Anh đi ngày “Cá tháng tư”
Có ai nói dối tạ từ người thân?
Cuộc đời thật – dối – giả – chân
Cung đàn ngân lắng muôn phần tin yêu
Hoa thơm sớm nở tàn chiều
Nhân gian day dứt bao điều trở trăn
Muôn đời ấy Quả lòng Nhân
Hạt bụi nào lẫn muôn phần cỏ cây
Đường tên Anh tận trời Tây
Mấy ai đến được cõi này nhân gian
Dẫu rồi vàng đá nát tan
Thì muôn năm có lẫn vàng với thau ?
Ngày nói dối, xót xa đau
Nén hương lòng sáng một mầu tri ân
Trời cao xanh có thấu chăng
Nắng cuộc đời vẫn thắm hồng tin yêu
Đi ra thế giới bên ngoài: điều đó bao giờ cũng có sức hấp dẫn đầy mê hoặc với mình thời trẻ, và ngay cả bây giờ khi đã sắp cầm trong tay cái sổ lương hưu. Mình luôn tâm niệm lời dạy của Đạt Lai Lạt Ma, về một trong những bí quyết sống hạnh phúc “ Mỗi năm một lần đi tới một nơi nào đó mà mình chưa từng đến”, nhưng vì hoàn cảnh gia đình và công việc dạy học nên ít khi thực hiện được. Bấy lâu, mình tự an ủi rằng tuy chưa đến được nhiều nơi mới, chí ít mình đã có thể tìm về những yêu thương xưa: Sài Gòn, Nha Trang và Đà Lạt.
Những ngày tháng ba 2010 này dường như mình đi nhiều quá! Tạm gác lại những bận rộn của công việc và gia đình, đi theo tiếng gọi của những niềm yêu, của sự quyến rũ cho một cuộc viễn du. Giờ đây trong mình còn đọng lại vô vàn cảm xúc từ những chuyến đi.
Những cuộc ra đi, đến những nơi mới gặp gỡ, tạ từ – với thật nhiều cảm xúc và lưu luyến đã để lại một dấu ấn sâu nặng và tốt đẹp trong lòng. Mình đã có những trải nghiệm dễ chịu thích thú ở những nơi mới qua, thấy được rằng đất nước mình giàu đẹp và xao xuyến một tình yêu quê.
Này Tây Đô duyên dáng với đêm hóng gió ở bến Ninh Kiều ngắm người ta dạo mát. Mình đã cuốc bộ một chặng rất dài với đôi chân thường vội để bước chậm đến một quán bình dân, thưởng thức món bánh chạo tôm được giới thiệu là một trong những món đặc biệt của Cần Thơ. Ngon thực cũng vì đói nữa do đi bộ. Thực thú vị với cảnh sông nước chợ Nổi Cái Răng tấp nập buôn bán trên ghe của người nông dân Nam bộ. Khi ngồi xe dạo qua phố phường tráng lệ của Đà Nẵng, mình cảm nhận rõ ràng sự thay đổi rất tốt đẹp của thành phố (có ngôi trường đại học ở đó mình có nhiều kỉ niệm trong đời )- so với 22 năm trước. Rồi một ngày vui đón gió và nắng trên thuyền máy, ngao du 6 tiếng trên sông Thu Bồn, để thấy cảnh quê hương mình tuyệt đẹp, nhất là khi đồng hành có những anh – chị – em mến yêu.
Nhưng xin được các bạn dành sự chú ý cho một địa điểm tại Sài Gòn – một thành phố quen thuộc mình vẫn đi về mỗi năm vì những thâm tinh theo tiếng gọi của yêu thương : Nơi ấy là Hội quán Đời Rất Đẹp– một nơi mình mới đến lần đầu mà sao cảm thấy quen thuộc và thân thương quá! Cái tên Đời Rất Đẹp cứ như những nốt nhạc vui, êm dịu ngân nga trong lòng, giống như giai điệu của bản nhạc Beautiful That Way của nhạc sĩ Nicola Piovani do Noa hát trong phim Life Is Beautiful mình từng đưa link và giới thiệu với các bạn ở đây:
Chính vì những cảm xúc tuyệt vời của nhóm chúng mình trong đêm hôm đó, nên mình muốn gửi lời cám ơn đến Đàm Lan, người đã giới thiệu- kết nối cho cả nhóm đến với những người bạn ở hội quán DRD. Vâng Đời Rất Đẹp, một nơi gặp gỡ của những tình yêu lớn với cuộc đời, với con người, nơi hội tụ những nụ cười rộng mở sáng tươi, vượt lên thân phận của kiếp người, toạ lạc tại một địa điểm yên tĩnh khung cảnh thật đẹp ở số 91/ 6N đường Hoà Hưng, Phường 12 Quận 10., thành phố Hồ Chí Minh.
Có lẽ Đời Rất Đẹp chưa được nhiều người biết đến, bởi DRD mới được khai trương ngày 12/ 3/ 2010. Cả nhóm không thể đến vào đêm khai trương hội quán như ý muốn, nhưng đêm 23/ 3 / 2010 tại hội quán là một đêm rất đẹp, rất thơ và đầy nhạc của cả nhóm. Mọi người có mặt đã đồng cảm sâu sắc và ngập tràn hạnh phúc.
Các bạn và học trò thân đều biết mình vô cùng yêu thích nhạc Trịnh Cộng Sơn. Mình đã giới thiệu giọng ca Thuỷ Tiên với CD đầu tiên của người ca sĩ rất đặc biệt này cho các thân hữu. Sự ngưỡng mộ của mình với Thuỷ Tiên và Trịnh Công Sơn không chỉ dừng ở đó, mà từ thành phố núi xa xôi mình đã về tận Sài Gòn để được nghe Lệ Thu với Thuỷ Tiên và các ca sĩ khác vào một đêm Rơi Lệ Ru Người tôn vinh Trịnh Công Sơn. Hơn thế nữa, những nhân vật của Đời Rất Đẹp trong phim ảnh, và âm nhạc, trong hiện thực được ca ngợi ở những bài viết trên trang ĐCN, trong đó có sự khâm phục dành cho ca sĩ vượt lên số phận Thuỷ Tiên trong Hạt Giống Tâm Hồn – Quyền Lực Đích Thực
Đêm đó tại Đời Rất Đẹp, một bất ngờ thật thú vị khi cả nhóm được gặp ca sĩ Thuỷ Tiên, cùng với Chị Hoàng Yến, một nhân vật nổi tiếng trong và ngoài nước được mệnh danh: “ Người Mang Trái Tim Không Khuyết Tật “ của hơn 30 bài viết trên các báo và tạp chí gần đây. Thạc sĩ Võ thị Hoàng Yến là người sáng lập và điều hành chương trình Khuyết Tật và Phát Triển từ năm 2005, cũng là một giảng viên giảng dạy môn Hành Vi khoa Xã Hội Học ĐH Mở – Bán Công TP.HCM. Tháng 11 -2009, chị đã được trao giải Kazuo Itoga (Kazuo Itoga Memorial Prize), giải thưởng tôn vinh những cá nhân ở châu Á – Thái Bình Dương có những đóng góp nổi bật cho cuộc sống của người khuyết tật. Các bạn có thể đọc để hiểu thêm về DRD ( Đời Rất Đẹp) trên website http://www.drdvietnam.com
Và về chị Hoàng Yến trên rất nhiều link của các website và báo mạng khi bạn google tên Võ thị Hoàng Yến.
hay trên link này : http://drdvietnam.com/page/YenVo
.
Xin được trích dẫn ở đây một đoạn ngắn trong bài trả lời của Hoàng Yến cho VTV-Sức Sống Mới, (tác giả đã gửi cho nhóm của mình) để các bạn có khái niệm về DRD.
Hội quán DRD – Đời Rất Đẹp là ý tưởng của người sáng lập DRD- Chương trình Khuyết tật và Phát triển (Disability Resource and Development) và được sự đồng tình ủng hộ của tất cả các thành viên của DRD và bạn bè thân hữu. Đời Rất Đẹp nhằm tạo một sân chơi cho NKT, một nơi NKT có thể gặp gỡ, trao đổi, tham gia sinh hoạt với những người bạn không khuyết tật trên cơ sở bình đằng về cơ hội và cùng giúp nhau phát triển. Bao năm qua chúng ta vẫn kêu gọi NKT hòa nhập XH, khuyến khích và khích lệ các thành viên khác trong XH tạo điều kiện để NKT hòa nhập. Nhưng hòa nhập thế nào được khi mà môi trường sinh hoạt còn đầy rào cản, các nơi sinh hoạt vẫn không thể nào tiếp cận được, khi vẫn còn nhiều người nhìn NKT với ánh mặt tội nghiệp hay không thoải mái với cảm giác bị làm phiền khi NKT cần giúp đỡ.
Khi NKT đến hội quán họ sẽ cảm nhận được đây là “nơi của họ”, một nơi để họ cảm thấy rằng mình không hề đơn độc, một nơi họ có thể thể hiện khả năng/ tài năng của mình, một nơi họ có thể chia sẻ những khát khao về cuộc sống.Người không khuyết tật đến với hội quán để thấy rằng NKT không hề thiếu khả năng, không phải chỉ là gánh nặng cho gia đình hay xã hội mà họ vẫn có thể vui sống, làm việc, và cống hiến nếu họ có được cơ hội.
Khi đến với hội quán, tham gia các sinh hoạt, thật sự chia sẻ và thật sự lắng nghe – nghĩa là thật sự mở rộng trái tim để có thể đến được với nhau – ta sẽ cảm nhận được rằng Đời Rất Đẹp chứ không không phải “Đời sao mà chán quá!” như ta vẫn thường nghĩ khi cảm thấy cô đơn, hay trong khi tuyệt vọng….
Phần bất ngờ nhất của đêm 23/ 3 là nhóm chúng mình được nghe ca sĩ Thuỷ Tiên hát live, cùng giọng hát khi solo khi hát bè tuyệt vời, với ngón đàn tài hoa của chị Hoàng Yến. Cảm hứng và sự đồng cảm sâu sắc đã khiến cả nhóm lắng hồn mình theo những bài hát của Trịnh Công Sơn. Mình đã nghe không biết bao lần những bài hát do Thuỷ Tiên và các ca sĩ khác hát live hay trực tiếp trên TV, và CD như Rừng Xưa Đã Khép, Em Hãy Ngủ Đi, Xin Cho Tôi, Biết Đâu Nguồn Cội, Để Gió Cuốn Đi, …, nhưng chưa bao giờ lại thấy xúc động và hay đến vậy!
Vì thế, chị Tuý Phượng với cảm hứng dạt dào, đã lên hát rất tuyệt Hai Bài Không Tên số 1 và 2 của Vũ Thành An. Thuỳ Dương, cô em hiền như maseur của cả nhóm cũng góp giọng ca trong trẻo ngọt ngào qua Biển Nhớ, và Cho Đời Chút Ơn.
Bài hát cuối cùng, Hãy Yêu Nhau Đi, bài hát chưa đựng triết lý sống của mình đã khép lại một đêm ấm áp, trải lòng ra với chuyện của chúng mình, chuyện của những người dũng cảm vượt lên số phận, đầy ắp tiếng cười sau những giây phút lắng hồn với âm nhạc:
….. Hãy ru nhau trên những lời gió mới
Hãy yêu nhau cho gạch đá có tin vui
Hãy kêu tên nhau trên ghềnh dưới bãi
Dù mai nơi này người có xa người
Hãy yêu nhau đi bên đời nguy khốn
Hãy yêu nhau đi bù đắp cho trăm năm
Hãy yêu nhau đi cho ngày quên tháng
Dù đêm súng đạn, dù sáng mưa bom
Hãy trao cho nhau muôn ngàn yêu dấu
Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau
Trái tim cho ta nơi về nương náu
Được quên rất nhiều ngày tháng tiêu điều
Hội Quán DRD đang ở những ngày đầu tiên của tháng khai trương, còn mới mẻ. Với chi phí phải bỏ ra cho việc thuê mặt bằng rộng rãi, thoáng mát, ở một nơi yên tĩnh( với mức 34 triệu đồng / tháng), và trăm nghìn những thứ phải lo toan để có được một hội quán kết nối những trái tim, làm nơi sinh hoạt, học tập và huấn nghệ, … vì sự phát triển của cộng đồng PWDs, mà nhiều người cho rằng đây là một ý tưởng rất liều lĩnh của chị Hoàng Yến, DRD thực sự rất cần được mọi người chúng ta, nhất là các bạn ở thành phố Hồ Chí Minh biết đến và nhiệt tình ủng hộ.
Rất mong các bạn sẽ quan tâm, đọc các thông tin về dự án và chương trình Khuyết tật và Phát triển, về hội quán DRD của chị Hoàng Yến trên www.drdvietnam.com và xin mời các bạn thử một lần ghé thăm hội quán vào một lúc nào đó trong ngày hay đêm, một mình hay với cả nhóm bạn, càng đông càng vui. Chắc chắn rằng các bạn sẽ hài lòng với không gian, cảnh vật, cách bài trí, các món giải khát, và yêu mến những người làm việc ở DRD.
Các bạn đừng quên quảng bá cho thật nhiều người biết và đến với DRD trong 2 chương trình đặc biệt cho 3/ 4 và 9/ 4, nhân kỉ niệm ngày giỗ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Như thế là các bạn đang góp phần ủng hộ cho sự phát triển của Chương trình Khuyết tật và Phát triển, cộng đồng PWDs, và Đời Rất Đẹp .
Sắp tới ngày giỗ thứ 9 của người nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, xin các bạn một phút tưởng nhớ, thắp nén hương lòng đến người nhạc sĩ, mà âm nhạc của ông chúng ta ai cũng đắm say.
Thân ái chúc các bạn một ngày vui với những bài hát nhạc Trịnh bạn sẽ nghe trong ngày hôm nay, ngày mai 1/ 4 trên ĐCN và sắp tới ở DRD, số 91/ 6N đường Hoà Hưng, Phường 12 Quận 10., thành phố Hồ Chí Minh.
Khi tôi hỏi thạc sỹ khoa học Lò Mai Cương “Điều tâm huyết nhất của mình trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hóa Thái là gì?” chị tươi cười, trong đôi mắt của chị như có hai đốm lửa:
– Đó là việc bảo tồn và phát triển chữ Thái, đưa chữ Thái vào giảng dạy trong nhà trường và cho người dân. Vợ chồng chị Lò Mai Cương
Còn giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Sơn La thạc sỹ văn học Hoàng Kim Ngọc, thủ trưởng trực tiếp của chị vui vẻ:
– Đó là một người tài năng và tâm huyết!
Gặp chị, ai cũng bị cuốn hút bởi tình yêu nghề dạy học, tình yêu và nỗi trăn trở với việc bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân tộc. Là người con của dân tộc Thái, sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống văn hóa, giáo dục. Bố chị là ông Lò Văn Mười, cố trưởng ty giáo dục khu tự trị Thái Mèo, chính ông đã từng khởi xướng và bước đầu thành công trong việc cải tiến chữ Thái. Chị không bao giờ quên được những con chữ đầu tiên do người cha thân yêu dạy. Còn mẹ chị, Cầm Thị Minh là người rất giỏi những điệu “khắp” cổ và sáng tác những tác bài hát mới của dân tộc Thái. Tự bao giờ, những lời ca mượt mà đằm lắng cùng những thiên truyện thơ bất hủ của dân tộc đã thấm vào chị, như mạch nước nguồn trong mát của quê hương không bao giờ vơi cạn.
Do nhiều yếu tố khách quan, người Thái ở Việt Nam có đến 8 hệ chữ khác nhau, bởi vậy việc tìm hiểu kho tàng văn hóa vô giá của tổ tiên để lại gặp nhiều khó khăn. Số người biết chữ ngày một ít đi. Kho tri thức quí báu ấy ngày có nguy cơ mai một. Chưa nói rằng, trước sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của xã hội. Một vấn đề lớn đặt ra là phải có một bộ chữ thống nhất được đưa vào giảng dạy, nhất là phải được số hóa, tạo điều kiện cho lớp trẻ và cộng đồng quốc tế dễ dàng tìm kiếm bằng các công cụ hiện đại của Internet.
Chính vì vậy ngay từ khi còn công tác ở trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Sơn La chị luôn trăn trở với việc xây dựng một bộ chữ chung và số hóa được bộ chữ đó. Nhưng khi bắt tay vào công việc, chị mới thấy có quá nhiều trở ngại, mà trước hết bộ chữ ấy phải đáp ứng được yêu cầu dân tộc và hiện đại, được người Thái ở các vùng miền và quốc tế thừa nhận. Thế là chị không quản ngày đêm, thử nghiệm, so sánh, cải tiến đưa 65/72 mẫu kí tự mã hóa vào Unicode. Chị vui lắm, bởi qua bộ font chữ cái do chị cải tiến và số hóa này đã được lựa chọn đại diện cho ngôn ngữ của cộng đồng người Thái ở Việt Nam và được nhóm kỹ thuật Unicode chọn và cấp mã nguồn. Người Thái ở khắp các tỉnh đều điện về và trực tiếp đến xin chị font chữ về sử dụng và đều rất khâm phục vì hiệu quả cao. Tác giả TVH cùng chị Lò Mai Cương tại Hội thảo về việc dạy và học chữ Thái tại Lạng Sơn ngày 27–28.3.2010
Không thể kể hết được công sức của chị khi bắt tay nghiên cứu công trình này từ đầu những năm 90 và được thông qua từ năm 2005. Song chị không muốn nói về mình, chị thầm lặng cho ra đời nhiều đứa con tinh thần được cộng đồng người Thái và nhân dân các dân tộc nâng niu, đón nhận, đó là những áng văn, thơ, tục ngữ ca dao, những pho sử nổi tiếng của dân tộc Thái: “Tiễn dặn người yêu”, “Tục ngữ, ca dao Thái”… “Tâm tình tiếc thương”, “Tâm tình trêu ghẹo yêu thương… Chương trình dạy chữ Thái của chị cùng nhóm nghiên cứu đã được triển khai dạy trong trường Cao đắng Sư phạm và toàn tỉnh.
Gần đây khi Đảng và Nhà nước có chủ trương đưa ngôn ngữ dân tộc vào giảng dạy trong nhà trường và dạy cho cán bộ, viên chức đang công tác ở vùng miền núi và dân tộc khi và “Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái” (VTIK), thuộc Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi (CSDM) ra đời, chị như được chắp thêm đôi cánh.
Với cương vị là trưởng phòng bồi dưỡng, chị có thêm nhiều điều kiện để phát huy năng lực và ước nguyện của mình. Chị được giao nhiệm vụ phụ trách công việc bồi dưỡng tiếng và chữ Thái cho các trường dân tộc nội trú của 11 huyện thị, học sinh, cán bộ, viên chức, lực lượng vũ trang…
Đặc biệt năm 2010 này chị tham gia nhiều mảng đề tài về chữ viết, phong tục tập quán, trang phục… trong đề tài nghiên cứu cấp tỉnh: “Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn La trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do chính ủy viên trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy, chủ tịch Hội đồng Nhân dân, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La Thào Xuân Sùng là chủ nhiệm đề tài.
Người viết bài này có quá trình sống và làm việc ở Tây Bắc 30 năm, quen biết gia đình chị đã lâu, mỗi lần đến thăm gia đình chị lại càng thêm khâm phục người chồng yêu quí của chị đã vượt lên mọi định kiến hẹp hòi, cổ hủ để quán xuyến việc nhà, chăm sóc con nhỏ cho chị đi học 6 năm trời để có bằng đại học và thạc sỹ suốt từ năm 1989 và dành cho chị thời gian nghiên cứu khoa học.
Chị không dấu nguyện vọng cháy bỏng của mình:
– Anh ạ, chữ Thái được hồi sinh, nhiều người đã đọc thông viết thạo, em vui vô cùng, bởi đó là cánh cửa mở ra để kế thừa và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của cha ông.
Hướng về phía trời xa, chị trầm ngâm:
– Hiện nay Bảo tàng tỉnh Sơn La có đến 3.000 cuốn sách bằng chữ Thái cổ, nhưng kho tài sản vô giá ấy liệu có bền vững mãi trước sự tác động của thời gian. Em chỉ muốn được lãnh đạo các cấp quan tâm cho phép số hóa kho sách ấy giữ cho muôn đời con cháu.
Tôi thật sự khâm phục tài năng, nghị lực, tâm huyết và thành công của chị. Dẫu biết rằng năm nay chị 48, cái tuổi đang độ chín. Phải chăng ước mơ cháy bỏng của người cha thân yêu năm nào, cùng khát vọng từ bao đời đã tiếp thêm ngọn lửa niềm tin và tình yêu văn hóa Thái đã chắp cánh cho chị, để chị thực hiện được những tâm nguyện, hoài bão đẹp đẽ của mình với quê hương, với dân tộc.
Mỗi người chúng ta sinh ra là để làm việc gì đó trong đời. Người ta nói việc đó đã được tiền định, hoặc do nhân duyên kiếp trước hoặc là ý chúa hoặc là cái gì đó trong gin của ta. Điều đó gọi là “tiếng gọi” (calling), tiếng kêu đưa ta vào con đường đặc biệt của riêng ta.
Nhiều người đang say mê điều họ làm từng giây đồng hồ sẽ xác nhận với bạn là họ đang làm điều họ được sinh ra để làm, vì họ cảm thấy thật sự say mê và hạnh phúc, dù điều đó đôi khi có thể mang đến biết bao là gian nan khổ ải.
Khi đã tìm ra được tiếng gọi trong lòng, tìm ra được sứ mệnh của mình rồi, mọi sự thành dễ dãi—tiền bạc, danh tiếng, thành công, thất bại… không thành vấn đề. Cứ mỗi ngày làm theo tiếng gọi, phục vụ sứ mệnh của mình, thì chuyện gì khác cũng đều trở thành không quan trọng. Chính vì thế mà có những người đã sẵn lòng mất tất cả, kể cả sinh mạng mình, chiến đấu cho tổ quốc, hay vào những khu rừng hẻo lánh để truyền đạo cho thổ dân ăn thịt người, hay hy sinh vượt mọi gian khổ để trở thành ca sĩ… Liếc mắt điểm nhanh qua chuyên mục Chứng Nhân của Đọt Chuối Non ta có thể nhận ra sự tập trung dữ dội vào sứ mệnh của mình của những người đã tìm ra tiếng gọi— Cô giáo Thùy Trâm, chị Nguyễn Thị Tiến tìm xác đồng đội, Robert Poduna trầm lặng trên đồi Buông, nhà cách mạng Y Ngông Niê Kdăm, Cô giáo Huỳnh Huệ, ca sĩ Thủy Tiên, Nguyễn Hữu Vinh lưu đày trên đảo xanh, Bùi Văn Toản ghi dấu tù nhân Côn Đảo.
Bí mật thành công là tìm được tiếng gọi trong lòng mình.
Nhưng, ngoại trừ một thiểu số may mắn nghe được tiếng gọi, đối với đa số người trên thế giới, tiếng gọi đó luôn luôn là một bí mật.
Tức là, bí mật thành công là tìm được tiếng gọi luôn luôn bí mật đó 🙂 Nhưng đã là bí mật thì không thể bật mí được. 🙂 Đó là vấn đề của đại đa số người, và vì thế mà đa số chúng ta thường cảm thấy đi qua cuộc đời như bèo dạt mây trôi, đời đẩy đến đâu trôi đến đó, chứ cũng chẳng biết sứ mệnh mình là gì.
Nếu bạn là một trong những người như thế thì, chào mừng bạn bước lên thuyền (cho cùng hội cùng thuyền)!
Những người đã nghe tiếng gọi đều xác nhận một điều là họ luôn luôn có thôi thúc trong lòng về một chuyện nào đó, không bỏ qua được. Thôi thúc có nhiều hình thức—khi thì ồ ại như đại dương, khi thì nhẹ nhàng như gió thoảng, nhưng điều giống nhau là thôi thúc luôn có mặt ở đó, luôn rỉ rả ngày này qua tháng nọ trong lòng, không trả lời nó thì không xong.
Để mình chia sẻ với các bạn kinh nghiệm riêng của mình. Từ năm 17 tuổi, mình đã có một câu hỏi trong đầu: “Làm thế nào để Việt Nam ra khỏi chiến tranh đói nghèo và thành cường thịnh?” Câu hỏi này chẳng có gì ồ ạt cả, nhưng nó cứ ở đó trong đầu ngày đêm, không chịu tắt công-tắc, rất phiền toái. Vì vậy mình nghiên cứu đủ thứ môn trên trời dưới đất để tìm câu trả lời—luật, tâm lý học, kinh tế học, chính trị học, triết học, thánh kinh…. hằng mấy chục năm không nghĩ. Rất nhiều khi rất bực mình vì chẳng tập trung tâm trí vào việc gì khác được… Và trong bao nhiêu năm mình chẳng hề nghĩ đến tiếng gọi của mình là gì, luôn luôn cảm thấy như mình chẳng có tiếng gọi gì ráo, vì làm nghề gì thấy cũng trống trải. Mãi cho đến những năm về sau này mình mới “ngộ” ra là mình đã có một tiếng gọi cả mấy mươi năm mà không thấy… tức là làm gì mà giúp được quê mẹ một tí thì mình vui, còn không thì làm bất kì việc gì trên đời cũng thấy trống trải.
Có lẽ là nhiều người chúng ta có những thôi thúc tương tự, nhưng ta không biết rằng đó là tiếng gọi của mình, có lẽ vì ta không để ý đến nó, hoặc là bị những cái ồn ào khác trong đời sống bận rộn hàng ngày lấn át, làm ta không nghe được nó. Nhưng có lẽ cách dễ nhận ra nhất là ta không vui với việc ta đang làm. Cảm thấy trống trải và vô nghĩa. Đó rất có thể là dấu hiệu ta đang có một tiếng gọi bên trong mà chưa nghe được, và chưa bắt tay với nó được.
Thường ta hay chạy theo những tiếng nói bên ngoài—bố mẹ nói học cái này tốt cái kia xấu, bạn bè nói làm việc này việc kia kiếm ra tiền lẹ—cho nên ta không nghe được tiếng gọi bên trong. Hoặc đôi khi ta nghe, nhưng chẳng buồn làm gì với nó vì ta không muốn thay đổi cuộc sống hiện tại.
Mình nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy đã sống rất trọn vẹn, cho đến khi ta đã đi theo tiếng gọi trong lòng.
Trong thời gian chờ đợi, chúng ta nên làm hai điều: (1) Học và thực tập những kỹ năng tốt để xây vốn liếng, và để luôn luôn sẵn sàng cho tiếng gọi, dù tiếng gọi đó là gì. Và (2) tĩnh lặng thường xuyên để có thể nghe những tiếng nói của quả tim mình.
“Tôi sắp trả được món nợ với anh em rồi” – ông Bùi Văn Toản bùi ngùi nói khi thông báo về bản danh sách tù nhân Côn Đảo 1940-1945 vừa hoàn thành. Nhưng nghe giọng ông, biết là còn lâu ông mới cho phép mình nghỉ ngơi trong cuộc hành trình ngược về quá khứ đã chọn.
Hằng ngày, ông Toản dành hết thời gian cho việc sưu tầm, nghiên cứu về các cựu tù Côn Đảo – Ảnh: Gia Tiến
Trong khi người người nếu không chen chân trong cuộc đua chóng mặt về phía tương lai thì cũng tìm mọi cách để an trú trong hiện tại, ông Toản lại nhọc nhằn lặn lội đi ngược thời gian.
Bùi Văn Toản – tù nhân Côn Đảo, cặp danh từ ấy đã đi song song trong cuộc đời ông kể từ những chuyến tàu lưu đày chở những chàng trai, cô gái tuổi 20 nhắm thẳng hướng địa ngục trần gian đến ngày nay, khi nổi danh là một chuyên gia về nhà tù Côn Đảo.
“Đó là một mối duyên, là nhiệm vụ” – ông giải thích giản dị về lựa chọn của mình.
Mối duyên giữa địa ngục
Nhà tù Côn Đảo là một địa ngục trần gian, điều ấy ngày nay ai cũng đã biết, đã thấy qua những xà lim, hầm tối, chuồng cọp qua bao năm hòa bình vẫn còn nguyên sự thù nghịch với cuộc sống.
Người ta chỉ không biết những người tù đã tồn tại, đã sống, đã vượt qua địa ngục ấy như thế nào, bằng cách nào và Bùi Văn Toản bảo ông đã được giao nhiệm vụ làm một người kể chuyện.
“Ấy vậy nhưng cũng có nhiều nơi hiểu lầm, ngỡ chúng tôi dựa vào chút quá khứ mà trục lợi khiến tôi rất buồn lòng. Nhưng rồi nghĩ đến những anh em đã nằm lại không còn chút tro bụi, giờ chỉ còn cái tên trong cuốn sách nên lại cắn răng đi, đi từ Nam chí Bắc. Sưu tầm được danh sách mấy ngàn, vài trăm người được thân nhân nhận ra, tìm về là may mắn lắm rồi“
Đó là những ngày trại tù câu lưu (tù không được kết án) 6B sôi động với những đợt tuyệt thực, chống chào cờ, đòi chế độ cho tù chính trị.
Máu đổ hằng ngày, đi đu dây giữa sự sống và cái chết, những người tù đã chọn con đường sống thật đàng hoàng. Trại 6B làm báo, diễn văn nghệ, tổ chức các lớp học ngay giữa những cơn mưa dùi cui, ma trắc, vôi bột, lựu đạn cay, những đợt siết bóp lương thực.
Vốn là một sinh viên văn hay chữ tốt, Bùi Văn Toản thường xuyên lãnh phần biên tập, trình bày báo. Và những tờ báo từ trại 6B vẫn giữ được sự chỉn chu đến kỳ lạ kể cả khi nhìn với con mắt hôm nay.
Toản còn được giao giữ gìn báu vật của toàn trại là chiếc radio và mấy cục pin để thỉnh thoảng cả phòng tự thưởng một buổi cập nhật tin tức bên ngoài. Và một việc tối quan trọng khác nữa: lập danh sách toàn trại để khi có dịp thì truyền ra ngoài đấu tranh yêu cầu giao trả tự do.
Mối duyên ghi chép, sao lục đến từ đấy, nhiệm vụ lưu giữ thông tin của những người bạn tù cũng đến từ đấy.
Có khi một trang giấy pơluya vừa tỉ mẩn chép xong đã phải bỏ vào miệng nhai nuốt để tránh bị phát hiện. Có khi người bạn tù vừa rủ rỉ đọc tên thật, bí danh, quê quán vừa cùng nhau lặng đi nhớ những ngày thơ ấu thanh bình hôm trước, hôm sau đã bị tra tấn, đàn áp đến chết…
“Và cái duy nhất họ còn lại trên đời chính là chút thông tin trong mảnh giấy vụn. Tôi nghĩ đến cha mẹ, vợ con, anh em họ đang trông chờ nơi quê nhà mà thấm thía những việc người may mắn được sống như mình sẽ phải làm. Không chỉ là những cái nắm tay, những lời hứa trước phút lâm chung của anh em, mà là những công việc sẽ phải làm bằng hai, ba lần sức người, thay phần những người đã không về” – ông Toản giải thích về mối duyên của cuộc đời mình với số phận những tù nhân Côn Đảo.
Sau giải phóng, về với cuộc sống công chức không được bao năm, ông Toản xin nghỉ hưu non để thực hiện tâm nguyện của mình.
Trở đi trở lại Côn Đảo, tìm lại đồng đội, xác minh những câu chuyện, cuộc sống kỳ diệu của những người tù chính trị Côn Đảo đã được ông lần lượt tái hiện qua các tác phẩm Ác liệt Côn Đảo, Côn Đảo – 6.694 ngày đêm, Những tờ báo của tù nhân Côn Đảo, Huyền thoại Côn Đảo…
Những câu chuyện thật được quay lại như một cuốn phim không thể thật hơn được nữa đã làm rơi nước mắt bao nhiêu người trong những cuộc họp mặt hội cựu tù, nhưng vẫn chưa làm yên lòng tác giả của nó. Món nợ vẫn còn.
Ông Bùi Văn Toản cầm cuốn sách Tù nhân Côn Đảo 1940-1945 vừa chuyển về từ nhà in chiều 26-3 – Ảnh: Gia Tiến
Đám giỗ, đám giỗ…
Một ngày đầu năm 2000, chúng tôi nhận được một lá thư yêu cầu đăng giúp một mẩu tin nhỏ với nội dung là lạ “Cung cấp miễn phí thông tin về ngày mất, địa điểm bia mộ của các tù nhân Côn Đảo. Liên hệ Bùi Văn Toản”.
Tìm đến và tôi được biết đằng sau thông báo chỉ vỏn vẹn hai dòng kia là những ngày tháng ông Toản gò lưng trong Trung tâm Lưu trữ quốc gia khu vực 2 dò tìm, trích lục, sao chụp, ghi chép, đối chiếu, dịch thuật hàng chồng hồ sơ của nhà tù Côn Đảo, tòa tiểu hình, tòa đại hình, tòa án binh, tòa hình sự…
Có tài liệu còn lưu rất đầy đủ từng bản cung, có tài liệu chỉ vài dòng nguệch ngoạc, có tập vừa động đến đã vụn nát từng mảnh, nhưng những kinh nghiệm vượt khó chi li học được trong tù và sự thôi thúc mãnh liệt đã giúp ông chắt lại được những thông tin dù nhỏ nhất.
Các hồ sơ hầu hết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và ghi tên người không dấu, ông còn cẩn thận ghi lại đặc điểm nhân dạng, nếu may mắn có ảnh để tránh nhầm lẫn.
Mẩu thông tin được đăng báo. Nhà ông Toản không lúc nào ngớt khách. Những bà mẹ tay xách giỏ lác đựng đòn bánh tét và một mảnh thư nát, tấm giấy căn cước ố vàng đến tìm, dò tên chồng, tên con. Những phụ nữ, anh thanh niên ngơ ngác và đầy hi vọng mang theo một lời trăng trối của mẹ, của bà là phải cố tìm thông tin về cha.
Một bà mẹ ở Bến Tre đã khóc hết nước mắt khi ông Toản tìm ra thông tin và cả tấm ảnh của chồng bà. Lần đầu tiên con bà biết mặt cha và gia đình được thắp nén nhang lên bàn thờ không phải vào ngày giỗ chung 27-7.
Được làm người khách quý nhất dự đám giỗ hôm ấy, vai ông Toản thấm không biết bao nhiêu nước mắt của những người trong gia đình, những giọt nước mắt đã đọng lại từ bao năm.
Thêm một đám giỗ nữa, một đám nữa… Tất cả đã khiến ông Toản vượt qua những khó khăn trong cuộc sống riêng, ngày ngày cầm mẩu bánh mì “định cư” luôn trong thư viện để tìm, tìm nhiều hơn nữa thông tin, giải mã những con số tù vô tri vô giác.
Cứ như thế hơn mười năm. Cuốn Côn Đảo – danh sách hi sinh và từ trần xuất bản năm 2009 cung cấp thông tin về 3.276 người tù đã mất tại Côn Đảo trong giai đoạn 1930-1975.
Hai tập Tù nhân Côn Đảo 1940-1945 chuẩn bị xuất bản sẽ cung cấp thông tin về hơn 5.000 người tù nữa. Mỗi người chỉ có nửa trang tập hợp thông tin thiết yếu nhất như họ tên, quê quán, ngày bị bắt, ngày ra tòa, phần ghi tội danh vắn tắt “vận động lật đổ chính quyền, tập hợp lực lượng bất hợp pháp”, “phản nghịch”, “chống lại công cuộc bảo vệ quốc gia” và những bản án “tử hình, khổ sai, biệt xứ, cấm cố trong hầm” cũng đủ làm tim người đọc đập mạnh, đủ làm dịu đi nỗi khắc khoải của mất mát trong lòng những thân nhân.
Có những địa danh như Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc xuất hiện dày đặc trong cùng một thời điểm, vẽ nên rất rõ nét một phong trào yêu nước tại địa phương.
Mười năm ấy, ông Toản đã xử lý một lượng tài liệu cao khoảng vài trăm mét, đã học thêm phần mềm Access để xử lý số liệu, đã trở lại giảng đường và khai thác những đề tài về Côn Đảo để làm luận văn thạc sĩ và đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ sử học.
Thế nhưng cực nhất với ông lại là việc xuất bản và đưa những cuốn tài liệu rất quý ấy đến tay những người cần nó.
“Những cuốn sách dày cả ngàn trang, chứa tin tức về mấy ngàn người tù Côn Đảo khi xưa đương nhiên chẳng thể mang ra nhà sách bày bán, chẳng thể có doanh thu. Hội cựu tù chúng tôi phải đi vận động kinh phí để in ấn, rồi lại gom góp kinh phí để… đi tặng”.
Đơn vị này cho giấy, đơn vị kia cho công in, bản quyền tác giả thì… không tính, ông Toản cùng bạn bè thân thiết lặng lẽ gom góp lộ phí, ôm đồm những bản danh sách nay đã có hình vóc như một cuốn đại từ điển lên xe máy, xe đò đi đến từng tỉnh, vào từng tỉnh ủy, ủy ban trao tặng với mong muốn duy nhất: thân nhân những người cựu tù trong tỉnh có dịp được mở cuốn sách tìm tên người nhà và những người chưa có chế độ chính sách sẽ được Nhà nước lo đầy đủ.
Trở thành khách mời danh dự của hàng trăm đám giỗ, được nghe thêm hàng ngàn câu chuyện về những người bạn đồng cảnh tù ngục là phần thưởng lớn nhất với ông Toản đến ngày này.
Ông mới vui mừng gọi điện báo tin: theo chỉ đạo của Ban Bí thư, Bộ Lao động – thương binh và xã hội sẽ tổ chức họp bàn việc lập bia tưởng niệm những người tù chính trị hi sinh tại Côn Đảo vào tuần sau.
Chỉ đống sách mới đưa từ nhà in về, ông trầm giọng: “Bia đá thật cần để anh em chúng tôi không bị lãng quên, mong bộ tiến hành làm sớm. Phần tôi, tôi chỉ có thể lập bia giấy cho anh em mà thôi…”.
Thiền sư Đạo Hạnh là một danh sư đời Lý, có công lớn đối với triều đình. Công đức của ngài được ghi lại nhiều trong Thiền Uyển Tập Anh, Lĩnh Nam Chích Quái, Việt Sử Lược, Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư v.v. An Nam Chí Lược, một cuốn sử xưa, quyển thứ 15 viết rằng: “Thiền sư Từ Đạo Hạnh là một nho sinh, thích thổi sáo, ngày cùng bạn đi chơi khắp nơi, đêm đọc sách suốt sáng. Một hôm vào chơi núi Phật Tích, thấy một hòn đá có dấu chân bên phải, ấn chân vào so thử, in như hệt. Về nhà từ biệt cha mẹ vào núi cất am tu hành. Vua Lý chưa có con nối dõi, khiến các thầy chùa danh tiếng cầu đảo. Có một ông sư, không đến làm lễ cầu tự cho vua mà còn dùng phép trán yểm. Vua nghe được bèn hạ ngục tất cả các thầy chùa trong vùng. Nhờ có một hoàng tử, hết lòng cứu giúp mới khỏi. Hoàng tử nói với sư rằng: “Ta cũng không có con, xin sư vì ta mà cầu đảo”. Sư nói với hoàng tử bảo với phu nhân vào phòng tắm rửa, sư đi ngang cửa phòng, phu nhân liền có thai. Đến ngày hạ sinh, hoàng tử cho mời sư đến, thì sư đã mất trong núi. Phu nhân sinh được một trai, mặt mũi khôi ngô. Vua Lý lập làm Thái tử…”. Chuyện này khá trùng hợp với chính sử ghi trong Việt Sử Lược. Hoàng tử này là Sùng Hiền Hầu, em vua Lý Nhân Tông. Sau vua Lý Nhân Tông vì không có con, nên nhường ngôi cho con của Hầu,, tên là Dương Hoán, sau này là Lý Thần Tông.
Theo Thiền Uyển Tập Anh, thì “Thiền sư Đạo Hạnh (? – 1117) ở chùa Thiên Phúc 天福寺, núi Phật Tích 佛跡, họ Từ, tên Lộ. Cha là Vinh, làm quan tới chức Tăng quan Đô Án, thường đi học tại làng An lãng. Lấy một người con gái họ Tăng rồi theo quê vợ…”. Sư cuộc đời thần bí, thường ngao du cầu sư học đạo, tu và mất ở chùa Thiên Phúc. Theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú thì “chùa Phật Tích (nguyên văn viết là chùa, có lẽ viết nhầm) ở xã Thuỵ Khê, huyện Yên sơn, một tên khác là núi Sài. Phong cảnh đẹp đẽ trông ngang xuống mặt hồ, trên núi có hang sâu là chỗ Từ Ðạo Hạnh mất. Vách hang còn có dấu đầu và dấu chân. Trên đó có am Hương Hải và viện Bồ Ðà đều do Thiền sư dựng nên, nay là chùa Thiên Phúc…”. Chùa Thiên Phúc, theo Việt Sử Lược, phần Lý kỷ thì chùa do vua Lý Thánh Tôn xây vào năm Đinh Dậu Long Thuỵ Thái Bình thứ 4 (1057). Theo Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Ðôn, phần Phong Vực (bờ cõi) thì chùa toạ lạc ở núi Sài (Sài sơn) thuộc huyện Yên sơn, núi này đời Lý gọi là Bồ Ðà Lạc, đời Trần gọi là núi Phật Tích. Trên núi có động tiên và chùa, trong núi có tám chỗ lõm, như dấu chân người va chạm vào, lại có dấu chân như của người khổng lồ. Dưới núi có chùa Thiên Phúc, trước có hồ nước lớn, sau có lầu chuông, có chuông do Thiền sư Ðạo Hạnh đúc thành vào năm Long Phù Nguyên Hoá thứ 9 (1109) đời Lý Nhân Tông, do đệ tử Huệ Hưng soạn ra văn khắc trên chuông…Ðấy là vật xưa 700 năm đến nay. Dưới văn khắc có khắc sắc chỉ của vua Trần Anh Tông cấp ruộng thờ vào năm Hưng Long thứ 12 (1304)… Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí, phần Bắc Kỳ, tỉnh Sơn Tây, mục Tự quán thì “Chùa Thiên Phúc toạ lạc tại xã Sài tây, huyện Yên Sơn, xưa gọi là am Hương Hải, còn gọi là viện Bồ Ðà. Bên trái chùa thờ Thiền sư, bên phải có tượng thờ vua Lý Thần Tông, ở giữa thờ Phật…”. Chùa, nay tục gọi là chùa Thầy, còn gọi là Tử Trầm sơn, toạ lạc tại chân núi Sài, tức núi Phật Tích, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
Văn khắc trên chuông chùa Thiên Phúc dưới đây là một tư liệu rất quý nói về công đức hoằng pháp Phật giáo của ngài. Nhiều điều trong bài văn khắc này rất phù hợp với An Nam Chí Nguyên trang 209 khi viết về Từ Ðạo Hạnh như sau: “Thiền sư Ðạo Hạnh là vị sư ở huyện Thạch Thất, thường đi khắp nơi trong núi non tầm sư học đạo. Sư đắc đạo, có thể gọi kêu chim rừng thú nội cùng nhau đến nghe lệnh sai bảo. Sư cầu mưa trị bệnh, không có gì là không ứng nghiệm…”. Cũng như rất phù hợpvới những điều mà Lê Quý Đôn đã đề cập tới trong cuốn Kiến Văn Tiểu Lục. Có lẽ đây chính là chuông này. Tư liệu nguyên viết bằng chữ Hán lối cổ, được công bố trong sách “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam- từ Bắc thuộc đến thời Lý”. Sách này là công trình nghiên cứu về văn khắc xưa của Việt Nam, do sự hợp tác của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm ở Hà Nội, École Francais d’Extrême Orient ở Paris và trường đại học Chung Cheng ở Taiwan.
Nhận thấy đây là tài liệu quý về vị thiền sư nổi danh này, dịch giả xin dịch ra tiếng Việt để giới thiệu và cũng để tiện bề tham khảo.
Nguyên văn chữ Hán trích trong sách “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam- từ Bắc thuộc đến thời Lý”:
Văn khắc trên chuông chùa Thiên Phúc, ở núi Phật Tích, xã Thuỵ Khê, huyện An Sơn, Phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây.
Tháng giêng năm Kỷ Sửu nhằm vào năm thứ chín niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá (1), Thiền sư Đạo Hạnh đi lạc quyên trong nước Đại Việt (2). Mọi người từ giàu đến nghèo, ai ai cũng vui vẻ cúng dường. Quyên được đồng đỏ tất cả hơn hai ngàn cân. Đúc được một cái chuông lớn, treo trong viện Hương Hải (3) ở núi Bồ Đà Lạc (4) , sáu thời (5) đánh chuông hành đạo, trước báo bốn ơn (6), sau cứu tam đồ (7).
Diệu lý tuy chỉ có một mà vọng cảnh (8) thì thật nhiều. Tuy là một nhưng do thiên biến vạn hoá tạo thành. Dù thiên biến vạn hoá tạo thành cũng chỉ là duy nhất mà thôi, không hình tượng mà có thể lường được, không lời nói mà có thể cảm được, không hình tượng mà hiện khắp cõi đại thiên (9), không lời nói mà nghe vang khắp cõi Phật (10). Nhỏ bé mà không cùng, hổn độn mà không hoá thành đen, ở đời trần bụi mà trang nghiêm như Hoa Tạng thế giới , ở kiếp ô trược mà long lanh như ngọc thạch. Đó là sự may mắn của chúng sinh, chứ chẳng phải ý riêng gì của chư Phật. Kẻ giác ngộ thì thẳng đường lên Niết Bàn, còn kẻ mê lầm thì sinh diệt theo sáu con đường (11). Rồi thì cứ lo lắng, giả tướng thì nhiều. Việc thánh hiền sánh như kiến tìm mùi tanh. Chuyện thần lực cũng như gió đè cỏ mọc. Cứu mê tăm tối, bận rộn lăn lóc với những công việc cấp bách, lại phải vương mang vào tà ma, bệnh tật. Đem lời cổ nhân ra dạy bảo cũng khó làm được. Nay dùng chuông làm vật cảnh tỉnh, mới có thể có hiệu quả dần dần. Việc giáo hoá thì phải tuỳ căn cơ mà tìm phương cách. Thấy giáo lý “Nhất Thừa” (12) là hơn cả, mà chuông là vật quan hệ nhất.
Chuông, ngoài Tròn (13), Chắc (14), trong Rỗng (15), Không (16). Thường sử dụng, quá quen nên hay quên nên gọi là Tròn. Khó bị hư nên gọi là Chắc. Đem vật thọc vào, đổ chứa vào mà không trở ngại gì nên gọi là Rỗng. Ngân nga vang vọng nên gọi là Không. Nếu không phải thì sao Phật cho gõ một tiếng mà sấm trời im bặt, mọi âm vang trên mặt đất đều lặng câm. Đó là lúc trong Tam Giới (17) tỏ ngộ. May mắn biết rằng chúng sinh trong Tam Đồ mãi chịu Khổ. Biết như vậy mà không đem sức mình ra để cứu thiên hạ hay sao? Từ đó về sau, mỗi khi gặp lễ, đèn treo, chỗ sắp, nghe tiếng chuông Phật tử sắp thành hàng. Bước lên bệ gióng chuông thuyết pháp bội phần trang nghiêm. Làm được như vậy, có ai hơn được!
Nay có thầy Đạo Hạnh, từ bé cho đến lớn, cốt cách lạ thường, Tụng học kinh Liên (18) sang sảng. Xuất gia hành đạo, thấm nhuần ý Phật từ bi. Xây tháp (19) trang nghiêm. Học kinh kệ thấm nhuần đạo lý. Gặp lúc trời hạn, vung tay một cái trời mưa xuống dầm dề. Học thói người xưa nhịn ăn, ngồi nhiều năm mà vẻ mặt không thấy đói. Dân gặp lúc bịnh dịch, phẩy nước lạnh thì bịnh lành ngay. Việc chưa xảy ra mà đoán biết trước như có phù phép. Kinh dạy rằng Phật có “Tám Lời” (20), nếu không có thầy thì làm sao Tám Lời âm vang tiếp tục. Phật đặt ra “Thi La” (21), nếu không có thầy thì làm sao “Thi La” bền vững. Nếu không có thầy thì làm sao thắp được hương trong vườn phúc của Đế Thích (22). Dược Vương (23) đốt thịt chữa bệnh, nếu không có thầy thì ai chịu đựng nỗi. Quan Âm cứu nạn, nếu không có thầy thì ai biết đến công đức của ngài. Cao tăng tỏ việc linh dị, nếu không có thầy ai nối gót thần linh?
Nay chuyện hành đạo đã xong, muốn tìm nơi ẩn náu. Ra phía tây kinh thành, nơi tĩnh mịch xa, chốn ồn ào huyên náo, đi qua đường lối hiểm nghèo nhưng lòng thanh tịnh. Qua khỏi con sông, gặp núi xanh, leo đường dốc đi lên, đất đá rơi xuống lăn lóc, nắm dây trèo lên nơi cao. Núi này cao ngút bao bọc như núi Lăng Già (24), có trăng thu tròn đẹp, có dốc đá kỳ vĩ, có vòm đá, động đá thờ Phật, có mây ngũ sắc kết tủa như châu ngọc buông rèm, rực rỡ tơ vương đan hình vào nhau như màng nhện. Dưới có vết tích của Phật, giữa có đài nghê tráng lệ. Dấu Phật có ngọc trắng dưới đáy, có rồng xanh bao bọc bên ngoài. Ðài nghê có tê giác đứng trấn bên cạnh. Có đèn treo kết chuỗi thành hàng. Ðây đâu phải chỉ giống phòng phương trượng, mà chính là ngọn Thứu Phong (25). Ngày xưa các bậc ẩn sĩ góp sức, góp của làm nên, đâu có khác gì thần linh tạo thành? Thầy đến ở chưa tới mười ngày mà đã có điều linh ứng. Cọp tới chầu hầu, rồng kia thuần tính. Ðêm vắng tụng kinh Liên, trời cao vòi vọi vang nghe tiếng trống. Thầy ở suốt sáu năm, ân huệ vun đầy. Các hoàng tử xe ngựa tới lui tấp nập. Mọi người trong nước đến dâng hoa đảnh lễ. Vua cho người lại ban chiếu chỉ, làm tiệc chay cúng dường. Ban cho áo mão cà sa, cung nghinh như bậc thượng khách. Lên xe Phật để cầu Tứ quả (26). Lễ chay xong rồi, thầy chống gậy đi trở xuống chân núi. Tất cả các đệ tử mọi người cùng nói rằng: “Vách đá dựng đứng, đường đi nguy hiểm. Bước chân như thần của thầy thì đi dễ, chứ khách phàm thì làm sao bước đi được. Xem chỗ đất này cũng là nơi thắng cảnh. Ðồi núi chập chùng đâu khác gì núi Bồ Ðà. Nước trong vắt thua gì biển Hương Hải. Gọi thợ giỏi, chọn nơi chính giữa, xây lầu ngọc sáng chói bốn phương. Giữa đặt tượng Phật hào quang sáng rạng. Mọi người cùng tỏ lời nói này. Cây cỏ rì rào cùng loan tin đi. Trong chốc lát, thiện nam tín nữ tề tựu đông đúc. Chỉ trong một ngày mà quang cảnh trở nên khác lạ. Người đốn cây quý, kẻ xây lò gạch. Thước mực giăng đầy. Búa rìu chan chát. Chốc lát, sân mới nguy nga, gác lầu sừng sững. Trồng tùng xanh cho mát mẻ lối đi. Gầy hoa cảnh cho vườn thêm ngát.
Thầy nói rằng: “Chùa thì trang nghiêm, Phật tử thì đông đúc. Gặp lúc lễ lượt thuyết pháp thì phải treo chuông cảnh tỉnh. Phật pháp là chuyện của ta, nhưng chuông thì phải nhờ người”. Nói rồi, chống pháp trượng ra đi, thoăn thoắt trên khắp nẻo đường, như lân vờn thú nhảy, như phượng múa rồng bay. Người ta tranh nhau đi theo, chưa tới hai mươi ngày đã quyên được (đồng đỏ) đem về chất một đống cao. Rồi đem đến chùa Hưng Phúc. Gửi thư về tâu cho vua rõ, ngài đã cho phép dựng chùa. Nhào đất làm khuôn, đốt lửa luyện đồng Ngày đúc, thầy dù chẳng nói gì, nhưng người người vui vẻ huyên náo. Cám ơn Thái Hậu (27) nhiệt tình cho người đem tặng lễ vật. Rồi thì hết cả nhà giàu đều kéo xe tới, trai trẻ cũng lũ lượt tới giúp đến nối buôn làng vắng vẻ. Người đến đông như đi phiên chợ đông vậy. Chẳng mấy chốc, thợ rèn gắng sức, thợ đúc lo lắng chuẩn bị, thổi ống bệ tiếng nghe vang dội, lửa đỏ cháy rực, chiếu sáng lên tới dãy ngân hà. Chuông đúc xong thấy rõ lạ thường, có nhiều điểm tốt lành. Không lâu sau đó, mời mọi người buộc thừng khiêng lên. Mới chùi mà sáng bóng tợ hoa tuyết. Vừa gõ thì tiếng ngân vang như sấm, vang dậy khắp nơi. Mọi người đều mừng rỡ thích thú. Thầy sắp trở về lầu Đại Bi trên núi Bồ Đà. Dùng dây vàng buộc treo, dùng chày kình đánh chuông, ngày đêm hành đạo. Trước, báo ân dày của vua (28), cầu mong ngai vàng bền vững. Nhờ pháp khí (chuông) mà dân gian thanh bình, đất nước bình yên, con dân no ấm. Nguyện rằng đem đạo nhiệm mầu, thấu triệt thuần chân làm phúc lớn che chở cho mọi người, để khuông phò nghiệp lớn. Sau, mong cho mọi. người lớn bé cùng nương theo mà hướng đến cõi thiện, cùng theo Phật pháp. Hôm nay có được phúc lành để sau chứng ngộ.
Thầy nói với tôi rằng: “Chuông đã đúc xong, vì mọi người có duyên tu tập, còn ta chẳng có công đức gì. Hãy ghi lại tên tuổi của những người đã cúng dường để lưu truyền lại mai sau”. Huệ Hưng ít học, cầm bút viết bài minh này.
Viết rằng:
Chư Phật dùng chuông (29) cảnh tỉnh để ngộ bản tâm
Nay thầy dùng chuông phát tín âm để răn dạy đời
Trời đã mang dục sắc, hãy trở về bốn giác
Âm phủ đã bắt đầu hình phạt, hãy nghĩ cho sâu xa
Sa Môn áo tía (30) Thích Huệ Hưng phụng soạn vào ngày mồng chín, tháng tám, năm Kỷ Sửu niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thứ chín.
[…]
Đời Trần Anh Tông thứ 12 niên hiệu Hưng Long có chiếu cấp cho ruộng thờ. (31)
Do câu cuối trong văn khắc trên chuông, chúng ta biết chuông đã được người đời Trần khắc thêm hàng chữ này.
Chú thích:
1) Long Phù Nguyên Hoá cửu niên Kỷ Sửu: Tức là năm Kỷ Sửu niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thứ chín (1109), đời vua Lý Nhân Tôn.
2) Đại Việt: Nguyên chữ Cự Việt quốc 巨越國, Cự nghĩa là Lớn, Đại
3) Viện Hương Hải: tên xưa của chùa Thiên Phúc.
4) Bồ Ðà Lạc sơn: tức là núi Phật Tích, nơi chùa toạ lạc
5) Sáu thời 六時 Nguyên chữ “Lục thời” chỉ: Sáng, Trưa, Chiều, Tối, Khuya và Sáng sớm.
6) Bốn Ơn: 四恩 Tứ Ân, có nhiều thuyết. 1. Theo Kinh Tâm Ðịa Quán Bốn ơn gồm: , Ơn mẹ cha, Ơn chúng sanh, Ơn quốc vương và Ơn Tam bảo. Theo Thích Thị Yếu Lãm thì bốn Ơn gồm: Ơn cha mẹ, Ơn sư trưởng, Ơn quốc vương và Ơn thí chủ.
7) Tam đồ: 三塗 Chỉ ba con đường ác là Ðịa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh. Ba đường còn là: 1. Hỏa đồ (đường lửa): Chỉ cho Ðịa ngục là chổ nổi lửa mạnh để thiêu đốt tội nhân; 2. Huyết đồ (đường máu): Chỉ cho nẻo Súc sanh là chổ ăn thịt lẫn nhau; 3. Ðao đồ (đường dao): Chỉ cho nẻo Ngạ quỷ là chổ bị gươm đao, gậy gộc bức bách.
8 ) Vọng cảnh : 妄境 Cảnh giả, không thật
9) Đại thiên: 大千. Tức là Tam thiên Ðại thiên thế giới, Kinh nói: Thế giới chia ra làm Tiểu thiên, Trung thiên và Ðại thiên, ba loại khác nhau. Gộp 4 đại châu, mặt trăng, mặt trời, chư thiên lại thì thành một thế giới. Một ngàn thế giới thì gọi là Tiểu thiên thế giới. Một ngàn Tiểu thiên thì gọi là Trung thiên thế giới. Một ngàn Trung thiên thì gọi là Ðại thiên thế giới.
10) Cõi Phật: Nguyên chữ “Sát 剎” , nghĩa là: Ruộng, nước, xứ. Thông thường dùng để chỉ “đất Phật”
11) Sáu con đường: Nguyên chữ Lục thú: 六趣 Còn gọi là Lục đạo, sáu đường ở chốn luân hồi. Theo Phật học, chúng sanh tùy theo nghiệp quả của mình mà chuyển sanh vào lục đạo: Thiên (Trời), A Tu La (Thần), Nhân (Người), Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ (Quỷ đói), Súc Sinh (Thú vật).
12) Nhất Thừa: 一乘 Cỗ xe duy nhất, để chỉ Phật thừa, là pháp môn duy nhất viên mãn. Cỗ xe mà Phật dùng đi đường, tức cỗ xe độc nhất tối sơ tối hậu mà mỗi chúng sanh vốn mang Phật tính dùng để đi trên con đường Ðạo nhất như chân thật. Danh từ này còn dùng để chỉ Bồ tát thừa trong Tam thừa.
13) Tròn: Nguyên chữ Viên 圓
14) Chắc: Nguyên chữ Thực 寔
15) Rỗng: Nguyên chữ Hàm 含
16) Không:.Nguyên chữ Hư 虛
17) Tam Giới: 三界 Chỉ nơi sinh sống của chúng sinh gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
18) Kinh Liên: Nguyên chữ Liên kinh 蓮經 chỉ Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tức kinh Pháp Hoa
19) Xây tháp: Nguyên chữ Bát Chủng 八種, chỉ Bát Chủng tháp 八種塔 như tháp Như Lai 如來塔, tháp Bồ Tát 菩薩塔, tháp Duyên Giác 緣覺塔, tháp A La Hán 阿羅漢塔, tháp A Na Hàm 阿那含塔, tháp Tư Ðà Hàm 斯陀含塔, tháp Tu Ðà Hoàn 須陀洹塔 và tháp Chuyển Luân Vương 轉輪王塔. Tám vị: Như Lai, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán, A Na Hàm, Tư Ðà Hàm, Tu Ðà Hoàn và Chuyển Luân Vương sau khi nhập diệt (chết) phải xây tháp thờ.
20) Tám Lời: Văn khắc viết 辨(辯), nguyên chữ Bát Biện 八辯 Tám biện tài. Chỉ tám tài khéo biện luận của Như Lai: 1. Bất Tư Hát biện 不嘶喝辯 (Biện luận chẳng cần hò hét, gào thét) ; 2. Bất Mê Loạn biện 不迷亂辯 (Biện luận chẳng mê loạn, lú lẫn) ; 3. Bất Bố Úy biện 不怖畏辯 (Biện luận mạnh dạn, không sợ hãi gì) ; 4. Bất Kiêu Mạn biện 不憍慢辯 (Biện luận không tỏ vẻ kiêu mạn) ; 5. Nghĩa Cụ Túc biện 義具足辯 (Biện luận nghĩa lý đầy đủ) ; 6. Vị Cụ Túc biện 味具足辯 (Biện luận ý vị đầy đủ) ; 7. Bất chuyết sáp biện 不拙澀辯 (Biện luận lưu loát, chẳng vụng về ngắt ngứ) ; 8. Ứng Thời Phân biện 應時分辯 (Biện luận đúng lúc).
21) Thi La: 尸羅 Dịch âm tiếng Phạn Sila, có nghĩa là phòng ngừa, ngăn cấm sự sai trái của thân và tâm. Phật đặt ra để đệ tử thi hành ngăn ngừa điều dữ.
22) Vườn phúc của Đế Thích: Nguyên chữ Đế Thích phúc điền 帝釋福田. Do chữ Đế Thích tứ uyển 帝釋四苑 là nơi Đế Thích Thiên cư ngụ, có hồ Như Ý đầy ắp nước tám Công Đức 帝釋天居於須彌山頂之善見城,城外之四面各有一苑,形皆正方,於各苑之中央皆有一如意池,池中八功德水盈滿,為帝釋諸天遊戲之處
23) Dược Vương: 藥王 vị Bồ Tát chuyên ban phát thuốc lành cứu chữa bệnh tật cho chúng sinh.
24) Lăng Già sơn: 楞伽山 núi Lăng Già, còn gọi là Già Sơn. Tương truyền nơi đây Phật truyền giảng kinh Lăng Già. Núi chất đầy bảo vật, hào quang sáng lạng, chiếu khắp mười phương, có đầy hoa thơm cỏ lạ, nhiều chùa, nhiều bảo vật cúng dường Phật pháp.
25) Thứu phong: 鷲峰 Còn gọi là Linh Thứu phong, Thứu Ðầu sơn, Thứu Ðài. Tương truyền đây là nơi Phật truyền giảng kinh Pháp Hoa.
26) Tứ quả: 四果 Chỉ bốn loại thánh quả khác nhau của Thanh Văn thừa: Các nhà phiên dịch cũ dùng tên Phạn gọi bốn quả đó là: Quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm và quả A-la-hán. Các nhà phiên dịch mới dịch là: Dự Lưu quả, Nhất Lai quả, Bất Hoàn quả và A La Hán quả.
27) Thái hậu: Tức Ỷ Lan nguyên phi của vua Lý Thánh Tông, mẹ vua Lý Nhân Tông.
28) Vua: Chỉ vua Lý Nhân Tông
29) Chuông: Nguyên chữ Kiền Trĩ 犍稚 dịch từ chữ Phạn Ghantà, nghĩa là các dụng cụ dùng để báo giờ giấc trong chùa. Trong truyện Cảm Thông kể rằng ngày xưa Phật Tỳ Lô Giá Na ở nước Tu Ða La xứ Càn Trúc tạo một cái chuông bằng đá xanh, mỗi lần đánh lên thì có vô số Hoá Phật hiện thân trong hư không tuyên thuyết diệu pháp, người nghe ngộ đạo đến vô số. Chuông ở đây là chuông lớn, nguyên bản viết “Hồng Chung” 洪鐘 còn gọi là Ðại hồng chung hay chuông U Minh, đánh vào mỗi buổi sáng và khi hoàng hôn. Ðánh lúc hoàng hôn để nhắc nhở cảnh vô thường, đánh vào buổi sáng sớm thức tỉnh lòng người bỏ tà quy chánh, dứt bỏ trần duyên để thoát ly sanh tử luân hồi.
30) Áo tía: Vua ban Cà Sa màu tía cho các vị thường là Quốc sư. Tục này bắt đầu tới Võ Tắc Thiên (684-774) ở Trung Quốc. Ở nước ta Thông Biện là người đầu tiên nhận áo tía được biết (theo Thiền Uyển Tập Anh).
31) Tức năm Giáp Thìn 1304 đời vua Trần Anh Tông,
Tham khảo:
“Văn khắc Hán Nôm Việt Nam-từ Bắc thuộc đến thời Lý”, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, 1999
“Phật Quang đại từ điển”, Fo Kuang xuất bản xã, Taipei
“Thiền Uyển Tập Anh”, Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản T.P Hồ Chí Minh, 1999
“Lĩnh Nam Chích Quái”, Chen Ching Hao, Học Sinh thư cục xuất bản, Taipei, Taiwan, 1987
“300 ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam”, Võ Văn Tường, CD, Tin Việt, T.P Hồ Chí Minh, 1996
“Việt Sử Lược”, bản Tứ Khố Toàn Thư, Library of Academia Sinica, Taipei, Taiwan
“Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư” bản Chính Hoà, 1696, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1999
“Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư”, Hiệu hợp bản của Chen Ching Ho, Soka university, Tokyo
“An Nam Chí Nguyên”, École Francais d’Extrême Orient, Hà Nội, 1931
10. “Lịch triều hiến chương loại chí”, Library of Academia Sinica, Taipei, Taiwan
11. “Kiến Văn Tiểu Lục”, Lê Quý Đôn, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977.
12. “An Nam Chí Lược”, “Lê Trắc (Tắc)”, Trung Hoa thư cục xuất bản, Peking, 1995 .
13. “Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Sơn Tây”, Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Đặc Trách Văn Hoá, phủ Quốc Vụ Khanh, 1963, Sàigon.
TT – Đã hơn một năm, từ ngày Hằng và Hà, hai cô gái tí hon, dắt nhau vào miền Nam và đến Sài Gòn. Những góc phố ở P.Tân Định, Q.1 đã quen với bước chân nhẹ như lướt và tà áo dài của hai chị em đi làm, đi học, đi diễn…
Thanh Hằng – Thanh Hà trong chương trình Tích hạt yêu thương hát vì nạn nhân Dioxin tại Nhà hát TP.HCM tháng 8-2009 – Ảnh: Nguyễn Á
Mỗi ngày của Hằng và Hà tất bật như bất kỳ người nhập cư nào ở Sài Gòn. Chỉ khác, những bước chân của Hằng và Hà nhỏ lắm, nhỏ như bước chân của các cô cậu tí hon trong chuyện cổ tích, và vẫn bước tới, bền bỉ, mạnh mẽ giữa dòng đời tấp nập.
Đám đông trầm trồ
Hằng cao 1,24m, Hà cao 1,25m, tuổi thơ ngưng đọng vĩnh viễn trên thân hình, trên khuôn mặt, trên nụ cười. Gặp Hằng và Hà, tôi phải tự nhắc mình rằng đây là những bạn gái, phải cố gắng lắm để kiềm chế mình, không đưa tay vuốt tóc, xoa đầu, thơm lên má như vẫn thường làm khi ngồi với những em bé gái. Vậy mà tôi vẫn không hết ngạc nhiên khi theo bước chân rất nhanh và tự tin của Hằng vào một quán ăn đã được cô đặt bàn trước, vẫn không hết thắc mắc khi hết ngày này sang ngày khác không thể xếp được một cuộc hẹn trong thời gian biểu dày đặc của cả hai chị em. Tôi tự xấu hổ vì mình chưa bỏ được những phản xạ đến từ trực giác, Hằng và Hà bật cười thông cảm trước sự lúng túng của tôi: “Ai cũng thế hết chị ạ, chúng em quen rồi”.
Hà cười giòn tan kể về những cái lắc đầu, những ánh nhìn nghi ngại từ anh xe ôm, người chạy taxi khi em đưa tay vẫy, những câu hỏi vặn vẹo: “Đi với ai? Cha mẹ đâu?” lúc em ra sân bay, bến xe… Hằng mỉm cười đầy vẻ khoan dung kể về các bà, các cô thường chặn bước mình lại để hỏi: “Hai chị em sinh đôi à? Mấy tuổi rồi? Học lớp mấy?”. Ông Hàn Tấn Quang, người cha tinh thần của hai cô hiện tại, cũng cười, kể về những đám đông cứ liên tục xuất hiện theo từng bước chân, trầm trồ trước những tà áo dài của hai chị em và đòi chụp ảnh chung khi ai đó nhận ra họ là ca sĩ…
“Phiêu bạt nơi phồn hoa…”
Đôi mắt của hai chị em đều rất đen. Ánh mắt Hằng đượm buồn nhưng long lanh những tia sáng quyết liệt, mạnh mẽ, ánh mắt Hà thì trong trẻo, hồn nhiên. Hai ánh mắt ấy quăng bắt nhịp nhàng, ăn ý giữa giai điệu dặt dìu của bài Về quê, da diết của Bà tôi khiến người nghe tưởng như mình đang về quê thật, với ruộng lúa, bờ đê, với tuổi thơ, cánh diều và quay lại với một phút xao lòng “phiêu bạt nơi phồn hoa cát bụi, đôi khi cánh cò xưa lạc vào giấc mơ”. Chợt giật mình nhận ra hai cô ca sĩ cũng đang lưu lạc xa nhà, đua chen giữa dòng đời với những bước chân tí hon, yếu ớt.
Hà (trái) và Hằng trong công việc hằng ngày của mình – Ảnh: Gia Tiến
Mỗi buổi sáng, như bất kỳ người phụ nữ trưởng thành nào, hai cô thức dậy chọn cho mình bộ áo dài đẹp, trang điểm xinh tươi và bắt đầu một ngày làm việc tại tòa soạn tạp chí Kiến Thức Ngày Nay. Công việc của Hằng – Hà là phân loại, đánh máy bài vở của cộng tác viên từ các nơi gửi đến. Lọt thỏm trên ghế, thấp hơn rất nhiều so với màn hình máy tính, bốn bàn tay bé xíu thoăn thoắt thao tác trên bàn phím, Hằng và Hà đã giành được sự yên tâm, tin tưởng của những nhà báo, nhà khoa học không kém phần khó tính.
Trưa, một suất cơm văn phòng chia đôi, và buổi chiều tối bận rộn hơn với đời ca sĩ bắt đầu: giải quyết những công việc tồn đọng ở văn phòng, hướng dẫn khách tham quan phòng tranh, đi luyện thanh ở nhà cô Thanh Trì, tự tập bài hát mới, đi học tiếng Anh, rảo chợ tìm tấm vải may áo, thảo luận với những người đặt sô, đi biểu diễn, thu âm, thu hình… Tối khuya, mệt nhoài về căn phòng nhỏ, hai chị em đôi khi tự đãi mình một cuộc điện thoại gọi cho bố mẹ, và đêm ấy thế nào “cánh cò xưa” cũng “lạc vào giấc mơ”.
“Cánh cò xưa lạc vào giấc mơ”
“Nhà em giờ thuộc Hà Nội đấy, nhưng thật ra là vùng quê Vĩnh Phúc, trồng lúa và nghèo lắm. Em là út, là 8X đời gần cuối, nhưng vẫn có những thời gian nhà không có gạo, phải ăn sắn suốt” – Hà hồn nhiên và lí lắc suốt câu chuyện với tiếng cười giòn tan. Mẹ là một thôn nữ mạnh khỏe, bố cũng mạnh khỏe, đi bộ đội qua những vùng rừng núi miền Trung, Tây nguyên rồi phục viên sau ngày miền Nam được giải phóng. Năm người con sinh ra thì ba chị em Huyền – Hằng – Hà lần lượt theo nhau không lớn nữa ở tuổi lên 10.
Hằng cười nhẹ kể về những bất ngờ của số phận: “Vào cấp II, mình như càng lúc càng bé giữa bạn bè cứ lớn bổng lên qua từng năm. Chị Huyền cũng thế và qua tuổi 20 thì mấy chị em biết rằng mình không thể lớn nữa. Một em gái, một em trai kế thì cao lớn, mạnh khỏe, đến Hà lại bé. Nhiều người nói có lẽ bố đã bị nhiễm chất độc da cam khi ở quân ngũ, mình không biết đích xác. Nhưng nếu đúng vậy thì có lẽ chị em mình là may mắn nhất trong số những nạn nhân. Có lúc cũng buồn và thấy khó sống trong thế giới người lớn nhưng rồi lại vui ngay, vì mình bé thế thì ai cũng chiều mà”.
Bé nhỏ và rất sợ đỉa, nhưng đôi chân của Hằng và Hà đã từng đầm dưới ruộng những ngày hè nắng nóng đến nước bốc hơi. Những ngày đông rét tím người, đôi tay bé xíu đã từng cấy, cắt lúa, tát đìa bắt cá, hái rau chăm lợn, thấm thía nỗi vất vả, bấp bênh của nghề nông. Gắng hết sức để giúp bố mẹ, mấy chị em Hằng từng rơi nước mắt vì thấy mình bất lực trước những công việc đòi hỏi sức vóc, “may mà còn giọng hát”. Những năm ở nhà, Hằng từng đi hát ở đình làng, hội làng, liên hoan, tiệc cưới, đôi chân tí hon đã đi qua vùng rừng núi Tây Bắc đến tận Lũng Cú, Hà Giang, từng đi dọc nhiều tỉnh miền Trung trong các chuyến biểu diễn theo đoàn văn nghệ.
“Ước mơ của chị em mình là dành dụm được món tiền mua cho mẹ một mảnh đất nhỏ ở thị xã để bán tạp hóa. Hiện giờ mỗi tháng tụi mình dành ra 1 triệu đồng gửi về nhà giúp mẹ, sắp tới sẽ cố gắng để được hát nhiều hơn, lập thêm một quỹ tích lũy cho kế hoạch ấy” – Hằng tính toán rất rõ ràng. Kèm theo đó là một kế hoạch cũng rất rõ ràng: luyện thanh để giọng dày dặn hơn, luyện hơi để có sức hát bền hơn, tập thêm bài hát mới và phong cách biểu diễn để có nhiều cơ hội hơn.
“Chúng mình còn nhiều may mắn, được lành lặn, được hát, vậy là đủ hạnh phúc rồi. Vui nhất là khi được đến hát ở những trường nuôi trẻ khuyết tật, làng SOS. Mọi người ngạc nhiên vì thấy bọn mình bé, bọn mình thì quá khâm phục khi thấy họ khuyết tật mà vẫn sống tốt, vẫn tự lập. Đôi bên đều vui, đều thấy tự tin hơn khi được gặp nhau”. Hằng – Hà cười vui và lại lướt đi, góp những bước chân tí hon và giấc mơ của mình vào nhịp sống Sài Gòn cuồn cuộn…
Chưa có cặp song ca tương tự
Ngước mắt lên thật cao mới nhìn thấy vật treo tường, Hằng và Hà khiến nhiều khách tham quan thú vị khi giải thích cặn kẽ từng bức tranh, từng món cổ vật ở phòng trưng bày của tạp chí Kiến Thức Ngày Nay – Ảnh: Gia Tiến
Thanh Hằng (sinh năm 1978, cao 1,24m), Thanh Hà (sinh 1988, cao 1,25m) vừa được Trung tâm Kỷ lục Việt Nam công nhận kỷ lục Cặp song ca chị em ruột có vóc dáng thấp nhỏ nhất vào tháng 2-2010. Khảo sát trên thế giới chưa có cặp song ca nào tương tự (một cặp ở Trung Quốc chưa đến tuổi trưởng thành) nên trung tâm đang tiến hành đăng ký với tổ chức kỷ lục thế giới Guinness.
Đến TP.HCM đầu năm 2009, đôi song ca Thanh Hằng – Thanh Hà có giọng hát rất thích hợp với các làn điệu dân ca, đã xuất hiện trong nhiều chương trình ca nhạc hướng về cộng đồng như Lễ hội trăng rằm 2009, Tích hạt yêu thương, Tiếp sức đến trường, Thương về miền Trung… Trong cuộc thi video clip của Đài truyền hình TP.HCM 2009, clip Bà tôi của hai chị em đã lọt vào mười bài hát được khán giả yêu thích nhất tháng 10-2009.
Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của tuyệt tác Màu Tím Hoa Sim, đã qua đời tại quê nhà ở Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3, 2010, lúc 21 giờ, hưởng thọ 95 tuổi.
Màu Tím Hoa Sim, ai đọc qua mà không buồn da diết!
Cuộc tình trong thời nhiễu loạn phân ly…
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…
Chiến tranh không có quy luật phân ly!
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt…
Tiểu sử
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa, đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó, bằng tú tài rất hiếm, rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.
Năm 1943, ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà, và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.
Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội, phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.
Tháng 2 năm 1948, lúc ấy ông 32 tuổi, được nghỉ phép hai tuần lễ, về quê cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi, con gái của ông bà tham Kỳ, một gia đình nền nếp, gia sản có tới hàng trăm mẫu ruộng ở Thanh Hoá mà trước đây ông đã từng làm gia sư dạy kèm cho các con của ông bà suốt nhiều năm liền. Cô Ninh yêu ông bằng một tình yêu kỳ lạ, nửa như người anh, nửa như người thầy. Ông cũng coi cô bé xinh đẹp 16 tuổi đó nửa như em gái, nửa như cô học trò vì khi ông mới đậu tú tài, được ông bà tham Kỳ nhờ đến dạy học cho hai người anh của cô Ninh thì cô mới 8 tuổi. Sau, ông cũng làm gia sư cho cô luôn.
Cưới nhau xong, ông lại lên đường ra mặt trận. Sư đoàn lúc ấy ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ba tháng sau, tháng 5 – 1948, từ ngoài mặt trận, ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê nhà vắn số: cô giặt đồ ở ngoài sông, xảy chân ngã xuống sông, bị nước cuốn đi, chết đuối. Ông quá đau khổ, định sẽ ở vậy suốt đời, đồng thời đem nỗi lòng mình viết thành những câu thơ rồi dần dần thành bài Màu tím hoa sim đầy kỷ niệm. Mấy năm sau – khoảng các năm 1951-1953 – bài thơ này nổi tiếng, được lưu truyền trong dân chúng nhưng bị phê bình là ủy mị, mang tính chất tiểu tư sản!
Năm 1954, sáu năm sau ngày vợ chết, hoà bình lập lại nhưng chuyện đấu tố diễn ra. Bộ đội đóng ở Nghệ An, ông về nhà chơi, được biết ở làng bên có một gia đình địa chủ ngày trước vẫn tiếp tế lương thực cho sư đoàn của ông, nay bị đấu tố chết rất thê thảm, chỉ trừ cô gái 17 tuổi tên Phạm Thị Nhu thì được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, cấm không cho ai được phép liên lạc. Ông nhớ tới ơn xưa, bèn đi tìm xem cô ta ra sao thì gặp cô đang đói khát, mặt mũi lấm lem, quần áo rách rưới, đang đi mót những củ khoai người ta bới xong còn sót lại ở ngoài cánh đồng, chùi sơ rồi bỏ vào miệng ăn sống. Thấy ông, cô khóc rưng rức vì cảnh khốn cùng của mình và cho biết ban đêm cô ngủ trong một ngôi miếu hoang, chỉ sợ có kẻ làm bậy và không hiểu mình sẽ tồn tại được bao lâu. Ông rất thương xót, đồng thời cũng nhớ tới những kỷ niệm mà hồi trước, khi cô còn nhỏ, ông dạy học ở xã bên ấy, cô thường núp nghe ông giảng truyện Kiều.
Ông quyết định đem cô về nhà cha mẹ và lấy cô làm vợ. Cấp trên không đồng ý. Ông là đảng viên, lại trưởng phòng Tuyên huấn kiêm chính trị viên tiểu đoàn, không được lấy con cái địa chủ, nếu lấy thì sẽ bị đuổi khỏi quân đội và bị khai trừ khỏi đảng. Tính ông ngang bướng, ông chấp nhận điều kiện thứ hai và cô Phạm Thị Nhu trở thành người vợ sống với ông cho đến bây giờ, sinh cho ông được 10 người con cùng với 37 đứa cháu như chúng ta sẽ biết.
Đầu năm 1955, ra khỏi quân đội, ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án quyết liệt những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, ám hại lẫn nhau vv… Như trong tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và trong truyện ngắn Lộn sòng, ông coi mình là nạn nhân và phê phán một cách gay gắt.
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đi cải tạo mấy năm rồi được thả, cho về địa phương và bị quản chế tại địa phương. Hiện nay tất nhiên lệnh quản chế đó đã hết từ lâu nhưng ông vẫn sống tại quê nhà.
Các tác phẩm
Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào. Một số bài thơ đã được phổ biến trên các báo chí của ông: Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô…
Tại miền Nam, bài Màu tím hoa sim đã được các nhạc sĩ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh phổ nhạc… Trong đó bài của Dzũng Chinh và Phạm Duy là nổi tiếng nhất.
Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. (Nguồn: datviet.com)
Để tưởng niệm Hữu Loan, sau đây là:
1. Nguyên văn bài thơ Màu Tím Hoa Sim
2. Bản dịch bài thơ sang tiếng Anh (“Berryflower Violet”) của TĐH.
3. Video bài thơ Màu Tím Hoa Sim, do Quốc Anh ngâm.
4. Video bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, Phạm Duy viết, do Elvis Phương hát.
5. Video bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”, Dzũng Chinh, do Phương Dung hát.
6. Audio link “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, do Hương Lan và Duy Quang hát.
7. Video bản “Chuyện Hoa Sim” của Anh Bằng, do Như Quỳnh hát.
8. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do chính Duy Khánh hát.
9. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do Giao Linh hát.
10. Tiếp theo đó là lời kể của Hữu Loan về cuộc tình đã tạo nên bài thơ này.
Cầu xin cho linh hồn Hữu Loan được an lạc nơi chín suối.
Hoành
Màu Tím Hoa Sim
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nhìn nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).
Hữu Loan
Berryflower Violet
She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft
I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband
I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…
Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness
Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…
An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone
In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”
TĐH translated
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi: -Thầy có thích ăn sim không ? Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. -Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : Chiều hành quân, qua những đồi sim Những đồi sim, những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt Và chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đến vụ Nhân văn Giai phẩm
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…
Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.
Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
Tên thật: Hứa Vĩnh Sước
Dân tộc: Tày
Sinh năm: 1948
Nơi sinh: Trùng Khánh, Cao Bằng
Bút danh: Y Phương
Thể loại: thơ, kịch
Các tác phẩm:
– Người núi Hoa (1982)
– Tiếng hát tháng giêng (1986)
– Lửa hồng một góc (1987)
– Lời chúc (1991)
– Đàn then (1996)
– Thơ Y Phương (2002)
Vài bài thơ của Y Phương:
Tên làng
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Ba mươi tuổi từ mặt trận về
Vội vàng cưới vợ
Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa
Rào miếng vườn trồng cây rau
Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu
Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Mang trong người cơn sốt cao nguyên
Mang trên mình vết thương
Ơn cây cỏ quê nhà
Chữa cho con lành lặn
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba
Lần đầu tiên sông núi gọi ông bà
Lần đầu tiên nhóm lửa trên mặt nước
Lần đầu tiên sứ sành rạn nứt
Lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên
Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp
Bàn chân từng đạp bằng đá sắc
Trở về làng bập bẹ tiếng đầu tiên
Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn trề
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con
Phố Xưa
Phố xưa
Bây giờ vẫn như xưa
Những mái nhà nâu
Những cột nhà đen
Đêm đêm lép bép ngọn đèn.
Tôi đi trên con đường xưa
Tránh đứa trẻ đang bò chơi bi
Tránh ông già lim dim sưởi nắng
Tránh người yêu xưa đầu đường áo trắng
Con trên vai đi thẳng chẳng nhìn ai
Giận nhau lâu
Nhớ nhau dài
Tôi trở về tìm người yêu xưa ở phố
Em gọi
Nhưng tôi không ngoái cổ
Giả vờ đi.
Mùa hoa
Mùa hoa
Mùa đàn bà
Mặt đỏ phừng
Thừa sức vác ông chồng
Chạy phăm phăm lên núi.
Mùa hoa
Mùa đàn ông
Mệt như chiếc áo rũ
Vừa vịn vừa đi vừa ngái ngủ.
Nói với con
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con
Hôm nay, nhờ thông tin từ anh Trần Can, mình có dịp giới thiệu đến các bạn một tài năng Tây Nguyên nữa, đó là nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh, tức kiến trúc sư Đỗ Kim Châu của Buôn Ma Thuột
Nhạc của anh Đỗ Thất Kinh mang nhiều màu sắc của du ca thập niên ’70–sinh viên đi qua các nẻo quê hương, hát với cây đàn guitar, cho tình yêu, thân phận, và đất nước.
Thưa em xưa nếm hạt đất vàng
Nằm buông tóc trôi một giòng sông
Ta theo vết hương thẳm đầu núi
Một sớm mai về nơi suối nguồn
(Ngõ Vàng Quỳ – ĐTK)
Ca sĩ Ngọc Huy
Đây là tuổi trẻ không bao giờ già. Những sinh viên của giai đoạn này, cho đến khi chết vẫn hoài chạy theo bóng hình quyến rũ cùa quê hương, tình yêu, và thân phận… như cành tùng chênh vênh sườn đồi nơi đầu gió, muôn thuở còn xanh.
Về với mây hát đôi câu ru hời
Về núi cao rũ vai bụi đường xa
Ngồi hát ngêu mấy con chữ ta bà
Tình hốt nhiên rớt trên mây la đà
(Nghìn Tay Ôm Một Nụ Cười – ĐTK)
Hai bản nhạc chúng ta sẽ nghe đây được ca sĩ Ngọc Huy trình bày. Ngọc Huy có giọng ca rất trầm, ấm, và đầy. Rất truyền cảm. Rất hợp với các bản nhạc này.
Chúng ta có hai links đến audio file để nghe, với âm thanh rất tốt. Bản đầu, Ngõ Vàng Quỳ, do Ngọc Huy hát chính và Đỗ Thất Kinh ca bè. Bản thứ hai do Ngjoc Huy ca solo.
Bản Ngõ Vàng Quỳ còn có link đến Youtube, cho các bạn muốn xem video, nhưng file video âm thanh không tốt, nên không nghe được giọng ca trung thực của Ngọc Huy.
Ngõ Vàng Quỳ
– Đỗ Thất Kinh –
Xưa theo em dưới Ngõ Vàng Quỳ
Bầy chim trắng bay về tựa như bông
Xưa theo em nhớ mãi từng mùi hương
Hỡi em nhu mì như đóa hường
Nay theo em bên ngõ trổ hoa vàng
Mà nhớ mang mang làn hương người xưa
À ơi! À ơi! (i) À ơi!
Thưa em xưa nếm hạt đất vàng
Nằm buông tóc trôi một giòng sông
Ta theo vết hương thẳm đầu núi
Một sớm mai về nơi suối nguồn
Ơi em khép nép đóa dị thường
Vừa hát câu ru lời u trầm Đông Phương
À ơi! À ơi! (i) À ơi!
Thưa em xưa ngõ trổ vàng quỳ
Thưa em nay ngõ trổ vàng quỳ
Thưa em nay ngõ trổ vàng quỳ.
Ai qua vương vấn một mùi hương.
(Ai qua vương vấn một mùi hương…)
N g h ì n T a y Ô m M ộ t N ụ C ư ờ i
Nhạc & hoà âm:đỗthấtkinh
Mọc tay dài vói mây cười nghiêng ngả
Kìa trăng lạnh bước ra hồn ngậm sương
Mọc chân dài bước quanh ngày phố lạ
Tìm dấu ai bóng chim khuất non tà
Tìm em nơi nào mông mù phố lạ
Tìm ta hoang quạnh cõi miền rất xa
Về với mây hát đôi câu ru hời
Về núi cao rũ vai bụi đường xa
Ngồi hát ngêu mấy con chữ ta bà
Tình hốt nhiên rớt trên mây la đà
Ngụm mây say tỉnh hớp một hớp tình
Đàn reo tích tịch tang tình tính tang
Có đoá hoa cười giữa muôn hoa
Ta đi vào lạc bước chân ra
Có tiếng chim rộn giữa chân chim
Ta ôm đàn reo cùng cỏ hoa
Từ biết em
Bỗng dưng đời rất lạ
Từ yêu người
Trái tim ngọt cỏ hoa
Mọc tay dài ôm người đâu mệt lả
Mọc tay dài cho ta ôm muôn loài
Nghìn tay ôm một giấc mơ đá quạnh
Nghìn tay ôm người
Trái tim lá xanh…
Là Giải thưởng nhằm tôn vinh các học giả Việt Nam và nước ngoài thuộc mọi quốc gia. Giải thưởng được Khoa Quốc tế – Đại học Quốc gia Hà Nội tài trợ cùng đối tác là vài Đại học Quốc tế khác. Năm 2007 Giải thưởng được dành cho dịch giả triết học Bùi Văn Nam Sơn. Năm 2008 hai nhà nghiên cứu là TS David G. Marr (Australia) và TS Yumio Sakurai (Nhật) đoạt Giải.
Năm nay, toàn bộ Ủy viên Hội đồng Khoa học Giải thưởng nhất trí trao cho các công trình nghiên cứu của Inrasara.
Giải thưởng sẽ được phát tại Hà Nội ngày 24-3-2010.
Trần Can xin thông báo cùng các anh chị em trên Đọt Chuối Non & xin chia vui cùng anh Sara.
Sơ lược công trình nghiên cứu của anh Inrasara:
Về nghiên cứu văn hóa Chăm
– Văn học Chăm I – Khái luận, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1994.
– Văn học dân gian Chăm – Ca dao, Tục ngữ, câu đố.
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2006.
– Văn học Chăm II – Trường ca, sưu tầm – nghiên cứu.
+ In lần nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Từ điển Chăm – Việt (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1995.
– Từ điển Việt – Chăm (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1996.
– Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1999.
+ In lần thứ hai: NXB Văn học, H., 2003.
+ In lần thứ ba: NXB Văn học, H., 2008.
– Tự học tiếng Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2003.
– Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường (viết chung), NXB Giáo dục, H., 2004.
– Sử thi Akayet Chăm, NXB Khoa học Xã hội, H., 2009.
Chủ biên
– Tagalau, tuyển tập sáng tác – ¬sưu tầm – nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-2009).
– Tủ sách văn học Chăm (10 tập – đã in 3 tập).
Có thể nói không ngoa rằng Inrasara đã làm sống lại văn học cổ điển Chăm, một nền văn học tưởng chừng đã tuyệt diệt, đã suýt bị lãng quên một cách oan uổng.
Là người con của hai nền văn hoá Chăm- Việt, anh đã sưu tầm và chuyển ngữ sang tiếng Việt rất thành công những Arya (Trường ca). Akayet ( Sử thi) Chăm cổ.
Góp phần làm phong phú nền văn hoá đa dân tộc Việt Nam.
Em đến với Cô bằng một lần bị Cô mắng mỏ không mấy yêu thương nhưng chân tình và nghiêm túc. Rồi từ đó, như có một lực hút hấp dẫn, em trông tin Cô mỗi ngày. Biết mỗi ngày là hơi quá, hơi đòi hỏi, nhưng trông vẫn trông. Và từ đó, hai cô trò sử dụng ngôn từ để viết cho nhau. Trò thấy mình như đáng yêu hơn, trưởng thành hơn trong mỗi mail của Cô.
Cô dạy tiếng Anh, trò không có khiếu tiếng Anh. Cô khuyến khích dịch những truyện ngắn, trò vất vả cố gắng vì bị “khiêu khích” nhưng chưa có tác phẩm nào ra ngô ra khoai. Cô bảo: “Với đám nhóc yêu của Cô, truyện dịch và danh ngôn dịch không thiếu, Cô yêu chúng vì chúng hăng say và tích cực”. Trò quay sang định dịch danh ngôn để được đứng vào hàng ngũ “đám nhóc yêu” của Cô nhưng cũng bó tay. Rốt cục, chỉ có tiếng Việt là “say” hơn.
Tôi học tiếng Việt từ hai người thầy dạy tiếng Anh. Trước là Thầy dạy tôi thời đại học. Thầy dạy viết rất vui: chọn từ này, rồi xóa từ này thay từ khác hay hơn, rồi có khi lại thay từ hay hơn đó bằng một từ đắt hơn, thực sự phù hợp với tâm trạng, hoàn cảnh của người viết. Ý sau nối với ý trước, nối chưa hay thì sắp xếp thứ tự lại cho hay hơn, logic hơn. Cô dạy tôi thời “sau đại học”. Cô là nguồn cảm hứng cho trò phát triển ngôn từ, Cô là người khám phá và khơi dậy những gì tưởng đã ngủ quên hoặc chưa từng có trong tôi. Đầu óc tôi trở nên hoạt động một cách điệu nghệ và tràn đầy những cảm nhận yêu thương. Tôi hài lòng với những gì mình viết được ra, sung sướng biết Cô bắt được những gì gì đó và Cô cười. Trò say sưa trải lòng, tha thiết “nghe” thấy Cô cười. Cô cười một, lòng trò ấm áp cười hai, ba. Blessing and blessing.
Cảm nghĩa Cô đưa trò đến biển yêu thương. Trò như đứa con tha thiết mong mỏi mẹ về sau mỗi giờ tan sở, mong tin Cô như hoa cỏ mong sương mỗi sớm. Mỗi email của Cô, cho dù hơi lộn xộn vì Cô không đủ thời gian sắp xếp nó lại, chỉ kịp gõ nhanh những gì Cô đang nghĩ, vậy mà như một món ngon khiến tôi có thể no suốt mấy ngày. Đó là lý do vì sao tôi hay nói với Cô là mình đã rất sung sướng và đầy đủ để Cô dành thời gian cho bản thân mình và những người khác đang rất cần Cô.
Sau lưng Cô mang một chiếc gùi nặng những niềm yêu. Em sung sướng được cùng những niềm yêu khác làm nặng vai Cô. Những khi Cô quá nặng những yêu thương, chia sẻ thì em lại tự động leo lên trèo ra trước thành một bông hoa thật nhỏ và thật nhẹ xin cài trên ngực Cô. Leo ra rồi lại leo vào…
Hôm trước mình có giới thiệu ca sĩ Taylor Swift của nước Mỹ, hôm nay mình giới thiệu 1 ca sĩ không chuyên của Việt Nam – hát nhạc và gảy đàn ghi ta giỏi quá trời luôn ! Name: Nguyễn Thị Thái Trinh
Ngày sinh: 9/9/1993
Hometown: Ho Chi Minh City
Occupation: Student
Schools: Bùi Thị Xuân High School
Thể loại nhạc yêu thích: Bossanova, jazz
Biệt danh (nick name) : Trinh Xù, Chinsu
Các quán hay ghé thăm: Hollywoodome, Cooku’s nest, Serenata
Thể loại nhạc yêu thích: Bossanova, jazz
Bạn Thái Trinh đang là học sinh 11 trường THPT Bùi Thị Xuân Quận 1.
Bạn bè Trinh nói có lần tới cooku’s nest thấy chủ quán giới thiệu em chơi piano từ năm 3 tuổi, lúc cuối buổi còn thấy cầm violin lên chơi nữa.
Cô bé này học tiếng Anh rất giỏi đạt giải Appollo, vừa dễ thương hát vừa hay, bạn bè gọi vui là No1 “Apollo english idols”.
Nếu nền thương mại âm nhạc Việt Nam phát triển như Mỹ rất có thể tài năng Thái Trinh được lăng xê không kém Taylor Swift của nước Mỹ đâu.
Các bạn trẻ tuổi teen hãy hát và học Tiếng Anh cùng Thái Trinh qua 3 bài hát cover của các ca sĩ nổi tiếng nhé : The Show, Love me tender và Like a star.
Chúc các bạn một ngày tươi vui!
Nguyễn Hoàng Long
P/S: Ai có thông tin thêm về Thái Trinh xin cung cấp thêm nhé !
.
I’m Yours – Nhạc: Jason Marz – Ca sĩ: Thái Trinh
Lyrics to I’m Yours :
Well you done done me
and you bet I felt it
I tried to be chill
but you’re so hot that I melted
I fell right through the cracks
Now I’m trying to get back
Before the cool done run out
I’ll be giving it my bestest
And nothing’s gonna to stop me
but divine intervention
I reckon it’s again my turn
to win some or learn some
But I won’t hesitate
no more, no more
It cannot wait, I’m yours
Well open up your mind
and see like me
Open up your plans
and damn, you’re free
Look into your heart
and you’ll find love love love love
Listen to the music of the moment
people dance and sing
We’re just one big family
And it’s our God-forsaken right
to be loved love loved love loved
So I won’t hesitate
no more, no more
It cannot wait I’m sure
There’s no need to complicate
Our time is short
This is our fate, I’m yours
Scooch on closer dear
And I will nibble your ear
I’ve been spending way too long
checking my tongue in the mirror
And bending over backwards
just to try to see it clearer
But my breath fogged up the glass
And so I drew a new face and laughed
I guess what I’m be saying is
there ain’t no better reason
To rid yourself of vanity and
just go with the seasons
It’s what we aim to do
Our name is our virtue
But I won’t hesitate
no more, no more
It cannot wait I’m sure
Well open up your mind
and see like me
Open up your plans
and damn, you’re free
Look into your heart
and you’ll find the sky is yours
Please don’t, please don’t,
please don’t
There’s no need to complicate
Cause our time is short
This, oh this, oh this is our fate, I’m yours
.
Love me tender – Tác giả: Elvis Presley – Ca sĩ: Thái Trinh
Love me tender,
Love me sweet,
Never let me go.
You have made my life complete,
And I love you so.
Love me tender,
Love me true,
All my dreams fulfilled.
For my darlin I love you,
And I always will.
Love me tender,
Love me long,
Take me to your heart.
For it’s there that I belong,
And well never part.
Love me tender,
Love me dear,
Tell me you are mine.
Ill be yours through all the years,
Till the end of time.
(when at last my dreams come true
Darling this I know
Happiness will follow you
Everywhere you go).
.
The show – Tác giả: Lenka – Ca sĩ: Thái Trinh
I’m just a little bit caught in the middle
Life is a maze and love is a riddle
I don’t know where to go, can’t do it alone
I’ve tried and I don’t know why
Slow it down, make it stop or else my heart is going to pop
‘Cause it’s too much, yeah it’s a lot to be something I’m not
I’m a fool out of love ’cause I just can’t get enough
I’m just a little bit caught in the middle
Life is a maze and love is a riddle
I don’t know where to go, can’t do it alone
I’ve tried and I don’t know why
I’m just a little girl lost in the moment
I’m so scared but I don’t show it
I can’t figure it out, it’s bringing me down
I know I’ve got to let it go and just enjoy the show
The sun is hot in the sky just like a giant spotlight
The people follow the signs and synchronize in time
It’s a joke nobody knows, they’ve got a ticket to the show
Yeah, I’m just a little bit caught in the middle
Life is a maze and love is a riddle
I don’t know where to go, can’t do it alone
I’ve tried and I don’t know why
I’m just a little girl lost in the moment
I’m so scared but I don’t show it
I can’t figure it out, it’s bringing me down
I know I’ve got to let it go and just enjoy the show
Just enjoy the show
I’m just a little bit caught in the middle
Life is a maze and love is a riddle
I don’t know where to go, can’t do it alone
I’ve tried and I don’t know why
I’m just a little girl lost in the moment
I’m so scared but I don’t show it
I can’t figure it out, it’s bringing me down
I know I’ve got to let it go and just enjoy the show
Just enjoy the show, just enjoy the show
I want my money back, I want my money back
I want my money back, just enjoy the show
I want my money back, I want my money back
I want my money back, just enjoy the show
.
Like a star – Tác giả: Bailey Rae, Corinne – Ca sĩ: Thái Trinh
Just like a star across my sky
Just like an angel off the page
You have appeared to my life
Feel like I’ll never be the same
Just like a song in my heart
Just like oil on my hands
Oh, I do love you
Still I wonder why it is
I don’t argue like this
With anyone but you
We do it all the time
Blowing out my mind
You’ve got this look I can’t describe
You make me feel like I’m alive
When everything else is a fade
Without a doubt you’re on my side
Heaven has been away too long
Can’t find the words to write this song
Oh, your love
Still I wonder why it is
I don’t argue like this
With anyone but you
We do it all the time
Blowing out my mind
I have come to understand
The way it is, it’s not a secret anymore
‘Cause we’ve been through that before
From tonight I know that you’re the only one
I’ve been confused and in the dark, now I understand
I wonder why it is
I don’t argue like this
With anyone but you
I wonder why it is
I won’t let my guard down
For anyone but you
We do it all the time
Blowing out my mind
Just like a star across my sky
Just like an angel off the page
You have appeared to my life
Feel like I’ll never be the same
Just like a song in my heart
Just like oil on my hands
Đó chỉ là một cách nói ví von, nhưng rất đúng. Nếu ngày trước không có Kiến Trúc Sư Kasimierz Kwiatkowsky (người Balan -thường gọi thân mật là Kazik), không nằm gai nếm mật chịu muôn ngàn gian khổ thiếu thốn thì chúng ta có thể đã không có một Mỹ Sơn thánh địa hôm nay , chúng ta hãy nghe lại một nhận định của Kazik, khi lần đầu bắt gặp Mỹ Sơn :
“Người Chăm cổ đã biết thổi hồn vào đất đá; biết dựa vào thiên nhiên để làm nên một Mỹ Sơn tráng lệ , thâm nghiêm và hùng vĩ. Đây là một bảo tàng kiến trúc điêu khắc nghệ thuật vô giá của nhân loại mà chúng ta còn lâu mới hiểu hết.”
Công lao của Kazik bỏ ra cho Mỹ Sơn không nhỏ, ông đã từng thoát chết khi đi cùng đội rà phá bom mìn còn sót lại , đã từng ăn ngủ cùng Mỹ Sơn trong hoàn cảnh thiếu thốn đến cơ cực trong những năm 1980 khi đất nước còn chật vật muôn vạn khó khăn, ông đã từ bỏ những công việc có lương cao và cuộc sống đầy đủ ở quê nhà chỉ để sống cùng và với Mỹ Sơn, tình yêu nghệ thuật kiến trúc cổ của ông làm chúng ta trân trọng và không khỏi cảm động.
Chỉ tiếc một điều khi công lao của ông được đền đáp là lúc ông không còn bên cạnh chúng ta nữa, ông mất năm 1997 thì năm 1999 Mỹ Sơn chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Tượng của ông sẽ được dựng tại Hội An, và sẽ có một con đường mang tên ông ở đô thị cổ này, đó cũng là một cách chúng ta nhớ ơn những gì ông đã làm cho đât nước Việt thân yêu của chúng ta.
Năm 1993, có một bài thơ mang tên Kazik của một thi sĩ lạ hoắc: Inrasara, một nhà thơ Chăm.
KAZIK
Như vỗ cánh bay ngược Thời Gian
bằng đôi tay đại bàng
Kazik
bắt mạch đống vụn tàn
song thoại hồn thiên cổ …
vỡ lớp bụi ngày tháng và năm
cho lộ thiên Quá Khứ
đánh thức Hội An, dựng dậy Mỹ Sơn
sống lại một trời lẫm liệt…
Đây là một bài thơ rất hay, của một thi sĩ đại diện cho cả cộng đồng Chăm nhỏ bé nói lên lời tạ ơn với Kiến trúc sư Kazik, để rồi sau đó, cũng chính anh trở thành một Kazik trong văn học Chăm, ( và cả văn học Việt ): Inrasara
Năm 1997, giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam được trao cho tập thơ Tháp Nắng của một thi sĩ Chăm : Inrasara.
Nhiều người cho đó là một hiện tượng lạ , nhưng đến 2005 một lần nữa, Inrasara khẳng định tài năng thực sự của mình bằng một cú đúp ngoạn mục: giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam lần thư 2 và giải thưởng Văn Học Đông Nam Á với tập thơ : Lễ Tẩy Trần Tháng Tư
Vinh hạnh cho Inrasara, cho cộng đồng Chăm và cho cả dân tộc Việt.
Đọc thơ Inrasara, luôn cho ta nhiều cảm xúc khác nhau, tựa như xem một bức tranh vẽ lên toàn cảnh xã hội Chăm, buồn và đẹp, u uẩn và kiêu hãnh, và làm cho người xem luôn cảm thấy day dứt.
Thấm đẫm sương mù quá khứ
chàng làm thơ
những vần thơ
chảy máu…
những vần thơ
lấp lánh
như giọt nước mắt
giọt nước mắt
không rơi được
chảy ngược
lên trời
thành những cánh sao …
( thơ Trần Can tặng Inrasara )
Không chỉ làm thơ, Inrasara còn dành rất nhiều tâm huyết và sức lực để nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật và cóp nhặt văn học Chăm, sắp xếp lại cho có hệ thống. Một công việc rất vất vả mà anh ròng rã gánh vác suốt thời tuổi trẻ, đơn thuần chỉ vì tình yêu đối với quê hương và dân tộc Chăm của mình, thật đáng trân trọng.
Từ Inrasara, mọi người đã có một cái nhìn Khác về Chăm.
Đó là điều lớn nhất mà Inrasara đã làm được.
Và nhiều người ( trong đó có tôi, đã phải tự mình đi tìm câu trả lời câu hỏi mà Inrasara đặt ra trong những bài thơ nhức nhối )
Qua những bể dâu lịch sử, người Chăm đã trở thành một bộ phận trong cộng đồng Việt Nam, tôi tin rằng từ sự khai mở quá khứ của Inrasara, những trường ca Chăm tuyệt đẹp: Ariya Xah Pakei, Cam Bini, Bini- Cam, Ppo Parơng, Glơng Anak… sẽ được phổ biến rộng rãi, và sẽ được đưa vào văn học sử Việt Nam.
Khu vườn Văn học sử thêm những bông hoa đầy hương sắc, tại sao không?
Tôi rất thích câu nói : Không có dân tộc nào mất đi, cho dù những biến thiên lịch sử có thể làm mất tên đất nước họ trên bản đồ thế giới, nhưng dân tộc ấy vẫn mãi trường tồn cùng với các dân tộc khác, cho đến ngày cuối cùng của loài người trên mặt đất này. ..
Inrasara, một người con Chăm đẹp đẽ, rất truyền thống và thấm đẫm tinh thần hiện đại, quá khứ và tương lai luôn nối liền trong anh, như một dòng chảy xuyên suốt, không bao giờ ngưng nghỉ …
Xin cảm ơn Kazik, xin cảm ơn Inrasara, những người khai mở cho quá khứ linh hiển lộ thiên …
Trần Can
* Kiếntrúc sư Kasimierz Kwiatkowsky ( tức Kazik ) sinh 1944 tại Lublin, Balan . Mất 1997 tại Huế, Việt Nam
Mình rất thích tiếng đàn bầu, cây đàn một dây thuần túy Việt Nam với những âm thanh ai oán của dân nhạc miền Nam.
Dĩ nhiên là đàn bầu có thể phát ra âm thanh cho mọi loại nhạc, kể cả rock and roll của Mỹ, nhưng đàn bầu chỉ đạt được đỉnh cao của nó với những lời nhạc đứt ruột của dân ca miền Nam–dân ca của những người biệt xứ, từ Bắc hay Trung bị đày vào miền Nam làm đồn điền cao su cho Pháp, hay đào sình đắp mương để khai phá miền Nam. Những lời ca của những kẻ xa nhà, tâm tư heo hút.
Và tiếng đàn của chàng nghệ sĩ mù Nguyễn Thanh Tùng có lẽ là tiếng đàn bầu hay nhất mình đã từng được nghe. Hôm nay chúng ta sẽ đọc về cuộc đời lạ thường và tiếng đàn tuyệt diệu của Nguyễn Thanh Tùng qua bài báo Thanh Niên năm 2007 và một số youtube videos. Continue reading Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc→