Category Archives: trà đàm

Nghệ thuật, Trái tim và Tương lai

Chào các bạn,

Tương lai kinh doanh của thế giới đang đi về hướng nào?

Trong bài viết hôm nay, mình giới thiệu với các bạn xu hướng các việc làm về nghệ thuật và thiết kế trong kinh doanh ở Mỹ, qua trao đổi của anh Daniel Pink, một biên tập viên cho tạp chí Wired nổi tiếng, và là người từng viết diễn văn cho phó tổng thống Al Gore.

Đồng hồ báo thức trong gối
Đồng hồ báo thức trong gối

Theo anh Daniel, máy tính và toàn cầu hóa đang lấy đi các việc làm có nhiều ở các thập niên trước như kỹ sư, luật sư, kế toán viên; các công việc có thể lập trình tự động được.

Bây giờ, một người bình thường có thể mở được trang web với các công cụ tự động, một dây chuyền sản xuất có thể chế tạo quần áo, đóng gói rau quả, sản xuất máy tính, với ít kỹ sư và nhân công như trước.

Một chiếc máy tính laptop dần dần sẽ bình thường như một quyển sách hay chiếc bút bi.

Và công việc được trả giá cao và cần thiết hiện nay là nghệ thuật, thiết kế, âm nhạc,… những gì thổi ý nghĩa vào sản phẩm, đổng cảm với tâm hồn con người trong một thế giới được cơ khí quá.

Sản phẩm được trả giá cao hơn sẽ là các sản phẩm đẹp và đồng cảm chứ không chỉ dùng được. Nhà hàng mang phong cách một ốc đảo ở châu Phi, chiếc đĩa mang cảnh làng quê Việt Nam, tranh tường mang vẻ cổ kính của các nhà thờ ở Ý.

Vậy mối liên hệ giữa các sản phẩm có tính nghệ thuật cao và tư duy tích cực như thế nào nhỉ?

Các sản phẩm đẹp cũng giúp cho con người có cái nhìn hướng thượng và tích cực với cuộc sống, trồng nhiều cây xanh, yêu nụ cười của những người nông dân, đồng cảm với ước mơ được đến trường của trẻ em châu Phi.

Đồng thời, sản phẩm đẹp có giá trị kinh doanh cao hơn một sản phẩm chỉ dùng được. 🙂

Tư duy tích cực, thành thật và khiêm tốn giúp con người có được sự tự do tinh thần để tha hồ tưởng tượng và sáng tạo ra những sản phẩm đẹp nhất và chất lượng cao nhất. Tất cả những tác phẩm orgininal được tạo ra dựa trên một điều căn bản: tác giả trung thực với chính mình 🙂

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

.

Nghệ thuật, Trái tim, và Tương lai

Bàn đánh pingpong
Bàn đánh pingpong

Tôi muốn bắt đầu bằng kể với các bạn về một trong những sai lầm lớn nhất mà tôi từng mắc phải.

Hơn một thập kỷ rưỡi về trước, tôi làm một chuyện tôi rất tiếc – một chuyện tôi đôi chút xấu hổ, một chuyện tôi ước là không ai biết. Tôi muốn nói với bạn ngày hôm nay – Nếu bạn hứa giữ điều này chỉ ở trong phòng này thôi, giữa bạn và tôi.

Khi là một cậu trai trẻ, trong giây phút thiếu chín chắn của tuồi trẻ, tôi đi học luật. Tôi không học tốt ở trường luật. Thực tế, tôi tốt nghiệp trong nhóm 10% dưới đáy lớp. Tôi đã không thích trường luật. Tôi chưa từng hành nghề luật ngày nào trong đời tôi cả. Nếu tôi có thể ấn nút tua lại và làm lại khác hoàn toàn, tôi sẽ ấn.

Vậy, tại sao tôi làm điều đó? Tại sao tôi đi học trường luật? Tại sao, ồ, tại sao tôi đi vào trường luật?

Câu trả lời thực tế rất đơn giản. Đó là câu trả lời một số các bạn có trước đây. Đó là câu trả lời một số các bạn từng nghe trước đây.

Đó là lỗi của cha mẹ tôi.

Để tôi giải thích.

Khi tôi là một đứa trẻ – lớn lên trong một gia đình trung lưu, trong giữa nước Mỹ trong giữa thập kỷ 70s, mỗi cha mẹ đưa ra một đĩa lời khuyên như nhau cho con cái. Có điểm tốt, đi vào đại học, và theo một nghề cho mức sống tốt và có lẽ một chút danh tiếng. Nếu bạn giỏi toán và khoa học, làm bác sĩ. Nếu bạn giỏi tiếng Anh và lịch sử, làm luật sư. Nếu máu làm bạn kinh sợ và khả năng ngôn ngữ của bạn cần nhiều tiến bộ, làm kể toán viên.

Đó là lời khuyên cha mẹ cho tôi. Đó là lời khuyên hầu hết các cha mẹ trung lưu cho con cái. Bác sĩ. Luật sư. Kế toán viên. Kỹ sư. Đó là những công việc lẫn đến mảnh đất hứa của an toàn nghề nghiệp, danh tiếng nghề nghiệp và hạnh phúc.

Lời khuyên này được tin thật nhiều đến nỗi nếu bạn lệch khỏi lối đi này, mọi người cố chen vào và lái bạn về quỹ đạo. Ví dụ, trong trường học, tôi tập trung vào ngữ văn. Và tôi có cùng câu hỏi lặp đi lặp lại. Đó là câu hỏi một số các bạn đã hỏi từ trước. Đó là câu hỏi một số các bạn dã nghe từ trước.

Bạn sẽ làm gì với cái này?
Ngữ văn? Bạn sẽ làm gì với cái này?
Nghe quen không?

Đi học trường luật, cha mẹ tôi nói. Đó là cái gì có thể đở ta cùng đường. Đi học trường luật, mọi người nói. Nó sẽ cho các nhiều cơ hội lựa chọn. Bây giờ, để công bằng, lời khuyên đó có ý tốt. Và ở thời điểm đó, nó không hẳn là sai. Thời đó, đi học trường luật là một lối đi khôn ngoan vào thế giới đáng được tôn trọng.

Nhưng ngày hôm nay, lớp tốt nghiệp 2004, điều đó không còn đúng nữa. Những ngày này, lời khuyên đó không chỉ tẻ nhạt. Nó nguy hiểm. Bởi lẽ tương lai bạn đang nhìn đến rất khác tương lai tôi đối diện khi tôi tốt nghiệp cách đây 18 năm.

Quảng cáo bộ đồ lặn Bare
Quảng cáo bộ đồ lặn Bare

Ngày hôm nay, tương lai không thuộc về kỹ sư, luật sư, và kế toán. Tương lai thuộc về một loại người khác với kiểu trí óc khác. Tương lai thuộc về nghệ sĩ và người thiết kế, người chụp ảnh, và người minh họa. Tương lai thuộc về người sáng tạo, người đồng cảm, người nhận ra khuynh hướng, người tạo ra ý nghĩa.

Theo cách nói khác, nó thuộc về những người như bạn.

Ở nước Mỹ, số lượng những người thiết kế hình họa đã tăng 10 lần trong một thập kỷ; nhưng người thiết kể nghệ hình họa đã vượt số kỹ sư hóa học gấp bốn lần. Từ năm 1970, nước Mỹ đã có nhiều hơn 30% số người kiếm sống bằng soạn nhạc hay trình diễn nhạc.

Nhiều người Mỹ ngày hôm nay làm về nghệ thuật, giải trí và thiết kế hơn công việc như luật sư, kế toán và kiểm toán.

Đó chỉ là khởi đầu. Bởi lẽ một số lực mạnh mẽ đang hội tụ để làm lời khuyên của cha mẹ tôi lỗi thời – và làm bằng cấp của bạn từ trường Ringling giá trị hơn bạn từng tưởng tượng khi bạn nhập học cách đây bốn năm.

Một trong những lực đó là tự động hóa. Máy tính đã bắt đầu làm rung chuyển cuộc sống của những công nhân cổ trắng trong thế hệ này nhiều như chúng làm ngắt đứt cuộc sống của những công nhân cổ xanh thế hệ trước. Máy tính bây giờ có thể làm nhiều tác vụ lặp lại – xử lý đơn kiện, thêm các con số, tìm kiếm dữ liệu – nhanh hơn, rẻ hơn, và tốt hơn con người. Do đó kế toán viên mất việc cho Turbo Tax và những phần mềm kế toán khác. Cũng như thế với luật sư. Luật sư bình thường tính 180 đô một giờ. Nhưng bây giờ bạn có thể có những văn bản pháp luật đơn giản trên mạng giá 15 đô. Bạn có thể lên mạng và li dị chỉ với 249 đô. Điều đó sẽ làm cho nhiều luật sư mất việc.

Và rồi toàn cầu hóa. Như chúng ta thấy trong năm này, có hàng triệu công nhân cổ trắng có khả năng ở Ấn Độ, Phi Luật Tân, và những nơi khác sắn sàng làm những việc như lập trình đơn giản và phân tích tài chính với giá chỉ bằng một phần nhỏ của lương công nhân ở tây phương. Điều đó sẽ làm cho nhiều người làm việc với code và các con số thất nghiệp.

Hai lực này – tự động hóa và toàn cầu hóa – đang thay đổi sâu sắc thế giới việc làm. Có nghĩa là bất kỳ công việc nào chỉ dựa đơn giản trên việc đi theo một loạt quy luật – công việc có thể viết xuống thành một trang thủ tục, hay có thể được cấu hình để đưa đến một câu trả lời đúng duy nhất – sẽ bị mất. Và điều đó có nghĩa là những công việc còn lại là những việc mà máy tính không thể làm nhanh hơn và công nhân trí thức ở nước ngoài lương thấp không thể làm rẻ hơn.

Những việc còn lại bao gồm các việc tạo ra vẻ đẹp và chạm vào tâm hồn con người. Chúng sẽ dựa ít hơn vào não trái, kiều thông minh SAT chúng ta đã được dạy để kính trọng và tôn thờ – và nhiều hơn về những yếu tố của não phải về nghệ thuật và trái tim.

Nghệ thuật và trái tim. Tạo ra điều gì đó mà thế giới không biết rằng nó đã mất đi. Tạo ra những mối liên hệ đầy ý nghĩa và đồng cảm với người khác. Đó là những tính chất khó sao bản được. Và những cái này, tôi vui vẻ mà nói, đúng là những yếu tố bạn đang thuần thục ở đây tại trường Ringling.

Bàn chải nhà vệ sinh do Michael Graves thiết kế
Bàn chải nhà vệ sinh do Michael Graves thiết kế

Nhưng đợi chút, còn nữa. Bạn thấy đấy, nền kinh tế đầy những công nhân não trái đã làm việc tốt. Đất nước này, và hầu hết những nước đã phát triển, trở nên giàu mạnh hơn bất kỳ nhóm dân tộc nào trong lịch sử thế giới. Điều này đã thay đổi bản chất của kinh doanh – và nó sẽ thay đổi tiến trình của đời sống lao động của chúng ta. Và nếu bạn không tin tôi, nhìn vào đây. Đây là một chiếc bản chải trong nhà vệ sinh – nhưng không phải là một bàn chải như bao bàn chải nhà vệ sinh khác. Đây là một bàn chải thiết kế cao cấp — do Michael Graves thiết kế — một trong những kiến trúc sư và nhà thiết kế sản phẩm nổi tiếng nhất thế giới. Nó đáng giá 5.99 đô ở Target [công ty bán hàng giá rẻ]. Đúng rồi, khi chúng ta có bàn chải nhà cầu thiết kế cao cấp, cuộc sống ở Mỹ phải rất tốt.

Nhưng, có một điểm quan trọng ở đây – một điểm rất quan trọng. Trong kinh doanh, không đủ để cho một công ty hay một cá nhân bán ra một sản phẩm chỉ đơn giản là làm được việc. Bất kỳ ai cũng có thể tạo ra sản phẩm như vậy. Trong thị trường ngày nay tràn ngập đủ mọi thứ, sản phẩm và dịch vụ [của ta] phải đẹp đẽ về hình thức và vượt trội về tình cảm. Bây giờ, ở đâu bạn học về vẻ đẹp hình thức và thăng hoa tình cảm? Ở trường luật? Không, ở trường nghệ thuật.

Và điều đó giải thích tại sao một bằng về nghệ thuật bây giờ có lẽ là bằng quan trọng nhất trong kinh doanh.

(Nguyến Minh Hiển dịch)

.

Art, Heart & the Future

Quảng cáo của Pepsi
Quảng cáo của Pepsi

I’d like to begin by telling you about one of the biggest mistakes
I’ve ever made.

A decade and a half ago, I did something that I very much regret – something that I’m slightly ashamed of, something that I wish nobody would ever know. I’m willing to tell you tonight – if you promise to keep it in this room, just between you and me.

When I was a young man, in a moment of youthful indiscretion, I went to law school. Now, I didn’t do very well in law school. In fact, I graduated in the part of my class that made the top 90 percent possible. I didn’t enjoy law school. I never practiced law a day in my life. If I could press the rewind button and do it over differently, I would.

So why did I do it? Why did I go to law school? Why, oh why, did I go to law school?

The answer is actually quite simple. It’s an answer some of you have given before. It’s an answer some of you have heard before.

It’s my parents’ fault.

Let me explain.

When I was a kid—growing up in a middle class family, in the middle of America in the middle of the 1970s—most parents dished out the same plate of advice to their kids. Get good grades, go to college, and pursue a profession that would offer a decent standard of living and perhaps a dollop of prestige. If you were good at math and science, become a doctor. If you were better at English and history, become a lawyer. If blood grossed you out and your verbal skills needed work, become an accountant.

That’s the advice my parents gave me. That’s the advice most middle-class parents gave their kids. Doctor. Lawyer. Accountant. Engineer.

Those were the jobs that led to the promised land of financial security, professional prestige, and overall happiness.

The advice was so widely believed that if you deviated from the path, everybody tried to step in and steer you back on course. For example, in college, I majored in linguistics. And I got the same question over and over again. It’s a question some of you have asked before. It’s a question some of you have heard before.

Các lọai ly
Các lọai ly

What are you going to do with that?
Linguistics? What are you going to do with that?
Sound familiar?

Go to law school, my parents told me. It’s something to fall back on.
Go to law school, everyone said. It will keep your options open.
Now, to be fair, that advice was well-intentioned. And at the time, it wasn’t exactly wrong. Back then, going to law school was a wise pathway into the respectable world.

But today, class of 2004, that’s no longer true. These days, that advice is not just boring. It’s dangerous. Because the future you’re facing looks very different from the future I faced when I graduated from college 18
years ago.

Today, the future doesn’t belong to those engineers, lawyers, and accountants. It belongs to a very different kind of person with a very different kind of mind. The future belongs to artists and designers, photographers and illustrators. It belongs to creators and empathizers, pattern recognizers and meaning makers.

In other words, it belongs to people like you.

In the U.S., the number of graphic designers has increased tenfold in a decade; graphic designers outnumber chemical engineers by four to one. Since 1970, the U.S. has 30 percent more people earning a living as writers and 50 percent more earning a living by composing or performing music.

More Americans today work in arts, entertainment, and design than work as lawyers, accountants, and auditors.

And that’s just the beginning. Because several powerful forces are converging to make my parents’ advice obsolete—and to make your degree from Ringling more valuable than you ever imagined when you enrolled
here four years ago.

One of those forces is automation. Computers have begun to shake up the lives of white-collar workers this generation much as they disrupted the lives of blue-collar workers last generation. Computers can now do many routine tasks—processing claims, adding figures, searching data—faster, cheaper, and better than humans can. So accountants lose work to TurboTax and other accounting software. The same thing is happening to lawyers. The typical lawyer charges $180 an hour. But now you can get basic fill-in-the-blank legal forms on the web for 15 bucks. You can even go online and
get a divorce for a mere $249. That will leave a lot of lawyers unemployed.

Then there’s globalization. As we’ve seen this year, there are millions of capable white-collar workers in India, the Philippines, and elsewhere willing to do work like basic computer programming and financial analysis for a fraction of the pay of workers in the west. That will leave a lot of code slingers and number crunchers unemployed.

Xe đạp
Xe đạp

These two forces—automation and globalization—are profoundly changing the world of work. They mean any job that is based on simply following a prescribed set of rules—that can be reduced to a spec sheet or configured to produce a singe right answer—is a goner. And that means that the jobs that remain will be the sort of things that computers can’t do faster
and low-wage overseas knowledge workers can’t do cheaper. The jobs that remain will involve creating beauty and touching the human soul. They’ll rely less on the sort of left brain, SAT kind of intelligence we’ve been schooled to respect and hectored into worshipping – and more on the right brain qualities of art and heart.

Art and heart. Creating something the world didn’t know it was missing. Forging meaningful relationships and empathizing with others. These are qualities that are difficult to replicate. These are qualities that will define the workforce of the future. And these, I’m happy to say, are the very qualities you’ve been mastering here at Ringling.

But wait, there’s more. You see, that economy filled with left-brain workers did pretty well. This country, and most of the developed countries, became wealthier than any group of people in the history of the world. This has changed the nature of business – and it will change the course of your working lives. And if you don’t believe me, look at this. This is a toilet brush – but not just any toilet brush. It’s a designer toilet brush – designed by Michael Graves, one of the world’s most famous architects and product designers. It costs $5.99 at Target. Yes, when we’ve got designer toilet brushes, life in America must be pretty good.

But there’s a serious point here – a very serious point. In business, it’s no longer enough for a company or an individual to offer a product or a service that’s simply functional – that merely works. Anybody can do that. In today’s overstocked, materially abundant marketplace, that product or service also has to be physically beautiful and emotionally transcendent.

Now, where do you learn about physical beauty and emotional transcendence? At law school? No, at art school.

And that explains why an art degree is now perhaps the most valuable
degree in business.

Daniel H. Pink at Ringling School of Art and Design
May 2004

Không giống ai !

Chào các bạn,

Các bạn chắc là đã từng gặp mấy anh chàng ăn nói không giống ai, tác phong không giống ai, suy nghĩ không giống ai. Và có lẽ là cũng đã mắng thật hoặc mắng đùa nhiều nguời: “Không giống ai!”
conformity
Trong nền văn hóa của ta “không giống ai” là một cái tội, và là một câu mắng. “Không giống ai” là lạc chuồng, là ngớ ngẩn, là… không gíống ai!

Nhưng, đó chính là trở ngại lớn cho nền văn minh Đại Việt của chúng ta, phải không các bạn?

Không giống ai thì mới sáng tạo, mới khá. Chứ giống ai thì ngóc đầu lên sao được?

Bán phở mà tô phở của mình giống như tô phở của mọi người, thì khách hàng chỉ cần bước ra khỏi cửa ăn tô phở ngay trước nhà họ, việc gì phải chạy tới 5km đến tiệm của mình? Đóng cái ghế, mà ghế của mình giống ghế của hàng chục tiệm bàn ghế khác, thì còn ai có thể biết tiệm mình là ai để ghé vào? Mỹ Linh mà cũng hát gíống như Nguyễn Thị Cúc ở chợ Đồng Xuân, thì làm sao có được Mỹ Linh trên đời?

Như vậy để chúng ta thấy được vấn đề của chúng ta lớn đến mức nào. Chúng ta không những không sáng tạo, mà nền văn hóa chúng ta, qua cách sống hàng ngày, còn tích cực chống sáng tạo, tích cực ép mọi người vào một khuôn, phải giống nhau, như một đoàn người máy.

Các bạn có tự hỏi “Tại sao chúng ta có đến 4 ngàn năm văn hiến mà vẫn lẹt đẹt gần chót của thế giới?”

Sáng tạo. Sáng tạo. Và sáng tạo. Đó là điều duy nhất để một quốc gia tiến bộ. Nếu ta sáng tạo ta tiến, không sáng tạo ta lùi. Không có công thức khác.

Sáng tạo là tạo thêm cái mới.

Cái mới đó có thể là để giải quyết một vấn đề, một nhu cầu, ta đang gặp phải.
uniformity
Nhưng đó chỉ là sáng tạo kiểu học trò. Sáng tạo kiểu thầy là tạo cái mới ngay cả khi mình không cần cái mới. Ví dụ làm một bản nhạc mới, một kiểu áo mới, một bài thơ mới, một kiểu nhà mới… Chẳng ai có nhu cầu có mấy thứ mới nầy cả, nhưng ta vẫn thích làm mới, vì có mới mới vui, vì có mới mới không giống ai, vì có mới mới sáng tạo.

Sáng tạo là đam mê đi tìm những cái mới. Là dấn thân, dấn tư tưởng, dấn cảm giác vào vùng chưa ai biết, chưa ai khai phá, để tìm ra những cái gì chưa ai thấy, chưa ai biết, chưa ai nghĩ tới, để làm cho đời sống tinh thần và vật chất của chính mình và của xã hội của mình sung túc hơn, hấp dẫn hơn, thích thú hơn.

Người Việt Nam ta rất ‎yếu về sáng tạo. Đó không phải vì ta thiếu thông minh (dân Việt đi học ở nước ngoài thường là học khá hơn mọi người), mà vì ta không khuyến khích sáng tạo.

Và chúng ta thường nghĩ rằng yếu kém về sáng tạo là vấn đề của các cá nhân chúng ta. Nhưng, không phải thế các bạn. Đó là vấn đề văn hóa xã hội của ta.

Văn hóa của ta chống sáng tạo. Chúng ta sống hàng ngày kiểu chống sáng tạo. Chúng ta phải thay đổi tư duy và cách sống. Chúng ta phải khuyến khích mỗi người phát triển cá tính riêng của mình, nên có những cái khác lạ, “không giống ai” (miễn là đừng “không giống ai” kiểu phi pháp và vô đạo đức như đi ăn trộm). Thấy ai ăn mặc kiểu lạ mắt thì tìm hiểu nó hay chỗ nào, thay vì phán ngay “không giống ai.” Thấy ai làm một bài thơ kiểu quái dị, thì để đó nghiên cứu từ từ xem hay chỗ nào. Thấy ai nấu một món ăn mới lạ, thử trước, phê phán sau.

Có lẽ cách hay nhất là tất cả chúng ta nên cố tình biến câu “không giống ai” thành một câu khen, ngợi ca tính sáng tạo và cá tính. Ở Mỹ, từ “unique”– độc nhất, không giống ai – là một câu khen rất thường xuyên. Nếu bạn đưa cho ai xem một cái gì đó rất lạ, chắc chắn 100% là bạn sẽ được câu khen, “Oh, it is so unique!” Tất cả các đặc tính khác, để đó tính sau, nhưng trước hết, chắc chắn là bạn sẽ có câu khen “unique.” Và unique có giá trị hơn cả beautiful, hay gorgious, hay artistic… Điểm unique, hay original, luôn luôn chiếm một tỉ số lớn trong tổng số điểm trong các cuộc thi về nghệ thuật—âm nhạc, vũ, vẽ, điêu khắc, v.v….
individuality
Hệ thống giáo dục và chính trị của ta cũng rất hạn chế sáng tạo. Về giáo dục thì học vẹt là chính. Suy nghĩ, phân tích, bình phẩm tự do và sáng tạo không phải là phần chính của giáo dục. Về văn hóa chính trị thì tự do sáng tạo, tự do viết văn và tự do xuất bản, bị hạn chế đến mức truyện Việt thường là chán phèo và rất ít truyện có tính khai phá.

Chúng ta không nói tự do là không có kỹ luật. Nhưng loại kỹ luật chúng ta đang có trong hệ thống văn hóa chính trị rất bóp nghẹt sáng tạo.

Làm thế nào để chúng ta biết kỹ luật thông thoáng đủ cho tự do sáng tạo? Thưa, có lẽ dùng thị trường quốc tế làm thước đo thì khách quan nhất. Nếu chúng ta thông thoáng đủ, chúng ta sẽ có những tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng, cho người nước ngoài và du khách thưởng thức.

Ta có đủ mọi chính sách phát triển kinh tế, thương mãi, luật pháp, môi trường… Nhưng những thứ đó vẫn là số hai. Số một là sáng tạo. Có hệ thống pháp l‎y’ tối tân nhất thế giới mà cái đầu của mọi nguời không sáng tạo thì hệ thống đó cũng hoạt động kiểu hạng bét, và chỉ trong một hay hai năm hệ thống sẽ thành lỗi thời vì không đủ sáng tạo để cập nhật và bảo trì.

Trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu ngày nay, sáng tạo là yếu tố qu‎yết định. Nếu ta quan tâm ‎ những chuyện khác mà không chú trọng sáng tạo là ta chú tâm đến suờn xe cho tốt cho đẹp, mà không lo cho có máy xe.

Chúc các bạn một ngày vui!

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Sao Chẳng Về Đồng Cỏ Ơi

Ngày xưa có cô Tấm hiền lành.
tamtanthoi
Tấm ngoi lên từ chiếc ao làng, đầu tóc áo quần lấm lem buồn đất, quà tặng cho Tấm là chị Bống tâm tình.
Ừ thì ta tắm ao ta
Ừ thì trong đục ao nhà vui lắm Tấm ơi!
Đồng quê sẵn rồi con rô con rạch, đồng quê sẵn rồi rau má rau sam. Tấm ngồi hóng mát bờ tre, Tấm đi bờ ruộng Tấm về bờ kênh, gió nồm ru Tấm ngủ quên…
Hây hây má thắm đồng tiền tặng anh, anh cho Tấm giấc mộng lành.

Rồi làng mở hội. Rồi Tấm đua chen. Rồi đời phù du cám dỗ, rồi Tấm giữ mộng phù hoa.
Tấm đánh rơi giày đôi chân khập khiễng. Rồi nòi con ghẻ đánh ghen. Té lên té xuống mệt nhoài. Tấm chết giữa ngày, chết giữa chiêm bao. Anh thương Tấm lắm, anh giận Tấm lắm!
Nhà quê mặc áo nhà quê, mang chi áo thắm xun xoe với đời, sao chẳng trở về đồng cỏ Tấm ơi!

Ngày xưa có cô Tấm hiền lành.
Tấm bước ra từ quả thị. Thơm!
Quà tặng cho Tấm là bát nước bà hàng phúc đức. quảthị
Bà có nồi cơm tám. Bà có cơi trầu đầy. Lòng bà hạt gạo làng ta. Lòng bà lòng trầu thắm đỏ. Bà kể chuyện cổ tích Tấm nghe. Bà vắt sữa ca dao nuôi Tấm lớn .
Bà mừng tóc Tấm dài mượt mà hương bưởi. Bà vui răng Tấm nhưng nhức hạt na.
Tấm chăm tưới cải trồng cà, tay chai da sạm mới là Tấm ngoan.

Rồi vướng bùa yêu. Rồi võng tía lọng vàng.
Tấm ngồi chỗ cao, Tấm ngồi chỗ sang.
Bà mừng cô Tấm trổ hoa, bà lo cô Tấm bôn ba xứ người, bà kêu ơi Tấm về thôi!

Mà Tấm không về.
Chuyện xưa cô Tấm một ngày rủ áo lên ngôi hoàng hậu.
Sao chẳng giữ yêu thương, sao chỉ có hận thù.
Tấm giết Cám rồi. Cái ác Cám trả nợ đời. Nợ đời cái ác còn nơi cô Tấm.
Sao chỉ vừa thay bậc đổi ngôi đã vội bạc lòng đến thế.
Bà hoàng soi gương.
Gương kia ngự ở trên tường, nữ lưu ai độc ví dường như ta.
Bà hoàng sưởi nắng ngả chiếc bóng đen. Bà hoàng hóng mát ao sen, ngả chiếc bóng hồng diêm dúa.
tấm cám

Tấm bỏ Tấm rồi. Tấm đem cái ác Tấm trả nợ đời. Cái Tấm – Bà hoàng sinh đôi khác mặt.
Anh thương Tấm lắm, anh giận Tấm lắm, thề chẳng gặp Tấm nữa đâu!
Anh về nhà quê qua chiếc ao làng, ao làng rưng rưng.
Anh về nhà quê qua lối bờ tre, bờ tre thút thít.
Anh về nhà quê anh ngắm bóng trăng, bóng trăng mây che.

Anh về nhà quê vục mặt vào rượu, rượu đắng.
Anh về nhà quê anh hát câu ca, thơ buồn:
Đói từ bờ rơm gốc rạ
Mẹ đâu hay
Chắt chiu gửi ác cho đời.
Sao chẳng trở về đồng cỏ Tấm ơi!

Chuyện xưa cô Tấm nhắc người, yêu thương nghìn lần chưa đủ, cái oán uất kết một lần cái oán khó tan.
Tấm nhớ giữ mình lòng lành như nước, lắng đục thành trong.
Tấm gắng giữ mình hồn thơm cỏ hoa, đẹp đời một chốc.
Mùa hè Tấm về giỗ bà, anh còn Tấm hiếu thảo.
Mùa xuân Tấm về thăm họ hàng, anh còn Tấm trong veo.
Sự người chín bỏ làm mười, đừng giận đừng hờn.
Mà Tấm chưa về. Anh thương Tấm lắm, anh giận Tấm lắm!
hoilang

Chuyện xưa cô Tấm một lần bỏ quê trẩy hội. Anh lo cho Tấm giữa đời phù du.
Anh ngồi anh ru:
Ru hời ru hỡi là ru
Tấm đi có hứa thiên thu Tấm về?
Tấm mau trở về đồng cỏ Tấm

Nguyển Tấn Ái

Được sống

    (Dành cho chị yêu của em sau 2 năm từ biệt)

Tưởng tượng nếu mình hỏi con gái câu này:“Con có vui vì đang được sống?”, chắc con gái sẽ nhìn mình ngạc nhiên và hỏi: “Sống thì sao hả mẹ?”

Với con, sống là một cái gì đó thật hiển nhiên như tên con là Minh Anh, như mây thì ở trên trời, chim thì bay và cây thì có lá. “Sống thì sao hả mẹ?”, hàng ngày con vẫn thức dậy mỗi sáng mai, hít thở không khí trong lành, chạy trên đôi bàn chân nhỏ xíu, cười, hát và chơi những trò chơi. Sự sống ở trong con mang đến cho con niềm vui và đôi khi cả nhũng nỗi buồn thơ trẻ nhưng con chưa bao giờ nghĩ rằng mình đang được sống.
lookingoutthewwindow2
Trước đây mẹ cũng như con, sống bao nhiêu tháng năm của cuộc đời mình và chưa bao giờ nghĩ là mình đang được sống. Đôi khi những buồn chán, những điều không như ‎ ý đến với mình còn làm cho mẹ nghĩ nếu cuộc sống khó khăn và nhiều nỗi buồn đến vậy, sao mẹ lại phải sống để làm gì..

Khi mẹ sinh ra con, mẹ thấy cuộc đời mình có thêm nhiều ‎ nghĩa, mẹ nghĩ mình sẽ phải sống không chỉ vì mình mà vì con – cái sinh linh bé nhỏ, yếu ớt đang cần sự chở che của mẹ. Niềm hạnh phúc khi thấy con cười nụ cười đầu tiên, nói tiếng nói đầu tiên, bước những bước đầu tiên chập chững làm cho mẹ thấy yêu hơn cuộc đời này nhưng không hiểu vì sao mẹ vẫn chưa‎‎ nghĩ rằng mình đang được sống. Hạnh phúc, tình yêu, niềm vui không làm cho mẹ cảm thấy trân trọng cuộc sống của mình. Nhưng, con có biết không, nỗi đau lại làm được điều ấy.

Nỗi đau của mẹ
khi thấy ước mơ được bước đi bằng chính đôi chân của mình, chỉ là một bước đi nhỏ nhoi từ giường bệnh đến bên của sổ…
ước mơ được tự ngồi dậy, tự kéo tấm màn che để thấy ánh mặt trời…
ước mơ đuợc về nhà, được nằm ngủ trong căn phòng quen thuộc của mình, được bước đi trên bậc cầu thang gác…
ước mơ cho cơn đau này mau qua đi, cơn đau sau chậm đến để có thể giữ cho mình nụ cười không tắt trên môi…
ước mơ sau mỗi giấc ngủ vùi thức dậy không thấy mình đang sốt…
ước mơ bạch cầu trong mình đủ cao để những bông hoa tuơi trong phòng bệnh không còn là nguy hiểm với mình…
ước mơ được bay như Harry Potter trong những giấc mơ…
ước mơ của một người con gái yêu cuộc đời, yêu con người mãnh liệt nhưng lại phải ra đi giữa những tháng năm đẹp nhất của đời mình…
Nỗi đau ấy làm cho mẹ thấy mình “đang được sống”
lookingoutthewwindow1
Mẹ mong sao con gái mình lớn lên không cần phải trải qua nỗi đau mà vẫn thấy được giá trị cuộc sống của mình. Những điều đối với mình thật bình thường, thật nhỏ nhoi như bước đi, như cười, như hát thì với người khác lại là những ước mơ không bao giờ tới được. Vậy thì con gái ơi, mỗi sang thức dậy hãy cám ơn cuộc đời vì mình đang được sống và hãy sống làm sao để mỗi giây phút sống của mình là một niềm vui

Sunshine

Lời cầu nguyện đầu ngày

Thưa Chúa,

Khi con thức dậy sáng nay,
mong thánh linh của Chúa đến với con.
prayer
Mong trí óc con nhận được,
tất cả những gì đến từ Chúa,
tâm hồn con nhận được
ơn phước của Chúa,
và trái tim con nhận được
tình yêu của Chúa.

Mong tất cả những người con gặp
hay nghĩ đến trong ngày hôm nay
cảm thấy tốt hơn.

Mong con đóng góp an bình.

Mong con phục vụ mục đích của Chúa.
với tất cả những gì con nói và làm,
hôm nay và mãi mãi.

Hãy cho con biết cách.

Amen.

.

Dear God,
prayer1
As I wake up this morning,
may Your spirit come upon me.

May my mind receive
Your emanations,
my soul receive
Your blessing,
and my heart receive
Your love.

May all those I meet
or even
think of on this day
feel better for it.
May I contribute peace.

May I serve Your purposes
with all I say and do,
today and always.

Please show me how.

Amen

Tư duy tích cực trong kinh doanh

Chào các bạn,

Tư duy tích cực cần cho tất cả mọi người. Tuy nhiên trong các công ty thương mãi, những người được huấn luyện tư duy tích cực dữ dội nhất là những đội quân bán hàng và tiếp thị. Đây là những đội quân tiên phong trên chiến trường, mang tiền về cho hãng. Họ là mạnh máu của hãng. Tất cả các ngành nghề khác trong hãng đều là hậu cần của đội tiền phong này. Nếu đội này thất trận là cả hãng đói. Cho nên đội ngũ bán hàng và tiếp thị phải luôn luôn và những chiến sĩ ưu tú, đánh đâu thắng đó, không sợ thua.
enthusiasm
Việc huấn luyện đội ngũ bán hàng và tiếp thị nhắm vào một việc duy nhất—họ phải luôn luôn vui vẻ yêu đời, luôn luôn tin là mình sẽ thắng, luôn luôn quyết thắng, không có chữ “thất bại” trong tự điển của họ.

Và huấn luyện đây không có nghĩa là một vài lớp học, học xong lấy chứng chỉ là xong. Nó là cả một tiến trình sống. Các cuộc họp hàng ngày, họp hàng tuần, picnic, đi chơi chung thường xuyên… chỉ nhắm vào một điểm duy nhất—giữ cho mọi người tích cực, tich cực, và tích cực.

Thế thì những điểm nào được chú trọng nhất trong tiến trình đào tạo đó?

Nói chung, kỹ thuật thì nhiều, nhưng có thể tạm chia thành bốn nhóm: Tư duy tích cực về chính mình, tư duy tích cực về mọi người, tư duy tích cực về sản phẩm và công việc của mình, và tác phong tích cực trong giao tiếp

1. Tư duy tích cực về chính mình

• Muốn thành công và tin là mình sẽ thành công.

• Nghĩ tốt về mình: Mình có tài, mình thông minh, mình làm việc chăm chỉ, mình đẹp, mình có duyên… Nguời tiêu cực về chính mình không thể bán hàng hay tiếp thị được, vì nếu chính mình mà mình còn không thấy được cái hay của mình thì mình thấy cái hay của sản phẩm nào được?

• Luôn luôn nói chuyện với nụ cười và vui vẻ. Ví dụ: “Hôm nay chị thế nào?” “Hôm nay trời nắng đẹp, em rất vui, và công việc đầy một bàn, bận rộn là em vui rồi.” (Thay vì: Hôm nay nóng mệt quá. Công việc lại dồn đống, quá mệt). Ngay cả khi bị bệnh, thì câu trả lời vẫn tích cực, “Mây hôm nay ốm phải ở nhà, hôm nay em đi làm được rồi. Vẫn còn nhức đầu một tí. Nhưng đi làm được là em vui rồi.” (Thay vì: Em vẫn còn bệnh, nhưng phải cố đi làm, sợ công việc dồn đống).
happy_clients
2. Tư duy tích cực về mọi người

• Tất cả khách hàng đều là bạn tốt của mình. Công việc của mình là giúp đở bạn mình.

• Mỗi người đều có những cái đẹp cái hay cho mình thích, những tâm sự cho mình thông cảm, những nhu cầu kỹ thuật mà mình có thể giúp đở trong phạm vi nghề nghiệp của mình, nhưng giới hạn phải giữ (như ngân sách giới hạn, v.v…)

• Hàng bán được hay không, không quan trọng. Tình cảm và liên hệ “bạn bè” giữa mình và khách hàng của mình mới là điểu quan trọng. “Liên hệ tốt” sẽ tự động bán hàng cho mình.

• Tất cả khách hàng bước vào tiệm của mình, dù có mua hay không, đều là những người có thể quảng cáo cho mình với thân nhân bè bạn của họ. Cho nên, mua hay không là chuyện phụ, làm cho họ vui vẻ và yêu mình là chuyện chính. Cho nên, hãy xem họ như bạn.

3. Tư duy tích cực về sản phẩm và công việc

Mình biết món hàng làm được gì, nó giúp được gì cho mình, mình thích món hàng đó, mình dùng nó, và mình muốn khoe với các bạn của mình về món hàng đó để bạn mình cũng có được ích lợi mà mình đang có.

Công việc của mình là giới thiệu đến bạn bè của mình một sản phẩm tôt, giúpbạn có được những lợi ích của sản phẩm đó. Đây là “giúp bạn” chứ không chỉ là “bán hàng.”

hightrustselling
4. Tư duy tích cực trong giao tiếp với khách hàng

• Khách hàng là bạn. Nếu bạn hỏi câu nào thì trả lời thành thật. Nếu bạn không hiểu điều gì thì giúp bạn hiểu.

• Tươi cười.

• Không nói chuyện kiểu tiêu cực. Tiêu cực thường bắt đầu bằng, “Tôi không thích …”, “tôi ghét…”, “tôi khinh thường…”, “mấy loại người đó..”, “mấy loại đồ đó…” v.v…

Không chê bai sản phẩm của các công ty cạnh tranh với mình. Nếu được hỏi về sẳn phẩm của công ty khác, câu trả lời thường xuyên là “Tôi mê hàng của công ty tôi nên tôi không dùng hàng của các công ty khác…”

• Không nói chuyện về các vấn đề tiêu cực. Như, chiến tranh ở Iraq, tin người chết đâu đó… Nếu khách nói chuyện tiêu cực thì ừ hử cho qua chuyện, nhưng nếu có dịp là hướng khách về những chuyện vui vẻ yêu đời.

• Mục đích của nói chuyện là “cùng vui với bạn” chứ không phải là cố bán hàng. Làm cho khách vui và giúp khách hiểu rõ mọi sự liên hệ đến sản phẩm. Nếu khách không mua, cũng vui vẻ và cám ơn như là khách mới mua món hàng. Khách không mua (có thể vì tìm không ra món cần‎) nhưng vẫn có thể giới thiệu người quen vào tiệm, nếu khách thích mình.

• Một bước “No” là một bước đến gần “‎Yes”.

• Tóm lại: Công việc của mình không phải là “bán hàng,” mà là “Xây dựng liên hệ bạn bè.’ “Liên hệ” sẽ làm việc bán hàng cho mình. Công việc của mình là tạo dựng và bảo trì “liên hệ”. Công việc của “liên hệ” là bán hàng.

Các kỹ thuật buôn bán và tiếp thị này thực ra cũng là qui luật sống tích cực cho tất cả chúng ta, trong tất cả mọi ngành nghề ở sở, và cả ở nhà với gia đình.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Tình yêu: một diễn giải của Corinthians 1, chương 13

Chào các bạn,

Câu nói về tình yêu nỗi tiếng nhất trong văn minh tây phương là trong chương 13, quyển Corinthians 1, trong Thánh kinh.

Bài sau đây phỏng theo mô hình của 1 Corinthians 13, để bàn luận sâu hơn, đặc biệt cho những người làm việc thiện nguyên, công quả, và tôn giáo hàng ngày.

Chúc các bạn một ngày đầy tình yêu ! 🙂

Hiển

.

If I talk a lot about God and the Bible and the Church, but I fail to ask about your needs and then help you, I’m simply making a lot of empty religious noise.
love4
Nếu tôi nói rất nhiều về Chúa và Kinh Thánh và về Nhà thờ, nhưng tôi không biết được bạn cần gì và giúp đỡ bạn, tôi đơn giản là đang tạo ra thật nhiều tiếng ồn tôn giáo.

If I graduate from theological seminary and know all the answers to questions you’ll never even think of asking, and if I have all the degrees to prove it and if I say I believe in God with all my heart, and soul and strength, and claim to have incredible answers to my prayers to show it, but I fail to take the time to find out where you’re at and what makes you laugh and why you cry, I’m nothing.

Nếu tôi tốt nghiệp trường thần học và tôi biết tất cả những câu trả lời cho bao câu hỏi mà bạn sẽ chẳng bao giờ nghĩ tới để hỏi, và nếu tôi sở hữu tất cả bằng cấp để chứng tỏ điều đó, và nếu tôi nói tôi tin Chúa với tất cả trái tim, linh hồn và sức lực, và nói tôi đã nhận được những trả lời lạ lùng cho lời cầu nguyện của tôi, nhưng tôi không dành được thời gian để tìm hiểu bạn đang ở đâu và điều gì làm bạn cười hay khóc, tôi chẳng là gì cả.

If I sell an extra car and some of my books to raise money for some poor starving kids somewhere, and if I give my life for God’s service and burn out after pouring everything I have into the work, but do it all without ever once thinking about the people, the real hurting people – the moms and dads and sons and daughters and orphans and widows and the lonely and hurting – if I pour my life into the Kingdom but forget to make it relevant to those here on earth, my energy is wasted, and so is my life.

Nếu tôi bán bớt một chiếc xe và một mớ sách của tôi để quyên tiền cho những em bé nghèo và đang chết đói, và nếu tôi hy sinh cuộc đời tôi để phục vụ Chúa và kiệt sức sau khi rót tất cả sức lực của tôi cho công việc, nhưng làm tất cả việc đó mà không để ý tới con người, những người đang thực sự đau khổ, các bà mẹ, các ông bố, các đứa con, các em bé mồ côi, các góa phụ, tất cả những người đang cô đơn và đau đớn – nếu tôi rót toàn bộ cuộc đời của tôi vào Nước Thiên đàng nhưng không làm điều đó có liên hệ đến những người trên trái đất này, năng lượng của tôi bị lãng phí, và cuộc đời của tôi cũng bị lãng phí.
love
Here is what love is like – genuine love.
Đây là tình yêu – tình yêu thực sự

God’s kind of love.
Loại tình yêu của Chúa

It’s patient.
Tình yêu kiên nhẫn

It can wait.
Tình yêu có thể đợi

It helps others, even if they never find out who did it.
Tình yêu có thể giúp đỡ người khác, ngay cả khi người ta không bao giờ biết là ai đã giúp.

Love doesn’t look for greener pastures or dream of how things could be better if I just got rid of all my current commitments.
Tình yêu không tìm kiếm những thảm cỏ xanh hơn, hay mơ tưởng rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn ra sao nếu tôi có thể bỏ đi tất cả những cam kết hiện thời.

Love doesn’t boast.
Tình yêu không khoe khoang

It doesn’t try to build itself up to be something it isn’t.
Tình yêu không cố dựng nó lên thành cái không phải là nó.

Love doesn’t act in a loose, immoral way.
Tình yêu không hành động theo cách buông thả, vô đạo đức

It doesn’t seek to take, but it willingly gives.
Tình yêu không không tìm kiếm nhận lãnh, mà mong muốn đem cho.

Love doesn’t lose its cool.
Tình yêu không phai đi sự sâu sắc.

It doesn’t turn on and off.
Tình yêu không mở và tắt
love5
Love doesn’t think about how bad the other person is, and certainly doesn’t think of how it could get back at someone.
Tình yêu không nghĩ người kia xấu đến mức nào, và chắc chắc chẳng nghĩ tới làm sao để trả đũa.

Love is grieved deeply (as God is) over the evil in this world, but it rejoices over truth.
Tình yêu đau buồn sâu thẳm (như buồn đau của Chúa) về tội ác của thế gian, nhưng vui sướng cùng sự thật.

Love comes and sits with you when you’re feeling down and finds out what is wrong.
Tình yêu đến và ngồi cạnh bạn khi bạn chán nản và tìm ra nguyên do tại sao bạn chán.

It empathizes with you and believes in you.
Tình yêu thông cảm với bạn và tin tưởng nơi bạn.

Love knows you’ll come through just as God planned, and love sticks right beside you all the way.
Tình yêu biết rằng bạn sẽ vượt qua như Chúa đã định, và tình yêu luôn kề cận bên bạn trên cả đoạn đường.

Love doesn’t give up, or quit, or diminish or go home.
Tình yêu không bỏ cuộc, hay chuồn, hay xìu, hay bỏ về.

Love keeps on keeping on, even when everything goes wrong and the feelings leave and the other person doesn’t seem as special anymore.
Tình yêu tiếp tục kiên trì, ngay cả khi mọi chuyện đều hỏng và các cảm xúc ban đầu tan biến, và người kia chẳng còn vẻ đặc biệt nào nữa hết.

Love succeeds 100 percent of the time.
Tình yêu thành công trong 100 phần trăm thời gian.

That, my friend, is what real love is!
Đó, bạn ơi, là tình yêu thực sự!

February 12, 2008
By DAVID SANFORD
Nguyễn Minh Hiển dịch

Ngưng phàn nàn, sống thành thật

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta bàn thêm một tí về thành thật mà ta đã nói trong bài Làm thế nào để thành thật.
behonest
Vấn đề lớn về tình trạng nhiều gian dối trong đất nước chúng ta hiện nay là đa số mọi người nghĩ rằng “ta phải gian tham thì mới thành công, và người thành thật là người sẽ chịu thiệt thòi”. Không cần biết điều này đúng hay sai, nếu ta nghĩ thế thì nó sẽ thành sự thật như thế, bởi vì nếu ta nghĩ thế ta sẽ hành động thế–ta gian tham để thành công—và vậy thì cả đất nước sẽ biến thành đất nước “Gian tham để thành công.” Đây là “Lời tiên tri tự hòan thành” (self-fulfilling prophecy) mà chị TD vừa nhắc đến trong bài Hiệu ứng Pygmalion.

Nếu chúng ta cứ suy tư (và hành động) như cũ—tức là phàn nàn về tình trạnh gian tham trong nước—thì ta chẳng giải quyết được gì cả. mà chỉ làm cho vấn đề thành trầm trọng thêm, vì càng phàn nàn ta càng tin điều ta phàn nàn, mà càng tin thì ta càng có khuynh hướng sống theo “sự thật” ta tin, tức là mọi người tiếp tục sống theo kiểu gian tham.

Cách giải quyết vấn đề DUY NHẤT là nghĩ và nói rằng “Thành thật sẽ đưa đến thành công” và sống thành thật như thế để thành công. Và điều này rất dễ làm, không có ly’‎ do gì người nào có thể nói là khó. Nếu trong nhà nước cần băng đảng, và bạn cho rằng bạn không thành thật được, thì ra ngoài làm tư. Trong nền kinh tế tư nhân, khách hàng chỉ muốn sống với các công ty đáng tin cậy, nếu bạn đáng tin cậy thì bạn sẽ thành công, nếu không thì phải đóng cửa. Khách hàng không muốn gian dối.

Tức là thay vì phàn nàn, hãy ngưng phàn nàn và sống thành thật, đồng thời dạy bảo khuyến khích người khác sống thành thật để thành công. Tức là chúng ta phải đổi môi trường tíêu cực (của phàn nàn về gian dối) thành môi trường tích cực của thành thật, bằng chính hành động thành thật của mình.

Chúng ta không thể lấy đi bóng tối bằng cách ngồi nguyền rủa chưởi bới bóng tối. Ta phải thắp lên một ngòn đèn bằng tấm gương tích cực thành thật của ta.
integrity
Các bạn hơi lớn tuổi một tí chắc chắn đã nghiệm ra điều này. Trong vòng mấy mươi năm nay, chúng ta phàn nàn hết việc này đến việc kia, và đa số những việc ta phàn nàn nhiều thì càng ngày càng tệ hại, từ thập niên này qua thập niên kia. Vì sao? Vì đó là nguyền rủa bóng tối, chẳng nên công cán gì. Vì đó là “lời tiên tri tự hòan thành”. Vì đó là “hiệu ứng Pygmalion.”

Cho nên chúng ta nên ngưng làm thức giả, ngưng làm kẻ sĩ than khóc, ngưng làm nhà đạo đức phán đoán, mà chỉ làm một việc thôi—thành thật—rồi để ngọn nến nhỏ đó rọi sáng một khoảng phòng, và từ từ đốt sáng các ngọn nến gần đó.

Hãy tự hỏi mình: Tôi có thành thật không? Tôi có hành động thành thật không? Nếu có, tôi có cố để ngày mai tôi thành thật hơn ngày hôm nay một tí không? Và tôi có kêu gọi mọi người chung quanh tôi thành thật không?

Nếu bạn tin rằng, xã hội chúng ta có quá nhiều gian dối, thì ít nhất tin thêm rằng, nếu bạn thành thật bạn sẽ nổi bật giữa đám người gian dối như viên kim cương giữa bãi cát. Nếu nổi bật thế thì cơ hội để bạn ảnh hưởng tốt đến người khác có thể rất cao.

Chỉ có một cách giải quyết vấn đề, không có cách thứ hai: Ngưng phàn nàn về gian dối , và sống thành thật. Vấn đề của chúng ta là chúng ta phàn nàn về gian dối, và ta sống thiếu thành thật. Hãy làm điều ngược lại: Ngưng phàn nàn về gian dối, và bắt đầu sống thành thật. Bạn có thể làm được điều đó không?

Không được cũng phải được, vì chữ tín là thành trì cuối cùng của đạo làm người.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Vô hạn tình yêu

“Làm sao em có thể yêu anh hơn thế này nữa! Em không thể” Đó là lời thoại trong một bộ phim Hàn Quốc nào đó mà tôi đã quên mất tựa đề từ lâu. Nhưng tôi nhớ rất rõ cảm giác của mình khi nghe câu thoại này. Tôi đã tưởng đó là câu tỏ tình tuyệt nhất (của người khác dành cho người khác) mà tôi từng nghe!

Love Square -- Square Love
Love Square -- Square Love

“Không thể yêu anh nhiều hơn”, tôi chợt nhớ lại câu thoại đó khi vừa lật qua một trang sách (của cuốn sách nào thì bây giờ tôi cũng quên mất rồi) và bắt gặp một câu tương tự. “Không thể yêu anh nhiều hơn”, nghĩa là em chỉ có thể yêu đến thế thôi, bởi vì tình yêu của em dành cho anh lớn đến giới hạn tuyệt đối rồi, đến …lim rồi!

Nhưng, kỳ diệu thay tình yêu, sự thật không phải như vậy, không thể như vậy! Bạn không thể yêu ai và yêu cái gì đến mức tận cùng hạn độ!

Có lẽ sự thật này làm thất vọng nhiều người, những người có trái tim đa cảm. Bạn tin rằng (và muốn rằng) tình yêu mình dành cho người con gái này, chàng trai này là cùng đích, là sâu đậm tuyệt đối, là duy nhất, là vĩnh viễn.

Bạn tin rằng mình chỉ có thể yêu một người, hoặc hai người, hoặc ba bốn người… gì đó trong đời!

Nhưng, kỳ diệu thay, không phải vậy!

Circula Love
Circula Love

Khi tôi còn nhỏ, tôi đã viết trong nhật ký của mình, rằng tình yêu trong tôi là một hình vuông mà bốn góc của nó là ba, mẹ, và hai đứa em trai của tôi. Hình vuông có bốn góc, và chỉ cần bốn điểm để tạo thành. Tôi đã có rồi! Tôi không cần yêu thêm ai nữa, tôi không thể yêu thêm ai nữa trong đời…

Buồn cười phải không! Bởi vì sau đó tôi đã yêu một người hoàn toàn xa lạ. Yêu nhiều đến nỗi phải…kết hôn, rồi sinh con. Hình vuông của tôi hoá ra …đố bạn biết là hình gì!

Lúc đó tôi nghĩ rằng tình yêu trong tôi, trong bạn, và trong bất cứ ai trên cõi đời này …là một hình cầu. Đó mới là một hình hoàn hảo. Cần có …vô số điểm để tạo thành nó.

Những người mẹ khi sinh đứa con đầu lòng thường tưởng rằng mình đã đạt đến hạn độ. Đôi khi, họ thậm chí không dám sinh thêm đứa thứ hai vì sợ rằng mình phải san sẻ, phải yêu mỗi đứa ít đi…

Những người tan vỡ trái tim sau một cuộc tình sâu đậm thường nghĩ rằng mình không thể yêu ai hơn cô ấy hay anh ấy. Đôi khi, họ không dám mở lòng thêm lần nữa vì sợ rằng nó chỉ là thứ tình bù đắp nhạt nhẽo…

Nhưng, đó không phải là sự thật! Đừng tự đóng gói tình yêu của mình! (Ý nghĩ này khiến hình cầu của tôi hoá ra…đố bạn biết là hình gì?)

Bạn có thể sinh vài chục đứa con và vẫn yêu mỗi đứa nhiều như vậy. Bạn có thể trải qua nhiều cuộc tình mà không cuộc tình nào kém say đắm hơn. Và, đây là điều quan trọng, bạn có thể yêu một người càng ngày càng nhiều, khiến cho cái khoảnh khắc để bạn có thể nói “Không thể yêu anh nhiều hơn thế này nữa’…sẽ không bao giờ đến.

Big Bang
Big Bang

Hình cầu của tôi nổ tung, như một Big Bang, và hóa thành …vũ trụ. Ngạc nhiên chưa? Tình yêu hẳn có liên quan đến toán học và không gian, (và…mọi thứ khác mà bạn có thể nghĩ ra) vì giới hạn bao la của nó.

Đó là tất cả những thứ lan man mà tôi đã nghĩ chiều hôm qua, trong khi chạy xe từ hiệu sách Xuân Thu về nhà mình, giữa cơn mưa thất thường và dòng xe đông đúc của đường phố Sài Gòn. Vừa nghĩ đến đây thì về tới nhà.

Nhưng tôi cũng cố gắng kết một câu cho entry này đỡ lan man. Rằng nếu bạn khám phá tình yêu bằng cả trái tim, chắc chắn bạn sẽ còn ngạc nhiên về…năng lực yêu của chính mình!

Đông Vy

Hiệu ứng Pygmalion

“Vui và buồn ở đời là tuần hoàn cả. Tất cả bí quyết của sự sống là biết tin tưởng và đợi chờ, vì tin tưởng và chờ đợi thì cái gì mà chẳng đến? Anh đọc sách có còn nhớ chuyện Pygmalion không?…” – Trích “Thương Nhớ Mười Hai” – Vũ Bằng.

Pygmalion và Galatea Trong huyền thoại Hy Lạp cổ, Pygmalion là chàng hoàng tử xứ đảo Cyprus, trầm lặng cô đơn và lãng mạn. Pygmalion đã đem hết tâm hồn mình để tạc nên bức tượng một cô gái đẹp tuyệt vời, đặt tên là Galatea. Từ khi có Galatea, Pygmalion vui sướng như có được người phụ nữ lý tưởng của đời mình, người bầu bạn mà hằng ngày chàng âu yếm chuyện trò. Pygmalion đem lòng yêu sâu sắc tác phẩm của chính mình và tha thiết khẩn cầu thần Vệ Nữ ban cho Galatea hơi thở sự sống. Cảm động trước tài năng và tình yêu chân thành của Pygmalion, nữ thần Tình Yêu đã hóa phép cho bức tượng ngà biến thành người thật. Ước mơ toại nguyện, nàng Galatea xinh đẹp trở thành vợ chàng và hai người sống hạnh phúc bên nhau đến trọn đời.

***

my-fair-lady-DVDcover-6a079Dựa trên câu chuyện truyền thuyết xưa, Bernard Shaw viết kịch bản Pygmalion năm 1913. Đến năm 1956, Pygmalion của Bernard Shaw được chuyển thể thành vở nhạc kịch My Fair Lady, lập nên kỷ lục số lần công diễn lâu nhất ở nhà hát Broadway bấy giờ. My Fair Lady sau đó được dựng thành phim (1964), thu được thành công vang dội với ngôi sao huyền thoại Audrey Hepburn trong vai chính, nàng Eliza Doolittle.

Trong phiên bản “Pygmalion” hiện đại của Bernard Shaw, giáo sư ngôn ngữ Henry Higgins quả quyết rằng ông có thể rèn luyện chỉnh sửa cách ăn mặc và giọng nói để “biến” cô gái bán hoa quê mùa Eliza trở thành một quý bà sang trọng. Và ông đã thành công. Thế nhưng, theo như chính lời Eliza nói với người bạn của Higgins, Pickering, không phải những gì cô được học hay làm mà chính cách cô được đối xử như thế nào mới là điều mấu chốt quyết định:

“Anh thấy đó, thật ra thì, ngoài những thứ mà người ta có thể có được như cách ăn mặc, cách nói năng hay những gì đại loại thế, sự khác biệt giữa một quý bà và một cô gái bán hoa không phải ở cách cô ấy cư xử như thế nào mà ở cách người ta đối xử với cô ấy ra sao. Em sẽ mãi là một cô gái bán hoa đối với giáo sư Higgins, bởi vì ông ta chỉ luôn xem em như một cô gái bán hoa, và sẽ mãi luôn như vậy, nhưng em biết rằng em có thể là một quý bà đối với anh, bởi vì anh luôn trân trọng em như với một quý bà, và sẽ luôn như vậy”.

***

Hiệu ứng Pygmalion hay còn gọi là Self-fulfilling prophecy (lời tiên đoán tự trở thành hiện thực) được xem như một bí quyết quan trọng trong quản lý nhân sự. Nếu một người (hoặc chính ta) nghĩ ta thông minh hay ngu dốt hay sao đó, họ sẽ đối xử với ta theo cách mà họ nghĩ. Nếu ta được đối xử như thể ta thông minh hay ngu dốt hay sao đó, ta sẽ hành xử, và thậm chí trở thành như thế. Do vậy, những “tiên cảm” ban đầu của người đó về ta đã trở thành hiện thực! Tóm lại, một khi ý niệm đã hình thành, thậm chí ngay cả khi nó không đúng với thực tế, chúng ta vẫn có khuynh hướng hành xử theo đó. Và kỳ diệu thay, kết quả sẽ xảy ra đúng theo kỳ vọng đó, như thể có phép lạ!

Hiệu ứng Pygmalion được diễn giải qua bốn quá trình sau:

– Chúng ta hình thành kỳ vọng về con người hay sự kiện

– Chúng ta thể hiện kỳ vọng đó qua những tín hiệu giao tiếp, đối đãi…

– Người ta có khuynh hướng đáp lại những tín hiệu đó bằng cách điều chỉnh cách cư xử của họ cho phù hợp

– Kết quả là kỳ vọng ban đầu trở thành hiện thực

Kết quả trở lại tác động vào kỳ vọng ban đầu, tăng cường niềm tin vào những điều chúng ta đã nghĩ về con người/sự kiện đó. Bốn quá trình trên đây tạo nên vòng tròn cho “lời tiên đoán tự trở thành hiện thực” (the circle of self-fulfilling prophecies). Vòng lặp càng “quay” lại nhiều càng làm tăng cường ảnh hưởng của nó. Điều này cũng giải thích phần nào cơ sở tâm lý cho “phép lạ” trong bí quyết luật hấp dẫn (The Secret – Law of Attraction): những suy nghĩ lạc quan, tích cực sẽ thu hút đến quanh ta những may mắn, hạnh phúc và ngược lại, những suy nghĩ bi quan, tiêu cực thường dẫn đến những hậu quả tuyệt vọng, “xui rủi” như một dạng tự kỷ ám thị.

“Cách tốt nhất để dự đoán tương lai là sáng tạo ra nó” – Peter F. Drucker

Hiệu ứng Pygmalion mang một ý nghĩa to lớn khi ứng dụng trong quản lý nhân sự và giáo dục, nhất là đối với việc giáo dục các trẻ cá biệt. Người ta thấy rằng nhân viên/học sinh có khuynh hướng thể hiện, hoàn thành công việc tốt hơn khi được cấp trên/thầy giáo tôn trọng, kỳ vọng, tin tưởng. Đôi khi người ta còn phân ra làm hai dạng: (1) Hiệu ứng Pygmalion – sức mạnh của sự kỳ vọng của cấp trên đối với nhân viên (hay thầy giáo đối với học sinh) và (2) hiệu ứng Galatea – sức mạnh của sự tự kỳ vọng (của nhân viên/học sinh vào bản thân mình). Người ta cho rằng hiệu ứng Galatea (năng lực của sự tự kỳ vọng) này còn thậm chí còn quan trọng hơn cả hiệu ứng Pygmalion. Do đó, người thầy giáo giỏi phải là người biết truyền cho học trò niềm tin và sự kỳ vọng vào bản thân mình.

“Treat a man as he is and he will remain as he is.
Treat a man as he can and should be and he will become as he can and should be” – Goethe

Liên kết tham khảo:
Better Management by Perception
The Pygmalion Effect
Self-Fulfilling Prophecy

Thùy Dương

Từ GDP đến GPI và GNH

Thế nào là thành công và phát triển? Những điều gì là cần thiết để tạo nên một cuộc sống tốt đẹp? Cuộc sống cũng như mục tiêu phấn đấu của đời bạn sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những gì bạn ưu tiên định hướng, những tiêu chí mà bạn chọn để đánh giá sự thành đạt và hạnh phúc.

bhutan5
1. GDP và mặt trái của tăng trưởng kinh tế

GDP từng và hiện vẫn được dùng rộng rãi trên thế giới như một chỉ số đánh giá sự phát triển kinh tế. Vấn đề đáng nói là, có lẽ do nó quá phổ biến và được ưa dùng đến nỗi người ta thường đánh đồng GDP với tiến bộ xã hội. Thực ra GDP cơ bản chỉ là tổng giá trị sản xuất (tiêu thụ) nội địa tính bằng tiền tệ. Trong khi đó, tiến bộ xã hội là một vấn đề nhiều mặt mà GDP chỉ là một chiều mang tính vật chất của nó. GDP không kể đến những dạng “vốn” con người và xã hội, sinh thái…rất nhiều thứ thật sự làm cho cuộc sống có ý nghĩa. GDP không thể bao hàm chất lượng cuộc sống và cũng không phản ánh được sự phân bố bình quân đầu người một cách trung thực ở những quốc gia có mức chênh lệch giàu nghèo cao. Vì thế, chiến lược phát triển quốc gia nếu chỉ dựa trên tiêu chí GDP sẽ dễ bị lạc hướng, bám vào phương tiện mà quên mất (thậm chí hy sinh luôn) mục đích!
bhutan2

Chặt cây phá rừng, khai thác tận lực tài nguyên tất nhiên xuất hiện tăng trưởng kinh tế ở khu vực đó nhưng cái giá phải trả cho môi trường và sức khỏe cộng đồng về lâu dài có được tính đến? Bạn đừng nghĩ môi trường là cái gì xa lạ, mà nó chính là sức khỏe, sức khỏe của chính cơ thể bạn, của cộng đồng và hệ sinh thái.

Buồn hơn, mặt trái của áp lực tăng trưởng kinh tế không chỉ là những suy thoái môi trường, mà đôi khi đó còn là những rạn nứt và khủng hoảng các giá trị tinh thần, văn hóa truyền thống, trong một xã hội bị chi phối bởi sức mạnh đồng tiền, tiêu dùng và cạnh tranh. Sự thừa mứa vật chất chưa hẳn đã đồng nghĩa với hạnh phúc.

bhutan_tiger_nest_2
2. Đi tìm thước đo mới cho sự phát triển

Trước những hạn chế của GDP như một tiêu chí để định hướng và đánh giá mức độ phát triển, đã có nhiều đề nghị về những chỉ số thay thế khác có tầm nhìn tổng quát và chính xác hơn, được biết đến nhiều nhất trong số đó là chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số tiến bộ thực sự (GPI). Rõ ràng rằng một quốc gia được coi là phát triển trước hết phải bảo đảm những nhu cầu vật chất cần thiết cho người dân. GDP vẫn được dùng đến khi tính toán hai chỉ số này nhưng trong mối tương quan với các yếu tố khác nữa.

Chỉ số phát triển con người HDI hướng đến sự phát triển xã hội mang tính nhân văn, với con người làm trung tâm, đã được Liên Hiệp Quốc sử dụng để xếp hạng các quốc gia theo chất lượng cuộc sống, bao gồm những tiêu chí như tuổi thọ (sức khỏe), phổ cập giáo dục (tri thức), GDP bình quân (thu nhập). (Việt Nam đứng 105/177 nước về HDI, theo báo cáo LHQ năm 2007)
bhutan1

Chỉ số tiến bộ thực sự GPI được một nhóm nghiên cứu chính sách ở Mỹ cổ động giới thiệu và đề xuất cách tính. Theo đó, GPI được tính dựa trên GDP làm mức ban đầu, sau đó điều chỉnh bằng cách cộng thêm những yếu tố ảnh hưởng tích cực (công việc tình nguyện, chăm sóc trẻ em, kinh tế gia đình…) trừ đi những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực (khắc phục ô nhiễm môi trường, chi phí thuốc men, chi phí an ninh và tòa án cho các tội phạm, trớ trêu thay, những chi phí có thể làm tăng GDP nhưng rõ ràng không phải là chỉ thị của sự phát triển tốt) đến hạnh phúc con người và phúc lợi xã hội.

Các chỉ số mới giúp ta có cái nhìn chân thực, sâu rộng hơn về phát triển. Điều này đặc biệt ý nghĩa khi chúng được xem như là thước đo, là tiêu chí để hoạch định những chính sách, chiến lược hướng đến sự phát triển bền vững, trong đó chú trọng đến sức khỏe, môi trường và phúc lợi thật sự của người dân.

bhutan7
3. Chỉ số tổng hạnh phúc quốc dân

Thuật ngữ GNH (Gross National Happiness) –Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia được vua Bhutan Jigme Singye Wangchuck đặt ra khi ông lên ngôi năm 1972, đến nay đã được nhiều nước trên thế giới lưu ý và học tập. Nó cho thấy quyết tâm của ngài theo đuổi một con đường phát triển kinh tế chọn lọc và thận trọng để bảo vệ môi trường và gìn giữ nền văn hóa tâm linh độc đáo của một xứ sở thấm đẫm tinh thần Phật giáo. Những giá trị đạo đức được đặt làm trọng tâm trong chiến lược kinh tế để bảo đảm nguồn lương thực, nhà ở và sức khỏe người dân. Trong triết lý định hướng phát triển của họ, tiêu chí ưu tiên là GNH chứ không phải là GDP, quan niệm đó định nghĩa lại sự thịnh vượng trong một tầm nhìn bao quát hơn, đo lường phúc lợi thật sự hơn là chỉ với sự tiêu thụ vật chất.
bhutan8
Vương quốc bé nhỏ dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn này là một trong số ít quốc gia mà con người sống một cách gần như bền vững và thanh bình, không có người thất nghiệp, nghiện rượu hay bất hạnh, không có bạo lực, tội ác. Mỗi gia đình đều có đất đai, gia súc để có thể tự cung cấp mọi thứ cần thiết cho mình. Giáo dục và chăm sóc y tế được miễn phí. Đây là quốc gia duy nhất trên thế giới cấm săn bắn hay đánh bắt thú hoang dã, cấm kinh doanh thuốc lá dưới mọi hình thức. Trong khi các nước đang phát triển bán rẻ nguồn tài nguyên của mình và tìm mọi cách thu hút du lịch nhằm tăng trưởng kinh tế, luật Bhutan ngược lại, rất chú trọng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên với 60% diện tích đất bao phủ bởi rừng và hạn chế du lịch (bằng cách thu phí rất cao) để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến văn hóa địa phương.

Sự thật là Bhutan vẫn còn nghèo. Không có nghĩa là mọi thứ đều tốt đẹp ở Bhutan hay vương quốc nhỏ bé này đã thành công với chỉ tiêu Tổng Hạnh Phúc Quốc Dân của mình, nhưng những kết quả đạt được là đáng kể. Bước tiến cuộc sống tuy chậm nhưng nhân bản và tiềm ẩn nguồn nội lực dồi dào.
bhutan4
Mặc dầu GNH giống như một nguyên tắc dẫn đường hơn là một chỉ số có thể đo đạc, khái niệm này mang tính cách mạng và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Theo Frank Dixon, chuyên gia cố vấn về kinh tế và phát triển bền vững cho các doanh nghiệp và chính phủ, GNH có thể là một bước tiến quan trọng trong lý thuyết kinh tế trong suốt hơn 150 năm qua, khi mà càng ngày người ta càng nhận ra cái giá phải trả đắt đỏ cho sự suy thoái môi trường và xã hội trước sự thống trị tràn lan của chủ nghĩa vật chất và tiêu thụ.

Cuối cùng, mời bạn xem một đoạn phim tài liệu thú vị về Bhutan và chỉ số Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia của hãng Journeyman.Tv dưới đây. Các bạn sẽ thấy ở Bhutan, có rất nhiều cần sa (marijuana), nhưng người ta không ai hút cần sa, chỉ dùng cho heo ăn!!

Bhutan and Gross National Happiness (ABC Australia – 16 phút)

Chúc các bạn một ngày tươi hồng!

Thùy Dương
.

Bài liên hệ: Nghe nhạc Bhutan, vương quốc hiền từ của hạnh phúc

Bài này đã post trên Lá Xanh.

Tuyên Ngôn Dịu Êm

Chào các bạn,

Hôm nay anh Ken Robert trở lại với chúng ta trong Tuyên ngôn dịu êm dưới đây. 🙂

Điều lý thú là anh Ken ủng hộ quan niệm về sáng tạo dịu êm “mildly creative”, và mình, bằng kinh nghiệm cá nhân theo thời gian cũng thấy hướng đó có lý và bền vững.
parachuting
Sáng tạo là sự bứt phá của trí tưởng tượng con người thoát ra khỏi được cái hộp. Như bình thường đang trên cạn bỗng nhảy xuống hồ nước, hoặc chợt nhảy dù xuống đất khỏi chiếc máy bay trực thăng đang bay và thấy mặt đất bé tí. Cảm giác đó rất thú vị.

Để có sáng tạo, nhiều người “psych-up” và “being wild” như uống rượu ngon, uống nhiều café, hút thuốc lá hay tạo ra không gian thần thánh.

Cách đó cũng được nhưng đôi khi hơi “quá tốt” và vẫn có sự bất ổn đâu đó trong lòng. Có thể có rất nhiều ý tưởng hay nhưng lại khó tập trung được vào một ý tưởng cụ thể. Hay cảm giác “sau cảm hứng” chẳng dễ chịu gì.

“Sáng tạo dịu êm” đưa sáng tạo về trạng thái nhẹ nhàng , dịu dàng và bền vững.

+ Lắng yên bản thân bằng cách đi bộ, ngồi thiền, cầu nguyện để lắng nghe xem mình nói gì hơn là đổ kích thích vào bản thân.

+ Chấp nhận cuộc sống bình thường, sống vui vẻ dịu dàng với gia đình bè bạn , chăm sóc sức khỏe tốt hơn là phải đi “tu kín” để có cảm hứng.

+ Hỏi những câu hỏi nhỏ cũng được, như “Làm sao để hòa giải hai anh bạn đang cãi nhau?”, “Làm thế nào để tạo ra không khí ấm cúng trong bếp của công ty?” để phát triển từ từ hơn là đòi hỏi cấp bách những tư tưởng cách mạng.

Thực tế, sự căng thẳng hay nghiêm trọng của con người trước bất kỳ vấn đề gì đã hạn chế việc tìm ra giải phải tốt nhất cho vấn đề đó rồi.  Sự dịu êm tạo ra cơ hội cho giải pháp hay có cơ hội lên tiếng.

Nếu coi vấn đề là một chuyến đi dạo mát, một ly nước lung linh trên tay, một trò chơi thú vị và mình đang chơi đùa với nó, tự nhiên ta sẽ thấy giải pháp nhanh và hay hơn nhiều. 🙂

Chúc các bạn một ngày dịu êm,

Hiển

.

Tuyên ngôn Dịu Êm
sailing
Chúng tôi, những người sáng tạo dịu êm và sản xuất êm dịu, là một bộ lạc dịu dàng, một nhóm những người du hành mát mẻ trong một chuyến du hành sáng tạo. Chúng tôi sống cuộc sống của những cảm hứng yên lặng và được nuôi dưỡng bởi trí tưởng tượng chung của chúng tôi.

Trước khi chúng tôi kiếm tiền, chúng tôi tìm cách tạo ra ý nghĩa trước tiên.

Trước khi chúng tôi thu hút khách hàng và thân chủ, chúng tôi tìm cách thu hút bạn bè và những tâm hồn đồng điệu trước tiên.

Trước khi chúng tôi kiếm lời, chúng tôi tìm cách đóng góp trước tiên.

Chúng tôi là những nhạc sĩ và người kể chuyện, nhà văn và nghệ sĩ, người tư duy và người mơ ước, nhà khoa học, triết gia, và doanh nhân.

Chúng ra không ngại cạnh tranh, nhưng chúng tôi thích hợp tác hơn.

Chúng tôi có thể quản lý, nhưng chúng tôi thích khơi cảm hứng hơn.

Chúng tôi có thể không là chuyên gia, nhưng chúng tôi hào hứng muốn trở thành tấm gương về những điều chúng tôi muốn thấy nhiều hơn trong thế giới này.

Chúng tôi ít thích lên ga số và làm xong việc, và thích dịu xuống đề làm “việc đúng” hơn.

Chúng tôi không hoàn hảo, nhưng chúng tôi kiên trì một cách nhẫn nại, thay đổi từ từ, tiến bộ từ từ, và liên tục tạo ra những thứ để chia sẻ với gia đình chúng tôi, bạn bè chúng tôi, và thế giới của chúng tôi.

Chúng tôi chấp nhận sự không chắc chắn, ôm choàng tính không thế dự đoán, và khởi đầu mới mỗi giây phút, tri ân cho những cơ hội cuộc đời cung cấp cho chúng tôi, trong khoảng thời gian chúng tôi được chia phần, để làm kinh ngạc và bị làm kinh ngạc bởi những người chúng tôi gặp gỡ, bao gồm cả chúng tôi.

Không có gì vội vã cả, chúng tôi mời bạn tham gia cùng nhóm trong khi chúng tôi tiếp tục con đường đi vào dịu êm để khám phá những khả năng bất tận.

Nguyễn Minh Hiển dịch

.

The Mild Manifesto
mildrunning
We, the mildly creative and the mildly productive, are a tender tribe, a calm, cool collaboration of travelers on a creative journey. We lead lives of quiet inspiration and are nourished by our shared imaginations.

Before we make money, we seek first to make meaning.

Before we attract customers and clients, we seek first to attract friends and kindred spirits.

Before we make a profit, we seek first to make a contribution.

We are musicians and storytellers, writers and artists, thinkers and dreamers, scientists, philosophers, and entrepreneurs.

We are not afraid to compete, but prefer to collaborate.

We are able to manage, but prefer to inspire.

We might not be experts, but we are enthusiastic about becoming examples of what we wish to see more of in the world.

We are less about getting fired up and getting things done, and more about settling down and doing the right things.

We are not perfect, but we are patiently persistent, gradually changing, slowly improving, and steadily creating things to share with our families, our friends, and our world.

We accept uncertainty, embrace the unpredictible and begin anew each moment, grateful for the opportunities our lives provide, in the time we are given, to amaze and be amazed by those we encounter, including ourselves.

Without any sense of urgency, we invite you to join us as we make our way into the mild to explore the endless possibilities.

Ken Robert

Làm thế nào để thành thật

Chào các bạn,

Trong một phim xi-nê mình xem đã khá lâu, một nhóm khoa học gia tạo dựng một đứa bé, hình như là bằng cloning (tạo từ tế bào mẫu) thì phải. Đứa bé lớn lên khỏe mạnh và bắt đầu biết nói như bình thường. Rồi một hôm nọ, đứa bé nói dối một câu gì đó, đó là câu nói dối đầu tiên em nói, và cả nhóm khoa học gia nhảy lên vui mừng, “Ô, nó nói dối, nó nói dối. Nó đã biết nói dối rồi.” Và đó là bằng chứng trí óc em đã tiến triển tốt, đến mức thông thái hơn.
honest
Phải chăng đó là sự phát triển tự nhiên của tâm trí con người. Trẻ em thì không biết nói dối. Bắt đầu khoảng 3 tuổi là đã học được nói dối chút xíu, thông thường là vì làm gì đó, như là làm vỡ cái gì đó, và không dám nhận tội với bố mẹ. Và càng lớn, khả năng nói dối càng tăng lên cao độ, đến mức thành nghệ thuật trong mọi lãnh vực nghề nghiệp, như là PR, tiếp thị, biện hộ, “đào mỏ”, hay lãnh đạo chính trị. Và rất nhiều người trong chúng ta nói dối một ngày 24 tiếng mà không thấy ngượng miệng, mà cũng có thể là không biết mình nói dối, cũng như người chửi thề quen miệng, mở miệng là chửi thề mà không biết là mình đang chửi thề 3 câu trong một câu nói. Continue reading Làm thế nào để thành thật

Khai trương

Chào các bạn,

Hôm nay mình rất vui giới thiệu với các bạn bài thơ nhỏ xíu êm dịu về sáng tạo “Grand Opening’ của anh Ken Robert.
ribbon cutting
Bài thơ tuy nhỏ xíu nhưng sâu sắc, sáng tạo, dùng các từ ngữ thương mãi với 2 nghĩa đen và bóng, các từ “it” mơ hồ với nhiều cách hiểu khác nhau, và giàu hình ảnh. 🙂 Bản dich của mình không thể mang theo các lớp ý nghĩa chập chùng trong bài thơ nguyên thủy được. 😦 Ví dụ: public offering là “công bố cổ phiếu” trong từ kỹ thuật của thương mãi, nhưng cũng có nghĩa thông thường là “dâng hiến cho công chúng.”

Mình thích ý về “nghệ thuật” của tác giả. Đây có lẽ là yếu tố nổi bật của văn hóa Mỹ. Các sản phẩm được đóng gói và thiết kế đẹp giàu hình ảnh để hát lên một ý nghĩa gì đó.

Khách hàng qua sản phầm như nhìn thấy một làng quê xa xa với cánh đồng café bên những ngọn đồi cuộn tròn.

Điều đó tạo ra ý nghĩa và khiến cuộc sống sống động hơn, nối liền hiện tại với mơ ước, một vùng quê của Việt Nam và thành phố New York.

Nếu ta yêu một môi trường không có bụi, hãy mượn những chiếc cốc, quạt bàn, máy giặt truyền tải những thông điệp cụ thể về môi trường, bên cạnh chất lượng sản phẩm tốt.

Chúc các bạn một ngày sáng tạo dịu êm,

Hiển.

.

Khai trương

Nếu chúng ta không thế bán được nó, chúng ta sẽ cho không.
Nếu chúng ta không thế gởi nó đi, chúng ta sẽ tự mang nó tới nơi nhận.
giftpack
Chúng ta tóm lại trong ba điều này:
Tác phẩm, nghệ thuật, phân phối.

Không có thị trường? Chẳng sao cả.
Chúng ta kiểu gì cũng sẽ thành công.
và đây là kế hoạch kinh doanh tí xíu của chúng ta .

Chúng ta sẽ đổ đầy nó với đam mê
Và đóng gói nó với tâm hồn.
Chúng ta sẽ làm tràn ngập những đợt sóng trí não,
và nói với lũ chim. Loài chim yêu ca hát.

Không biết gì về sản phẩm,
Nhưng chúng ta biết điều này.
Chúng ta mới và tiến bộ,
và định giá để đẩy hàng.

Hôm nay là buổi khai trương .
Hãy cắt dải băng và
Dâng hiến cho công chúng.

    Nguyễn Minh Hiển dịch

.

Grand opening

    by Ken Robert

If we can’t sell it, we’ll give it away.
If we can’t ship it, we’ll walk it there ourselves.
giftpack1
We’ve boiled it down to these three things:
the work, the art, the distribution.

No market? No matter.
We’ll make it anyway,
and here’s our little business plan.

We’re going to fill it up with passion
and package it with soul.

We’ll flood the brain waves,
and tell the birds. They love to sing.

Don’t know about the product,
but we know about this.

We’re new and improved
and priced to move.

Today is our grand opening.
Let’s cut the ribbon and
make our public offering.

Biết Lắng Nghe

Có ai trong chúng ta chưa từng một lần trải qua cảnh ngộ khó khăn: Chúng ta bế tắc, tuyệt vọng, cô đơn, rối trí, hay đau khổ…? Trong những lúc tưởng như trái đất ngừng quay, và mình như người “bốn phía mưa rơi” ấy, chúng ta cần gì?

Chúng ta cần nói, và cần một người lắng nghe ta nói. Chỉ cần nói ra được, chúng ta thường cảm thấy nhẹ lòng và bình tâm. Nhất là khi người nghe lại là một người biết nghe. Và trong trường hợp ấy nghệ thuật lắng nghe của ta chính là món quà quý giá ta trao tặng cho người, chưa nói đến những lời khuyên có giá trị theo sau.
Listeningi3
Ngoài ra các bạn thử nghĩ xem có bao nhiêu người khi phải quyết định những việc quan trọng cho cá nhân hay cho một tập thể mà không cần trao đổi, bàn bạc với ai đó? Không chỉ các nhà cố vấn, tư vấn, chuyên gia, bác sĩ, luật sư, và giáo viên … mới cần lắng nghe. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta cũng thường đóng vai trò của các cố vấn, các nhà tư vấn, mà chúng ta không biết đấy thôi.

Ta đóng vai trò quan trọng ấy với ai? Với người thân, với bạn hữu, với đồng nghiệp, với những người ta gặp gỡ, những người có nhu cầu nói với ta và cần ta lắng nghe. Nhưng các cuộc nghiên cứu mới đây cho biết người ta chỉ có thể nhớ khoảng 25% đến 50% những gì họ đã nghe. Điều đó có nghĩa là khi chúng ta nói chuyện với sếp, đồng nghiệp, khách hàng hay thậm chí với người yêu, vợ chồng của chúng ta trong vòng 10 phút, thì họ chỉ thật sự nghe được từ 1 đến 5 phút là tối đa.

Ngược lại, điều đó cũng có nghĩa là khi bạn nói chuyện với người khác, bạn cũng không nghe hết những gì họ nói. Bạn chỉ có thể nắm bắt được khoảng 25-50% những điều quan trọng đó.

Ta hãy thử xem xét nhu cầu cần được nghe xếp vào thang bậc nào trong số những nhu cầu thiết yếu nhất của con người?

Theo thang bậc nhu cầu con người của Abraham Maslow, (1908-1970) nhà tâm lý thuộc trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic phsychology), 8 nhu cầu thiết yếu nhất của con người xếp theo thứ tự từ cơ bản nhất (sinh lý) đến cao nhất (tinh thần) như sau:
listening4
– Nhu cầu cơ bản (basic needs)
– Nhu cầu về an toàn (safety needs)
– Nhu cầu về xã hội (social needs)
– Nhu cầu được quý trọng (esteem needs)
– Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs)
– Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs)
– Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
– Sự siêu nghiệm (transcendence).

Nghe và nói đều có mặt ở các bậc cao hơn: nhu cầu về xã hội, được quý trọng, nhận thức, thẩm mỹ, được thể hiện mình…

Trong thời đại ta đang sống, giáo dục hiện đại nhằm đến 4 mục tiêu trụ cột sau đây:
– Learning to know: Học để biết.
– Learning to do: Học để làm.
– Learning to live together: Học để chung sống.
– Learning to be: Học để tự khẳng định mình.
(Unesco Learning: the Treasure Within; The Four Pillars of Education):

Nghe cũng là một công cụ, một kỹ năng quan trọng nhất không thể thiếu vắng trong 4 mục tiêu lớn ấy.

Chúng ta thường lắng nghe vì những mục đích sau: thu thập thông tin, hiểu biết, giải trí và học hỏi. Nhưng có một mục đích sau mà ít người chú ý : nghe để cảm thông trong những mối quan hệ giữa người với người ( interpersonal relationship)

Như thế không ai trong chúng ta có thể phủ nhận vai trò của nói và nghe trong cuộc sống (học tập, làm việc, giao tiếp…) , nhưng thường chúng ta chỉ chú trọng đến cách nói năng sao cho hay, lưu loát, diễn cảm, và hiệu quả. Ta thường dễ dàng quên đi kỹ năng nghe, hay đúng hơn nghệ thuật nghe – cũng hết sức cần thiết.

Chẳng hạn, nghe chủ động và hiệu quả là một thói quen là kỹ năng quan trọng và nền tảng của việc giao tiếp. Nghe chủ động có nghĩa là tập trung vào người bạn đang lắng nghe, cho dù đó là cuộc nói chuyện trong nhóm hay chỉ có 2 người, để hiểu được họ đang nói điều gì. Là người nghe, bạn nên tự mình có thể nhắc lại bằng từ ngữ của mình những gì họ vừa nói. Điều đó không có nghĩa là bạn đồng ý với tất cả những gì họ nói, mà chỉ có nghĩa là bạn thực sự hiểu họ đang nói gì.
listen2

Sau đây ta hãy cùng nghe những ý tưởng của Chuck Gallozzi về nghệ thuật lắng nghe:

“Trước khi chúng ta có thể làm lãnh đạo,
chúng ta phải phụng sự
Trước khi ta có thể phụng sự,
ta phải sẵn sàng.
Trước khi ta sẵn sàng,
ta phải học
Trước khi ta có thể học,
ta phải lắng nghe.
Trước khi ta có thể lắng nghe,
ta phải im lặng”

Sự thông thái là phần thưởng của một đời biết lắng nghe. Một tặng phẩm quý giá
Nghệ thuật tinh tế biết lắng nghe là một tặng phẩm tuyệt vời chúng ta có thể trao tặng cho người khác và cho chính mình. Khi ta lắng nghe những người khác, chúng ta cho họ thấy rằng những gì họ nói là quan trọng. Như thế, chúng ta đã khơi dậy lòng tự tin và tự trọng ở họ. Thậm chí nếu những lời họ nói không giúp được cho ta, nó sẽ rất có ích cho họ, vì giống như hoa kia hé nụ và nở rộ dưới ánh dương, người ta cũng bộc lộ và tăng trưởng khi mở lòng mình ra với một đôi tai biết lắng nghe. Lợi ích đối với bản thân ta cũng quan trọng không kém; xét cho cùng, làm thế nào chúng ta có thể học nếu chúng ta không nghe? Đây cũng là lý do tại sao Zeno ở Citium, Cyprus (334 BC – 262 BC, một triết gia Hy Lạp cổ nổi tiếng) cách đây hơn 2000 năm đã nói, “Lý do ta có 2 tai và một cái miệng là để ta có thể nghe nhiều hơn và nói ít hơn. ”

Khi lắng nghe bạn tốt, bạn hiền, ta được tắm mình trong sự hiểu biết, nguồn cảm hứng, và những lời khuyên giá trị. Vì thế, Henry J. Kaiser (một kỹ nghệ gia người Mỹ, được mệnh danh là cha đẻ của ngành đóng tàu hiện đại của nước Mỹ) nói rằng: “Tôi thành công vì có bên mình những người thông minh giỏi hơn tôi và tôi biết lắng nghe họ. Và tôi cho rằng mọi người đều giỏi về cái gì đó hơn tôi.” Bằng việc lắng nghe những người khác, ta biết phải làm gì và nên tránh làm gì. Đồng thời ta phát triển những mối quan hệ củng cố cho vị trí của chúng ta. Bạn hữu của chúng ta nói cho ta biết họ cảm nhận những điều giống như ta, vì thế ta biết rằng chúng ta không cô đơn. Lắng nghe là một cơ hội để an ủi, trấn an, và động viên những người khác.
listening
CÁCH NGHE

Làm người biết nghe không phải dễ. Thực vậy, chỉ có nghe đài phát thanh (radio) là dễ. Cái gì khiến cho lắng nghe khó đến thế? CÁI TÔI của ta. Rất thường khi ta giả vờ như đang lắng nghe trong khi tâm trí của ta đang chạy đua để tìm một lời nói ra. Ta bị thôi thúc cắt ngang người đang nói và thêm vào một từ. Chúng ta dường như muốn nghe thấy chính mình chỉ để khẳng định và tăng giá trị sự có mặt của ta. Và nếu người đang trò chuyện cùng ta để ta nói, ta cứ nói mãi tùy thích thay vì kết thúc sau khi đã nêu ý kiến. Không muốn từ bỏ hứng thú nói, ta tìm cách điều khiển cuộc đàm thoại bằng cách nói huyên thuyên, không dứt.

Vậy ta nên lắng nghe như thế nào? Trước hết, vất bỏ CÁI TÔI của bạn đi. Hãy để nó bên ngoài cửa. Nhìn người đối thoại và tập trung vào những gì người ấy đang nói. Tự hỏi xem mình có thể học được gì và cả hai người có được lợi ích gì từ cuộc nói chuyện. Tiếp đến, hãy nhận thức các ý tưởng, kinh nghiệm, và thái độ của bạn. Tức là thử xem bạn đang lắng nghe một cách khách quan, hay đang tô điểm lời của người nói bằng sự diễn giải của bạn. Để tránh bóp méo sự kiện và hiểu sai người đối thoại, có những lúc nên dừng cuộc nói chuyện và xác minh xem mình có hiểu đúng không. Để xác định, chỉ cần nói : Như vậy, điều bạn đang nói là …. ( nhắc lại những gì bạn nghe được) và ý bạn là (nói những điều bạn hiểu). Ngoài ra, để có được nhiều lợi ích nhất từ cuộc nói chuyện, hãy cố gắng đặt mình vào vị trí người nói. Hãy cố gắng để cảm nhận những cảm xúc của người nói và hiểu tại sao những gì đang nói ra lại quan trọng với người ấy. Như vậy, bạn sẽ có thể làm tăng thêm nhiều trải nghiệm và sự hiều biết của mình. Ngoài ra, điều này cũng sẽ làm cho người nói trải lòng ra. Vì thế, cả hai đều cảm thấy khả năng biểu đạt, hiểu biết luôn tăng tiến. Hãy nhớ rằng, bạn hãy đặt mình vào địa vị của người nói trước khi bạn thực sự mở lời, vì thế hãy để họ nói .Và nếu bạn muốn mình khôn ngoan, hãy luôn hỏi ý người đối thoại.

Còn những gì bạn không nên làm liên quan đến chuyện lắng nghe? Có đấy! Đừng lắng nghe những chuyện ngồi lê đôi mách và những chuyện tiêu cực, vì bạn có mặt là để lan truyền cái tốt đẹp, chứ không phải ác ý.

Chuck Gallozzi

ListenUp

Tóm lại nghệ thuật lắng nghe cũng đòi hỏi thái độ tích cực lắng nghe, nghe một cách chủ động, như Kenneth A. Wells nói: “Một người biết lắng nghe luôn có gắng hiểu thấu đáo những gì người khác đang nói. Dù sau đó, anh ta có thể phản đối người kia một cách kịch liệt, nhưng trước khi phản đối, anh ta sẽ lắng nghe để hiểu rõ ý kiến đó.” Ngoài ra một người biết lắng nghe sẽ có tâm thế thích hợp cho việc lắng nghe. Xin nhắc lại với bạn lời của Thiền sư Nhất Hạnh mà người viết bài này xem như lời dạy: “Hãy luôn cho đi bằng sự có mặt của chính mình”. Vậy bằng cách lắng nghe với cả tâm trí của bạn, với hiểu biết và cảm thông, yêu thương là bạn đã cho đi sự có mặt của mình trong mối quan hệ tốt đẹp nhất gữa người và người.

Khả năng lắng nghe của bạn có ảnh hưởng rất lớn đến công việc và mối quan hệ với những người chung quanh. Và với tôi, nghệ thuật lắng nghe còn là một nghệ thuật để nâng cao tâm hồn.
Trong lắng nghe, bạn sẽ cho đi sự có mặt của bạn và sẽ nhận lại rất nhiều trong chính sự cho đi ấy.
Cho phép tôi hỏi bạn câu này: Hôm nay bạn đã lắng nghe ai thế và bạn muốn ai lắng nghe mình đây?

Thân ái chúc các bạn một ngày cho đi và nhận lại nhiều hiểu biết và cảm thông