Mùa xuân Tây Bắc trong tôi

Thế là đã ba cái tết tôi xa Tây Bắc, cũng là ba cái tết ở Thủ Đô phồn hoa và náo nhiệt, nhưng trong tôi vẫn không hề nguôi ngoai cái cảm giác hẫng hụt, như thiếu một cái gì vô cùng thân thiết, đã ăn sâu vào tiềm thức, vào máu thịt.

Dõi mắt về phương xa. Tôi cứ mường tượng đến những dải mây vắt ngang đỉnh Hoàng Liên cao vút, mỗi bình minh lại hồng rực, long lanh muôn sắc như chiếc khăn piêu trên “tằng cẩu” của người con gái Thái. Và đâu đây tiếng cười trong vắt lấp lánh, bay bổng, phấp phới cùng những dải tua mầu như tia nắng của quả còn hội xuân. Những nhịp xòe nồng say rộn ràng ánh lửa, những tấm lưng thon thả dịu dàng, những khuôn ngực thanh tân, những cần rượu thơm lừng mời gọi. Đâu đây mượt mà giai điệu bài “Tình ca Tây Bắc”: “Rừng xanh cây lá muôn đóa hoa mai chào đón xuân về”. Tôi như kẻ bị bỏ bùa mê, bị bao vây trong những bộn bề cảm xúc.

Ôi cái sắc hoa đào, hoa ban cùng muôn loài hoa rừng khoe sắc đua hương, thơm đến từng lá cây ngọn cỏ đã hóa thân trong mỗi nụ cười duyên, mỗi làn da trắng hồng, mỗi búp tay thon như búp măng rừng, mỗi đường nét tuyệt mỹ trên tấm thân ngà ngọc của người sơn nữ. Để rồi người bạn tôi – nhà văn Thế Sinh đã từng không cầm lòng được phải thốt lên: “Kinh côm nôm tẳng” – tiếng Thái là eo thon ngực nở, mà anh từng thả hồn trong cái ký nổi tiếng: “Miền gái xinh”. Còn tôi như say men rượu cần, trước vẻ đẹp nhuần nhị tuyệt mỹ của những cô sơn nữ như ánh bình minh mai sớm: “Nả ấc nọi nôm túm nàm tong” – tiếng Thái là ngực nhỏ nhọn như gai vông đồng, huyền ảo trong tản văn: “Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc”!

Mỗi con đèo, mỗi cánh rừng, mỗi dòng suối, những thửa ruộng bậc thang đều như những kiệt tác của tạo hóa ẩn chứa bao huyền thoại cùng khát vọng được sống, được yêu.
Con đường 6 mới được tôn tạo, lên cổng trời hun hút dãy Pha Đin, trong bạt ngàn hoa ban và lau trắng. Mỗi bông hoa ban như lời thơ trong câu chuyện tình bất hủ “Sống chụ son sao” – “Tiễn dặn người yêu” và những bông hoa lau dập dờn trong gió như đang chụm đầu thì thầm lời hẹn những mùa yêu. Đây Thuận Châu, đây Tuần Giáo… Con đèo quanh co gấp khúc hiểm trở xứng với tên gọi: “Pha Đin” – nơi đất gặp trời. Người già kể cho tôi, xưa các thế lực chúa đất bao đời tranh giành nhau đều lấy dãy núi hiểm trở này làm chỗ dựa, vì thế còn có tên gọi khác: Pú Chinh (núi chiến tranh).

Tôi nhớ mãi lần cùng đoàn giáo viên thế hệ năm 1959 lên thăm Sơn La, Thạc sỹ Lò Mai Cương của trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Sơn La, người đầu tiên của Việt Nam số hóa thành công chữ Thái, cùng phó giám đốc sở Khoa học công nghệ Sơn La – Cà Văn Chung, người số hóa lịch Thái được áp dụng trong nông lịch và bộ lịch Thái tổng hợp 200 năm, cùng các bạn người Thái đón tôi như đón người nhà. Các anh chị khoe những thành tựu của Sơn La và của “Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái”. Tôi chia vui cùng các bạn mà lòng không khỏi xao xuyến bồi hồi. Mới ngày nào Sơn La, Tây Bắc còn là vùng đất xa xôi, nghèo nàn và lạc hậu, thì nay đã là những điểm sáng trên bản đồ đất nước.
Tôi miên man đi trong ký ức những Điện Biên, Lai Châu, những con suối “Nậm Na”, “Nậm Rốm”, những tên đất đã trở thành tên lịch sử: “Mường Thanh” – Điện Biên, “Mường Than” – Than Uyên, “Mường Tấc” – Phù Yên, rồi vượt đèo “Khau Phạ” – sừng trời về Mường Lò, Yên Bái, nơi tôi đã từng sống và công tác 30 năm trời. Để rồi trong lòng chợt ngân lên câu ca dao thơm hương nếp mới: “Mường Lò gạo trắng nước trong/ Ai đi đến đó lòng không muốn về”.

Vâng Mường Lò không chỉ là đất tổ của người Thái đen Tây Bắc, là cánh đồng rộng thứ hai Tây Bắc. Con suối “Nậm Xia” – suối nước mắt, tên gọi cũ của suối “Nậm Thia” vắt ngang cánh đồng Mường Lò trong nắng xuân ngời muôn ánh bạc. Mỗi con đường mới mở, mỗi cánh rừng, mỗi mầm xuân và trong từng câu “khắp”, điệu “xòe”, ánh mắt giao duyên đều ngời sáng cất lên những cồn cào day dứt và ước mơ của bao thế hệ: “Ngày xưa, có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi nọ. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát, với những chú cá sỉnh mình thon, chắc lẳn, vậy mà xuân này sao nhớ lạ lùng. Những sóng vàng ngày xuân của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

Tôi chợt nhớ tới hình ảnh nghệ nhân Lò Văn Biến ôm đàn tính thả hồn trong những điệu “khắp”. Ông như pho sử sống của người Thái Mường Lò, đã từng sưu tầm và dịch nhiều tác phẩm của dân tộc Thái, ông đã cùng tôi biên soạn “Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường Lò” và dịch tác phẩm thơ: “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng”… Trước tết, khi nhà văn Trần Nhương đưa nhà văn Nguyễn Tiến Lộc từ Canada về, lên Yên Bái và vào thăm Mường Lò, ông nhờ nhà văn Trần Nhương gọi cho tôi dặn đi dặn lại: “Tết về chơi, nhớ lắm đấy!”. Rồi cô gái trẻ Cầm Thị Nghiệp, sinh viên trường Cao đẳng văn hoá nghệ thuật Yên Bái, từng là học sinh xuất sắc lớp chữ Thái cổ do nghệ nhân Lò Văn Biến mở cũng gọi: “Bác ơi, tết về chơi bác nhé, năm nay vui lắm”. Trong tôi cồn lên một nỗi nhớ thật khó gọi tên, con tim cứ nhẩy lên như nhịp trống hội xòe. Những kỷ niệm về những mùa xuân Tây Bắc ùa về lâng lâng trong ký ức, thân thuộc, nhung nhớ đến nao lòng. Và luôn tin rằng Mường Lò, Yên Bái nói riêng và Tây Bắc nói chung, với những người con ưu tú như nghệ nhân Lò Văn Biến, thạc sỹ Lò Mai Cương, phó giám đốc Cà Văn Chung cùng cô sinh viên Cầm Thị Nghiệp… mỗi mùa xuân sẽ thay da đổi thịt rất nhiều. Còn với cô sinh viên Thanh Nga của trường đại học Văn hóa – khoa Dân tộc học, một lần ngẫu nhiên đọc bài viết của tôi về “nét đẹp bài hát mừng dâu mới của người Thái Mường Lò” đã bị chinh phục bởi vẻ đẹp nguyên sơ của phong tục tập quán và các làn điệu dân ca Thái, cô đã quyết định làm đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Thanh Nga cho biết, có một số sinh viên cũng làm đề tài về văn hóa Thái và cô quyết tâm mùa xuân này nhất định sẽ lên Tây Bắc, để hiểu thêm về văn hóa Thái và được mùa xuân Tây Bắc chắp cánh. Thế mới biết sức hút của văn hóa Thái Tây Bắc lớn lao biết chừng nào.

Tôi miên man trong suy tư. Nếu không có mấy chục năm trời gắn bó cùng những mùa xuân Tây Bắc, để rồi cái hơi cái hồn Tây Bắc thấm trong tôi từ lúc nào, thì tôi đâu có được vốn sống phong phú làm nên những trang văn thơ như hôm nay. Những tên đất, con người lịch sử và huyền thoại của Tây Bắc, cùng bao thiên truyện tôi được nghe các nghệ nhân kể bên bếp lửa, bao hội “xòe” cùng những điệu “khắp” Thái, những lễ hội dân gian của các dân tộc cùng hương rượu cần ngọt lịm, là mạch nguồn sáng tạo trong tôi. Nếu thiếu đi hơi ấm của mùa xuân Tây Bắc, chắc cuộc đời tôi sẽ nghèo đi nhiều lắm. “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” là đây chăng, để rồi xuân này giữa Thủ Đô đang hối hả nhịp sống mới hướng tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tôi chợt nhận ra Tây Bắc mùa xuân với một vẻ đẹp mới, trong sáng vô ngần.

Hà Nội xuân 2010
Trần Vân Hạc

Bộ luật đạo đức của thổ dân da đỏ Mỹ

Chào các bạn,

Khi những người châu Âu lần đi thám hiểm và phát hiện ra châu Mỹ, họ đã gặp những người thổ dân da đỏ ở vùng bắc Mỹ và tưởng nhầm đó là người Ấn Độ. Vì thế họ gọi những người thổ dân này là Indian. Cái tên này về sau gây nhiều nhầm lẫn nên người Mỹ chuyển sang dùng từ Native American để chỉ tới những thổ dân, bộ lạc da đỏ châu Mỹ nhằm phân biệt với những người có nguồn gốc di cư (Non-Native American).

Mặc dù vậy từ Native American không có nghĩa rằng mọi thổ dân trên vùng bắc Mỹ đều có cùng một nguồn gốc, văn hóa như nhau. Trên thực tế ở Mỹ có hàng chục bộ lạc, dân tộc khác nhau như Hopi, Lakota, Sioux…Sau khi giành được quyền tự cai trị từ chính phủ Mỹ, các bộ tộc da đỏ Mỹ sống trong các khu bảo tồn gọi là Indian Reservations. Ở Mỹ hiện nay có hơn 300 khu như vậy, một số mở cửa cho khách du lịch viếng thăm để tìm hiểu đời sống của người da đỏ.

Các bộ lạc da đỏ ở Mỹ nổi tiếng về sự giàu có trong đời sống văn hóa và tâm linh. Dưới đây là một số nguyên tắc của thổ dân da đỏ Mỹ được sưu tầm lại, các bạn cùng nghiên cứu nhé.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng,

Hoàng Khánh Hòa

.

Bộ luật đạo đức của thổ dân da đỏ Mỹ

1. Thức dậy với ánh mặt trời để cầu nguyện. Cầu nguyện một mình. Cầu nguyện thường xuyên. Thánh Linh Cao Cả sẽ lắng nghe, nếu bạn chịu nói.

2. Hãy khoan dung với những người lạc lối. Si mê, tự cao, tức giận, ghen tị, và lòng tham bắt nguồn từ một tâm hồn đi lạc. Cầu nguyện cho họ tìm thấy chỉ dẫn.

3. Hãy tự mình đi tìm chính mình. Đừng để người khác làm đường cho bạn. Đó là con đường của bạn, và chỉ của bạn thôi. Những người khác có thể đi trên đường đó cùng bạn, nhưng không ai đi giùm bạn cả.

4. Đối đãi với khách trong nhà bạn một cách rất cẩn thận. Mời họ thứ đồ ăn tốt nhất, cho họ chiếc giường tốt nhất, và đối xử với họ với sự tôn trọng và tương kính.

5. Không lấy cái gì không phải của mình, dù là từ người khác, từ cộng đồng, từ nơi hoang dã hay từ một nền văn hóa. Nó không do làm lụng hay do người ta cho mình. Nó không phải là của mình.

6. Tôn trọng tất cả mọi thứ trên trái đất này – dù đó là con người, động vật hay cây cỏ. Trân trọng Thánh Linh trong mọi thứ.

7. Trân trọng suy nghĩ, ước muốn và lời nói của những người khác. Không bao giờ ngắt lời người khác, hay chế nhạo, hay nhái họ. Cho phép mỗi người quyền được thể hiện bản thân.

8. Không bao giờ nói xấu về người khác. Năng lượng tiêu cực mà bạn đưa vào vũ trụ sẽ nhân lên khi chúng quay trở lại với bạn. Tất cả mọi người đều mắc lỗi,. Và tất cả lỗi lầm có thể được tha thứ. Những suy nghĩ xấu gây ra ốm đau về trí óc, cơ thể, và tinh thần. Rèn luyện tính lạc quan.

9. Thiên nhiên không dành cho chúng ta, nó là một phần của chúng ta. Chúng là một phần của gia đình vật chất của bạn.

10. Trẻ em là hạt giống của tương lai chúng ta. Gieo trồng tình yêu trong trái tim chúng và tưới cho chúng bằng trí tuệ và các bài học sống. Khi chúng lớn lên, cho chúng không gian để trưởng thành.

11. Tránh làm đau trái tim của người khác. Thuốc độc từ nỗi đau bạn tạo ra sẽ quay trở lại với bạn.

12. Thành thật mọi lúc. Thành thật là bài kiểm tra y’ chí của con người trong vũ trụ này.

13. Giữ bản thân cân bằng. Trí óc, tinh thần, cảm xúc và cơ thể bạn – tất cả cần mạnh mẽ, trong sạch, và khỏe mạnh. Tập thể dục cho cơ thể để làm tinh thần mạnh lên. Làm giàu tinh thần để chữa những bệnh hoạn về cảm xúc.

14. Xác định rõ ràng rằng bạn sẽ là ai và bạn sẽ hành động như thế nào. Chịu trách nhiệm cho những hành động của bạn.

15. Tôn trọng chuyện riêng và không gian riêng của người khác. Không đụng vào tài sản cá nhân của người khác – đặc biệt là những đồ vật linh thiêng và có tính tôn giáo. Đây là điều cấm kị.

16. Hãy thành thật với bản thân đầu tiên. Bạn không thể nuôi dưỡng và giúp đỡ người khác nếu bạn không thể nuôi dưỡng và giúp đỡ chính bạn trước.

17. Tôn trọng niềm tin tôn giáo của người khác. Không áp đặt niềm tin của bạn vào người khác.

18. Chia sẻ sự may mắn của bạn với những người khác. Tham gia từ thiện. Sẵn sàng cho lại mọi người, để Dân Tộc sẽ sống.

Hoàng Khánh Hòa dịch
.

Native American Code of Ethics:

Rise with the sun to pray. Pray alone. Pray often. The Great Spirit will listen, if you only speak.

Be tolerant of those who are lost on their path. Ignorance, conceit, anger, jealousy and greed stem from a lost soul. Pray that they will find guidance.

Search for yourself, by yourself. Do not allow others to make your path for you. It is your road, and yours alone. Others may walk it with you, but no one can walk it for you.

Treat the guests in your home with much consideration. Serve them the best food, give them the best bed and treat them with respect and honor.

Do not take what is not yours whether from a person, a community, the wilderness or from a culture. It was not earned nor given. It is not yours.

Respect all things that are placed upon this earth—whether it be people, animal or plant. Honor the Spirit in all things.

Honor other people’s thoughts, wishes and words. Never interrupt another or mock or rudely mimic them. Allow each person the right to personal expression.

Never speak of others in a bad way. The negative energy that you put out into the universe will multiply when it returns to you. All persons make mistakes. And all mistakes can be forgiven. Bad thoughts cause illness of the mind, body and spirit. Practice optimism.

Nature is not for us, it is a part of us. They are part of your worldly family.

Children are the seeds of our future. Plant love in their hearts and water them with wisdom and life’s lessons. When they are grown, give them space to grow.

Avoid hurting the hearts of others. The poison of your pain will return to you.

Be truthful at all times. Honesty is the test of one’s will within this universe.

Keep yourself balanced. Your mental self, spiritual self, emotional self, and physical self—all need to be strong, pure and healthy. Work out the body to strengthen the mind. Grow rich in spirit to cure emotional ails.

Make conscious decisions as to who you will be and how you will react. Be responsible for your own actions.

Respect the privacy and personal space of others. Do not touch the personal property of others—especially sacred and religious objects. This is forbidden.

Be true to yourself first. You cannot nurture and help others if you cannot nurture and help yourself first.

Respect others religious beliefs. Do not force your belief on others.

Share your good fortune with others. Participate in charity. Be willing to give back to the people, so that People will live.

Terri Jean

Thiền của Joshu

Joshu bắt đầu học Thiền lúc 60 tuổi và tiếp tục cho đến 80, lúc ngài đạt Thiền.

Joshu dạy Thiền từ năm 80 cho đến 120 tuổi.

Một ngày nọ môt đệ tử hỏi Joshu: “Nếu con không có gì trong tâm hết, con phải làm gì?”

Joshu trả lời: “Ném nó ra.”

“Nhưng con không có gì hết, làm sao mà ném ra được?” người đệ tử hỏi tiếp.

“Vậy thì,” Joshu nói, “khiêng nó ra.”
.

Bình:

• “Không có gì trong tâm” sao lại hỏi?

Có nguyên một câu hỏi nặng vậy mà nói là không có sao được!

Lần thứ nhất thầy bảo ném nó ra ngoài. Nhưng lại hỏi tiếp, thầy biết là câu hỏi này nặng quá, không ném được, phải khiêng ra ngoài.

• Tâm Thiền là tâm rỗng lặng, chẳng có gì trong đó hết–Vô tâm (no-mind).

• Joshu là tên Nhật của thiền sư Trung Quốc tên Triệu Châu, mà chúng ta đã nói đến qua công án Con Chó Của Triệu Châu trong bài Dạy kiểu hà tiện

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Joshu’s Zen

Joshu began the study of Zen when he was sixty years old and continued until he was eighty, when he realized Zen.

He taught from the age of eighty until he was one hundred and twenty.

A student once asked him: “If I haven’t anything in my mind, what shall I do?”

Joshu replied: “Throw it out.”

“But if I haven’t anything, how can I throw it out?” continued the questioner.

“Well,” said Joshu, “then carry it out.”

# 41

Văn hóa sáng tạo

Chào các bạn,

Chúng ta thường nói đến sáng tạo như là một kỹ năng: 30 quy luật để sáng tạo, kỹ‎ thuật động não, k‎ỹ thuật đặt câu hỏi, v.v… Dĩ nhiên là sống ở đời chuyện gì cũng có một số kỹ năng và kỹ thuật liên hệ. Nhưng sáng tạo không phải là kỹ năng. Sáng tạo là bản tính của một người, cũng như là lễ độ, chẳng hạn. Lễ độ không phải là các kỹ năng lễ độ, mà là bản tính của một người. Một người lễ độ không phải vì người ấy biết các kỹ năng lễ độ, mà vì người ấy có bản tính lễ độ và sống lễ độ với mọi người.

Sáng tạo cũng vậy. Người sáng tạo là người luôn luôn sáng tạo, đi đâu cũng sáng tạo, làm gì cũng sáng tạo, sáng tạo một ngày 24 tiếng (có thể sáng tạo ngay trong khi ngủ). Sáng tạo là bản tính của anh ta, là máu chảy trong người, lâ từng hơi thở, từng nhịp đập.

Bởi vì vậy, chúng ta không thể nghiên cứu và giải quyết vấn đề thiếu sáng tạo như là một vấn đề kỹ thuật (hay kỹ năng) thuần túy, và ta phải xem đó như là một vấn đề văn hóa của một người—tức là về cách sống, về môi trường sống, về mọi người chung quanh anh ta.

Môi trường sống thường tạo ra con người—môi trường cướp bóc thường tạo ra người cướp bóc, môi trường từ thiện thường tạo ra người từ thiện, môi trường thiếu sáng tạo thường sinh ra người thiếu sáng tạo.

Muốn sáng tạo chúng ta phải thiết lập một môi trường sống sáng tạo.

Có nhiều điều tạo ra môi trường. Nhưng giản dị hóa đến tận cùng thì môi trường sống của chúng ta gồm có chính ta và những người chung quanh ta. Ta và vòng người quanh ta tạo thành môi trường sống của ta.

Hãy tưởng tượng một người đứng giữa vòng muốn làm cái gì đó mới lạ, và đa số hay tất cả những người đứng ở mấy trăm vòng tròn quanh anh ta, biển người quanh anh ta, nói “không”, thì liệu anh ta có sáng tạo được không?

Có thể là một trong triệu người vẫn sáng tạo được, nhưng đại đa số chắc là không.

Nhận xét này đưa đến suy luận sau đây: Nếu chính ta muốn sáng tạo mà mọi người chung quanh ta chống sáng tạo thì rất khó sáng tạo.

Tuy vậy, khi nói đến “khoa học” sáng tạo, chúng ta thường chỉ chú tâm đến người đứng giữa vòng tròn: “Làm thế nào để tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo?” Nhưng, nếu tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo mà mọi người chung quanh tôi chống sáng tạo, thì có lẽ là tôi cũng bỏ cuộc sớm thôi.

Quảng cáo tuyên truyền của Sở Nước Denver

Vì vậy, chúng ta phải đặt vấn đề ngược lại: Làm thế nào để những người chung quanh tôi khuyến khích và ủng hộ tôi sáng tạo?

Đổi góc nhìn: Tôi đứng ở vòng bên ngoài, nhìn vào người đứng giữa vòng, câu hỏi sẽ là “Làm thế nào để tôi khuyến khích anh ta sáng tạo?”

Đây chính là mấu chốt căn bản nhất của vấn đế: Làm thế nào để chúng ta khuyến khích những người khác trong xã hội của ta sáng tạo?

Tập trung của ta không nên nhắm vào “Làm thế nào để tôi sáng tạo?” Câu này mang xuống ưu tiên hai.

Ưu tiên đầu nên là: Làm thế nào để tôi khuyến khích người khác sáng tạo?

Và khi ta hỏi như thế thì ta sẽ được cả hai, vì nếu cả ngày ta khuyến khích ngưởi khác sáng tạo thì đương nhiên ta sẽ trở thành sáng tạo.

Như thế, muốn tạo một môi trường sáng tạo, cho mình và cho tất cả mọi người, mỗi chúng ta phải tích cực khuyến khích người khác sáng tạo luôn luôn trong cuộc sống.

• Bạn bè khuyến khích nhau.
• Anh chị em khuyến khích nhau.
• Bố mẹ khuyến khích con cái.
• Thầy cô khuyến khích học trò.
• Chỉ huy khuyến khích thuộc hạ.
• Nhà nước khuyến khích nhân dân.

Nhưng, khuyến khích sáng tạo cách nào?

• Luôn luôn kêu gọi mọi người có ‎ ý tưởng mới, phương cách mới, tư duy mới…

Tập tự động khen cái mới về tính mới của nó (Ô, mới lạ nhỉ!) Đúng hay không, để đó tính sau. Đã là mới thì khó biết đúng sai. Nhưng mới thì ít ra cũng hay về “tính sáng tạo” (creativity).

• Tính sáng tạo (creativity) luôn luôn nên là một phần điểm trong tổng số điểm.

• Thấy ‎ý tưởng mới hay phương cách mới chói tai mình, thì cũng đừng chống đối. Vẫn nên khen, “Đây là một ý tưởng mới. Hay đấy. Cho tôi ít thời gian để suy gẫm thêm.”

• Đừng ép người khác, nhất là người thấp hơn mình, đồng ‎ý với mình luôn luôn. Khuyến khích họ có lập trường của họ. Nếu không đồng ý được thì “ta đồng ‎ý là ta bất đồng ý.”

• Khuyến khích người thấp hơn mình khám phá mọi sự, thay vì cứ nhồi họ vào cái khuôn của mình.

Có bố mẹ nào nói với con, “Nhà mình công giáo (hay phật giáo). Nhưng có nhiều đạo khác ngoài kia, con đã lớn rồi, nên nghiên cứu và khám phá. Rồi mai mốt con có thể tự quyết định nên giữ đạo mình hay theo đạo khác”?

• Điều càng mới, nghe càng điên rồ. Cho nên ta cần ủng hộ và khuyến khích người có ‎ ý tưởng “điên rồ”. Thành hay bại là chuyện của họ. Ủng hộ họ là chuyện của mình.

(Sáng tạo để cái mới vào khuôn cái cũ thì cũng như không! “Em sáng tạo cho anh môt cái bánh tráng mới giống y hệt cái bánh tráng truyền thống mình đang ăn”. Em nghiêng người, lấy một cái bánh tráng có sẵn trên bàn: “Đây anh, em đã sáng tạo được cái giống hệt cái bánh truyền thống cho anh đây”).

Nói chung là tâm ta phải yêu sáng tạo, yêu thay đổi, yêu cái mới, đến mức mà đi đâu ta cũng muốn mọi người có cái mới, ý tưởng mới, phương pháp mới thường xuyên.

Dĩ nhiên ta muốn nâng cao giá trị truyền thống, nhưng truyền thống là nền để ta đứng trên đó sáng tạo cái mới. Truyền thống không phải là cái khuôn làm bánh in, 100 năm cũng chỉ ra một kiểu bánh.

Trên ĐCN, chúng ta nói đến những truyền thống rất lâu đời của ta—từ Phật pháp, đến Thánh kinh, đến Lĩnh Nam Chích Quái, ngay cả thơ cổ như Thiền thi và Đường Thi, để làm nền cho chúng ta sáng tạo tư tưởng mới cho đời sống mới, không phải để ta láp nháp toàn những điều xưa cũ như vẹt, mà không suy nghĩ biến hóa gì.

Nếu ta thực tâm yêu sáng tạo mãnh liệt, thì tự nhiên ta biết làm thế nào để khuyến khích tất cả mọi người quanh ta sáng tạo. Cho nên nơi cuối cùng, và cũng là khởi điểm đầu tiên, vẫn là tâm ta. Nếu ta chỉ nghĩ đến sáng tạo như là một kỹ năng công việc, mà chưa yêu nó say mê như yêu phở, yêu bánh cuốn, thì ta có vấn đề rất lớn. Hãy để ý tâm mình, và hãy suy tư về sáng tạo cho đến lúc mình bị tiếng sét ái tình với nó.

Đây là chuyện trăm năm, nghìn năm, của đất nước. Mong các bạn cẩn trọng.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Maya Angelou và Danh ngôn

Ngoài rất nhiều bài thơ hay được dùng trong chương trình giảng dạy các cấp trung học và đại học, bà rất nổi tiếng và được yêu mến với nhiều danh ngôn.

Các bạn sẽ xem một file Power Point về danh ngôn của Maya Angelou do chị Trần Lê Tuý Phượng soạn rất công phu với hơn 30 hình ảnh minh hoạ là những bông hoa thật đẹp được hai anh chị Trần Liệt Hùng và Phạm Kiêm Yến ghi lại

Xin các bạn click vào hình bên dưới để xem và download file


.

Tiếp theo mời các bạn xem một file video với những hình ảnh về hoạt động và cuộc đời của nữ thi hào Mỹ da đen Maya Angelou mà ba bài thơ của bà đã được anh Trần Đình Hoành và Lê Vĩnh Tài dịch trên ĐCN
.
http://www.youtube.com/watch?v=QiImfyTBiUY

Bài hát Tiếng Anh là nhạc nền trong file này là When I See You Smile với ca từ như sau:

*
Sometimes I wonder
How I’d ever make it through
Through this world
without having you
I just wouldn’t have a clue
And sometimes it seems
Like this world’s closing in on me
And there’s no way of breaking free
Then I see you reach out for me
Sometimes I wanna give up
Wanna give in
I wanna quit the fight
then one look at you baby
can make everything all right
make everything alright

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
I see a ray of light
Oh I see it shining
right through the rain
When I see you smile
Baby when I see you smile at me

Baby there’s nothing in this world that could ever do
What the touch of your hands can do
It’s like nothing I ever knew
ooooohhhh
And when the rain is falling
I don’t feel it
Cause you’re here with me
and one look at you baby
It’s all that I’ll ever need
It’s all that I’ll ever need

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
I see a ray of light
Oh I see it shining
right through the rain
When I see you smile
Baby when I see you smile at me

Sometimes I wanna give up
wanna give in
wanna quit the fight
Then one look at you baby
can make everything alright
make everything alright

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything (that i can do anything)
When I see you smile (baby when i see you smile)
I see a ray of light( I see a ray of light)
Oh I see it shining
right through the rain (baby when i see you smile)
When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
Baby when I see you smile at me
when i see you smile.. baby when i see you smile..
aaaattt me..aaattt me
*
.

Ngoài ra xin giới thiệu một file video để luyện nghe tuyệt vời. Đó là lời giới thiệu của Maya Angelou về cuốn sách của bà
Letter to My Daughter (ấn bản được bán từ tháng 9/ 2008).
Về cuốn sách này sẽ có một bạn trẻ dịch mấy lời đề từ của tác giả giới thiệu (song ngữ)trên ĐCN ngày mai
.

Thân ái chúc các bạn một ngày vui với công việc, gia đình và Đọt Chuối Non </em

Thứ hai, 22 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc, Nhạc Xanh, Video, Chứng Nhân, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Phát triển ở Singapore, Nghiên Cứu Xã Hội, anh Trần Đình Hoành.

Tây Nguyên: Tết yên vui ấm lòng người nghèo, Thông Tin, chị Hoàng Thiên Nga.

Một số sinh hoạt liên hệ đến người Việt vùng vịnh San Francisco , Thông Tin, anh Trần Đình Hoành.

Giao thừa , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Thực hiện giấc mơ, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Lời của Giọt Sương, Thơ, chị Hoa Trang Giọt Sương Tím.

Xuân ngẫu hứng đi tìm, Thơ, anh Phạm Lưu Đạt.

Một đêm trừ tịch , Văn, chị Vivian Hoàng Nhất Phương.

Giải Nobel văn chương cho Việt Nam, tại sao chưa? , Văn Hóa, Trà Đàm, anh Inrasara.

Trong giấc mộng , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc

Chào các bạn,

Mình rất thích tiếng đàn bầu, cây đàn một dây thuần túy Việt Nam với những âm thanh ai oán của dân nhạc miền Nam.

Dĩ nhiên là đàn bầu có thể phát ra âm thanh cho mọi loại nhạc, kể cả rock and roll của Mỹ, nhưng đàn bầu chỉ đạt được đỉnh cao của nó với những lời nhạc đứt ruột của dân ca miền Nam–dân ca của những người biệt xứ, từ Bắc hay Trung bị đày vào miền Nam làm đồn điền cao su cho Pháp, hay đào sình đắp mương để khai phá miền Nam. Những lời ca của những kẻ xa nhà, tâm tư heo hút.

Và tiếng đàn của chàng nghệ sĩ mù Nguyễn Thanh Tùng có lẽ là tiếng đàn bầu hay nhất mình đã từng được nghe. Hôm nay chúng ta sẽ đọc về cuộc đời lạ thường và tiếng đàn tuyệt diệu của Nguyễn Thanh Tùng qua bài báo Thanh Niên năm 2007 và một số youtube videos. Continue reading Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc

Phát triển ở Singapore

Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã hội tuần này là:

“Điều gì bạn nghĩ là quan trọng nhất trong phát triển ở Singapore?”

và 6 câu trả lời là:

Chính quyền trong sạch
Chế độ chính trị
Dân singapore sáng tạo
Dân Singapore đoàn kết
Dân Singapore thông minh
Other (Thêm câu trả lời)

Chúc các bạn trả lời vui vẻ !

Mến,
Hoành

Tây Nguyên: Tết yên vui ấm lòng người nghèo

Ngoài niềm vui lớn được thụ hưởng dự án quốc gia về việc cấp điện cho 116.000 hộ thuộc các thôn, buôn chưa có điện vùng Tây Nguyên với tổng vốn đầu tư hơn 1.200 tỷ đồng, hàng vạn hộ nghèo và gia đình chính sách còn được nhận nhiều phần quà tết đầy tình nghĩa. Đặc biệt, số doanh nghiệp chung tay góp công, góp của làm công tác từ thiện ngày càng nhiều hơn. Ước tính tổng số quà chi từ nhiều nguồn cả trong và ngoài ngân sách đã được trao tặng giữa các đơn vị kết nghĩa tại các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Đắk Nông lên tới hàng trăm tỉ đồng .

Ban Đại diện báo Tiền Phong khu vực Tây Nguyên đã chuyển 50 triệu đồng quà tết quyên góp từ những tấm lòng nhân ái đến những nơi cần giúp đỡ. Trong đó có 1 triệu đồng tiền lì xì tết của bạn đọc và phóng viên góp tặng Tổ ấm Tình thương làng Kon T’Nẽ, xã Đăk T’ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; Và 196 phần quà gồm bánh, mứt, kẹo, mì tôm, phong bao lì xì v.v… mỗi phần trị giá 250.000đ. Không ngại khó khăn vất vả trong những ngày bận rộn giáp tết, nhiều độc giả thiện nguyện đã cùng cán bộ phóng viên Ban Đại diện đến tận các buôn làng xa xôi hẻo lánh để trao: 106 phần quà cho các hộ đồng bào nghèo ở buôn Cư K’nao xã Hòa Hiệp huyện Cư Kuin ; 45 phần quà cho đồng bào nghèo ở 2 buôn H’Đơk, H’Wiê xã Ea Kap; 45 phần quà cho học sinh mồ côi và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại buôn Tháp Prông xã Cư Ea Bua thành phố Buôn Ma Thuột. Ban Đại diện báo Tiền Phong cũng phối hợp cùng một số cơ quan doanh nghiệp và Tỉnh Đoàn Đắk Lắk đi trao 730 suất quà cho học sinh nghèo vượt khó ở các huyện Lắk, Krông Năng, Ea H’leo, Cư Mgar và Ea Kar, mỗi suất trị giá 200.000đ.

1. Quà Tết cho học sinh nghèo cua báo Tiền Phong
.


.
2. Bạn đọc báo Tiền Phong cùng di trao quà Tết
.

3. Báo Tiền Phong trao qùa Tết ở Cư Mgar
.

HoàngThiên Nga – Hùng Lân

Một số sinh hoạt liên hệ đến người Việt vùng vịnh San Francisco

Chào các bạn,

Mình mới nhận được lịch sinh hoạt này từ anh Vũ Đức Vượng, giáo sư tại De Anza College, California. Lịch này chủ yếu là cho các bạn vùng Vịnh San Francisco. Có lẽ các bạn đọc được tiếng Anh 🙂 nên mình để nguyên bản Anh ngữ đây.

Cám ơn anh Vượng.

Chúc mọi người vui khỏe!

Hoành

____________________

A few events relating to Vietnamese, around the Bay Area


The Summer Program at De Anza  “VIETNAM  in  VIET-NAM”  will take place in August this year.

Orientation meetings:    at De Anza: tues. March 16  —  noon – 1 pm —   Second floor of the Library (Learning Center);

at Foothill:  Thu.  March 18  —  noon – 1 pm —   Toyon Room, in the Campus Center.

For more info, email me at this address.

Vu-Duc Vuong
Coordinator-Teacher
Vietnam in Vietnam
Summer Program of De Anza College
August 6 – 30, 2010

________________

Wednesday, February 24

The Long Shadow of Vietnam

Contemporary Asia Seminar Series

Marvin Kalb, James Clark Welling Presidential Fellow at The George Washington University and Edward R. Murrow Professor Emeritus at Harvard’s Kennedy School of Government

Please join Marvin Kalb to discuss the impact of the Vietnam War on presidential/strategic decisions about national security issues.

Marvin Kalb is also a contributing news analyst for National Public Radio and Fox News Channel. In addition, he is frequently called upon to comment on major issues of the day by many of the nation’s other leading news organizations.

Kalb had a distinguished 30-year broadcast career, working for both CBS News and NBC News, where he served as Chief Diplomatic Correspondent, Moscow Bureau Chief, and moderator of Meet the Press. Among his many honors are two Peabody Awards, the DuPont Prize from Columbia University, the 2006 Fourth Estate Award from the National Press Club and more than a half-dozen Overseas Press Club awards. He has lectured at many universities, here and abroad. Kalb was the founding director of the Joan Shorenstein Center on the Press, Politics, and Public Policy at the Kennedy School of Government at Harvard University.

A graduate of the City College of New York, Kalb has an M.A. from Harvard and was zeroing in on his Ph.D. in Russian history when he left Cambridge in 1956 for a Moscow assignment with the State Department. The following year, he joined CBS News, the last correspondent hired by Edward R. Murrow. Kalb has authored or co-authored 10 nonfiction books and two best-selling novels. His latest book, The Media and the War on Terrorism (co-edited with Stephen Hess), was the recipient of the 2004 Arthur Rowse Award for Press Criticism. He is currently engaged in research for a book on U.S. involvement in the Vietnam War and its impact on American politics and foreign policy.

12:00p.m. – 1:30p.m, RSVP required by February 23

http://aparc.stanford.edu/events/registration/6089/

Okimoto Conference Room

Encina Hall, 3rd floor, east wing

For more information please contact Debbie Warren

dawarren@stanford.edu or 650-723-8387


___________________

Thursday, February 25

The Health Policy Environment in Vietnam: Observations from an Outside Insider

Co-Sponsored by the Asia Health Policy Program and the South East Asia Forum

Dr. Khoa Truong, Assistant Professor of Department of Public Health Science Clemson University

The health sector’s successes in Vietnam have been described as “legendary” by international donors, but there is always the other side of the story. One can question the objectivity of reports from the government of Vietnam, the World Bank, and the World Health Organization. One can wonder in what areas the health sector has failed, who has paid for a “success story” and at what cost, and how much information is well documented and has been made public. Are there “stylized facts” regarding those aspects of health that have been successfully reformed compared with those where reform has lagged? Given these concerns, how can the research community contribute to improving health policy in Vietnam?

Dr. Truong will share his thought on recent socioeconomic development in Vietnam, discuss key health policy issues, and reflect upon his experiences including a research project in which the University of Queensland collaborated with Ministry of Health of Vietnam. Additional evidence will be drawn from a study of the cost-effectiveness of interventions to reduce tobacco use in Vietnam.

Khoa Truong was a visiting faculty member at the Hanoi School of Public Health and a research fellow at the Health Strategy and Policy Institute in 2008-2009.  Prior to that he spent six years as a doctoral fellow at the RAND Corporation.  His research interests include tobacco, alcohol, and illicit drug control policies; the impacts of built environments on health; international health issues; and economic development.

He received his doctorate and master of philosophy in policy analysis from the Pardee RAND Graduate School and earned a master’s degree in development economics from Williams College. A native of Vietnam, he began his career working with NGOs in bilateral and multilateral development projects in Southeast Asia. He was awarded a Fulbright scholarship and wrote “most outstanding paper” submitted at an Academy Health’s Annual Research Meeting (acknowledged as the premier forum for sharing the results of scholarship on health services).

12:00p.m. – 1:15p.m, RSVP required by February 24

http://aparc.stanford.edu/events/registration/5941/

Okimoto Conference Room

Encina Hall, 3rd floor, east wing

For more information please contact Lisa Lee

llee888@stanford.edu or 650-725-2429
_______________

A community  event

Please come join us in this upcoming theater event and post-theater dialogue within the Vietnamese community on issues of parenting, mental health, immigration policy; we are hoping that you take the collective journey to share your individual story thru story telling and to take additional step from self-care, caring for family to caring for larger community and to care for the planet earth.

Who: Guardians, Disciplinarians and Planters of Values.

Let us generate solutions together for a healthy and vibrant community!

Asian American Recovery Services, Inc. presents…

A Theater and Dialogue Event `LangTa’

performed by San Khau Viet Cali theater group.

on Feb 21st, March 7th and 14th 2010

When: February 21, 2010 Where: Shirakawa Community Center2072 Lucretia Ave San Jose, CA 95122 Time: 1:00 p.m.-4:00 p.m.

When: March 7th and 14th, 2010 Where: Mayfair Community Center2039 Kammerer Ave San Jose, CA 95116 Time: 1:00 – 4:00 p.m.

RSVP: thùy trang at 408-271-3900 x 343 or ttnguyen@aars-inc.org

Other: all events are free, light lunch will be provided.
_______________

A film about New Orleans & Katrina & Viet-Ams

Dear Folks,

A VILLAGE CALLED VERSAILLES has a busy couple months coming up! Please find our March screenings below. Hope to see you at one soon, and please don’t forget to forward this on to friends who might want to see the film.

We are also excited to announce A VILLAGE CALLED VERSAILLES has just been invited to the 2010 American Documentary Showcase, curated by the US Department of State and the International Documentary Association (IDA). The film will travel with the Showcase to over 30 countries around the world this year. Finally, A VILLAGE CALLED VERSAILLES was recently honored with its third award, the Council on Foundations distinguished Henry Hampton Award for ‘Excellence in Film & Digital Media.’

Thank you for your continued support.
________________

SEBASTOPOL, CA:

WHAT: Sebastopol Documentary Film Festival
WHEN: 3/6 @ 7pm
WHERE: Sebastopol Cinemas, 6868 McKinley Street, Sebastopol, CA
INFO/TICKETS: Sebastopol Documentary Film Festival
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/avcvsebastopol

Filmmaker S. Leo Chiang, and associate producers Brittney Shepherd and Eva Moss will be in attendance.
________________

SAN JOSE, CA:

WHAT: California Association for Bilingual Ed (CABE) Conference
WHEN: 3/12 @ 4pm
WHERE: McEnery Convention Center, 150 West San Carlos St., San Jose, CA
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/avcvcabe

Filmmaker S. Leo Chiang will be in attendance. Please visit the CABE Conference page for more information.

SAN FRANCISCO/SAN JOSE, CA (Three Screenings):

WHAT: San Francisco Int’l Asian American Film Fest
INFO/TICKETS: San Francisco Int’l Asian Am Film Festival. Members of Center for Asian American Media (CAAM) receive discounts.
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/sfiaaff

Screening #1
WHEN: Sat 3/13 @ 2:15 pm
WHERE: Sundance Kabuki Cinemas, 1881 Post St @ Fillmore, SF

Screening #2
WHEN: Tue 3/16 @ 9 pm
WHERE: VIZ Cinema, 1746 Post St @ Webster, SF

Screening #3 – SAN JOSE
WHEN: Sat 3/20 @ 5:30 pm
WHERE: Camera 12 Cinema, 201 S. 2nd St @ San Carlos, San Jose

Filmmaker S. Leo Chiang and Associate Producers Brittney Shepherd & Eva Moss to attend.

Thực hiện giấc mơ

Tất cả chúng ta đều có những giấc mơ. Nhưng để biến giấc mơ thành hiện thực, cần rất nhiều quyết tâm, hiến thân, tự kỷ luật, và nỗ lực khủng khiếp.

Trần Thị Thu Hiền dịch
.

We all have dreams. But in order to make dreams come into reality, it takes an awful lot of determination, dedication, self-discipline, and effort.

Jesse Owens

Lời của Giọt Sương

(tặng các bạn thơ ĐCN)

Có một giọt sương mong manh
Bỗng nhiên lạc chốn bạt ngàn mộng mơ
Lung linh câu chữ, vần thơ
Mượt mà Đọt Chuối Non tơ thắm tình
Mênh mang hương lá cỏ xinh
Thoáng trong sâu lắng tâm tình thi nhân
Ngàn trùng khoảng cách hóa gần
Cùng nhau dệt khúc bâng khuâng dặt dìu
Ta mang hoa nắng thương yêu
Thả muôn âm sắc diệu huyền tháng năm
Mông mênh cõi ảo xa xăm
Ngữ thi thanh thoát ấm lòng tứ phương!…

hoatrang giọtsươngtím
20/2/2010

Xuân Ngẫu Hứng Đi Tìm

Xuân Ngẫu Hứng Đi Tìm

Hoa chen đua nở đó cùng đây
Chồi xanh chớm lộc mộng đong đầy
Vài sương trốn nắng trong khe lá
Phông xuân nhè nhẹ, lả tả mây.

.

Lệ Xuân

Trời xanh lác đác mây trắng phau
Gió xuân lay nhẹ lá xanh màu
Nhớ về quê cũ buồn năm tháng
Dằng dặc tơ lòng lệ nối nhau
.

Phạm Lưu Đạt

13-2-2010

Một đêm trừ tịch

Chung cư ở sâu trong con đường nhỏ của thành phố Midway (*) , là lãnh địa của các lão niên đã gần đất xa trời. Những con người gần đất xa trời ấy, gồm cả nam lẫn nữ, sống hết sức đơn độc, thầm lặng, khép kín trong chung cư dành cho họ. Chung cư này có tên gọi hẳn hoi, được đặt dưới sự bảo trợ của một nhà thờ. Nhưng để tránh sự dòm ngó của những kẻ hiếu kỳ. Và cũng vì dáng vẻ cổ xưa của nó, ta tạm gọi đó là bộ lạc Ráng Chiều của các tộc trưởng đã về hưu, một bộ lạc không có trẻ con, nhiều lề thói.

Như đã giới thiệu ở trên: Bộ lạc Ráng Chiều là nơi qui tụ những người gần như đã rũ sạch bụi trần. Họ là đôi vợ chồng già không con cháu. Hoặc con cháu không còn muốn biết đến họ. Họ cũng có thể chỉ là cụ ông hoặc cụ bà cô độc, một mình một bóng thơ thẩn trước buổi chiều tà của tuổi thọ. Họ sống bằng tiền hưu trí, được xã hội và các đoàn thể tôn giáo chăm sóc. Họ dường như không còn thuộc về cõi sống. Thế giới của họ là đáy sâu nội ngã, là hố thẳm nội tâm, là suy tư quán tưởng. Họ có vẻ nghễng ngãng, hay nghe sai những câu nói đời thường. Nhưng lại nhạy bén với các tiếng động, dù thật khẽ. Sự nhạy bén ấy, không phải để cưu mang sức sống mãnh liệt của loài người. Mà chỉ để biểu lộ sự khó chịu, sự cáu kỉnh khi phải nghe những tạp âm nhố nhăng, nhốn nháo ấy. Ta gọi đó là hiện tượng dị ứng với tiếng động.

Hiện tượng này được các cư dân sống trong vùng lân cận biết đến. Người nọ rỉ tai người kia. Nên bất kỳ ai đi ngang vùng cấm địa của tiếng động, đều phải nhón chân nhẹ bước. Đi bộ thì nhón chân. Còn đi xe thì sao ? Xe cộ cồng kềnh, bốn bánh to đùng làm sao nhón…?! Nghĩ đến đây, ta đặc biệt biết ơn các kỹ sư tiên khởi của ngành ô tô. Các vị ấy có lẽ cũng tri giác được việc gì đó…Nên đã đặt hệ thống hãm thanh cho máy móc. Tóm lại : Không cần biết xe mới toanh hay cũ kỹ. Hễ cứ đi qua bộ lạc Ráng Chiều, người ta có thói quen giảm ga, gài số chậm.

Sự có mặt của những người khách lạ, đã làm đảo lộn thể chế quen thuộc của bộ lạc. Một sớm mờ sương, khi các cụ còn nằm yên trong nệm ấm. Bỗng giật thót người vì một tiếng két thật to, tiếp theo một tiếng rít thật dài, và hàng loạt tiếng gầm rú đáng sợ của con quái vật chết tiệt nào đó.

Đồng loạt cửa sổ của các phòng ngủ mở toang, một hiện tượng thật bất thường ! Qua từng khung cửa vuông vắn, ta có thể thấy những mái tóc bạch kim lúc lắc, để gọng kính trên mũi liên tục dáo dác dò tìm, xem con quái vật từ hành tinh nào rơi xuống, mà to mồm đến thế. Các cụ chỉ thấy bốn con người đang đứng quanh hai chiếc xe mù mịt khói ! Toàn bộ những cái miệng móm mém, không hẹn đều kêu “Lạy Chúa tôi” cùng một lúc. Dăm ba cụ sau khi kêu, vẫn còn cẩn thận lấy tay dí lấy dí để vào cái kính trên mũi, cho sát sàn sạt con mắt, để xem có đúng là hai chiếc xe đã gầm rú như điên không? Tạ ơn Chúa! Quả thực là xe, chứ không có con quái vật nào rách trời rơi xuống.

Thoắt một cái các cửa sổ đều khép. Liền tức thì như có phép đi xuyên tường, các cụ thùng thình trong bộ quần áo ngủ, đứng dàn hàng ngang trước cửa nhà, nhăn nhó dò xét khách lạ. Cùng với các cụ, ta nhìn xem: Họ là ai?

Ba cô gái, một chàng trai, thế hệ thứ hai của nước Việt lưu vong. Họ, những kẻ đương xuân, còn rất trẻ so với các lão niên đã thất thập cổ lai hy, đang lúng túng trước cái nhìn thiếu thiện cảm của bậc trưởng thượng không cùng nòi giống. Các cô gái gần như muốn khóc. Chàng trai chốc chốc lại đưa tay vuốt tóc.

May thay, giữa lúc phần thắng chưa biết thuộc về ai, có bóng người đi vội đến. Cả khách lạ lẫn các lão niên đều thở ra nhẹ nhõm. Thì ra đấy là ông linh mục. Ông ra dấu bảo khách lạ hãy bình tâm. Xong ông đến gần các cụ nhỏ to điều gì không biết. Chỉ thấy các khuôn mặt đang nhăn nhó, tự nhiên thư giãn. Các cặp kính thôi không di động. Ai nấy lặng lẽ vào nhà. Buổi sáng lại yên tĩnh, như bao buổi sáng đã từng yên tĩnh trong bộ lạc Ráng Chiều.

Còn lại ông linh mục và khách lạ. Thoạt đầu ta cứ ngỡ bốn người khách cùng quen biết, cùng đến từ một nơi. Không phải thế đâu. Ba cô gái là một nhóm. Chàng trai đi đơn lẻ. Qua câu chuyện họ trao đổi với nhau, trong lúc mang hành lý vào nơi ông linh mục qui định là chỗ ở cho họ. Ta được biết : Ba cô gái học ngành điều dưỡng. Họ được giới thiệu đến nơi này làm việc, để thực hành phần lý thuyết đã học. Còn chàng trai..? Anh là bạn của ông linh mục. Hình như đi lãng du để viết thiên ký sự nào đó… Hay là tìm ý thơ phổ nhạc thì phải… Cây đàn guitar trên tay. Túi hành lý trên vai có quyển sách dày cộm, cho phép ta suy diễn về anh như vậy.

Kể từ buổi sáng mờ sương hôm ấy, căn phòng nhỏ vẫn bỏ trống ở cuối hành lang bên trái, là thư phòng của chàng trai. Còn căn hộ xinh xắn có rèm xanh buông rủ, vốn là nhà khách của bộ lạc, trở thành nơi cư ngụ của ba cô sinh viên. Họ sẽ ở đây hết mùa đông. Gần cuối mùa xuân, họ lại trở về chốn cũ.

Họ sống trong bộ lạc, tuân thủ lề luật sẵn có, tịnh không biểu hiện một sai phạm nào, dù rất nhỏ. Sáng sáng chàng trai đi đâu rất sớm, sẩm tối mới về. Ba cô gái đi trễ hơn một chút. Họ đến phòng ăn, phòng đọc sách, phòng sinh hoạt, phòng dưỡng bệnh của bộ lạc, giúp đỡ các cụ đúng bổn phận của một nữ điều dưỡng tương lai.

Cứ thế, các tộc trưởng của bộ lạc dần quen với bốn người trẻ tuổi. Tuy vẫn không nói thêm gì ngoài nụ cười, lời chào ban sáng, ban tối. Nhưng chỉ cần nhìn ánh mắt trìu mến của các cụ mỗi khi gặp bốn con người trẻ trung ấy, ta biết các cụ yêu quí họ.

Hình như dáng dấp nho nhã của chàng trai, làm sống dậy thuở thư sinh tay trắng mộng đầy của các cụ ông. Hình như đường nét thanh tú của ba cô gái, gợi nhớ thuở trâm cài lược giắt của các cụ bà. Không nói ra, nhưng cụ ông nào cũng tự nhủ: “Thằng bé hệt như tôi thời trai trẻ”. Không nói ra, nhưng cụ bà nào cũng ngầm so sánh: ” Ba con bé dễ thương quá. Tôi bằng tuổi chúng cũng thế đấy!”

Và đã xảy ra một điều kỳ diệu trong đêm trời tối đen như mực. Đêm ấy, nếu như ở quê nhà, bốn người trẻ sẽ đón giao thừa theo lễ nghi cổ truyền của dân tộc. Nhưng ở đây, xứ lạ quê người, một ngày như mọi ngày, đêm trừ tịch có gì là thiêng liêng…?!

Ba cô gái từ lúc về phòng cứ loay hoay, tíu tít làm điều gì đó…Họ lấy thứ nọ, nhặt thứ kia bỏ vào ba cái túi, mỗi người cầm một túi. Rồi cô tắt đèn. Cô mở cửa. Cô bấm khóa. Người trước kẻ sau lặng lẽ đi qua dãy hành lang bên trái. Họ dừng lại, gõ cửa thư phòng của chàng trai. Chàng trai đang ngồi tư lự, bỗng giật mình. Và càng giật mình hơn, khi cánh cửa rộng mở cho thấy ba cô gái…! Cũng cần biết thêm một điều: Từ buổi sơ giao, khi tình cờ đến bộ lạc Ráng Chiều trong cùng một thời điểm, cả bốn người chỉ cười chào nhau lúc chạm mặt, chứ chưa hề chuyện vãn bao giờ.

Không để chàng trai hỏi, một cô lên tiếng:

– Anh cho phép chúng em vào chơi chứ…?

Chàng trai ngỡ ngàng:

– Ơ…Vâng…! Xin mời các cô

Phòng chỉ có một bàn một ghế. Chàng trai chưa biết xử trí cách nào, các cô đã cho ý kiến:

– Ta cứ ngồi cả xuống thảm, anh ạ

Chàng trai mỉm cười. Anh không biết mình phải làm chủ, hay nên làm khách trong tình huống bất ngờ này. Phụ nữ thật nhạy cảm. Các cô cấu tay nhau. Một cô vừa xuýt xoa vừa bảo:

– Chúng em quả có hơi đường đột. Nhưng không định tước quyền gia chủ của anh đâu. Xin anh tự nhiên cho.

Chàng trai nói trong tiếng cười:

– Vâng! Xin mời chúng ta cùng ngồi xuống.

Bốn người vừa ngồi xuống. Ba cô gái đã làm ảo thuật. Chàng trai tròn mắt nhìn bánh, mứt, hạt dưa, kẹo, ấm trà, tách nước…tuần tự đi ra từ ba cái túi. Anh thấy mình lúng túng:

– Ơ…,tôi thật không ngờ…!

Một cô nói thay các bạn:

– Chẳng việc gì phải ngờ, anh ạ. Đêm nay chờ đón giao thừa, chúng em xin mời anh cùng uống trà, ăn mứt để nhớ quê nhà.

Cả bốn người cùng nâng tách. Trà nóng có vị ngọt đắng của tâm sen, có vị nồng ấm của gừng già. Hình như giao thừa sắp điểm. Hình như năm mới sắp về. Khi hương trà thấm đậm vào tận tâm hồn của họ.

Chàng trai ân cần nhìn ba cô gái, lời thật như lòng:

– Cảm ơn các cô đã cho uống trà, ăn mứt. Nhưng hình như chúng ta chưa biết tên nhau…?

Các cô tươi cười giới thiệu:

– Em là Lang Bian.

– Em là Đam Ri.

– Còn em là Bến Nghé.

Chàng trai cười như chưa bao giờ cười:

– Sao không là Huế, Sài Gòn, Hà Nội cho đủ cả ba miền?

Ba cô gái cười khanh khách:

– Cũng muốn vậy, nhưng chúng em không thể ôm cả núi sông. Thế anh đại diện cho đồng bằng sông Cưủ Long, hay vùng châu thổ sông Hồng, hay là người hoàng phái của sông Hương núi Ngự…?

Chữ nghĩa quá! Ví von quá! Chàng trai thấy mình cũng bắt đầu văn vẻ:

– Tôi sinh ở ải Nam Quan. Mới vừa hai tuổi mẹ đã gánh vào tận mũi Cà Mau.

Đam Ri trầm trồ:

– Giang hồ dọc ngang sớm quá, hèn chi tướng mạo trông phi thường.

Chàng trai cứ thế mà cười. Anh chợt nhớ câu ca dao: “ Ba cô đội gạo lên chùa…”. Ba cô này phải chăng cũng muốn học sách người xưa…?!

Lang Bian nhìn anh không chớp mắt:

– Anh định gán cho chúng em hình tượng gì vậy…? Gọi anh là Đất Mũi nhé ?

Chàng trai kêu to:

– Ấy chớ, tôi tuy có đi qua đất Mũi, nhưng không hề cắm câu làm nhà ở đó.

Bến Nghé dí dỏm:

– Thế mẹ gánh anh từ ải Nam Quan vào tận mũi Cà Mau, xong hạ thúng ở chỗ nào ?

Chàng trai phì cười:

– Ở Hà Tiên.

Ba cô gái dài giọng:

– HàTiên cơ à…! Khéo chọn nơi ăn chốn ở nhỉ!

Tưởng cũng nên mở ngoặc ở đây. Bốn người trẻ đều có tên gọi hẳn hoi. Nhưng chả hiểu sao, đêm nay họ bỗng dưng lấy địa danh nơi sinh trưởng để giới thiệu về mình. Có lẽ hồn thiêng sông núi. Có lẽ nỗi nhớ gia đình. Đã khiến xui họ làm như vậy. Và ta, chẳng nên xét nét. Cứ việc gọi họ là Lang Bian, là Đam Ri, là Bến Nghé, là Hà Tiên cho hợp với lòng họ.

Chàng trai Hà Tiên đứng lên lấy cây đàn trên vách. Anh búng nhẹ vào dây phím. Những âm thanh trầm bổng, theo từng ngón tay tài hoa phát ra thành suối nhạc. Và đất trời bỗng nghe:

“Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm là đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về.
Xuân âm u lắt leo trong nguồn suối mơ
Mừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ”
(1)

Cứ thế họ: Những Lang Bian, Đam Ri, Bến Nghé, Hà Tiên của vùng trời quê hương say sưa hát. Cung đàn giọng hát hòa quyện vào nhau, âm vang sao mà tha thiết. Cô Bến Nghé thì thầm:

– Ở nhà, giờ này mẹ và các em của em chắc đang sửa soạn cúng giao thừa. Trên bàn thờ cha thế nào cũng có hoa huệ, trà sen. Khi còn sống, ngày tết cha thích uống trà sen, thích cắm hoa huệ, thích chưng chậu quất trong nhà. …

Sàigòn vào xuân đẹp lắm. Thời gian nhịp nhàng trôi. Mọi tất bật đời thường biến mất. Trung tâm thành phố với những con đường được bao phủ bởi hàng cây dầu cao vút. Trái dầu nhẹ rơi quay tròn trước gió, lá sẽ đong đưa… Người ta thấy lòng tịnh yên, nhất là khi đi giữa chiều hôm, nghe chuông nhà thờ vang trong không gian xám. Từng tiếng bing boong dặt dìu, nhặt khoan như muốn nâng hồn người lên cõi trời cao. Cả thành phố đắm chìm trong tiếng ngân nga, sâu lắng của chuông nhạc đạo….

Cô Bến Nghé mỉm cười. Nụ cười rạng rỡ. Cơ hồ cô đang đứng trước Vương Cung Thánh Đường SàiGòn, nghe chuông chiều rơi trên thành đô quen thuộc. Tiếng chuông diệu kỳ, nhặt khoan tận đáy lòng cô, làm rung động tâm hồn ba người bạn.

Cô Đam Ri bùi ngùi:

– Chị làm em nhớ nhà quá. Nhà em ở Bảo Lộc, ngay đường vào thác Đam Ri. Đêm giao thừa lạnh lắm. Cha đốt lửa ngoài vườn, vừa để canh nồi bánh chưng, vừa để hong người cho ấm. Ngồi giữa ánh lửa bập bùng, nhìn trời đen thẩm, nghe âm vang thác đổ, lòng em không quên cũng chẳng nhớ điều gì.

Sáng mùng một, sau khi chúc tuổi cha mẹ, sau khi nhận phong bao lì xì, mấy anh chị em rủ nhau du xuân. Thác Đam Ri là điểm đến. Lạ lắm. Cũng thác ấy, nước ấy…Mà sao ngồi chiêm ngắm sự kỳ vĩ, bí ẩn, hoang vu của giòng thác giữa màn sương mỏng đầu xuân, lòng em phát sinh những cảm quan rất dị thường. Giòng khói bốc lên, do nguồn nước từ trên cao đổ xuống, tạo cho cảnh quang một vẻ thanh thoát huyền diệu, hệt như chốn bồng lai tiên cảnh. Còn vực sâu thăm thẳm của thác, lại gợi nhớ một cõi đi không về…!

Cô Đam Ri mắt nhòa lệ. Ba người bạn đều thấy nước mắt chảy ngược vào hồn, khi nhìn thấu giòng thác Đam Ri đang ầm ầm tuôn đổ trong lòng cô gái trẻ. Lang Bian nói rất khẽ:

– Đam Ri này, chúng mình cùng đi trên từng cây số quê hương đấy. Muốn đến cao nguyên Lang Bian phải đi qua Bảo Lộc. Cao nguyên Langbian được vinh danh nhờ thành phố ĐaLạt. ĐaLạt khói tỏa, sương lồng, cây xanh, lá biếc. Nhà mình ở trên đồi Mai Anh. Đứng trên đồi Mai Anh, thấy toàn cảnh ĐaLạt. Xuân về, ĐaLạt mặc áo hoa muôn sắc, “ cỏ non xanh tận chân trời..”. Câu thơ này của Nguyễn Du, nên tặng riêng ĐaLạt lúc vào xuân…

Vườn nhà mình có hoa hồng, ngọc lan, nguyệt quế, hoàng lan… Đầu năm, cha hái ngọc lan mừng tuổi mẹ. Mẹ kết vòng nguyệt quế chúc tuổi cha. Anh em mình kết hoa hồng biếu cha mẹ, lấy lan vàng tặng nhau. Xuân sang rất diệu kỳ! Một ngày nào đó trở về cố hương, mình xin mời các bạn lên chơi ĐaLạt.

Ba cô gái thẫn thờ….Hồn họ có chuông chiều ngân vang, có thác nguồn tuôn đổ, có hoa nở bốn mùa, có mẹ cha để thương nhớ. Anh Hà Tiên buông đàn trầm tư. Anh thấy bao lớp sóng xô trong tâm thức…Và anh kể rất dịu dàng:

– Tôi lớn lên ở Hà Tiên, quen thấy cuộc đời cư dân ở đó được bao bọc bởi những chuyện truyền kỳ có từ thời Mạc Cửu. Lịch sử đất nước đã đi qua bao nhiêu truông dài hưng phế, từ triều đại này sang chính kiến khác. Điều đó dường như không là gì cả, đối với lòng người đất Đông Đô.

Cha mẹ tôi một đời lao khổ. Tết đến, vẫn chắt chiu những đồng tiền mới mừng tuổi cho con. Những đồng tiền mới ấy, sau lại được chắt chiu cho con vượt biển.

Tôi ra đi khi biển Đông dậy sóng. Bao nhiêu người đã vùi xác dưới trùng dương. Mẹ tôi khóc trong chùa Tam Bảo (2) , nguyện xin Quán Thế Âm Bồ Tát giúp tôi vượt biển an bình. Cha đưa tôi xuống thuyền, ánh sao mờ nhạt nhòa hòn Phụ Tử. Sóng nước âm vang huyền thoại: Ngày xưa, hai cha con người ngư phủ hiền lương, đã chết thảm sau cuộc chiến kiêu hùng với ba mươi bảy con thuồng luồng, khiến tôi thương cha bịn rịn trước phút lên đường.

Cha tôi chết không được gặp con! Ngày tôi có thể về cố hương, mẹ đã ra người thiên cổ! Các em tôi, mỗi đứa một cảnh đời nổi trôi! Tôi thật không vui khi trở về! Những ngày ở quê nhà, tôi hay lên thạch động. Hòn đá treo lửng lơ trên vách gợi nhớ truyền thuyết Thạch Sanh, gợi nhớ lời ru của mẹ thuở ấu thời :

“ Đàn kêu tích tịch tình tang
Ai đem công chúa lên hang mà ngồi…!”

Bây giờ ba cô gái đều khóc… Chàng trai im lặng sầu ! Căn phòng nhạt nhòa nước mắt. Đêm giao thừa ở đất khách quê người sao mà buồn thế…! Cây đàn lại ngân vang. Chàng trai hát với cả tâm tình:

“Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây…”
(3)

Ba cô gái cùng phụ họa:

“Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây…!”
(3)

Bỗng nhiên có tiếng gõ cửa dồn dập. Cung đàn giọng hát im bặt. Cả bốn người cùng đứng dậy. Cửa mở ra…Ba cô gái điếng người, núp vội sau lưng chàng trai. Thật đáng sợ! Trước mặt họ là tất cả tộc trưởng của bộ lạc Ráng Chiều.

Thôi nguy to rồi! Mải tâm sự ngắn dài, họ quên mất mình đang sống giữa vùng cấm địa của âm thanh! Giờ này đúng giao thừa! Năm mới đến trong hoàn cảnh không thuận lợi chút nào. Ba cô gái rùng mình, nhớ lại những cái nhìn thiếu thiện cảm của các cụ, lúc họ mới bước vào bộ lạc. Hôm ấy, may mà có ông linh mục. Đêm nay thì cứ gọi là…tận cùng bằng số…!


Chàng trai hình như không cùng chia sẻ nỗi lo sợ với ba cô gái. Anh vẫn nhẹ buông tiếng đàn, vẫn khe khẽ hát, vẫn như đang thấy Hà Tiên và thạch động trong khói huyền ! Anh mỉm cười với các tộc trưởng, đang mặt đối mặt với anh. Lạ thay, toàn bộ những cái miệng móm mém đều cười đáp lễ. Trước sự kiện đặc biệt này, ba cô gái cũng vội góp nụ cười.

Cụ ông và cụ bà Smith, đôi vợ chồng già nhất trong bộ lạc, dìu nhau bước lên một bước, cho gần chàng trai và ba cô gái. Họ nói “ Happy New Year”, ôm hôn thắm thiết, đặt vào tay từng người phong bao mừng tuổi đỏ tươi. Tiếp theo vợ chồng cụ Smith, các thành viên của bộ lạc Ráng Chiều, cũng đều biểu lộ với bốn người trẻ tuổi ấy, những cử chỉ thân thương như vậy.

Ba cô gái khóc òa. Chàng trai để giòng nước mắt chảy. Họ như đang đón giao thừa ở quê nhà, nơi có mẹ nhân từ, nơi có cha độ lượng, nơi có anh chị em hiền lành. Gia tộc muôn đời hệ trọng. Hôm nay, những cụ ông cụ bà mắt xanh da trắng, đã làm sống dậy tình gia tộc hệ trọng ấy. Cung đàn giọng hát lại vang lên:

“Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm là đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về…”
(1)

Những con người đã gần đất xa trời. Những con người tưởng như không còn thuộc về cõi thế. Những con người luôn dị ứng với tiếng động, đã mở lòng ra yêu thương bốn tâm hồn trẻ âm thầm đón xuân sang, trong nỗi nhớ quê hương ngút ngàn. Và phải chăng: Cõi lòng của những con người gần đất xa trời ấy, chính thật là quê hương, cho bốn tâm hồn trẻ được an bình!

Đêm trừ tịch đó, đêm duy nhất, bộ lạc Ráng Chiều không phải là vùng cấm địa của tiếng động.

Vivian
Tháng Hai, 2010

*********

* Chú thích:

(1) “Xuân Ca” của Phạm Duy
(3) “Chiều”. Thơ Hồ Dzếnh. Nhạc Dương Thiệu Tước
(2) Chùa Tam Bảo do Quốc Công Mạc Cửu xây cất. Nơi còn lưu giữ Tro Xương Thân Mẫu của ông
(*) Midway City, California

Tư duy tích cực mỗi ngày