Danh mục lưu trữ: Nước Việt Mến Yêu

Vẻ Đẹp Ẩn Dấu

When young, I always wished to travel around the world. For me, the world outside Vietnam was so interesting. European countries with ancient, fascinating beauties. Developed countries with skyscrapers, streets with queues of people walking in a hurry and never- ending street lights .

Even the countries so close to us such as Malaysia, Singapore or Thailand have also emerged with full of appeal and novelty in advertisement clips: a Malaysia with Truly Asia, a Unique Singapore or an Amazing Thailand. Compared to them, I felt my city and my country so poor and narrow.

Hidden charm1

So walking out and meeting some foreign travelers to Vietnam, I once didn’t understand what made them so delighted and elated. It is likely that the tourism authority was as puzzled as me because our country’s tourist slogan was just a superficial invitation for a long time.

On journey to Thailand, I went into a bookstall in Bangkok to find a Lonely Planet. Knowing that I came from Vietnam, the owner shouted: “Your country’s so nice! I had a tour throughout Vietnam. The landscapes are so beautiful that they seem unbelievable.” I said he exaggerated, but he insisted: “Like Pattaya or Phuket, our famous coastal cities! They can’t be so charming as Nha Trang or your central beaches. We just… advertise better than you!”

Walking out of the bookstall, a Canadian guy named John asked me the way because he thought me to be Thai. When I told him I was Vietnamese, he burst into tears: “I have a very close friend living in Hanoi. A wonderful city. Before coming to Hanoi, I lived in India, where everyone is strict anmd it’s hard to make acquaintances. But Vietnam’s so different. I had the best friends there!”

Hidden Charm 2

Coming home, I start looking at my city and my country with different views. I find my German friend absolutely reasonable to be determined to come to live in Viet nam and learn Vietnamese from his love for the sidewalk’s refreshment shops, where anyone can drop by and greet one another like close, long-lasting acquaintances. I appreciate the road with a deep blue color of the sky and the sea along Hue down to Hoi An, and the way back to my hometown with immense green grass on the both sides.

Sometimes we have to go somewhere far to find out a close affection and a “hidden charm”. And I am determined to explore my country first, so that I can share “homeland inspiration” with my international friends.

Translated from Vietnamese into English by Quan Jun

VẺ ĐẸP ẨN DẤU
by Le Na
Source : Hoahoctro Newspaper

Hidden Charm 3 TN

Khi còn nhỏ, tôi luôn mong muốn được đi du lịch khắp thế giới. Với tôi thế giới bên kia biên giới thật hấp dẫn. Những quốc gia châu Âu với vẻ đẹp cổ kính, quyến rũ. Những đất nước phát triển với nhà chọc trời, những con phố với dòng người đi bộ hối hả và những ngọn đèn đường không bao giờ tắt.

Ngay cả những quốc gia rất gần chúng ta thôi là Malaysia, Singapore hay Thái Lan cũng hiện ra đầy mới mẻ hấp dẫn trong những thước phim quảng cáo: một Malaysia “Á Châu thực sự”, “Độc Đáo Singapore”, “Ngạc Nhiên Thái Lan”… So sánh với họ, tôi cảm thấy thành phố của mình, đất nước của mình thật nghèo nàn và chật hẹp…

Vậy nên khi ra đường, gặp những người nước ngoài đến du lịch, tôi đã từng không hiểu nổi điều gì khiến họ trông vui thích và hồ hởi đến thế. Có lẽ cũng đã từng lúng túng như tôi, mà cả một thơi gian dài slogan của nước mình chỉ là một lời mời hời hợt.

Trong chuyến đi Thái Lan, tôi bước vào một hiệu sách tại Băng Kốk để tìm một cuốn Lonely Planet. Ông chủ tiệm sách biết rằng tôi đến từ Việt Nam liền reo lên: “Đất nước các bạn thật đẹp! Tôi đã có chuyến du lịch xuyên Việt. Phong cảnh đẹp không thể tưởng tượng được”. Tôi nói rằng ông đã quá lời, nhưng ông quả quyết: “Như Pattaya, hay Phuket những thành phố biển nổi tiếng của chúng tôi nhé! Không thể đẹp như Nha Trang hay vùng biển miền Trung của các bạn được đâu. Chúng tôi chỉ… quảng bá tốt hơn các bạn mà thôi!”
Hidden Charm 4

Bước ra khỏi hiệu sách, một anh bạn người Canada tên là John hỏi đường vì ngỡ rằng tôi là người Thái Lan. Khi biết tôi là người Việt Nam, John vỡ òa: “Tôi có một người bạn rất thân sống ở Hà Nội. Một thành phố tuyệt vời. Trước khi đến Hà Nội, tôi đã ở Ấn Độ, ở đó moi người có vẻ khó tính và khó làm quen lắm. Nhưng Việt Nam thì khác hẳn. Tôi đã có những người bạn tốt nhất ở đó!”

Trở về, tôi bắt đầu nhìn thành phố mình, đất nước mình với một góc nhìn khác. Tôi nhận ra rằng hoàn toàn… có lý khi anh bạn người Đức của tôi quyết tâm sang Việt Nam sống, học tiếng Việt bắt đầu từ tình yêu với những quán nước vỉa hè – nơi ai cũng có thể tấp vào và chào hỏi nhau như những người quen biết từ lâu. Tôi trân trọng con đường chạy dọc từ Huế vào Hội An xanh biếc biển trời, con đường về quê hai bên là những triền cỏ xanh thênh thang.

Đôi khi chúng ta phải đi xa để nhận ra một tình yêu gần gụi, một “vẻ đẹp ẩn dấu”. Và tôi quyết định phải khám phá đất nước mình trước đã, để còn chia sẻ “cảm hứng quê hương” với bạn bè thế giới nữa chứ!

Bó củi hứa hôn của cô gái Jẻ

Tiếng chiêng ngân nga vươn mãi lên tận những đám mây trắng trên bầu rời cao nguyên cuối dông xanh leo lẻo.Tiếng chiêng len lỏi trong rừng,theo bươc chân cả plei đang đổ vào rừng tìm Y Đai Kriêng.lễ cưới của người Jẻ ở xop Nghét càng giữ kín chừng nào,đội bạn trẻ càng cảm tháy hạnh phúc chừng đó.Phải tới ngày cưới,khi tiếng chiêng mừng đánh lên,chiêng vui gọi vềì và cả làng đi tìm cô dâu,đã ẩn trốn vào trong rừng từ sáng sớm,người ngoài mới biết được là có đám cưới.Hôm nay Y Đai Kriêng cưới A Đôi E Đuôt

cuihuahon

– Đây rồi !
Mấy chàng trai bạn A Đôi hoan hỉ reo to.Họ vây quanh Y Đai cũng đang cười như nắc nẻ,từ trong một bọng cây ven suối chui ra .Tất cả vui vẻ cùng nhau đi về làng.Dàn chiêng trên nhà Y Đai vẫn rộn ràng ca hát.Cha mẹ cô gái và họ hàng nhà trai kéo về ngồi đợi quanh những ché rượu ,ở giữa đặt chiếc giường tre.Đám thanh niên đưa Y Đai,lúc này đầu tóc đã gọn gàng,áo váy đẹp,ngồi lên giường tre. Đôi mắt cô gái long lanh ,má đỏ hồng ,gương mặt rạng rỡ đầy hạnh phúc.Bạn bè cũng đưa A Đôi đến ngồi đối diện trước mặt cô dâu.Chàng trai hôm nay trông thật đáng mến trong chiếc áo ngắn tay trần,bó chặt lấy thân hình nở nang ,đầu đội khăn cắm hai chiếc lông công xanh biếc ,đang rung rinh theo nỗi bồn chồn hồi hộp của anh chàng.Chiếc khố mới đệt rực rỡ hoa văn vàng đỏ phủ kín đầu gối.
Mâm lễ cúng được bày ra,chỉ có một con gà và một ống rượu.Ông mối đặt tay hai người lên con gà.Tất cả những người đang có mặt đều lần lượt đi vòng quanh chiếc giường tre, chạm vào tay hai người.Ai không chạm,không có quyền được tham dự tiệc cưới.Người ta gấp rút đem con gà đi nấu lẫn với cơm.Trong khi chờ đợi cô dâu chú rể cùng nằm xuống giường,đắp chung một tấm chăn thổ cẩm mỏng .Ông mối nhổ mấy sợi tóc trên đầu Y Đai bỏ sang đầu A Đôi,rồi làm ngược lại như thế với Y Đai
Cơm gà nấu xong đem ra,có hai nắm cơm nhỏ và một miếng gan gà xẻ làm đôi.Mỗi người ăn trước một miếng rồi trao đổi với nhau miếng cơm và gan thứ hai.Bây giờ họ mới cùng ăn hết phần của mình. Sau đó hai người mời nhau uống cạn hết một ống rượu.Ông mối trao cho mỗi người một chiếc vòng đồng,đây là chiếc vòng đính hôn.A Đôi lồng vào tay phải của Y Đai,Y Đai đeo vòng vào tay trái A Đôi.M?i người vui vẻ ca hát,đánh chiêng chúc mừng cho hai bạn trẻ.Thế là xong lễ “ bla ”.Ai lại về nhà nấy.Vòng đã trao đổi,từ nay A Đôi thuộc về Y Đai rồi.

dam-cuoi-tay-nguyen

Họ đã làm bạn với nhau trong sự chứng kiến của cả làng và dòng họ qua hết mùa trỉa bắp . Mặt đã ưng,bụng đã ưa,tối tối họ ngồi bên nhau ở cạnh bếp lửa trên nhà Ưng thầm thì tâm sự luật lệ của bộ tộc nghiêm cấm những chuyện vụng trộm. Ở bên làng Đăk Choong,nhà gái dựng một căn lều nhỏ ngoài rìa làng,cho trai gái đến hẹn hò nhau.Nhưng chỉ được phép tâm sự trong năm đêm thôi.từ ngày thứ sáu trở đi,nếu cảm thấy khôgn hợp nhau,đôi bạn chủ động thôi gặp gỡ.nếu đã ưng nhau,cô gái phải cho người sang báo với nhà trai.Quá năm đêm không thấy nói năng gì,mà hai người vẫn qua lại thăm viếng nhau,cả hai sẽ bị phạt một con heo và mười ché rượu.Cũng có lúc chàng trai chưa ưng ,cô gái có thể nhờ bạn bè “ bắt cóc” anh chàng đưa về nhà mình rồi cho người mang lễ vật sang nộp cho nhà trai.Trong trường hợp này thì Y Đai và A Đôi đã nặng lòng với nhau lắm rồi,nên mọi việc đều diễn ra suôn xẻ.
Để chuẩn bị cho ngày cưới chồng,mẹ đã phải dặn dò  Y Đai phong tục của bộ tộc,từ những ngày cô gái mới hơn mười mùa rẫy bắp đỏ ngọn.Rằng : mỗi ngày đi rừng,ngoài việc kiếm củi,gùi nước dùng cho gia đình hàng ngày,các cô gái như Y Đai phải lựa cho được những cây khô,dễ cháy,cành thẳng đẹp,đượm than,nhẵn nhụi,bó từng bó bằng một người ôm,dài chừng 0,80 m đem về để dưới gầm sàn.Đi trong rừng có thể gặp nhiều bó củi như thế để rải rác.Đó là bó củi hứa hôn ,dùng để nấu nướng trong ngày cưới của một cô gái Jẻ.Ngày làm lễ Loong ( lễ cưới ),phải có 100 bó củi cõng sang nộp cho nhà trai.
Từ bé,mẹ cũng đã dạy các con gái dệt vải,đan chiếu,nặn nồi đất.bé thì dệt dây buôc đầu,dây đeo dao.Đến lớn dệt mền,dệt áo váy,khố…Sao cho sợi chỉ bông Blang sẽ đều ,mượt mà ,sợi cói ken nhau đều tăm tắp.Những chiếc áo khố mịn màng đường hoa văn rực rỡ ,chiếc chiếu dày dặn,không lỗi,những chiếc bình đựng nước,nồi đất tròn trịa …Thể hiện rõ rệt sự khéo tay của người con gái,ngày hỏi chồng mang trao gửi làm đồ sính lễ.
Sau lễ Bla một vài con trăng ,đủ để gia đình Y Đai chăm bẵm cho bầy heo mập mạp.Cô gái sẽ lựa con heo lớn nhất đàn,làm thịt,xẻ đôi,đưa sang nhà A Đôi một nửa.Hai gia đình mời họ hàng,bạn bè tới nhà để thông báo ngày giờ vui của đôi trai gái.cả Plei mang quà cáp ,rượu ghè tới mừng cho đôi trẻ.
Vài ngày sau là lễ Ta lu. Nhà gái sang nhà trai và ngược lại. Mỗi bên đều cột rượu,làm cơm đãi đằng để hai bên gia đình nhận họ,nhận thành viên mới. Và cùng chọn ngày để tiến hành lễ loong, lễ cưới chính thức của Y Đai và A Đôi. Hai bên cùng đồng ý rằng : hết một con trăng tròn nữa là làm lễ loong.
Trước ngày Loong, bạn bè nhà gái phải cõng củi sang xếp ở gầm sàn nhà trai.xong xuôi,thày cúng vẩy rượu lên củi khấn báo các vị thần linh coi sóc trong gia đình ,về trách nhiệm đã hoàn thành của cô gái. Y Đai sẽ trao tăng cho A Đôi những tấm vải dệt,chiếc chiếu mới,đồ gốm do tự tay cô làm ra.A Đôi cũng tình tứ trao tặng người vợ trẻ chiếc gùi mây đan rất khéo, để cô dùng đựng quần áo đẹp,đồ vật quý, hay đi rừng,đi làm rẫy…Tùy theo chiếc gùi to nhỏ và xấu đẹp mà xử dụng. A Đôi cũng tặng vợ một số những đồ đan bằng mây tre khác,để làm vật dụng trong gia đình.Những vật mà khi chuốt từng chiếc nan,anh đã gài cả tình yêu đằm thắm của mình trong đó.Đồ mây tre đan của A Đôi mới đẹp làm sao,những sợi mây tròn trịa bện đan khéo léo và chắc chắn.Anh đã được cha dạy đan lát từ bé,cùng với việc cầm cây ná bắn mũi tên phóng cây lao sao cho trúng con chim trên cành,con thú ăn rừng đêm.
Ngày hôm sau họ cùng ông chủ hôn đi tới nhà ưng. Bạn bè của hai người đã tụ tập ở đây ,chờ làm lễ cheo yêng,cho Y Đai và A Đôi từ biệt cuộc sống độc thân cùng tập thể gái trai trong làng, để về ngủ ở nhà cha mẹ.từ này họ không còn là những gái trai vô lo nữa.,họ phải có nghĩa vụ mới đối với nhau,với con cái. Sao cho gia đình luôn luôn hòa thuận,nuôi nấng cha mẹ già,có đủ cái ăn đặt trên bếp lửa luôn cháy sáng,reo vui.Họ sẽ phải ở bên nhà gái vài ba năm ,lại sang nhà A Đôi ở vài năm.Lần lượt như thế cho đến khi cha mẹ bên nào chết đi,mới ở hẳn bên kia.lễ xong bạn bè sẽ cùng Y Đai – A Đôi ca hát nhảy múa suốt đêm đó.
Sáng hôm sau ông chủ hôn lại dẫn đôi trẻ về nhà. Con heo dùng làm lễ vật hiến sinh cuối cùng,để được các vị thần linh chính thức công nhận hai người là vợ chồng,đã mổ xong,đặt giữa nhà .Hai người cùng đặt tay lên đầu con vật,nghe lời chủ hôn và gia đình dặn dò lần cuối những phép tác từ nay họ phải tuân theo. Trong vòng một năm,vợ chồng chưa được có con,phải làm lụng để trả công bố mẹ nuôi nấng.nếu lỡ có con sớm,hai người phải vô rừng ở,bao giờ nộp môt trâu cúng tạ tội với thần linh,cha mẹ mới được về nhà.Họ sẽ cùng sống bên nhà gái trước.Trong thời gian chung sống,ai phản bội sẽ bị phạt vạ theo luật tục.
Dặn dò hết những điều cần thiết ,người chủ hôn lấy huyết heo bôi lên giường cưới của đôi vợ chồng trẻ,cầu cho họ sinh nhiều con cái và an toàn.
Đấy là xong phần nghi lễ. Củi hứa hôn của cô gái,từ hôm qua đến hôm nay đã được đem ra nấu cơm canh, nướng thịt đãi đằng bà con và bạn bè .Cả plei ăn uống vui vẻ,múa hát ,đánh chiêng mừng hạnh phúc của đôi trẻ.vài năm nữa con cái họ ra đời.bé : nằm trên lưng mẹ ra rẫy. Lớn theo gót chân cha đi rừng ,xuống suối.Đến tuổi thành niên sẽ cưa răng và đến tuổi ngủ tập trung ở nhà Ưng .Con gái lại kiếm cho đủ 100 bó củi hứa hôn ,học dệt vải ,đan chiếu, nắn nồi.Con trai học săn bắn, đan lát… Rừng đại ngàn quanh núi Ngock Linh rụng lá thay lớp áo mới non tơ. Nắng gió xuân gọi nở bừng ngàn đóa hoa rừng. Cuộc sống đang tiếp diễn trên plei Jẻ từ bao đời nay,vẫn thế !
(*) Tục bó củi hứa hôn còn có ở tộc người Sê Đăng, Triêng, Châu…

Linh Nga

Huế, Những Ngày Mưa

Thưa các bạn ,

Huế đang mưa rất lớn – mưa, gió, lạnh, lụt là những cảnh sắc mà không ai là dân Huế và đã từng ở Huế không khỏi trãi qua! Cả một bầu trời là mưa và mưa, một màu xám phủ khắp, cái buốt lạnh thấu xương đi kèm với một nổi buồn cô quạnh! Ai không có người thân: cái buồn len lén như muốn bóp nát tâm can! Ai đang có người yêu mà phải xa: một nổi nhớ nhung u hoài đi cùng cái lạnh mãi tràn ngập con tim!
huế mưa

Ai đang có người thân phải đang đi ngoài mưa gió? Mau mau tìm về bếp lửa ấm bên khói chiều vương vương bên các người thân thương để được thấm ngái cái mùi ruốc sả kho đậm đà rất đặc thù của Huế trong những ngày mưa, để vội xa lãng đi những hàng thầu đâu ( sầu đông ) như những cô gái xõa tóc xót xa khóc dưới những chiều mưa triền miên! Và tôi , một kẻ xa xứ rất lâu trở về Huế đô đúng vào một chiều mưa lạnh như thế! Một nổi ơ thờ tràn ngập vào cõi lòng, và từ cảm xúc đó tôi làm nên bài thơ này xin tặng các bạn!

Huế , Những Ngày Mưa

Tôi nghe những co ro
chiếc áo mưa sờn củ
hàng thầu đâu buồn rủ
ấm mùi ruốc sả kho

mưa , màu mưa màu mưa
màu xám xa mù khơi
tê tái niềm cô quạnh
phủ bóng kinh thành xưa

hue mua 3

bên ni bờ sông Hương
bên tê là giấc mộng
có đồng hương – người thương
cõi nào cõi hoang đường ?

sáng mơ qua Trường Tiền
bầy hạc trắng nghiêng nghiêng
trong mắt ai hờ hững
để tóc thề lạnh thêm

Huế đô những ngày mưa
hẹn hò giấc mơ xưa
về đây lòng trĩu nặng
lãng đãng nổi ơ hờ

Nguyễn Quý Ninh

Chú Voi Con

Bản Đôn có chú voi con voicon bandon
Chiếc vòi ve vẩy lon ton đón chào.
Cả ngày chạy nhảy lao xao
Người ơi! Hãy đến gởi trao tâm tình.

****

Cầu tre lắt lẻo xinh xinh
Thiên nhiên hùng vỹ hữu tình xứ Tây.
Hương rừng bát ngát cỏ cây
Suối reo ,chim hót nơi đây thiên đường

****

Đến rồi lòng mãi vấn vương
Voi con xứ sở quê hương núi rừng.

Hồng Phúc

Phố Cổ Hội An

Phố cổ Hội An nằm cách Đà Nẵng 30km về hướng Nam, là một thành phố nhỏ bé, xinh đẹp dải mình trên bãi biển miền Trung nổi tiếng với tên gọi China Beach.

hoian3

Thành phố lịch sử này được du khách biết đến khoảng nửa cuối thiên niên kỷ trước, lúc Hội An còn là một trong những hải cảng bậc nhất ở Đông Nam Á, thu hút các thương gia từ Nhật, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Hà Lan và cả Ả Rập. Chẳng lâu sau, cánh lái buôn đã tận dụng lợi thế cảng biển này, xây dựng một đô thị kiên cố, và Hội An đã trở thành tuyến hàng hải quan trọng nối liền eo biển Melaka và Macao suốt một thời gian dài đấy.

Hội An rất nổi tiếng trong các bức vẽ của Bùi Xuân Phái, họa sỹ tài danh của Việt Nam. Những tác phẩm nghệ thuật này gợi ta nhớ về những nét xưa cũ của một đô thị cổ ven sông, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1999. Thật là chẳng khó để hình dung một phố thị cách đây ba hoặc bốn trăm năm, buôn bán tấp nập và từng ở thời kỳ phồn thịnh về kinh tế văn hóa.
Ngoài những giá trị văn hóa qua những kiến trúc tinh hoa, độc đáo như khu phố cổ, chùa chiền, đình đền, giếng, cầu Nhật, thương cảng, chợ… Hội An vẫn còn giữ lại vô vàn giá trị văn hóa phi vật thể. Cuộc sống thường nhật của người dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hoá đã và đang được bảo tồn và phát huy, cùng với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, các làng nghề truyền thống, những món đặc sản địa phương… Tất cả những điều này làm cho Hội An ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách thập phương.

hoi%20an%20shop

Thời điểm tuyệt nhất để du lịch Hội An là vào những ngày mùng một hay ngày rằm, đặc biệt là Tết Trung Thu hằng năm. Cả phố cổ ngập chìm trong sắc màu của lồng đèn giấy treo dọc hai bên đường, mài nhà và ngõ hẻm, và du khách cảm thấy như đắm mình trong khu phố đầy màu sắc huyền ảo lúc về đêm.
Dù Hội An hiện vẫn lưu giữ những nét lịch sử cổ xưa, nhưng ngành kinh doanh nơi đây vẫn hầu như gắn liền với hoạt động du lịch, và ngày càng nhiều du khách đến thăm tìm lại nét phục hưng xưa chốn phố cổ yên bình này.

Click vào các links dưới đây để xem chùm ảnh Hội An

Phố cổ Hội An

Sắc màu Hội An
.

THE ANCIENT TOWN OF HOI AN

Ancient Town Hoi An, located 30km south to Danang, is a little but beautiful town on the central coast which is well-known as China Beach.

The historic town has been known to travelers since at least the middle of the last millenium, when it was one of the Southeast Asia’s leading ports of call for merchants from Japan, China, Portugal, Neitherlands and even Arabia. Then these traders took advantage of the port’s facilities, made a formidable town, and Hoi An became an important sealine linking Melaka and Macau during that time.

hoian04

Hoi An is very renowned in the paintings by Bui Xuan Phai, a very talented Vietnamese artist. These artworks remind us of the far-away traits of the riverside ancient town, acclaimed as a UNESCO’s world heritage site in 1999. It isn’t difficult to imagine the town of three or four hundred years ago, bustling with trade and enjoying its economic and cultural heyday.

In additon to cultural values through such unique, eclectic architectures as ancient quarters, pagodas, temples, wells, Japanese bridge, trading port, market…, Hoi An maintains no end of intangible heritage cultures. Towndwellers’ daily lives with their customs, habits, religious activities and traditional festivals have been preserved developed, together with dreamy landscapes, traditional trading villages and local specalties… All makes Hoi An an apealling destination for tourists from everywhere.

Hoi-an_Mai-ngoi

The best time to visit Hoi An is on the lunar first or middle days of months, especially annual Mid-Autumn Festival. All the town sinks into the colors of paper lanterns hung on the both side of the roads, roofs and alleys, and visitors feel like fascinated with the colorful and mysterious town by night.

Although Hoi An now retains its traditions and and histories, its trade is almost related to tourism and more tourists pay a visit to look for something of a renassaince in this peaceful town.

Quan Jun

Ai là chủ nhân đàn đá ?

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam,kể từ tháng 2-1949,lần đầu tiên nhà dân tộc học người Pháp Comdominas tìm thấy 11 thanh đá phát ra âm thanh tại buôn N’Dut Liêng Krăk tỉnh Đăk lăk cho đến nay,đã có 7 lần chúng ta tìm thấy nhiều thanh đá phát ra âm thanh rất hay ( gọi là đá kêu) .Số lượng những thanh đá mỗi lần tìm được không giống nhau : ngắn nhất là hai thanh ở Lộc Ninh ( Sông Bé ,tìm thấy tháng 6-1989).Nhiều nhất là lần tìm được 70 thanh ở Bác Aí ( Thuận Hải,công bố năm 1980).Chính vì không lần nào số lượng các thanh đá tương ứng với bất cứ một loại nhạc cụ nào có trong kho tàng âm nhạc dân gian các dân tộc ít người ,nên những người làm công tác âm nhạc đã mang sắp xếp lại thành những bộ , dàn và gọi đó là “ đàn đá ” 7 âm.
danda

Đàn đá Việt Nam được thế giới coi là loại nhạc cụ cổ xưa nhất. Một số Đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của nước ta, đã đem đi trình diễn ở nhiều nơi trong và ngoài nước.Nhưng cho đến nay,câu hỏi đâu là nơi đầu tiên đã chế tác ra đàn đá? Ai là chủ nhân đích thực của nhạc cụ cổ nhất này ? Phương thức diễn tấu ra sao ? Vẫn còn là những điều bí ẩn chưa có câu trả lời đối với các nhà nghiên cứu âm nhạc học,khảo cổ học, thạch học…

Từ những năm 1986- 1990,trong quá trình làm địa chí dân gian ở Đăk Lăk,các nhà sưu tầm đã phát hiện thấy dấu vết của việc xử dụng đàn đá và ghi lại theo lời kể của bà con như sau : “Người ta treo những thanh đá lên một sợi dây bắc ngang qua suối. Cạnh mỗi thanh buộc một hòn đá làm vai trò của một chiếc dùi.Sợi dây treo các thanh đá buộc vào một bô phận tương ứng như một chiếc gàu nước,đặt sát mặt suối.Nước chảy đổ đầy gàu,kéo căng sợi dây buộc các thanh đá.Gàu đầy,lật qua một bên đổ hết nước đi,khiến sợi dây buộc các thanh đá chùng lại.Sợi dây và thanh đá dao động liên tục đập vào nhau tạo ra âm thanh. Người Mnông gọi những thanh đá kêu này là gong lú ( ching đá )” *
Trong các bản trường ca – sử thi MNông ( Ôt n’trông ) như “Cây nêu thần , Làm rẫy bon Tiang” … của hai tác giả Điểu Kâu – Tấn Vịnh sưu tầm và biên dịch, ( Sở VH-TT Đăk lăk xuất bản năm 1995) ,cũng có thấy nhắc đến tiếng ching đá – Goong lú

Bộ ching đá thứ 8,được ông Điểu Bang ( Thôn Bu Biar , xã Quảng Tín huyện Đăk RLâp -Đăk Nông ),tìm thấy từ năm 1985.Do quan niệm : “ Goong lú là của các vị thần linh”, nên ông đem cất lại ở chỗ cũ ,ở suối Đăk kar,và chỉ chịu tìm về sau khi có lời đề nghị của cán bộ sưu tầm . Đồng bào Mnông ở quanh vùng cho biết : tổ tiên 8-9 đời của bà con đã có những bộ goong lú 3 thanh, dùng trong các lễ cúng thần Brah rất lớn của Bon Lan.Đã một vài lần bà con tìm được những bộ goong lú 3 chiếc,những do chiến tranh mà bị mất mát,hoặc sợ thần linh nên đã đem cất dấu.

Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh ( Viện trưởng Viện VHDG ) và nhạc sỹ Tô Đông Hải thì đã có thể kết luận,rằng : “ Các bộ đàn đá có cấu trúc dựa trên nhóm cơ bản gồm 3 thanh. Đã có hiện tượng phát hiện ra các bộ đàn đá có sự tiếp nối giữa hai nhóm 3 thanh,tạo thành bộ đàn đá có 6 thanh đá. Cấu trúc này hoàn toàn phù hợp với cấu trúc phổ biến của nhiều dàn chiêng các dân tộc ở Tây nguyên: ÊĐê,Jrai,MNông, Mạ, Rakglay…Phải chăng cấu trúc 3 đơn vị trong nhạc gõ đã tồn tại như một hiện tượng phổ biến ở Tây nguyên,ít ra cũng từ 3000 năm trước đây ? ”
danda1
Giáo sư -Tiến sỹ khoa học- Nhạc sỹ Tô Ngọc Thanh đã nhiều lần bày tỏ quan điểm,và chúng tôi cũng cùng chung ý kiến : không tán thành việc tập hợp tất cả những thanh đá được phát hiện cùng một lúc,tại cùng một địa điểm,để gọi đó là “ một bộ đàn” .Nhất là sau khi đã qua bàn tay “ nhào nặn” của các nhà cải tiến nhạc cụ chuyên nghiệp,để cho phù hợp với hệ thống âm nhạc 7 âm phổ thông.Trong quá trình tìm kiếm,việc có nhiều thanh đá thuộc nhiều bộ khác nhau,hoặc thiếu,hoặc lẫn trong những thanh của bộ khác là điều có thể và dễ hiểu.Bằng chứng là trong khi điền dã để xác minh đàn đá Đăk Kar,chúng tôi đã chứng kiến các nghệ nhân người dân tộc Mnông ở hai Bon thuộc xã Quảng Tín (huyện Đăk Rlâp,ĐL) đều đã diễn tấu trên bộ đàn đá 3 thanh rất thuần thục,sau khi trình diễn bằng bộ Chưng đồng 3 chiếc.

Cũng trong buổi công bố khoa học bộ đàn đá Đăk kar,các nghệ nhân Mnông Gar ở huyện Lăk về,và nghệ nhân Mnông Noong ở Đăk Rlâp đã lần lượt thay nhau trình tấu dàn ching đồng ( Goong Per) lẫn ching đá ( Goong lú ) 3 chiếc, không chỉ giống nhau về bài bản, gìai điệu, tiết tấu, mà còn giống nhau cả về phương thức trình tấu.Sau đó các nghệ nhân lại cùng hòa tấu goong lú với bộ đàn đá 7 thanh vừa được nghệ sỹ ưu tú Vũ Lân chế tác. Đây là lần đầu tiên công bố đàn đá có sự tham gia diễn tấu của các nghệ nhân người dân tộc thiểu số Tây nguyên ( Những lần trước đây chỉ do các ngệ sỹ của những đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trình bày ,qua những bài bản sáng tác của các nhạc sỹ ).Khả năng diễn tấu điêu luyện, và hòa âm chính xác giữa đàn đá nguyên gốc nguyên sơ,với bộ đàn đá chế tác,đã có thể là một chứng minh hùng hồn sự tồn tại và chủ nhân của những bộ đàn đá tìm được ở Đăk lăk,chính là đồng bào dân tộc Mnông.Đây có thể coi là một trong những phát hiện mới của công trình nghiên cứu về đàn đá ở Việt nam từ trước tới nay.

Tại khu vực suối Đăk Kar, các cán bộ sưu tầm còn tìm được dấu vết của một khu vực có thể được coi là cung cấp nguyên liệu và xưởng chế tác đàn đá,vì rất nhiều những mảnh xước có dấu vết ghè đẽo, cùng 12 thanh đá kêu khác.Nghệ sỹ ưu tú Vũ Lân ( Đoàn ca múa các dân tộc Đăk Lăk),đã dùng các thanh đá kêu lấy từ con suối này chế tác thành những bộ đàn đá 7 âm. Các nghệ nhân MNông Noong ,cùng anh chị em nghệ sỹ đoàn ca múa Đăk Lăk hòa tấu đàn đá cổ và đàn chế tác rất ăn ý.

Giáo sư nhạc sỹ Tô Vũ, một chuyên gia hàng đầu về âm nhạc dân gian các dân tộc thiểu số, và nhạc sỹ Kpa Y Lăng – dân tộc Bâhnar – người đã có nhiều công trong việc tìm ra các bộ đàn đá ở Việt Nam gần đây, đã có cùng một nhận xét như sau: “Những bộ 3 thanh đá có tính nhạc ( đá kêu) đã tồn tại trong thực tế.Trừ khi có những chứng cớ ngược lại,còn thì chúng ta có thể xem các thanh đá Đăk kar như một bộ đàn đá hoàn chỉnh.Xét về mặt âm nhạc học,3 thanh đá này là một tổ hợp hoàn chỉnh có thang âm,có điệu thức ba bậc.Trên đó người ta có thể xây dựng nên những giai điệu đơn giản”…

Và cuối cùng Hôị đồng nghiên cứu thẩm định đàn đá Đăk kar đã nhất trí kết luận :

1- Ba thanh đá kêu được do ông Điểu Bang tìm thấy và cất giữ ở suối Đăk Kar, đều có thang âm của âm nhạc thời tiền cổ đại.

2- Nhóm ba thanh đá này đồng bào Mnông cũng gọi tên là Me, Tru, Kon, có thể xử dụng thành thạo và hòa tấu được cùng dàn chiêng đồng ba chiếc (gong per) ủa họ. Đây đích thực là những thanh ching đá ( gong lú ).
danda2
Các nhà khoa học đề nghị tiếp tục nghiên cứu thêm để tìm ra sự tương quan giữa đàn đá Đăk Kar với các bộ đàn đá khác,cũng như với bộ chưng đồng 3 chiếc , 6 chiếc của đồng bào các dân tộc quanh vùng.

Việc đàn đá Đăk kar diễn tấu tương ứng và hòa âm được cùng bộ chiêng đồng mà người Mnông đang xử dụng,cũng như việc các nghệ nhân trình diễn trực tiếp trên đàn đá những bài bản dùng cho chiêng cổ,là một phát hiện mới,thú vị trong việc tìm ra bộ đàn đá thứ 8 của Việt Nam.Vùng tìm thấy các “ bộ đàn đá” đa số thuộc nơi cư trú của các nhóm tộc người thuộc ngữ hệ Môn –Khơmer,như vùng người Mnông ở Đăk Lăk, Đăk Nông;vùng người Bâhnar Chăm ở khánh Sơn; vùng người S’Tiêng ở Lộc Ninh và chỉ có vùng người Rak Glay ( thuộc nhóm Nam đảo) ở Bác Ái. Vậy phải chăng các tộc người thuộc ngữ hệ Môn –Khơmer chính là những chủ nhân đích thực, đã chế tác và sử dụng,cất dấu các bộ ching đá mà chúng ta từng tìm thấy trong nhiều năm qua?

Dù sao, chỉ với việc tìm thấy trên địa bàn, cũng như hòa âm được cùng với chiêng đồng, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây nguyên đã có quyền tự hào là những chủ sở hữu của bộ nhạc khí thuộc loại cổ xưa nhất trong lịch sử tiến triển của loài người.

(Theo Linh Nga)

Mừng Ngày Quốc Khánh–Tuyên Ngôn Độc Lập

Chào các bạn,

Hôm nay là Ngày Độc Lập của nước ta–ngày chúng ta tuyên bố độc lập khỏi ách cai trị của thực dân. Đây là độc lập mà nhân dân Việt Nam giành được từ tay những kẻ thống trị, chứ không phải được họ trao cho. Chúng ta phải hãnh diện về điều đó.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập là bản văn nói lên tiếng nói độc lập và tự trị của nước ta với thế giới. Nhân kỷ niệm ngày Tuyên Ngôn Độc Lập ra đời, hãy nghe lại Tuyên Ngôn trong video sau đây, do chính cụ Hồ đọc năm 1945. Sau video là bản Tuyên Ngôn Độc Lập tiếng Việt và bản dịch tiếng Anh.

Kính mời!
.


.

Tuyên Ngôn Độc Lập

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

.

Declaration of Independence
(SEPTEMBER 2, 1945)

“All men are created equal. They are endowed by their Creator with certain inalienable rights, among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness”

This immortal statement was made in the Declaration of Independence of the United States of America m 1776. In a broader sense, this means: All the peoples on the earth are equal from birth, all the peoples have a right to live, to be happy and free.

The Declaration of the French Revolution made in 1791 on the Rights of Man and the Citizen also states: “All men are born free and with equal rights, and must always remain free and have equal rights.” Those are undeniable truths.

Nevertheless, for more than eighty years, the French imperialists, abusing the standard of Liberty, Equality, and Fraternity, have violated our Fatherland and oppressed our fellow-citizens. They have acted contrary to the ideals of humanity and justice. In the field of politics, they have deprived our people of every democratic liberty.

They have enforced inhuman laws; they have set up three distinct political regimes in the North, the Center and the South of Vietnam in order to wreck our national unity and prevent our people from being united.

They have built more prisons than schools. They have mercilessly slain our patriots- they have drowned our uprisings in rivers of blood. They have fettered public opinion; they have practised obscurantism against our people. To weaken our race they have forced us to use opium and alcohol.

In the fields of economics, they have fleeced us to the backbone, impoverished our people, and devastated our land.

They have robbed us of our rice fields, our mines, our forests, and our raw materials. They have monopolised the issuing of bank-notes and the export trade.

They have invented numerous unjustifiable taxes and reduced our people, especially our peasantry, to a state of extreme poverty.

They have hampered the prospering of our national bourgeoisie; they have mercilessly exploited our workers.

In the autumn of 1940, when the Japanese Fascists violated Indochina’s territory to establish new bases in their fight against the Allies, the French imperialists went down on their bended knees and handed over our country to them.

Thus, from that date, our people were subjected to the double yoke of the French and the Japanese. Their sufferings and miseries increased. The result was that from the end of last year to the beginning of this year, from Quang Tri province to the North of Vietnam, more than two rnillion of our fellow-citizens died from starvation. On March 9, the French troops were disarmed by the lapanese. The French colonialists either fled or surrendered, showing that not only were they incapable of “protecting” us, but that, in the span of five years, they had twice sold our country to the Japanese.

On several occasions before March 9, the Vietminh League urged the French to ally themselves with it against the Japanese. Instead of agreeing to this proposal, the French colonialists so intensified their terrorist activities against the Vietminh members that before fleeing they massacred a great number of our political prisoners detained at Yen Bay and Cao Bang.

Not withstanding all this, our fellow-citizens have always manifested toward the French a tolerant and humane attitude. Even after the Japanese putsch of March 1945, the Vietminh League helped many Frenchmen to cross the frontier, rescued some of them from Japanese jails, and protected French lives and property.

From the autumn of 1940, our country had in fact ceased to be a French colony and had become a Japanese possession.

After the Japanese had surrendered to the Allies, our whole people rose to regain our national sovereignty and to found the Democratic Republic of Vietnam.

The truth is that we have wrested our independence from the Japanese and not from the French

The French have fled, the Japanese have capitulated, Emperor Bao Dai has abdicated. Our people have broken the chains which for nearly a century have fettered them and have won independence for the Fatherland. Our people at the same time have overthrown the monarchic regime that has reigned supreme for dozens of centuries. In its place has been established the present Democratic Republic.

For these reasons, we, members of the Provisional Government, representing the whole Vietnamese people, declare that from now on we break off all relations of a colonial character with France; we repeal all the international obligation that France has so far subscribed to on behalf of Vietnam and we abolish all the special rights the French have unlawfully acquired in our Fatherland.

The whole Vietnamese people, animated by a common purpose, are determined to fight to the bitter end against any attempt by the French colonialists to reconquer their country.

We are convinced that the Allied nations which at Tehran and San Francisco have acknowledged the principles of self-determination and equality of nations, will not refuse to acknowledge the independence of Vietnam.

A people who have courageously opposed French domination for more than eighty years, a people who have fought side by side with the Allies against the Fascists during these last years, such a people must be free and independent.

For these reasons, we, members of the Provisional Government of the Democratic Republic of Vietnam, solemnly declare to the world that Vietnam has the right to be a free and independent countryÑand in fact it is so already. The entire Vietnamese people are determined to mobilise all their physical and mental strength, to sacrifice their lives and property in order to safeguard their independence and liberty.
_____

Source: Ho Chi Minh, Selected Works (Hanoi, 1960-1962), Vol. 3, pp. 17-21.

* Note, the Democratic Republic of Vietnam has been renamed The Socialist Republic of Vietnam.

54 Dân Tộc Việt Nam

Chào các bạn,

Việt Nam chúng ta có đến 54 dân tộc. Nhưng có lẽ là không mấy khi chúng ta để ý đến các dân tộc anh em của chúng ta một cách rõ ràng. Nhận thấy trong “Ảnh Hướng Thượng” của ĐCN có ảnh của cả 54 sắc dân, mình theo đó đến website của Ủy Ban Dân Tộc. Trang này của Ủy Ban có rất nhiều thông tin hửu ích, mình bèn góp nhặt một số thông tin và hình ảnh làm thành slideshow “54 Dân Tộc Việt Nam” để chia sẻ với mọi người.

Trong slideshow này mình dùng bản nhạc Tiếng Sóng của anh Phạm Minh Tuấn, do chị Siu Black trình bày.

Chị Linh Nga Niek Kdăm cũng đã chỉnh lại một vài thông tin không được chính xác trong bản đầu tiên. Cám ơn chị Linh Nga rất nhiều. Có viết gì về văn hóa Tây Nguyên, gởi chị đọc trước là chắc ăn nhất. 🙂

Mình để link đến slideshow này trên authorstream. Click vào ảnh dưới đây.

Slideshow này cũng đặt trên mediafire.com. Click vào ảnh dưới đây

Chúc các bạn môt ngày vui vẻ! 🙂

Túy-Phượng

Vẻ đẹp của ching chêng Tây Nguyên

Trước tiên phải nói đôi lời về hai chữ “ cồng chiêng”. Đây thực ra đây chỉ là cách gọi của các nhà nghiên cứu,theo cách gọi của một số dân tộc thiểu số phía Bắc như người Mường, người Thái,hoàn toàn chỉ sử dụng những chiếc cồng có núm (thường gọi là cồng Mường) và dần trở thành thuật ngữ quen thuộc khi nói đến loại nhạc cụ độc đáo này của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. congchieng1Riêng các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên gọi những chiếc chiêng có núm được gọi là ching, chưng, hoặc goong. Những chiếc không có núm có thể được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau, tuỳ theo mỗi tộc người (ví như dàn ching knah của người Êđê, ching Arap của Jrai, chêng của người Bâhnar, Sê đăng, chưng là cách gọi của người Mnông…). Ở đây chúng tôi dùng hai tiếng “ching chêng” như cách gọi của tộc người Bânar để nói về tập đoàn các dàn chiêng Tây Nguyên.

Phác họa “ chân dung” ching chêng Tây Nguyên

Tộc người bản địa nào cư trú trên dãy Trường Sơn – Tây Nguyên cũng có dàn ching chêng . Ching chêng không chỉ là phương tiện giao lưu với các thần linh (Yang), mà còn gắn bó với người Tây Nguyên từ thuở lọt lòng cha mẹ làm lễ thổi tai đặt tên, đến tuổi thành niên, cưới hỏi, sản xuất, giao đãi với bộ tộc, với bạn bè…Cho đến tận khi tiễn đưa linh hồn về với bến nước làng trời.Nói một cách khác, ching chêng chính là tiếng nói tâm linh,tâm hồn của mỗi dân tộc. Trước khi có bộ chiêng đồng, bà con đã có ching đá (goong lú)- một trong những nhạc cụ được coi là cổ xưa nhất của loài người. Sau đó là đến ching gỗ (ching côk, Tlung tlơ..), rồi mới đến ching đồng. Muộn màng hơn là ching tre (ching kram). Âm thanh của tre nứa, gỗ, đá … vang lên không chỉ rộn ràng mà còn da diết giữa núi rừng, sông suối, luôn gắn bó biết bao đối với đời sống tinh thần của con người.
cong_chieng_tay_nguyen
Có một số nhạc cụ dân gian phổ biến trong cộng đồng các sắc dân Tây Nguyên, được mô phỏng theo hệ thống âm thanh của các dàn ching chêng, như : ching goong, ching đinh (của tộc người Êđê, JRai ), Ting ning ( của tộc người Sê Đăng, Bânar), Goong rêng ( của tộc người Mnông), Goong Kla ( của người K’Ho), Cha pi ( của người S’Tiêng)…

Văn hoá ching chêng là một trong những nét đặc trưng nhất trong nền văn minh nương rẫy, của cộng đồng các cư dân thiểu số ở miền núi. Không gian văn hoá ching chêng cùng với các thể loại nghệ thuật dân gian, hệ thống văn chương truyền miệng độc đáo, phương thức sản xuất, tín ngưỡng, các nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật ẩm thực….đã tạo nên nét riêng biệt của một nền văn minh nương rẫy, khác biệt hẳn với nền văn minh sông nước của người Việt ở miền đồng bằng.

Tập đoàn các dàn ching chêng Tây Nguyên thường gồm những chiếc có núm và không có núm. Mỗi dân tộc có nhiều loại ching, được gọi tên theo chất liệu chế tác, hoặc xuất xứ (ví dụ như ching Kuôr – chiêng có nguồn gốc từ Cămpuchia, ching Lao – có xuất xứ từ nước Ai Lao, ching Joan – mua của người Kinh ở miền xuôi…) . Cũng có khi bà con gọi theo hình thức và thể loại lễ nghi xử dụng của từng loại chiêng (ching Arap – dùng trong lễ pơthi – bỏ mả của tộc người Jrai; ching xoang sgơr – dùng trong lễ mừng chiến thắng của người Bânar )…Tên chung của các dàn ching chêng, mỗi tộc người một cách gọi khác nhau :
congchieng2
– Người Êđê gọi bộ chiêng của mình là Ching Char (chiêng núm gọi là ching, chiêng bằng gọi là knah)

– Người Jrai gọi Ching tơnah, ching kơ đơ hay ching arap

– Người Bânar & Chăm Hroaih gọi Ching chêng (Ching cho những chiếc có núm và chêng dùng gọi những chiếc không có núm )

– Người Mnông, K’Ho gọi là Chưng goong, hoặc Goong chêng (goong dùng cho những chiếc chiêng có núm & chưng, chêng dùng gọi chiêng không có núm)….

– Người Sê đăng gọi ching goong (ching là những chiếc chiêng không có núm, goong là chiêng có núm)…

Chất liệu chế tác (đồng, gỗ, nứa…) và cơ cấu dàn (gồm chiêng có núm và không có núm) của các dàn chiêng có thể giống nhau, nhưng số lượng trong một bộ nhiều hay ít và phương thức diễn tấu cũng như các bài bản thì mỗi tộc người mỗi khác nhau.

Chưa ở đâu trên đất nước ta, có một tập hợp đông đảo về số lượng trong một dàn và nhiều dàn đến như thế về nghệ thuật diễn tấu ching chêng như ở Tây nguyên. Ít nhất là bộ chiêng Tha có hai chiếc của người Brâu, chêng 3 của người Mnông… Nhiều nhất là 12-14 chiếc trong cơ cấu dàn chiêng Jrai, Bâhnar, Sê đăng. Lên tới 21 chiếc “ching độ” (tăng thêm những chiếc có núm của phần đệm) là bộ chiêng Jrai cải tiến.

Giá trị của ching chêng, được tính theo xuất xứ của chúng, đắt nhất là ching Lao, vì bà con tin là có pha bạc, hoặc tỷ lệ đồng cao hơn, độ tin cậy vào nghề đúc của người Lào cũng cao hơn. Tiếp đến là những bộ ching Kuôr ( chiêng của người Cămpuchia) . Ít giá trị nhất, khi không có đủ trâu bò để đổi lấy ching Lao hay ching Kuôr, người ta mới chấp nhận sử dụng ching Joăn.
congchieng3
Có thể tạm chia ching chêng Tây Nguyên làm ba nhóm :

– Nhóm diễn tấu riêng biệt ching có núm và không có núm , gồm các tộc người Mnông, K’Ho, Mạ, Hrê, Ka Dong, Chu Ru…có cấu tạo, âm thanh và cách đánh tương đối giống nhau.Chỉ khác về hàng âm và bải bản. Thường diễn tấu động vòng quanh bếp lửa hoặc cột nêu. Tiêu biểu là bộ chưng của người Mnông:

Nhóm tộc người Mnông ở Đăk Lak & Đăk Nông thường có hai bộ loại không có núm gọi là chưng ba chiếc và một bộ chưng sáu chiếc ( có vùng vẫn gọi là chêng ). Một số vùng Mnông Nong, Mnông Preh có thêm bộ 3 chiếc chiêng có núm, gọi là goong.

– Nhóm hòa tấu cả các ching núm và không có núm, gồm các tộc người Bâhnar, Sê Đăng, Jrai, Chăm Hroaih… luôn diễn tấu động vòng quanh cột nêu. Tiêu biểu là bộ ching của người Sê Đăng .

– Nhóm diễn tấu tĩnh, là dàn ching char của người Êđê . Khi trình tấu, toàn bộ dàn chiêng gồm một ching có núm lớn ( Mđú) và một ching không có núm lớn ( Char) chịu trách nhiệm phần đệm. 6 ching knah không có núm đối đáp nhau giữ phần giai điệu, nghệ nhân gõ vào mặt lõm bằng dùi cứng. Trống cái H’Gơr đặt đầu ghế kpan có vai trò giữ nhịp và báo chuyển bài bản hoặc ngừng nghỉ của cả dàn
congchieng4
Những chiếc ching có đường kính lớn (theo cách gọi của bà con người Jrai là ching thước chín, nghĩa là khoảng chừng một cùi tay & một nắm tay – tương đương 0,90cm ) thường rất được trân trọng, nâng niu.

Dàn ching buôn Kó Siêr thành phố Buôn Ma Thuột,tỉnh Đăk lăk đã từng thay mặt cho các dàn chiêng Tây Nguyên tham dự Diễn đàn âm nhạc Châu Á- Thái Bình Dương lần thứ 21 tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, năm 1991 và được chọn bốn bài bản, cùng với một làn điệu dân ca (hát k’ưt) xếp vào kho tàng tinh hoa âm nhạc dân gian của khu vực. Cũng là dàn ching buôn Kó Siêr được mời tham gia Liên hoan âm nhạc dân gian quốc tế tại cộng hoà Sec, Thái Lan, Nhật Bản. Dàn ching Sê Đăng của huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum cũng đã tham gia biểu diễn trong liên hoan âm nhạc dân gian thế giới tại Mỹ năm 2007 . Các dàn ching chêng này luôn được nhiệt liệt hoan nghênh.

Ching chêng trong đời sống cộng đồng

Tiếng ching chêng gắn bó mật thiết với đời sống tâm linh của người Tây Nguyên . Đặc biệt nó gắn liền với mọi lễ nghi liên quan tới sản xuất nông nghiệp, với các lễ nghi vòng đời một con người. Số lượng & chất lượng các dàn ching chêng còn từng là một trong những thước đo giá trị sự giàu có của một gia đình Tây Nguyên.

Tín ngưỡng đa thần và sinh hoạt mang tính cộng đồng cao của một nền văn minh nương rẫy, đã sản sinh ra văn hoá dân gian Tây nguyên.Tính cố kết cộng đồng cũng từ tập quán “ bầy đàn nguyên thuỷ” đó mà bền vững hơn. Bởi ngay từ việc diễn tấu ching chêng, đã chỉ được thực hiện khi có đầy đủ một nhóm nghệ nhân, và chỉ thật sự hứng khởi khi có đông đảo người cùng tham gia.

Thuở xa xưa, ching chêng là phương tiện giao lưu với các thần linh, thông tin giữa bộ lạc này với các bộ tộc khác. Không thể thiếu vắng tiếng ching chêng khi có một việc lớn sẽ diễn ra liên quan đến đời sống con người giữa đại ngàn hoang sơ, như theo những lễ nghi của quy trình canh tác nông lịch trên đất rẫy và theo các lễ vòng đời của một con người, một gia đình hay một bộ tộc. Ngoài việc phải thưa gửi, phải cầu xin và tạ ơn các vị Yang ngự trị nhan nhản khắp nơi về những gì đã, đang và sẽ nhận được; còn phải báo tin buồn vui, chúc thọ người già, mừng người trẻ trưởng thành, nên duyên đôi lứa và cảm ơn bạn bè, dòng họ,gia đình thậm chí cả những nô lệ đã chia xẻ, lao động cật lực cùng gia chủ trong những tháng ngày suốt hai mùa mưa nắng… Mỗi dàn ching chêng là một thông điệp tâm linh, là tâm hồn của một tộc người. Thậm chí là phong cách giao tiếp của một buôn, plei, kon,bon. Ching chêng luôn luôn hiện diện và song hành cùng con người ngay từ lúc mới cất tiếng khóc chào đời,cho đến lúc đi về lại “ bến nước ông bà”.
congchieng5
Diễn tấu ching không chỉ đơn thuần là việc các nghệ nhân tài hoa tập hợp nhau lại để “chơi” những bản nhạc truyền thống, mà xoay quanh chiếc trục âm thanh của các dàn ching chêng là cả một nền văn hoá đa dạng, phong phú và mang vẻ đẹp huyền ảo trong nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, của những kiến trúc, phong tục tập quán, nghệ thuật tạo hình ( cậy nêu, trang phục, tượng mồ…), nghệ thuật diễn xướng ( hát, múa…), văn chương truyền miệng ( kể khan, kể chuyện cổ,lời nói vần, luật tục…), những trò chơi dân gian,ẩm thực… đúng nghĩa là một không gian văn hoá nghệ thuật, mà trong đó ching chêng là yếu tố chủ đạo cấu thành sự độc đáo ấy. Cao hơn, trình tấu ching chêng là một loại hình sinh hoạt nghệ thuật diễn xướng mà toàn thể cộng đồng đều có thể cùng tham gia & cùng hưởng thụ.

Hãy lắng nghe trong gió tiếng ching chêng Bânar trầm hùng như dòng Sê San mạnh mẽ dạt dào tuôn chảy; chiêng A rap Jrai phóng khoáng như đàn ngựa hoang tung vó và rộn ràng khiến chân tay con người muốn lắc lư, động đậy. Những chàng trai Sê đăng dây xa tích bạc đeo ống trầu bên hông leng keng cùng nhịp ching chêng náo nức đưa tâm hồn con người bay lên theo biến tấu diệu kỳ của nhịp điệu bài dân ca “ Chim Jil đi tắm”. Còn mạnh mẽ, ào ạt như những cơn gió rong chơi thổi qua đồng cỏ cao nguyên là tiếng ching char Êđê. Khom xuống mà lắng nghe lời thủ thỉ, bụp xoà, đôi lúc lại lanh lảnh tiếng vòng đồng và các khớp ngón tay gõ lên mặt chưng K’Ho, Mnông, Mạ. Ai đã từng một lần tham gia những lễ hội của người Bânar Chăm Hroaih ở Bình Định, Phú Yên, chắc không thể không nhớ đến nhịp điệu vang vọng hết ngày qua đêm, khi trang trọng, khi sôi nổi rạo rực, lúc trầm tư, của các đội chiêng những làng Xí Thoại, Vân Canh, Hà Giăng…hay cuộc đấu chiêng đôi của người K’Ho (Lâm Đồng), người Cor (Quảng Ngãi). Những cuộc chuyện trò tâm sự, dãi bày biểu cảm,giải quyết mọi hờn giận, hiểu nhầm qua tiếng ching của hai người bạn hay hai gia đình. Lúc quyết liệt, khi tâm tình, có khi lại hồn nhiên tinh nghịch đến bất ngờ…

Ching chêng là thể loại âm nhạc đặc trưng nhất gắn liền với nhiều sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Tây nguyên.Bởi môi trường diễn xướng của ching chêng thường đi đôi với hệ thống các lễ và hội. Ở đó, để phục vụ cho đời sống tinh thần của con người, và là môi trường bộc lộ tài năng của các nghệ nhân chân đất, mọi loại hình nghệ thuật dân gian đều có thể được phô diễn xung quanh nghệ thuật ching chêng, và đó chính là không gian để cồng chiêng tồn tại , thăng hoa.

Trong những đêm lễ hội đường phố, trong khuôn khổ các Lễ hội hoa Đà Lạt, không ít du khách của mọi quốc gia, mọi lứa tuổi đã hồn nhiên nắm tay các chàng trai cô gái K’Ho, Lạch múa say sưa không kém theo nhịp chưng bo.Còn trong một cuộc “ Liên hoan văn hoá cồng chiêng Trường Sơn-Tây nguyên” đã từng tổ chức tại Buôn Ma Thuột, khán giả nồng nhiệt vỗ tay tán thưởng điệu múa solo độc đáo của một nữ nghệ nhân Mnông Nong (huyện Đăk Song tỉnh Đăk Nông ). Hãy nhìn gương mặt đắm đuối đến ngây dại của người nghệ nhân, để hiểu bà đã nhập hồn vào điệu múa, nhịp điệu chưng như thế nào? Cũng không thể không ngẩn ngơ trước dáng uyển chuyển với hai cánh tay giơ ngang đầu của các cô gái Ca Tu vai trần, cặp vú tròn đầy, sánh bên những chàng trai múa khiêl “ngực trần khố có một manh”, mang đến cho người xem vẻ đẹp vừa khoẻ khoắn, lại vừa dịu dàng của điệu múa “Tung tung ya yă ” theo nhịp ching chêng của miền núi Quảng Nam …khắp các lễ hội Tây Nguyên, tràn đầy những hình ảnh khó quên đó.

Để bảo tồn ching chêng Tây Nguyên
congchieng6
Một vài năm gần đây, với chủ trương bảo tồn & phát huy văn hoá các tộc người, sinh hoạt ching chêng Tây Nguyên dần dần được khôi phục. Ngoài một số hoạt động chung, như “ Lễ hội Văn hoá Tây Nguyên” ở Hà Nội & t/p Hồ Chí Minh, các cuộc Liên hoan văn hoá cồng chiêng, Nghệ thuật dân gian Sơn ca, Dân vũ dân ca các dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên ….Đồng thời với ở một số vùng, chính quyền kết hợp với phòng VHTT & các già làng, đã mở nhiều lớp truyền dạy đánh ching,truyền dạy làm và chế tác nhạc cụ truyền thống…

Để không gian văn hóa cồng chiêng được bảo tồn một cách có hiệu quả, thực sự gắn bó với buôn, bon, kon, plei như vốn như thế trong đời sống văn hoá truyền thống, là một việc khó. Quan trọng nhất vẫn là cần khôi phục lại môi trường diễn tấu trong cộng đồng, bằng cách để chính bà con bàn bạc, chọn lọc duy trì một vài lễ – hội truyền thống trong năm, có sự tham mưu của ngành văn hoá, có sự hỗ trợ một phần kinh phí của chính quyền các địa phương để giảm phần lễ, tăng phần hội như : các lễ hội ăn cơm mới, dọn bến nước, đua voi… gắn với việc bảo tồn những di sản văn hóa vật thể đã làm nên sự sống động của ching chiêng, đó là không gian nhà rông, nhà dài, gươn, bến nước…cùng với các vũ điệu, trang phục và các món ăn truyền thống… Nên được tổ chức định kỳ, theo vùng lãnh thổ.Bên cạnh đó cần có một đội ngũ cán bộ hoạt động văn hóa là người dân tộc , đặc biệt là lớp trẻ, nhằm không chỉ khơi dậy lòng tự hào mà còn hiểu và hướng dẫn một cách có hiệu quả, về việc gìn giữ, phát huy truyền thống văn hoá bản địa của chính bà con các dân tộc thiểu số.

Đâu đó trong gió đại ngàn, vẫn còn vang vọng những âm thanh bổng trầm của ching chêng, làm náo nức những vòng xoang và không gian núi rừng. Hãy để cho không chỉ thế giới, mà chính các thế hệ người dân Tây Nguyên, nhất là tuổi trẻ, tự hào và góp phần gìn giữ những giá trị tinh thần quý báu ấy, mãi mãi sống động trong cộng đồng; xứng đáng với địa vị được tôn vinh. Bởi sự tồn tại trong cộng đồng mới chính là cơ sở bền vững nhất để “ di sản văn hoá dân gian truyền khẩu ” độc đáo của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên song hành cùng cuộc sống mới hôm nay và mãi mãi về sau.

Linh Nga Niê Kdăm

Tôi Đến Từ Việt Nam

I’M FROM VIETNAM

Quite a few young Vietnamese traveling abroad are asked: “You’re Chinese?” or “Are you Japanese or Korean?”… Many wish everyone could just guess at first sight that they are from Vietnam.

Yet, even if their guesses may cover almost all East-asian countries, many cannot think of Vietnam, because they know so little about the country, compared with the stronger Asian neighbors.

I'm from VNsuch as Japan, China and Korea…

A member of a DIY-tour website told the story of her own record. After reaching the volcanic mouth of Pinatubo in Philippines, the friends in her trekking group asked where she was from. When she answered “Vietnam”, the whole group exclaimed in wonder that a little Vietnamese girl, just wearing Cu Chi bandanna, without any special protective gears, had traveled for hundreds of kilometers by Jeep and on foot to find and get to the volcano’s mouth, took photos by positioning herself next to a boiling volcanic stream, and stood on the edges of the cliffs that threatened even the locals.

Those who like exploring the stretch of road to the Northwest are planning to post more pictures of terraced paddy fields of Ha Giang and Lao Cai with English notes on the Internet. They’ve been traveling far enough to realize that Vietnam’s rice terraces are as fascinating as Banaue Rice Terraces – a World Heritage Site…

On the road, “Viet backpackers” tell one another not to litter, ruin green trees, or break local rules, but to practice English well and talk to foreign friends in a friendly way.

dân phượt trên OQH

All is to glorify our Country when each of us introduces him/herself: I’m from Vietnam!

Written: Ngoc An

Translated into English: Jun Quan

Source: Hoahoctro Newspaper

TÔI ĐẾN TỪ VIỆT NAM

Rất nhiều người Việt trẻ ra nước ngoài du lịch thường được hỏi: “Bạn là người Trung Quốc à?”, hoặc “Bạn là người Nhật Bản hay Hàn Quốc?”… Nhiều bạn đã ước rằng bất kỳ ai chỉ cần nhìn mình là đoán ngay rằng mình đến từ Việt Nam.

Nhưng dù có đoán đủ gần hết cả các nước Đông Á, nhiều bạn bè nước ngoài cũng không nghĩ ra Việt Nam, vì họ còn biết quá ít về Việt Nam sau những cường quốc châu Á khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc…

I'm from vn2

Một thành viên của một trang web chuyên về du lịch bụi, đã kể về một kỷ lục của riêng chị. Sau khi chạm đến được núi lửa Pinatubo ở Philippines, bạn bè trong đoàn trekking hỏi chị đến từ nước nào. Khi chị trả lời đến từ Việt Nam, cả đoàn ồ à lên, không ngờ một cô gái Việt Nam nhỏ xíu, chỉ thắt khăn rằn Củ Chi, không có một phương tiện bảo vệ chuyên dụng nào, đi hàng trăm cây trên xe jeep hay đi bộ để tìm đến gần miệng núi lửa, chụp ảnh sát vào dòng suối nhỏ sôi lên vì sức nóng của núi lửa hay đứng trên vách núi mà đến người bản địa cũng còn e sợ.

Những người thích khám phá cung đường Tây Bắc lên kế hoạch đưa nhiều hơn những hình ảnh về những ruộng bậc thang ở Hà Giang, Lào Cai lên mạng với những lời chú thích bằng tiếng Anh. Các bạn ấy bước đi đủ nhiều để nhận ra những thửa ruộng bậc thang của Việt Nam đẹp không kém gì ruộng bậc thang ở Banue – Di sản thế giới…

FOFMXOFL1R_nongthon2[1]

Trong những chuyến đi, những “ta ba lô” thường dặn nhau đừng vứt rác, không phá hoại cây xanh, không vi phạm luật của nước sở tại, hãy luyện tiếng Anh thật tốt và thân thiện trò chuyện với bạn bè nước ngoài.

Tất cả là để đất nước được vinh danh khi mỗi chúng ta tự giới thiệu: Tôi đến từ Việt Nam!

Hoa Blang (Sử thi Dam San)

Viết lại chuyện tình chàng Dam san
Hoa Blang

Dam San bỏ mặc khách cầu hôn ngồi chật nhà cho chị em H’Âng, H’Lí tiếp. Chàng cuốn gọn mớ tóc dài trong chiếc khăn bịt đầu đỏ chói của tù trưởng, gỡ chiếc xagac treo trên vách, nhảy qua cửa sổ buông mình xuống giữa lưng ngựa, phóng đi không hề ngoảnh lại.

galloping

Bước chân ngựa vẫn như hàng ngày nhanh hơn cơn gió. Thân hình Dam San vẫn dẻo như nõn mây. Nhưng dường như hôm nay tai chàng không nghe được tiếng động nào, ngoài tiếng nói cứ nhắc đi nhắc lại trong đầu :

– Phải đến ngay nhà H’Bia Điết Klứt (*).

Tiếng con chim tao vao vắt vẻo trên cột gỗ ở cổng đầu buôn, chao chác gọi bạn tình chẳng lọt lỗ tai chàng. Cơn gió ù ào luồn qua rừng khộp, đùa giỡn tung những chiếc lá đỏ tơi tả bay đầy trời, không khiến mắt Dam San chú ý. Thúc ngựa lội ào qua suối, nước ngập tới ức ngựa , ướt cả đuôi khố, chàng không hay.

– Không! Không Không thể lấy H’Nhi, H’Bhi làm vợ. Dù cho hai nàng có đẹp, có giàu. Ta đã thuộc về H’Bia Điết Klứt.

Tiếng lách cách của khung dệt báo Dam San biết người yêu đang dệt vải. Vịn tay đầu sàn, chàng ghé nhìn qua khung cửa. H’Bia bên cửa sổ vẫn đang vừa luồn chỉ vừa hát:

Dệt tấm khố em mong anh về
Trao tấm áo để đón anh về
Mẹ bảo em rằng anh sẽ về
Mai mốt anh về như chim có bầy
(**)

Nàng dệt đã sắp xong tấm khố để tặng chàng. Bên cạnh lại còn bày cả tấm chăn apăn lẫn chiếc áo tù trưởng knuky có hàng nút vàng và hàng dây đỏ rực như chim mlang đang giang cánh trước ngực, đã dệt xong. Nhìn những trang phục đó, nàng giục mình phải xe chỉ, luồn sợi nhanh tay hơn nữa, bởi đó chính là một phần những lễ vật nàng sẽ đem sang nhà để cưới chàng về làm chồng.

Dam San nắm lấy đôi bầu vú gỗ nơi đầu thang, đu thẳng người lên sàn. Bước nhảy mạnh mẽ của chàng dũng sĩ khiến cả căn nhà sàn dài rung rinh.H’Bia dừng tay dệt ngó ra cửa, nói dỗi :

-Dam San ! Mấy lần con gà lên ổ rồi em không thấy chàng. Hay Dam San để con diều mổ, con quạ tha em đi rồi mới tới đây chăng?

– H’Bia ơi ! Em mắng anh sao như nước sôi trên lửa vậy? Mai này cơm ai người đó ăn, rượu ai người đó uống.Em có còn được chờ, được mắng anh nữa không đây?

– Sao vậy Dam San ?

Bước tới sau lưng người yêu, Dam San cởi hộ nàng sợi dây buộc khung dệt, vén mớ tóc dài xõa đầy trên sàn, đỡ H’ Bia đứng dậy :

– Cột một ché rượu hai người uống đủ đi em. Ta uống với nhau một lần cho say, quên cả đường về, quên cả những gì đang chờ ở nhà anh kia nữa nhé.

Cảm thấy có điều gì xẩy ra, H’Bia lặng lẽ bới gọn mớ tóc rồi đi tới góc nhà phía Đông nơi mẹ ủ rượu, chọn lấy một ché ngon. Dam San với tay lên xà nhà, lấy cây cột gơng chống xuống sàn, chàng phụ H’Bia bưng tới, cột ché rượu cho chắc.Trong lúc H’Bia lui cui múc nước và soi lại cho thông cái cần hút, Dam San nhanh chóng đem về một ôm lá chuối khô, xoay tròn ấn vào ché. Họ lặng thinh làm, không nói gì với nhau, cũng không gọi tôi tớ.

Hai người ngồi bên nhau, tay cùng đặt lên cần rượu, chân đạp lên chân, mắt nhìn trong mắt. Nếu có hai chiếc cần, thày cúng, cái rìu và đôi vòng đồng nữa, thì đã thành lễ cưới của họ rồi. Mặt ché đầy nước sóng sánh như ánh mắt H’ Bia đắm đuối nhìn người yêu. Đam San dịu dàng nâng cần rượu đặt lên môi nàng :

– Uống đi H’Bia . Cho Dam San được tiếp em uống rượu lần sau chót. Rượu có đắng ta cũng coi là rượu ngọt mà uống cùng nhau.

Đôi mắt H’Bia mở to, lóng lánh như cặp mắt con mang nhỏ Dam San bẫy được mà không nỡ giết, lại chữa vết thương rồi giữ cho nó quen đùa với hai người mỗi lần đi thăm rẫy.

– Có việc gì Dam San ? Chị em nhà anh không cho hai đứa mình thương nhau sao?

– Không phải đâu H’ Bia. Chỉ là H’Nhi và H’Bhí cho các anh trai đem lời ông nội đến nhà. Đã đến lúc theo luật tục nối dây, anh phải về nhà hai nàng đó làm người đổi trâu bò lấy ching ché, lấy voi. Ngồi trên chiếu hoa làm sang cho nhà họ.

– Còn em sao Dam San ?

– Ờ, H’Bia ở đầy trong đầu, trong mắt, trong ngực Dam San đây nè. Nhưng bao đời nay, em có thấy ai cãi lời luật tục không? Việc này đã được ông Y Kla của anh dặn dò từ khi ông còn phải cõng H’Bhi trên lưng, bế Dam San bên vế trái, ôm H’ Nhi một bên vế phải, cách nay mười lăm mùa rẫy rồi đó em.

– H’Bia không chịu đâu Dam San. Mình thương nhau đã hai lần hoa tăng bi gửi hương cho gió rồi. Nhà em cũng danh giá, giàu sang đâu có kém gì H’ Nhi, H’Bhí? Dòng họ Êban cũng được quyền cưới họ Niê Kdam chứ.

– Nhưng còn sợi dây nối nòi , làm sao dứt đứt được ?

H’ Bia tựa đầu lên vai Dam San. Mái tóc dài thơm ngát của nàng xổ tung, quấn quýt lên cổ, lên vai, lên tấm lưng trần của chàng Dam San. Họ khép mắt im lặng ngồi bên nhau…..H’Bia đi trước trên con đường rừng vắng, hai bên dày đặc những bông hoa mnga phí vàng óng giữa đám lá xanh mướt.Đôi gót chân đỏ như bôi đất non của nàng bước tung tăng trong tiếng đinh năm dìu dặt. Tiếng kèn như nâng bước chân và tiếng hát H’ Bia.

Lược ngà anh dắt mái tóc xoăn
Để em mơ đêm thương ngày nhớ
Chiếc chiếu em một bên mốc dở
Bởi không có người nằm kề bên

Ơ anh…(***)

Dam San cũng say trong nhịp điệu của câu hát ai rei. Người chàng lắc lư, đôi chân và cả thân mình nhấc lên, nhún xuống, tua khố tung bay.Những con chim kơtia mỏ đỏ, chim nhông mỏ vàng kéo hàng đàn ríu rít sà xuống theo hai người. Góc rừng anh công kiêu hãnh xòe hết chiếc đuôi lóng lánh những hình mặt trời xanh, khoe mẽ với nàng công đang yểu điệu rón rén từng bước. Tiếng suối róc rách ngân nga đâu đây trong bài ca bất tận của núi rừng và tình yêu. Từng chùm hoa xoài trắng đung đưa trong nắng…Dam San ngửa mặt gọi thần mặt trời :

– Ông ơi, thả cho cháu cái thang.

Chiếc thang vàng óng kéo lên. Ông Gỗn cười ha hả hỏi Dam San :

– Hai vợ cháu đang đi đón đó, sao chưa về đi. Từ nay đừng làm con mang, con hoẵng lang thang trong rừng nữa nghe. Phải làm cây cột cái trong nhà chớ.

– Nhưng cháu thương H’ Bia Điết Klứt ông à. Nàng cũng ưng cưới cháu nữa. Chúng cháu muốn ăn cơm một mâm, ngủ chung một chiếu, hút cùng một ống điếu. Sao bắt cháu nối dây với H’ Nhi, H’Bhí? Cháu đâu có ưng hai nàng đó.

– Sợi dây ràng buộc dòng họ Niê với Mlô đã có từ ngàn xưa ông bà rồi.Bà H’Klu chết, họ Mlô phải đem H’ Nhí cho ông Y Kla. Bây giờ đến lượt cháu phải thay ông nội làm chồng H’Nhi, H’bhí. Niê với Mlô kết đôi, của cải mãi mãi sinh sôi, buôn làng đời đời no ấm. Dam San ưng làm tù trưởng hay làm tôi tớ giữ bò, giữ ngựa cho H’ Nhí?

– Có đúng cháu lấy hai nàng đó sẽ thành tù trưởng hùng mạnh, giàu có nhất vùng không?

– Ông Gỗn sao nói sai lời với cháu ?

Hai người mở bừng mắt. Họ vẫn ngồi bên nhau mà thiếp đi, mỗi người một giấc mơ. Chiếc cần rượu bị bỏ quên không ai uống, chảy tong tong xuống sàn, loang ướt cả vạt gỗ.

Dam San quấn mái tóc thơm của H’ Bia quanh cổ như tấm khăn.Hai tay chàng nâng khuôn mặt người yêu. H’ Bia nhắm mắt, dòng lệ trong veo lăn trên đôi má mịn màng. Dam San ghé môi nhấp cạn giọt lệ của người thương. Mắt chàng không rời khuôn mặt nàng, cố khắc ghi những nét yêu thương mai này không còn được ngó thấy…Này hàng mi dài, H’ Bia ưng ghé sát má chàng rồi chơm chớp, thích thú thấy chàng bị nhột.Cặp môi xinh, hàng răng trắng đều như bắp nếp, không còn được gửi cho chàng những nụ cười hoa nở nữa.Khắp bao bến nước, không có cô gái nào có suối tóc dài thơm ngát như H’Bia. Hương tóc ngọt ngào này chàng sẽ không bao giờ được úp mặt vào hít thở. Không còn nữa lời đinh năm buổi sáng, câu hát với đàn goong những đêm trăng xanh.Im lặng úp mặt trong tóc, họ ôm riết lấy nhau, bện trong nhau như con trăn quấn mồi, như đôi sam bơi trong biển. Nhà sàn rung rinh, bay, bay, bồng bềnh trôi trong gió, mỗi lúc mỗi dào dạt. Đóa hoa mây khổng lồ trắng muốt, sà xuống phủ kín căn nhà, bao bọc, ấp ủ, chở che. Đất trời, rừng suối, chòng chành trên con thuyền căng buồm lướt sóng…

Dam San cuốn lại tóc cho H’ Bia, thủ thỉ :

– Lúc nào nghe chiêng trống thì đến nhà anh nhé.

Đôi tay họ xoắn lại, níu lấy nhau không muốn rời ra. Dam San đi lui tới tận đầu thang nhà sàn. H’ Bia thổn thức tựa cửa nhìn ngựa của chàng mỗi lúc mỗi xa. Có gì sáng lên trong đầu, nàng quay lại thét gọi tôi tớ :

– Các con ! Chuẩn bị lễ vật ! Lấy váy áo đẹp cho ta. Đóng bành voi, đi tới nhà Dam San ngay.
voi_tay_nguyen
Nàng ướm lên người chiếc váy đen lánh như cánh bướm đêm. Thấy chưa ưng lại thử tấm váy vàng rực như tia nắng mặt trời. Cuối cùng nàng lựa chiếc váy sáng nhóng nhánh như ánh trăng xanh, mặc với chiếc áo ngắn thêu hoa và chim rực rỡ. Từ hai bông hoa đỏ trên vai, thả xuống những sợi chỉ bím dài, khiến mỗi bước nàng đi thêm mềm mại. Một góc vạt váy buông lơi bên hông, càng tăng cho nàng vẻ duyên dáng. Tôi tớ đã kịp chuẩn bị xong lễ vật, voi đã đóng bành phủ tấm mền thổ cẩm đỏ đen rực rỡ, ghé lại bên sàn. H’ Bia ra lệnh nài thẳng hướng nhà Dam San giục bước chân voi.

Con đường trôi giữa hai bờ cỏ lau khô lút đầu. Mỗi lần làn gió xào xạc chạy qua, cỏ lau dịu dàng nhường nhịn nằm rạp xuống, rồi lại kiêu hãnh ngóc dậy. H’ Bia quyết đến giành lại người yêu trong tay H’Nhi và H’Bhí, cho dù có phải chống lại luật tục muôn đời.

Dam San bước lên cầu thang nhà sàn phía sau, kịp nghe tiếng Y Đ’hinh, anh của H’ Nhí lớn giọng :

– Anh Dam San đâu. Tôi muốn hỏi một lời thôi : gia đình ta có còn nhớ luật lệ ông bà, có nhớ lời dặn của ông nội Y Kla không?

Chàng chậm rãi bước tới, khoanh chân ngồi trên chiếc đệm tù trưởng phủ vải thổ cẩm ngay giữa nhà, xếp lại mép khố cho ngay ngắn. Đôi tay đặt trên đùi, đầu ngước cao. Đuôi chiếc khăn buộc đầu cũng ngẩng lên thách thức. Mọi người chợt im bặt. Chưa ai kịp nói lời nào thì một đàn voi xịch tới bên sàn. H’ Nhi, H’Bhí yểu điệu bước xuống dưới bàn tay dìu đỡ của anh Y Linh. Chị H’Âng tíu tít chạy ra đón khách. Chưa kịp mở lời mời ngồi, lại một đàn voi khác rầm rập quỳ gối ghé hiên nhà, H’ Bia mạnh mẽ bước xuống, khoanh tay đứng chờ nơi đầu sàn. H’LÍ lật đật thay chị chạy ra ríu rít mời mọc :

– Mừng chị H’ Bia tới chơi. Nhà chúng tôi bữa nay được đón toàn khách giàu khách quý. Các chị có tới nhầm nhà không đấy ?

– Không nhầm đâu ! Tôi tới hỏi anh Dam San về làm chồng đây. Các con ! Bưng đồ lễ lên.

Tiếng H’ bia lanh lảnh. Mọi người chưa kịp ngồi ấm chỗ đã nhấp nhổm đứng dậy. Đam San lặng người đăm đắm nhìn H’ Bia.Nàng đã công khai gây chiến rồi. Bụng chàng bên thương bên lo. Thương nàng dám một mình đương đầu với dòng họ Mlô danh giá, đưa ngay lễ cưới xin đón chàng, chứ không phải lễ hỏi. Nửa lo H’ Bia làm sao bẻ gãy được luật tục và miệng lưỡi của cả cộng đồng.

Đoàn tôi tớ nhà H’ Bia đứng chật đầu sàn. Nàng thủng thẳng bước đi trước mắt mọi người. Vẻ đẹp rực rỡ và ánh mắt cương quyết của H’ Bia khiến những kẻ rắp tâm muốn làm trò xấu cũng phải rẽ qua, kính nể nhường bước. Nàng ý tứ đứng lui sang phần đing ok dành cho phái nữ, khẽ gật đầu. Tên nô lệ đi đầu quỳ xuống dâng lên cho chị H’ Âng chiếc mâm đồng đựng đủ bảy món lễ vật : tấm mền, chiếc áo, khố, túi đeo, bát đồng và hai chiếc vòng. Sáu nô lệ tiếp theo đặt xuống ba chiếc ché tuk cao ngang ngực người rồi cúi đầu lui ra. Hai người khác khiêng một bộ ching Lao đặt xuống. Chắc chắn trâu bò heo còn đứng chật cả ngoài sân.

Y Đ’Hinh nãy giờ ngồi trầm ngâm, bỗng thẳng lưng lên, nghiêm giọng hỏi H’ Bia :

– H’ Bia Điết Klứt ! Con gái tù trưởng sao không theo đúng lệ của ông bà? Đi hỏi chồng sao không có cậu dăm dei, lại chưa nộp lễ hỏi đã trao lễ vật xin cưới?

– Ta không cần dăm dei. Nữ tù trưởng được quyền tự ý bắt chồng. Nhà ta bên đó với chị em Dam San bên này đều đã biết hai ta ưng nhau đằng mặt, thương nhau đằng lòng. Đó là xong lễ hỏi, nay ta xin rước chàng là đúng chớ. Y Đ’hinh không bẻ được lý phải của ta như bẻ trái bắp đâu.

Y Đ’hinh gập gãy cành củi đang cầm trên tay kêu cái rắc, cao giọng hơn :

– H’ Bia có biết Dam San được nối dây cho H’Nhi, H’Bhí từ mười lăm mùa rẫy trước rồi không?

– Ta biết! Nhưng luật tục đâu có ép nếu chàng không ưng. Dam San thương cái đẹp của ta, mến cái tình của ta. Luật tục có cấm Ê Ban với Niê Kdăm kết đôi không?

Y Đ’hinh vươn thẳng người lên dõng dạc :

– Không nói nhiều ! Tôi chỉ hỏi chị H’ Âng và anh Dam San : dòng họ Niê Kdam có còn giữ lề lối luật tục Radeh không? Có chịu kết đôi cùng em gái chúng tôi theo như lời ông nội Y Kla đã dặn không?

Trời đất bỗng dưng tối sầm, ngả nghiêng, sấm sét ầm ầm nổi lên từ bốn phía. Gió cuốn đất đá, cỏ cây bay mù mịt. Voi ngựa, trâu bò, heo ngoài sân gầm rống. Lũ con nít thét lên túm lấy váy mẹ. Tiếng ông Y Kla oang oang át cả tiếng sấm rền :

– Nếu Dam San và H’ Nhí, H’Bhí lấy nhau, họ sẽ thành tù trưởng hùng mạnh, giàu có nhất vùng. Ai làm ngược lại sẽ phải chịu thành nô lệ giữ trâu bò, giữ ngựa cho người kia. Ô hô…ô hô…
taynguyen3
Yang sét thu búa về. Yang gió đẩy mây bay đi, trời lại xanh bao la, yên tĩnh. H’ Âng nhìn Dam San. H’Nhi, H’Bhí nhìn Dam San. Mọi người cùng nhìn Dam San. Như không có H’ Nhi, H’Bhí, như không còn có ai tồn tại, chỉ có ánh mắt Dam San và H’ Bia lặn trong nhau, gài vô nhau đau đớn. Đôi tay khỏe mạnh của Dam San nhắc lên như muốn đưa ra níu lấy, nhưng rồi lại nặng nề rơi xuống đùi. Thân hình xinh đẹp của H’ Bia thẳng căng đổ về phía trước như muốn lao tới với Dam San. Nhưng nàng vẫn bất động. Dường như sức nặng của luật tục ngàn đời đang đè lên hàng trăm con người trong căn nhà sàn dài mênh mông này.

H’ Ấng khe khẽ nén tiếng thở dài vô trong lồng ngực, từ từ đứng thẳng người dậy :

– Con cháu dòng họ Niê chưa bao giờ làm trái lời luật lệ ông bà. Chúng tôi thuận cho Dam San về làm chồng H’ Nhi, H’Bhí.

Tắt, tắt, tắt…chiêng mừng vang lên mỗi lúc một dồn dập. Char (***) ơi! Đem nỗi đau này của Dam San tới tận vực Srêpôk sâu thẳm, cho cả bày cá sấu ở dưới đáy sông Krông Nô kia thôi hững hờ, nổi lên đây cùng chia xẻ. Liang (***) ơi, hãy đem tình yêu của H’ Bia rải khắp chín tầng trời, bảy tầng đất. Cho những con chim có đôi, con người có bạn, cả những nàng tiên thanh thản suốt đời trên bầu trời bao la kia, cảm nỗi đớn đau của tình yêu bị cắt rời….

H’Nhi, H’Bhi và Dam San đã ngồi trên những chiếc bành có lọng che, bầy voi đã hươ vòi từ biệt và cất bước. Ngựa của anh em Y Đ’Hinh, Y Linh đã phóng nhanh như bay đi trước báo tin. Dam San ngoái lại nhìn H’Bia đơn độc đứng chênh vênh nơi mép sàn, dõi theo bước chân voi. Chàng càng đi xa, hình dáng nàng càng lớn lên , cao lên, tạc sâu vào nền trời xanh như ngọc. Rồi tất cả nhòa đi, chỉ còn một thân cây cao lớn sừng sững vươn những cánh tay dài lên bầu trời thăm thẳm cao, xa vời vợi. Những người đàn bà gọi đó là cây blang. Cây blang có hoa đỏ mùa hè, kết thành bông trắng mùa đông. Cánh đỏ như máu của hoa chính là từng mảnh trái tim đầy yêu thương đã tan nát của nàng H’ Bia. Gió đông tách những chùm bông trắng xóa, mang theo tình yêu của H’ bia theo Dam San tới tận cuối đất cùng trời. Các cô gái Radeh nhặt bông ấy xe chỉ, nhuộm nước lá rừng, dệt những tấm chăn, đắp ấm mọi lứa đôi yêu nhau.
_______________

(*) H’Bia Điết Klứt : là một nữ tù trưởng , người yêu của Dam San, mà theo luật tục, chàng buộc phải bỏ để cưới hai nàng H’Nhi & H’Bhí ( Theo sử thi Dam San)
(**) Dân ca Êđê
(***) tên các chiêng trong dàn

Linh Nga

Tượng Nhà Mồ

CENTRAL HIGHLANDS TOMBHOUSE STATUES: UNIQUE SCULPTURES

Tượng nhà mồ là loại hình nghệ thuật điêu khắc độc đáo, một nét đặc sắc trong văn hoá cổ truyền Tây Nguyên. Các tác phẩm thuộc loại hình này được ra đời ở thời điểm lễ bỏ mả với mục đích phục vụ người chết (người Tây Nguyên gọi là hồn ma).
-Nhà_mồ_Tây_Nguyên

Tombhouse statue is a unique kind of sculpture and a distinctive trait in the traditional Central Highlands cultures. These artworks are produced at the time of the Grave-abandoning Feast, to serve the dead (which Central Highlanders call “spirits”.

Lễ bỏ mả là một lễ hội gắn liền với hầu hết các tộc người thiểu số có cuộc sống du canh, du cư trên địa bàn Tây Nguyên. Họ quan niệm rằng, chỉ khi nào lễ bỏ mả được tổ chức xong thì hồn ma mới thực sự trở về với tổ tiên, ông bà, để bắt đầu một “cuộc sống” mới ở thế giới bên kia. Kể từ đó, mối quan hệ giữa kẻ sống với người chết mới không còn. Mang ý nghĩa thiêng liêng như thế, nên lễ bỏ mả là một lễ lớn hàng năm, thu hút đông đảo người tham gia, thường diễn ra vào mùa xuân tại nghĩa địa các buôn làng.

Grave-abandoning Feast is deeply attached to most nomadic ethnic minorities living in the Central Highlands. They think that, only when the Grave-abandoning Feast has been conducted would the spirits really return to their ancestors, to start a new “life” in the other world. From that point on, the relationship between the dead and hís/her survivors no longer exists. Because of its sacred meaning, Grave-abandoning Feast is one of the big annual feasts, attracting large numbers of participants. It usually takes place at the villages’ cemeteries in springtime.
nhamo1

Để chuẩn bị tổ chức lễ, ngoài việc sửa sang nhà mồ, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, rượu cần…, người ta không quên làm tượng để đặt ở nhà mồ. Ở những ngôi nhà mồ to đẹp, tượng được làm bằng những loại gỗ quý có thể chịu được mưa nắng qua nhiều năm ở ngoài trời. Những cây gỗ này phải trên 10 năm tuổi (dài khoảng 2 sải tay, đường kính xấp xỉ 30cm) mới đủ tiêu chuẩn để làm tượng. Trước khi đẽo tượng, người ta phải cúng Thần Nhà Rông, Thần Bến Nước để xin phép.

Apart from repairing the tomb houses, and preparing cereals, food-stuffs and jar wines…, people also make statues to lay around the tomb houses for the grave-abandoning celebration. At big, beautiful tomb houses, the statues are made of different kinds of rare wood that can withstand the elements years after years. A tree has to be at least 10 years old (with circumsference of about 2 arm legnths and the diameter of about 30 cm) to meet the standards for statue making. Before starting to sculpt, local people must submit offerings to the god of Roong House and the god of Watering Place to get their permission.

Nhamo2
Tượng nhà mồ thể hiện chủ yếu bằng các mảng, khối, chứ không quá đi sâu vào chi tiết. Tư thế, thần thái của tượng thì muôn hình muôn vẻ. Người bế con, người lấy nước, người mang gùi, người ngồi khóc, người đánh trống đánh chiêng, người chia phần cơm lam, người phụ nữ khoả thân… Đó chính là sự tái hiện cuộc sống thật một cách sinh động, phong phú. Các bức tượng còn trở nên ấn tượng hơn khi được tô điểm màu sắc xanh, đỏ, vàng, đen, trắng… Các nét hoa văn trên trang phục tượng cũng được phối màu rất linh hoạt.

Tombhouse statues are expressed mainly in generalities and masses, not focused on details. They may have many different forms and appearances, such as a mom holding her baby, a water fetcher, a person carrying a backbag, a drummer, a gong player, a person delivering bamboo rice, the naked woman… These statues describe life in a rich and vivid way. The statues become more striking when painted with different colors–green, red, yellow, black, white… The clothing patterns on the staues are lively mixed in colors as well.

Tượng nhà mồ đa dạng cả về kích cỡ, người ta thường dùng đơn vị đo là sải tay để ước lượng. Mỗi tượng trung bình được tính bằng một sải rưỡi, trong đó có nửa sải chôn xuống đất, một sải nhô lên là thân tượng. Tất cả tượng đều được chôn bao quanh khu nhà mồ.

Tombhouse statues are diversified in size, and local people use the arm length as the measurement unit. Each statue is measured by one and a half arm lengths, of which a half arm length is buried and the remainder of the statue’s body is jutted out above the ground. All the statues are planted around the tomb house. nhamo3

Tượng nhà mồ Tây Nguyên, qua bàn tay sáng tạo của các nghệ nhân, chứa đựng những thông tin mang tính xã hội, cộng đồng sâu sắc. Chúng vừa là những tác phẩm nghệ thuật, vừa mang ý nghĩa tâm linh nhưng không hề tạo ra cảm giác cách biệt mà trái lại, rất thân quen, gần gũi với mọi người. Hầu như ở bất cứ buôn làng Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Xơ Đăng… nào, chúng ta cũng có thể bắt gặp những quần thể tượng nhà mồ. Vẻ quạnh hiu, u tịch của những bức tượng đã dần dần bớt đi vì du khách bốn phương ngày càng lui tới nhiều hơn để chiêm ngưỡng…

Central Highlands tombhouse statues, through the artisans’ hands, carry a lot of profound social and communal information. They are both artistic works and spiritual symbols, without generating any feelings of separation; on the contrary, they are so familiar and close to everyone. In almost all the villages of Jarai, Bana, Ede or Xedang…, we can encounter a complex of tombhouse statues. The statues’ solitary and silent looks have been disappearing little by little, because tourists from everywhere have been visiting them more and more to show admiration.

(Nguồn:Tiếng Việt: Báo Bình Thuận)
Dịch sang Tiếng Anh: Jun Quan

Kho báu quốc gia: Nụ cười Việt Nam

NATIONAL TREASURE

I once worked as an assistant for an American expert in the field of public health. She went across many countries in Africa and America for her work. One afternoon, while translating something in her house, I looked up and gazed at the room flooded with lovely souvenirs from many different countries. Thai puppets in sophisticated clothes, Chinese drama masks in grief, African dolls with open-wide eyes in a daze… Her house was so small but I could pointlessly travel from one country to another country.
chú tễu
Curiously, I asked what she would buy if leaving Vietnam after this mission. She made tea for me, with no many thoughts, saying: “ A Mr Teu ( Chú Tễu in Vietnamese ), girl!”. When I questioned why, she answered in a simple way: “After 5 years in Vietnam, I feel the Vietnamese nature in smiles. They are optimistic, humorous and friendly. Just only smile can represent those three features and Mr Teu always smiles”.

Thailand is named the leading tourist country in the world. But as asked for the Thais’ secret, they modestly regard themselves as “the Nation of Smile”. And they’re right because it’s the smile that beckons travelers to Thailand and pulls them back to this country.
VNcuoi
Vietnam also offered my American expert a smile, a humorous one of Mr Teu and, because of that smile, she wanted to return to Vietnam. On your face and in your heart lies one “national treasure”, a gift that our motherland gives each Vietnamese; although we sometimes forget it. That gift is the Smile of Vietnam!

Translated into English: Jun Q

.

KHO BÁU QUỐC GIA

Tôi đã từng làm trợ lý cho một chuyên gia người Mỹ về lĩnh vực y tế cộng đồng. Chị đã từng đi qua rất nhiều các quốc gia châu Phi, châu Mỹ để làm việc. Có một chiều ngồi dịch bài trong nhà chị, tôi ngẩng lên ngắm nhìn căn phòng ngập tràn những món đồ xinh xắn đến từ các quốc gia khác nhau. Những con rối Thái Lan với bộ trang phục tinh xảo, mặt nạ kịch Trung Hoa rầu rĩ, những con búp bê châu Phi mở đôi mắt to ngơ ngác… Ngôi nhà của chị nhỏ xíu nhưng tôi như được tha thẩn du lịch từ nước này sang nước khác.
chú tễu 2
Tò mò, tôi hỏi chị rằng chị mua gì nếu rời Việt Nam sau đợt công tác này. Chị vừa pha trà cho tôi, không suy nghĩ gì nhiều, và nói ngay: “Một chú Tễu, bé ạ!” Tôi hỏi vì sao, chị trả lời tôi đơn giản: :Sau 5 năm ở đây chị thấy người Việt trong những nụ cười. Họ lạc quan, hài hước và thân thiện. Chỉ có nụ cười mới thể hiện được cả ba tính cách đó và chú Tễu thì luôn mỉm cười”.

Người Thái được mệnh danh là quốc gia du lịch hàng đầu thế giới. Nhưng khi được hỏi về bí quyết, họ khiêm tốn nhận họ là đất nước của nụ cười. Và họ đã đúng, chính nụ cười là điều chào gọi khách du lịch đến Thái Lan và níu chân mọi người quay lại đất nước này.

Việt Nam cũng tặng chuyên gia người Mỹ của tôi một nụ cười, nụ cười hóm hỉnh của chú Tễu và chị ấy muốn trở lại Việt Nam cũng vì nucuoi thieununụ cười đó. Trên gương mặt và trong trái tim bạn đang chứa đựng một “kho báu quốc gia”, một món quà mà quê hương ban tặng cho mỗi người Việt Nam ta, dù có lúc chúng ta vô tình quên mất. Món quà đó là Nụ Cười Việt Nam!

Diên An

Báo Hoa Học Trò

Lễ Chrai, cúng xả xui của người Mnông Gar

Buôn Tuor Sra ( xã Nâm ka, Huyện Lăk, Đăk Lăk) là một vùng dân cư hỗn hợp, do những cuộc hôn nhân giữa nhóm tộc người Mnông Gar và người Êđê- Bih thuộc vùng Krông Nô mà hình thành.Địa bàn cư trú cũng nằm giữa trục giao lưu thông thương giữa huyện Lăk ( tỉnh Đăk Lăk ) và huyện Krông Nô( nay thuộc tỉnh Đăk Nông). Chính vì điều này mà cư dân trong buôn ứng xử theo phong tục tập quán của cả hai dân tộc Êđê và Mnông.
Ede
Đã cuối năm, mưa dứt hẳn. Dáng núi Nâm Ka in rõ nét trên bầu trời xanh ngăn ngắt.Màu đỏ ngầu của phù sa trên dòng Krông Knô nhạt dần. Dòng nước cũng không còn hung hãn cuồn cuộn đe doạ nữa, mà từ từ trở lại trong xanh, hiền hoà hẳn. Cà phê, lúa, bắp, đậu…đều đã ngoan ngoãn nằm im trong các chòi kho của mọi nóc nhà trong những buôn quanh chân núi Nâm ka. Dường như chúng cũng bằng lòng rủ nhau cùng nghỉ ngơi, sau những tháng ngày vật vã trên cành, ngoài đồng, giữa rẫy, chống chọi cùng mưa ,nắng và gió đại ngàn, để chín dần mà đem no đủ đến cho con người .

Nhà nhà trong buôn Tuôr Sra đều đã làm xong lễ đóng cửa kho lúa hoặc lễ ăn cơm gạo mới.

Ama Ben người Êđê Bih, vợ anh là người Mnông Gar. Đã học xong Trung học sư phạm ở tận ngoài thành phố Buôn Ma Thuột, lại ở riêng, nên Ama Ben không mấy chịu sức ép vì những tập quán và tín ngưỡng truyền thống của gia đình. Nhưng lần này thì anh phải nghe lời cha.

Về làm giáo viên trường tiểu học của xã đã được hai năm, công đoàn trường vừa ưu tiên cho anh được vay tiền của ngân hàng để mua chiếc xe máy đi dạy, đi họp cho thuận lợi ( Buôn Tuor Sra nằm ngay trung tâm xã, nhưng lại ở bên này con sông Krông Knô, nên việc đi lại khá khó khăn). Hai năm qua, cả gia đình anh trúng mùa lúa nước hai vụ. Đã không phải lo cái ăn giáp hạt, lại nhờ giá cà phê tăng, bán cũng được kha khá, có chút tiền để dành. Vợ chồng đã ra ở riêng, nên nhà Y Hung sắm được chiếc Tivi từ lâu, nay lại vừa mua thêm một bộ salon tiếp khách cho đàng hoàng. Với người ở vùng sâu, vùng xa cách trở như Tuor Sra và mấy Uôn quanh đây, thế này là nhà thày giáo “ hên” lắm. Chính vì vậy mà cha anh khuyên phải tổ chức một lễ tạ ơn các vị thần linh đã đem may mắn tới và xua đuổi cho gia đình những điều xui xẻo.

Từ mấy hôm trước , cả hai bên gia đình nội ngoại đều đã tất bật với công việc chuẩn bị cho lễ Chraih, nhất là làm rượu cần và kiếm các con thịt . Già làng Ama Huê của buôn Tuôr Sra, già làng Ama Biêng của buôn Boch…cùng mấy già làng cao tuổi khác, đã được mời đến bàn bạc. Khó ở chỗ là hai gia đình – hai tộc người khác nhau. Họ đã cùng chung sống như thế nhiều năm, không hề có chuyện phân biệt người Mnông, hay người Êđê. Gia đình nào muốn làm theo lệ tục nào thì làm. Thế nhưng lần này là nhà thày giáo, vừa cúng tạ ơn lại còn cúng xả xui nữa… làm sao cho đúng phong tục đây?

Hết mấy đêm gật gù bên vài ba ghè rượu cần, cuối cùng các già làng và cha cũng cho gọi vợ chồng Ama Ben tới, để nói cho rõ. Lễ Chraih này là mừng cho hai người thuận hoà, nên việc làm ăn mới phát triển, mua sắm được vật dụng đắt tiền cho gia đình. Do đó sẽ phải làm theo phong tục cả hai bên. Ở trong nhà, thày cúng – MJâo – sẽ làm lễ tạ ơn theo tập tục và cúng bằng tiếng Êđê. Còn thày bói – Jưr – sẽ làm lễ xin xả xui ngoài bờ sông, theo tập tục và cúng bằng tiếng Mnông. Do vậy mà lễ vật hiến sinh ngoài các con vật heo, gà, sẽ còn có cả con chó để làm vật xả xui. Làm sao phải đủ gạo thịt và rượu để lo cho ba phần : Cúng các Yang, đãi đằng bà con ăn tại chỗ và xẻ chia cho họ mang về nữa.
Êđê1
Các già làng đã cùng thoả thuận xong. Cả buôn và hai dòng họ xúm vào giúp lo cho vợ chồng Ama Ben. Ai đi mời khách gần khách xa thì đi. Ai vô rừng kiếm rau thì kiếm. Ghè rượu nhà nào mang tới góp cũng được buộc quanh Gơng giữa nhà. Ai có gì góp nấy : con gà, nắm gạo, gùi củi, lẫn mớ rau môn thục, trái đu đủ… Tiếng gà quang quác, heo eng éc lẫn trong tiếng chó sủa ăng ẳng đầy sân, khiến lũ heo, gà, chó trong buôn cũng nháo nhác gào nhặng xị cả lên.

Sương vừa tan trên mặt sông Krông Nô, cả thày cúng và thày bói đều đã có mặt ở nhà gia chủ. Những vị trung niên được phân công làm những con thịt hiến sinh cũng đã hoàn tất công việc của mình. Rượu lấy dâng các thần linh đã được thày cúng hút ra từ những chiếc ghè lớn nhất. Rượu huyết heo đựng trong bát đồng, Mjâo nhận lấy . Rượu huyết chó đựng trong vỏ bầu khô đã lên nước đen bóng, được giao cho Jưr.

Trong phòng, thày cúng Mjâo ôm một con gà trống sống ngồi trước mặt hai vợ chồng Ama Ben, trước mặt họ là chén rượu huyết, chén nước uống và những đĩa thịt heo bóp huyết đỏ hồng, chiếc đầu heo, con gà luộc vàng ươm, chén cơm trắng muốt, thuốc, trầu cau…đủ mỗi thứ một ít. “Ơ yang Atâo ! Yang Hruê, Yang Cư, Yang êlăn…Wit kơ buôn, wit kơ sang… Cơm thịt này Yang ăn, rượu này Yang uống…”. bằng tiếng Êđê, Mjâo bắt đầu gọi mời, kể lể. Nào là cảm tạ các Yang đã thương mà cho vợ chồng Ama Ben không chỉ cái chữ về dạy dỗ con cháu trong buôn, mà còn lúa , bắp đầy kho, cà phê bao đầy bao chất chồng… nhờ các Yang mà họ có tivi thấy được việc khắp mọi nơi, có xe máy đi về nhanh hơn con cáo chạy qua rừng; nay lại mới có thêm bộ bàn ghế đẹp nhất làng…Bơi hơi, Yang….! Ông nhúng miếng bông gòn vào chén rượu huyết, bôi lên chân Ama Ben ba lần. Nâng con gà lên quay ba vòng, lại lầm râm khấn vái trong tiếng chiêng sầm sập, sầm sập ở nhà ngoài. MJâo đứng dậy mang chén rượu huyết đi bôi lên thành bếp, cột nhà, cột kho lúa, lên cả những bao cà phê chồng chất nơi góc nhà. Vợ chồng Ama Ben nhón tay lấy một miếng cơm, mỗi thứ thức ăn một miếng. Vậy là xong nghi lễ , các Yang linh thiêng đã nhận tạ ơn, đã ban phước cho mùa sau cũng yên ổn làm ăn. Gia chủ cũng đã nhận phước lành của các Yang. Con gà trống là phần của Mjâo được mang về nhà.

Thày bói Jưr bây giờ mới bắt đầu phận sự của mình. Ôm bầu rượu huyết chó, ông dẫn Ama Ben và vài người nhà, mang theo trong chiếc gùi 1 tô thịt, một bát cơm, một chai rượu , 4 chiếc chân và đầu chó. Trong gùi còn có một nắm muối gói trong lá, một bộ quần áo cũ của chủ nhà, một gói hạt ngải, một chiếc cung và tên. Ra đến bờ sông, mấy người nhanh chóng dùng tre nứa dựng một chiếc bàn nhỏ để Jưr bày các thứ đồ cũng mang theo. Tất cả ngồi xổm quanh dàn cúng. Giọng khàn khàn của Jưr vang vang trên bờ sông vắng lặng, hoà lẫn trong tiếng u u của gió đại ngàn quật vào những đám cây cối xung quanh, nghe thật hoang dại và thần bí. Những con sóng vỗ bờ cát oàm oạp như có ma lực nào xô đẩy. “Ơ hồn mẹ hồn cha, hồn đất, hồn sông Krông Nô, núi Nâm Ka…Đây là cơm Ama Ben, lúa trên rẫy Ama Bu. Hãy nhận lấy mà xua đuổi cho họ mọi xui xẻo . Ơ Yang !”….Ông bắn mũi tên xuống sông, rảy muối về bốn hướng, rồi đập cho bẹp chiếc gùi. Sau đó đeo gói hạt ngải vào người Ama Ben, dùng rượu huyết chó bôi lên quần áo anh rồi bảo xuống sông tắm gội , rửa sạch những xui xẻo trong năm.

Ama Ben ở dưới sông lên, Jưr rẩy nốt chỗ muối còn lại, bôi hết rượu huyết chó lên người chủ nhà và khấn vái lần nữa. Bưng theo chiếc đầu chó và bầu rượu huyết, Ama Ben lội ra giữa dòng, thả trôi sông những thứ mang theo, kể cả quần áo đang mặc trên người (chỉ còn lại chiếc quần đùi), rồi lên bờ. (Xa xưa, các gia đình giàu có cúng xả xui bằng trâu, dê…hay bất cứ loài bốn chân nào, cũng đều phải đem đầu của con vật hiến sinh thả trôi sông sau khi cúng như thế).

Jưr và những người giúp lễ cùng đi ngồi tại chỗ ăn uống hết số rượu thịt còn lại, rồi mang những thứ gì còn để bên cạnh dàn cúng (gùi, chén đựng đồ ăn…) vứt hết xuống sông. Họ cùng nhau ra về. Nghi lễ xả xui vậy là xong. Các Yang đã nhận lễ, đã nhận lời không mang xui xẻo đến trong năm tới cho vợ chồng nhà Ama Ben.

Tiếng chiêng lan lan trong khắp buôn, mừng cho vợ chồng thày giáo năm tới cũng sẽ gặp nhiều may mắn. Rượu chảy rong róc trong cần, mùi con thịt nướng thơm tràn cả trong gió. Vui quá, vui quá! Không sót một ai trong buôn không đến chia xẻ cùng gia đình Ama Ben.

Linh Nga

Thung Lũng Axan: Sắc Màu Vùng Biên

AXAN1Đoạn đường từ trung tâm huyện Tây Giang, giữa tỉnh Quảng Nam đến xã Axan mất khoảng 50 km đi xe ô tô, qua một khung cảnh đẹp như tranh hòa quyện cùng núi rừng. Những cánh đồng lúa xanh ngát thanh bình, nằm sát bên những đỉnh núi nép mình dưới nắng mai, đem đến sự thảnh thơi sau những bức bách của cuộc sống.

Đặc điểm văn hóa của đồng bào dân tộc K’tu chính là nét đặc sắc nhất của xã Axan. Những ngôi nhà Guol truyền thống trong bản giờ trở thành nơi tụ họp cho các hoạt động cộng đồng. Người đồng bào K’tu có lối hát đối đáp độc đáo – hát lý – một loại hình nghệ thuật thi thố của những người cao tuổi. Bản làng cũng thu hút du khách bởi những lễ hội đặc sắc, gồm cả Lễ Cúng Được Mùa và Lễ Hội Đâm Trâu, và những món ăn đủ loại như là cơm lam (gạo nếp trộn với nước dừa được nấu trong ống tre), cơm nắm và thịt nướng trong ống tre.
AXAN2
Cuộc sống dân bản K’tu êm đềm và yên bình. Khi ngày mới lên, thung lũng ngập chìm trong làn sương khói. Nằm ở độ cao 1260 m, nên tiết trời mát lạnh như Sapa và Đà Lạt. Tảng sáng, dân bản náo nức ra đồng và dắt trâu bò ăn cỏ. Phong cảnh tĩnh lặng lúc chiều tàn mang đến cho du khách những cảm giác thư thái tuyệt vời.

Quan Jun dịch

COLORS AT A FRONTIER
by AXAN VALLEY; Saigontimes

The 50-kilometer drive from the center of Tay Giang district in the central province of Quang Nam to Axan commune is through a picturesque landscape in harmony with forests. The quiet green paddy fields, framed in the sunlight by the mountain peaks, provide relief from life’s pressures.

AXAN3

The cultural features of the K’tu ethnic group are the highlights of the Axan commune. The traditional Guol gouses in the villages are now venues for community activities. The K’tu people have a unique style of extempore singing, an art of competition between senior villagers. The commune also attracts tourists with its distinctive traditional festivals, including the celebration of Bumper Crops and Buffalo Stabbing Festival, and diversified gastronomy such as bamboo rice (sticky rice mixed with coconut cooked in bamboo pipe), steamed rice roll and meat grilled in bamboo rice.
AXAN6
The village life of the K’tu people is cozy and peaceful. As day begins the valley is shrouded in patches of fogs. At 1260 m, the weather is as cool as it is Sapa and Dalat. When the sun rises, the villagers flock to fields or takes their herds of cattle to the grass fields. The calm scenery in sunset offers travelers pleasant dreams.