việt Nam thì hay nhỉ
Thay đổi bắt đầu từ những gì rất bình thường và nhỏ bé. Một năm mỗi ngày sẽ tạo ra thay đổi cực kỳ lớn đấy! 🙂
Làng thế giới , Video, thế giới thu nhỏ thành một làng để cho ta thấy được những vấn đề lớn của thế giới, bạn Quản Bích Hằng gửi link.
Trụ đá Asoka—xuất xứ và ý nghĩa , Văn Hóa, di tích trụ đá dựng khoảng 300 năm trước công nguyên bởi vua Asoka của Ấn độ, vị hoàng đế có ảnh hưởng lớn nhất trong việc xiển dương Phật giáo, chị Hằng Như.
Biến Rượu Thành Nước – Doc Henley ở Blowing Rock, bang North Carolina, Mỹ, làm trong quán rượu, thành lập Wine to Water, dùng tiền tặng thu được trong các buổi “thử rượu” để lập các dự án nước sạch tại các quốc gia nghèo.
.
Tin sáng quốc nội, chị Thùy Dương tóm tắt và nối links.
Huyền ảo đêm hội ngộ di sản – Tối 2/5, tại bến phà Bãi Cháy (Hạ Long, Quảng Ninh) hàng nghìn du khách đã chứng kiến các tiết mục văn nghệ đặc sắc của các đoàn nghệ thuật đến từ Huế, Tây Nguyên và Vân Nam (Trung Quốc).
Kho báu về một dòng Thiền – Hơn 200 bản in khắc gỗ các bộ kinh Phật bằng chữ Hán và chữ Phạn, được chế tác từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX, vừa được phát hiện ở phố cổ Hội An (Quảng Nam).
Dạy vi tính cho SV khuyết tật – Đoàn Trường ĐH Công nghệ thông tin TP.HCM (ĐHQG TP.HCM) đã phối hợp với CLB ITIC mở lớp dạy miễn phí cho SV khuyết tật.
Trang trại “Robinson” – Cách đây hơn 14 năm, hai chàng trai trẻ gốc Huế quyết định chọn bán đảo Bãi Lau hoang vắng lập nghiệp và đã tạo dựng được trang trại đầy sức sống ở nơi đây.
Thùng sách lưu động – một trong những hoạt động chăm lo công nhân của Quỹ Hỗ trợ công nhân TP.HCM.
Đường mưu sinh của ông lão 80 – Chuyện về ông cụ nửa đời người bán chuối. Trở dậy từ 3 giờ sáng, cụ đạp xe hơn 20 cây số đưa chuối ra Hà Nội bán. Đó là cách bắt đầu một ngày làm việc bình thường của ông lão Đạc (còn gọi là Khánh), 80 tuổi, quê thôn Bãi, xã Cao Viên, Thanh Oai, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). (Bạn Phạm Đức Toàn gửi link).
Cô học trò và bức thư đoạt giải nhất – Vượt qua hàng triệu học sinh trên toàn quốc, Nguyễn Đắc Xuân Thảo lớp 7/10 trường THCS Nguyễn Huệ, Đà Nẵng đã giành được giải nhất trong cuộc thi viết thư quốc tế UPU lần thứ 38.
Một cái nhìn rất nhanh về tổng thế thế giới, xem nó như là một làng nhỏ. Giúp chúng ta nhìn thấy những vấn đề lớn của thế giới, để cùng chung vai làm thế giới tốt hơn. Bạn Quản Bích Hằng gửi link này.
Vua Asoka (304-232 trước tây lịch), một vị vua Ấn Độ, vốn hung tàn bạo ngược thống lãnh một vùng lãnh thổ lớn nhờ vào các cuộc chinh phạt mở mang bờ cõi liên tiếp thành công. Sau khi lên ngôi được 8 năm, vua Asoka mở cuộc chiến ở Kalinga (nay thuộc bang Orissa, Ấn Độ). Sau trận chiến Kalinga, phần thắng thuộc về vua Asoka, nhưng con số 100 000 người bị giết và 150 000 người bị bắt làm tù binh đã đánh thức vị vua này về sự tàn bạo và vô lý của chiến tranh. Mốc lịch sử này đánh dấu sự quay về với Đạo Phật của vua Asoka.
Từ khi quy y Tam Bảo, nhà vua trở nên người nhân từ, hiền lành và đem tâm ôn hòa nhân từ cai trị quần dân, dùng chính sách hòa bình và thành tín trong bang giao với các nước láng giềng theo tinh thần Phật pháp. Nhà vua thay tiếng trống trận bằng tiếng trống Pháp, coi việc chinh phục lòng dân bằng đạo đức là chiến thắng tối hậu. Nhờ thực hành chánh pháp, từ một bạo chúa, vua Asoka từ bỏ chính sách đàn áp xâm lăng và theo đuổi đường lối hòa bình đức trị. Nhà vua cho lập các bia đá và ghi vào đó những chủ trương của nhà vua, cùng những lời hay ý đẹp nhắc nhở về lối sống đạo đức, làm thiện, tránh ác cho dân chúng rồi cho đặt ở các nơi công cộng dễ thấy. Ví dụ ở bia ký số VI ghi rằng:
“Thiên tử, Vua Piyadasi phán rằng: Trong quá khứ, những việc khẩn trương hoặc các chứng từ không hề được đệ trình hoàng thượng thường xuyên. Nhưng nay trẫm ra lệnh này, với các việc như vậy, các quan có thể đến gặp trẫm bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, dù trẫm đang ăn, đang ở trong hậu cung, trong cấm cung, trên long xa, trong ngự giá, trong thượng uyển hay đang cầu nguyện. Và khi một ban bố hay tuyên dương bằng khẩu lệnh, hoặc vì quốc sự khẩn cấp trẫm ủy quyền cho các quan đại thần, mà gây nên sự bất đồng hay bàn cãi trong triều thì phải báo cho trẫm biết ngay, dù đang ở nơi đâu. Đó là mệnh lệnh của trẫm.
Trẫm không bao giờ bằng lòng với mình về những việc Trẫm làm. Trẫm cho rằng việc làm cho thần dân sống an ổn là nhiệm vụ cao cả nhất của trẫm, và cốt lõi của việc này là phải chính mình tận lực. Đối với trẫm, không có điều gì quan trọng hơn là đời sống an ổn của thần dân, và tất cả những nỗ lực của trẫm chỉ là trả nợ chúng sinh để mưu cầu hạnh phúc cho họ trong đời này và đạt đến thiên giới trong kiếp sau.
Vì vậy trẫm lệnh cho Pháp Dụ này được khắc ra. Mong pháp dụ này trường tồn và các con, cháu và chắt của trẫm noi theo vì sự an sinh cho mọi người. Tuy nhiên đây là một việc khó nếu không nhiệt tâm và tận lực.” King Asoka's rock edict
(Thus speaks the Beloved of the Gods, the king Piyadassi. In the past the quick dispatch of business and the receipt of reports did not take place at all times. But 1 have now arranged it thus. At all times, whether I am eating, or am in the women’s apartments, or in my inner apartments, or at the cattle-shed, or in my carriage, or in my gardens – wherever I may be, my informants should keep me in touch with public business. Thus everywhere I transact public business. And whatever I may order by word of mouth, whether it concerns a donation or a proclamation or whatever urgent matter is entrusted to my officers, if there is any dispute or deliberation about it in the Council, it is to be reported to me immediately, at all places and at all times.
This I have commanded. In hard work and the dispatch of business alone, I find no satisfaction. For I consider that I must promote the welfare of the whole world, and hard work and the dispatch of business are the means of doing so. Indeed there is no better work than promoting the welfare of the whole world. And whatever may be my great deeds, I have done them in order to discharge my debt to all beings. I work for their happiness in this life, that in the next they may gain heaven. For this purpose has this inscription of Dhamma been engraved. May it endure long. May my sons, grandsons, and great grandsons strive for the welfare of the whole world. But this is difficult without great effort.)
Hầu như tất cả 33 pháp dụ hiện có của vua Asoka đều có nội dung tích cực như vậy. Ngoài việc lập các pháp dụ ở nhiều nơi trên khắp lãnh thổ, một điều đặc biệt nữa là, sau khi quy y Phật giáo, vua Asoka đến chiêm bái Tứ Động Tâm – bốn di tích lịch sử gắn liền với các sự kiện chính trong cuộc đời Đức Phật. Đến đâu, nhà vua ra lệnh khắc bia đá để làm tưởng niệm đến đó. Các trụ đá, bia ký và pháp dụ Asoka còn lưu giữ tại các viện bảo tàng ngày nay là những dấu ấn ghi lại sự tôn kính, ngưỡng mộ Đức Phật và Đạo Phật của một vị vua thuần thành, một vị vua chủ trương cai quản quốc gia bằng tinh thần từ bi và hài hòa của Phật pháp.
Trị vì một lãnh thổ rộng hơn diện tích Ấn Độ bây giờ, đảm bảo đời sống thái bình thịnh vượng cho người dân, cai trị đất nước bằng đạo đức có thể nói là thành công vĩ đại nhất của vị vua Phật tử anh minh này. Hình ảnh vua Asoka trở thành biểu tượng lý tưởng cho những nhà lãnh đạo chân chính. Trụ đá Asoka Chính vì chính sách quản lý và điều hành quốc gia của vua Asoka quá lý tưởng như vậy, ngay sau khi độc lập, biểu tượng đầu trụ đá bốn sư tử do vua Asoka dựng ở Sarnath được chọn làm quốc huy của Ấn Độ và một phần biểu tượng này được chọn làm một phần của lá cờ tổ quốc như một sự tri ân người xưa và khuyến khích người nay.
Trụ đá bốn đầu sư tử của vua Asoka
Trụ đá có bốn đầu sư tử được vua Asoka cho khắc dựng tại thánh địa ở Sarnath, khi nhà vua đến chiêm bái thánh tích này. Nơi đây, Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên và chính nơi đây, tăng đoàn đầu tiên được thành lập, Trụ đá này cao 50 feet (15.24 mét). Trên trụ đá có khắc chỉ dụ của vua Asoka rằng “không ai được gây chia rẽ trong tăng đoàn”. Nét đặc biệt của trụ đá Asoka ở Sarnath là đầu trụ được khắc bốn sư tử (các trụ đá ở nơi khác chỉ có một sư tử hoặc một con vật khác), dựa lưng vào nhau, đặt trên một trụ ngắn tròn. Trên bề mặt của trụ ngắn này có bốn bánh xe Pháp gồm 24 căm xen kẽ với bốn con vật xung quanh: một con voi, một con bò đực, một con ngựa và một con sư tử. Tiếp nối với đoạn hình trụ là đế bán cầu hình hoa sen dốc ngược.
Bốn đầu sư tử quay về bốn hướng chỉ cho chánh pháp của Đức Phật, từ vườn Lộc Uyển, nơi Ngài thuyết bài pháp đầu tiên và là nơi tạo dựng trụ đá này, được truyền bá khắp bốn phương. Bánh xe tượng trưng cho Phật pháp luân chuyển khắp mọi nơi mọi chốn. Sau này, các tổ chức Phật giáo chọn hình ảnh bánh xe pháp để trang trí, làm logo và biểu tượng cho tổ chức mình với ý nghĩa tương tự.
Bốn con vật trên trụ đá bốn đầu sư tử ở Sarnath được các nhà nghiên cứu giải thích là tượng trưng cho bốn giai đoạn trong cuộc đời của Đức Phật. Voi tượng trưng cho ý niệm về giấc mơ của hoàng hậu Maya, mẹ của thái tử Sĩ Đạt Ta (sau này là Đức Phật), Bà nằm mộng thấy coi voi trắng chui vào bên hông phải, rồi Bà thọ thai thái tử.4 con vật và 4 bánh xeCon bò đực là tượng trưng cho sự sung mãn hạnh phúc trần gian khi Đức Phật còn là một thái tử sống trong hoàng cung. Con ngựa tượng trưng cho sự ra đi tìm đường giải thoát khỏi khổ đau cho nhân loại. Đêm vượt thành xuất gia, thái tử ra đi trên một con ngựa. Con sư tử tượng trưng cho cuộc đời hành đạo viên mãn của Đức Phật. Pháp Ngài truyền giảng như tiếng rống của sư tử đánh thức bao con người lìa bến mê sang bờ giác. Bốn đầu sư tử là biểu tượng cho những nền tảng căn bản của Phật pháp là chân lý, hoà bình, lòng khoan dung và lòng từ bi.
Bên cạnh cách giải thích có tính tôn giáo, một số người giải thích trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath theo cách phi tôn giáo. Theo cách giải thích này thì bốn đầu sư tử tượng trưng cho sự thống lãnh khắp bốn phương của vua Asoka. Bánh xe pháp tượng trưng cho cho sự lãnh đạo sáng suốt của vua Asoka và bốn con vật tượng trưng cho các lãnh địa của Ấn Độ thời bấy giờ dưới sự thống lãnh của vua Asoka. Dù giải thích bằng cách nào đi nữa, không ai phủ nhận một sự thật là vua Asoka, sau khi quay về quy y Tam Bảo và thực hành Phật pháp, đã áp dụng tinh thần Phật pháp để trị quốc an dân.
Hình ảnh trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath ngày nay được tìm thấy ở đâu?
Trụ đá nguyên thủy ở Sarnath và viện bảo tàng Sarnath
Trụ đá nguyên thủy
Trụ đá vua Asoka cho khắc dựng tại Sarnath được xác định là khoảng năm 250 trước tây lịch. Trụ đá ấy, qua năm tháng thời gian, đã bị gãy đổ. Phần thân trụ, còn bốn đoạn gãy và các mảnh vỡ, được lưu giữ ngay trên thánh địa nơi đánh dấu Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên, bắt đầu vận chuyển bánh xe chánh pháp. Các đoạn trụ này được bao bọc trong một rào chắn, có mái che, cùng trong khuôn viên thánh tích, cách tháp Dhamek (tháp do vua Asoka xây đồng thời với trụ đá) không xa. Đầu trụ là bốn đầu sư tử như đã mô tả ở trên, được lưu giữ tại viện bảo tàng Sarnath ngay gần khu thánh tích.
Trên quốc huy Ấn Độ
Biểu tượng bốn đầu sư tử của trụ đá Asoka tại Sarnath được chọn làm quốc huy của đất nước Ấn Độ vào ngày Ấn Độ tuyên bố dân chủ, ngày 26 tháng 1 năm 1950. Phần đế nửa hoa sen dốc xuống được cắt đi, thay vào đó là hàng chữ văn tự Devanagari “Satyameva Jayate” nghĩa là “chỉ có chân lý là chiến thắng” (Truth Alone Triumphs). Trên quốc huy, hình chụp trụ đá thấy được ba đầu sư tử dựa vào nhau, đầu sư tử thứ tư bị khuất. Ba trong bốn bánh xe được nhìn thấy, một bánh xe ngay chính giữa và hai bánh xe hai bên. Bốn con vật trên trụ đá chỉ thấy được con ngựa bên trái và con bò đực bên phải. Voi và sư tử khuất đằng sau.
.
Trên tiền: Vì được chọn làm quốc huy, nên hình ảnh trụ đá sư tử Asoka bốn đầu này xuất hiện trên tiền giấy cũng như tiền cắc Ấn Độ. Ở tiền giấy, biểu tượng quốc huy xuất hiện ở góc dưới bên trái. Ở tiền cắc, biểu tượng này lớn hơn, nằm trên một mặt của đồng tiền.
Tiền Ấn độTiền cắc Ấn độ
Trên tem: biểu tượng quốc huy này cũng được chọn in trên tem thư.
Tem Ấn độ
Trên đầu giấy viết thư của các cơ quan nhà nước: Biểu tượng quốc huy xuất hiện trên tựa đề các đơn, thư của các cơ quan nhà nước.
Đầu thư chính phủ
Trên cơ sở của tổ chức chính quyền và các cơ sở ngoại giao của Ấn Độ ở nước ngoài
Trên hộ chiếu: như hộ chiếu của bao quốc gia khác, trang bìa hộ chiếu công dân Ấn Độ có biểu tượng quốc huy.
Hộ chiếu Ấn độ
Trên cờ tổ quốc: Bánh xe Pháp Asoka trên đế trụ đá Sarnath được chọn đặt vào vị trí trung tâm của lá cờ tổ quốc từ năm 1947, khi Ấn Độ giành được độc lập. Cờ Ấn Độ có ba sọc ngang với ba màu vàng sậm, trắng và xanh biển, ở giữa là bánh xe 24 căm. Bánh xe Pháp này được đặt ở vị trí trung tâm lá cờ, chiếm ba phần tư (3/4) chiều cao phần màu trắng.
Rõ ràng, khi chọn đầu trụ đá bốn sư tử của Asoka, một vị vua Phật tử làm quốc huy của đất nước, các nhà lãnh đạo Ấn Độ muốn biểu dương và noi gương tinh thần trị quốc an dân bằng đạo đức của vị vua anh minh này nhằm hướng đến một xã hội thái bình, thịnh vượng. Ngày nay, trên bề mặt, Đạo Phật không còn hưng thịnh trên đất Ấn. Thế nhưng sâu thẳm trong triết lý sống, văn hóa, sinh hoạt và thơ nhạc, người Ấn thể hiện tinh thần, tính chất và nội hàm của Đạo Phật rất nhiều. Biểu tượng trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath và ảnh hưởng của biểu tượng này đến đất nước và con người Ấn Độ cho đến ngày nay là một điển hình.
Cuối tuần chúng ta đã dịch thơ Anh sang Việt, hôm nay đổi chiều, dịch từ Việt sang Anh. Nhưng đây không phải là thơ, thoải mái hơn.
Dưới đây là một đoạn ngắn trong bài viết của cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh có post hôm nay trên Đọt Chuối Non. Các bạn cùng dịch để vinh danh cô Oanh nhé.
“Cuộc sống hiện đại với những tiến bộ kinh tế kỹ thuật lại tạo ra nhiều sức ép về mặt tâm lý, xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ. Gia đình lúng túng trong nuôi dạy con, xã hội tạo lối sống bon chen… từ đó khi gặp thử thách thay vì đối diện với những vấn đề nan giải và tìm những giải pháp tích cực, các bạn trẻ dễ có xu hướng buông xuôi, tự hủy hoại bản thân với những thói quen tiêu cực như ăn chơi quá đà, thức khuya dậy trễ, tìm sự khuây khỏa với thuốc lá, rượu, ma túy… Có bạn tìm cả cái chết…
Trong khi các nước khác đã có những dịch vụ tâm lý xã hội để giúp các cá nhân tự giải tỏa thì ở nước ta lại thiếu nhiều. Thậm chí có thể nói là không có. Khi giáo dục còn khiếm khuyết, một bộ phận bạn trẻ chưa phát triển được một nhân cách lành mạnh, tự tin.”
Vì đây không phải là dịch thơ hay các văn bản quan trọng, chúng ta không cần phải theo quá sát ý nghĩa của từng chữ. Tuy nhiên, những bài thế này lại cho mình một loại vấn đề khác cũng hơi khó. Đó là làm sao dùng từ và hành văn thông suốt mạch lac như người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, nếu không thì nghe rất “ngoại quốc.”
Để mình đề nghị vài cụm từ, đở cho các bạn tìm kiếm. Mấy đề nghị này chỉ dùng cho bài này thôi nhé. Cho một bài khác, thì lúc đó hãy tính.
Gia đình lúng túng trong nuội dạy con: Families struggle to raise kids
Xã hội tạo lối sống bon chen: Life outside the family is just a rat race (cuộc chạy đua của chuột) (Chữ society thường không dùng để chỉ đời sống bên ngoài gia đình)
Giúp các cá nhân tự giải tỏa: To help individuals deal with pressure (giải quyết áp lực).
Các bạn dùng vài quy luật mình đã nói qua trong các bài trước: Giản dị, sáng sủa, ngắn gọn, tránh passive voice.
Bài này không nhằm mục đích nghiên cứu vocabulary, chỉ chú tâm đến cách viết. Các bạn nên viết rồi post vào comment. Cố gắng thực hành nhé. Chỉ đọc bài của người khác viết thì chẳng lợi ích gì hết. Trust me. Thực hành, thực hành, thực hành. Chẳng có cách nào khác. Đọc không phải là thực hành. Thực hành một buổi bằng đọc 100 buổi. Hãy sử dụng thời gian và năng lực của chúng ta một cách khôn khéo. Hãy dùng 1 giờ với hiệu năng của 10 giờ.
Whatever our hands touch –
We leave fingerprints!
On walls, on furniture,
On doorknobs, dishes, books.
There’s no escape.
As we touch we leave our identity.
Bất cứ vật gì ta sờ –
Ta đều để lại dấu tay!
Trên tường, trên bàn ghế,
Trên núm cửa, đĩa bát, sách vở.
Chẳng hề có lối thoát.
Khi ta sờ, ta để lại lý lịch của ta.
.
Wherever I go today
Help me leave heartprints!
Heartprints of compassion
Of understanding and love.
Bất cứ nơi nào tôi đến hôm nay
Hãy giúp tôi để lại dấu tim!
Những dấu tim của từ tâm
Của cảm thông và tình yêu.
.
Heartprints of kindness
And genuine concern.
May my heart touch a lonely neighbor
Or a runaway daughter
Or an anxious mother
Or perhaps an aged grandfather.
Những dấu tim của ân cần
Và quan tâm chân thành.
Mong tim tôi chạm được người hàng xóm cô đơn
Hoặc cô con gái đang trốn chạy
Hoặc người mẹ khắc khoải lo âu
Hoặc có lẽ là một lão ông.
.
Send me out today
To leave heartprints.
And if someone should say,
“I felt your touch,”
May they also sense the love
that is deep within my heart.
Hãy gửi tôi đi hôm nay nhé
Để lưu lại những dấu tim.
Và nếu ai đó nói rằng,
“Tôi đã cảm nhận vỗ về của bạn,”
Mong cho họ cũng cảm nhận được tình yêu
nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.