All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Khen vợ

ninh
Chào các bạn,

Bài này viết cho các bạn phái nam. Trước đây mình đã viết bài Khen. Và nếu thực tập thì cách thực tập của Khổng tử luôn luôn là hay nhất: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tập từ trong tâm mình trước, rồi ngay trong nhà, rồi từ từ bước ra đường.

Rất tiếc là chúng ta thường hay xem bụt nhà không thiêng. Và mọi phép xử thế tốt ta thường tưởng là để sử dụng với mấy công ty ngoài đường, mà không mang về dùng với người nhà, nhất là với bà đầm của mình ở nhà. Không làm được với người trong nhà thì cái làm với người ngoài chắc là không được thành thật lắm rồi. Vậy thì quan tâm đến bà đầm ở nhà một tí, và đừng tiếc lời khen. Văn hóa Việt nói chung là chống khen. Nhưng sự thật là khi ta khen thành thật, ta có thể khen ai đó 100 lần một ngày người đó cũng không thấy chán, và càng nghe thì càng cảm động. Lời khen thành thật có giá trị như nước, uống cả ngày, ngày nào cũng phải uống, càng làm việc nhiều càng cần uống.

Hôm nay đọc được bài này trên VNExpress–Đàn ông Việt thương ‘quên’ nịnh vợ. Mình post đây để nhắc nhở các bạn phe ta.

Mến,

Hoành

couple

Đàn ông Việt thường ‘quên’ nịnh vợ

Có nhiều anh biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp chị em ở đâu anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng về đến nhà, anh ta lại để ‘bảo bối’ ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra tinh tướng.

Có một bà vợ thường làm các món ăn rất công phu, cầu kỳ, nhưng chồng lại tỏ ra không biết thưởng thức. Một hôm bà tức mình, luộc một mớ cỏ cho chồng ăn. Chồng ngạc nhiên: “Cái gì thế này? Không thể nào nhai được!”. Bà vợ vui vẻ hẳn lên: “Thế ra ông cũng biết là không ăn được à? Vì mọi khi tôi thấy ông ăn cái gì cũng như nhau cả mà!”.

Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”, nhưng hình như với các ông chồng đã kết hôn vài năm, câu nói đó bị họ quên mất. Có chị may được bộ váy mới, mặc thử vào cứ đứng ngắm mãi trước gương, hết quay đằng trước lại quay đằng sau, mà chồng ngồi đọc báo ngay cạnh chẳng nói câu nào. Cực chẳng đã chị phải cất lời hỏi: “Anh thấy em mặc bộ này có được không?”. Anh ta vẫn không rời mắt khỏi tờ báo: “Cũng được”.

Đó là chưa kể còn có những anh, vợ mặc kiểu gì cũng chê không thương tiếc: “Bộ này không được, trông buồn cười lắm!”, khiến vợ ỉu xìu như bánh đa gặp nước. Có chị cảm thấy bất lực, dường như không thể làm đẹp để chồng hài lòng được. Và những ông chồng như thế, dẫu có tận tụy với vợ con đến mức nào cũng khó được vợ yêu, gia đình hạnh phúc.

Người phương Tây có một nét văn hóa truyền thống là khen phụ nữ, mà nhiều người gọi đùa là “nịnh đầm”. Nó gần như một thứ “nghĩa vụ bất thành văn” của phái mạnh, không biết điều đó không phải là người lịch sự, văn minh. Chúng ta du nhập và ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa phương Tây, nhưng “văn hóa nịnh đầm” rất đẹp này lại không vào được bao nhiêu.

Ở Việt Nam, rất ít khi nghe chồng khen vợ. Ngay cả những người đàn ông có thể nói là lịch lãm hình như cũng nghĩ rằng, nói chung phái đẹp cần được đàn ông tán thưởng, trừ… vợ anh ta. Liệu họ có biết, người vợ nào cũng sung sướng khi được chồng khen? Chắc anh nào cũng biết, bằng chứng là khi chinh phục nàng, chẳng anh nào lại không sử dụng thứ vũ khí này, nào là: Em có mái tóc rất đẹp, em có giọng nói rất hay, có anh còn “dẻo mỏ”: “Em hút hồn anh ngay từ lần đầu mới gặp. Đôi mắt em sao mà sâu thăm thẳm”…

Thế nhưng, từ khi đã thành “của nhà”, họ không làm thế nữa. Họ xếp thứ vũ khí sắc bén đó vào kho, để cho nó hoen rỉ mà không biết, người vợ vẫn cần những lời có cánh ấy. Có người còn đi tìm nó không phải từ chồng.

Có nhiều đàn ông biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp phụ nữ ở đâu đó, anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng chỉ cần về đến nhà, anh ta lại để “bảo bối” ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra “tinh tướng”. Cũng có thể họ nghĩ, đàn bà nào chẳng thích khen, nhưng thích lời khen “ngoại” chứ thích gì “của nội”? Nếu nghĩ thế, bạn đã lầm. Con khen cũng thích. Chồng khen lại càng thích. Lời khen chẳng bao giờ thừa cả. Bạn thử hỏi các ca sĩ xem, có ai thấy chán ngán cảnh khán giả vỗ tay nhiều quá không, có ai khó chịu khi những “fan” hâm mộ vây quanh xin chữ ký? Những người sống gần mình, quen biết với mình mà vẫn khen mình thì càng có giá trị.

Người ta kể rằng, có một gã chiếm được hàng trăm trái tim phụ nữ và sau đó chiếm đoạt luôn cả tài sản của họ nên cuối cùng phải vào tù. Một nhà tâm lý tò mò đến tận nơi xem hắn có bí quyết gì. Ông ta bất ngờ vì đó là một gã đã luống tuổi, hình thức bình thường, duy chỉ có cái miệng rất duyên. Ông hỏi: “Làm thế nào anh chinh phục được nhiều phụ nữ như vậy?”. Hắn trả lời cụt lủn: “Có gì đâu. Cứ khen nhiều vào”.

Nhà tâm lý nổi tiếng người Mỹ, Dale Carnegie thường đi giảng ở các lớp học làm vợ, làm chồng. Một hôm, sau bài giảng về nghệ thuật làm chồng, ông ra bài tập cho học viên về nhà làm. Ông yêu cầu tất cả đàn ông thực hiện một “Tuần lễ khen vợ”, ngày nào cũng khen từ sáng đến tối. Ông cam đoan sẽ thấy hiệu quả ngay. Học viên chẳng mấy người tin. Có người còn nghĩ là ông nói đùa, nhưng số đông vẫn thử “làm bài tập” xem sao và kết quả thật bất ngờ.

Một anh vừa ngủ dậy, nhớ đến bài tập, nói luôn: “Nằm cạnh em sướng thật, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát”. Vợ tát yêu một cái. Vợ tập thể dục xong, chồng lại khen: “Hồi này trông thần sắc em rất tốt!”. Vợ càng ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy chồng để ý đến mình. Lúc dọn món ăn sáng ra, anh ta lại xoa hai bàn tay: “Chà, em làm món gì trông ngon thế!”. Vợ sung sướng nguýt yêu chồng một cái nữa. Ăn xong lại khen: “Anh thấy đi ăn sáng ở đâu cũng chẳng bằng em làm!”.

Trước khi đi làm, ngắm vợ một phút, anh lại thốt lên: “Em mặc bộ này trông quá được!”. Không ngờ chỉ trong vòng một tiếng, mới khen có mấy câu mà chưa bao giờ anh ta thấy trên gương mặt vợ lại có những nét hạnh phúc ngời ngời đến thế. Ra đến cửa anh còn quay lại: “Anh đi nhá. Em rất tuyệt”. Hết tuần, có học viên báo cáo với thầy là chỉ sau một “tuần lễ khen”, anh ta được hưởng hạnh phúc hơn 10 năm chung sống cộng lại.

Một khi đã kết hôn, ai chẳng muốn có hôn nhân hạnh phúc, muốn được vợ yêu. Và để đạt được mục đích ấy, nhiều người đã phải đổ biết bao công sức. Họ lao động cật lực hàng chục giờ mỗi ngày, mua tặng vợ những tặng phẩm đắt tiền, đưa cả nhà đi nghỉ cuối tuần. Nhưng có một thứ, người vợ nào cũng khao khát thì họ lại quên. Đó là lời khen.

Tuy nhiên, nếu vợ đẹp thì khen đẹp, nếu quần áo đẹp thì khen quần áo, nếu ngoại hình không đẹp thì khen công dung ngôn hạnh… miễn sao phải chân thật. Khen bừa lỡ thành mỉa mai thì sẽ tác dụng ngược đấy.

(Chuyên gia tâm lý Trịnh Trung Hòa, Phụ nữ)

Nhà Xã Hội Học Nguyễn Thị Oanh qua đời

nguyenthioanh

Chào các bạn,

Các bạn trong giới giáo dục và đọc giả Tuổi Trẻ hẳn đã quen thuôc với nhà xã hội học Nguyễn thị Oanh, và tin chị Oanh đã qua đời vào ngày 1.5.2009 tại Bệnh viện Chợ Rấy, Sài Gòn.

Chi Oanh thật là người có nhiều tâm huyết và trăn trở với giáo dục và sự phát triển của ngành xã hội học nước nhà. Mình và chị Oanh biết nhau qua Internet và bạn bè, nhưng chưa có dịp gặp nhau tận mặt. Dù vậy mình vẫn luôn luôn có sự đồng cảm với chị. Chị thường đọc bài mình viết, và ngược lại mình thường đọc bài của chị. Chị còn giới thiệu dotchuoinon cho mọi người.

Chị Oanh mất là đất nuớc mất một nhân tài. Nhưng những điều chị dạy và viết xưa nay hẳn là sẽ tiếp tục đơm hoa kết trái trong lòng chúng ta.

Các bạn có thể đọc thêm chi tiết trong bản tin báo tử của Tuôi Trẻ.

Để tỏ lòng kính mến và ngưỡng mộ chi Oanh, Đọt Chuối Non sẽ post một số bài chị đã viết trên Tuổi Trẻ vào những ngày tới.

Đàng nào đi nữa thì chuyến xe cuối cùng của chị hẳn là không có nhiều lô cốt và ổ gà như mấy con đường Thành Phố.

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

Nếp sống văn minh đô thị phải bắt đầu từ giáo dục nhân cách

garbage

Bài của cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh trên Tuổi Trẻ.

Bức xúc trước vấn đề, tôi quyết định ghi chép những điều mắt thấy tai nghe trong một tuần lễ vào tháng 11-2008.

Từ nhà tôi ở Hóc Môn (TP.HCM) xuống Bình Thạnh tôi thường đi hai chuyến xe buýt hoặc xe lam.

– Trên xe lam có 5-6 em nữ sinh mặc áo dài trắng thật dễ thương. Khi tôi chuẩn bị bước lên xe, tất cả các em đều làm thinh, cúi đầu, làm như không thấy gì hết. Ý đồ thủ cái chỗ ngồi của mình khá rõ ràng. Cho tới khi bác tài hô lên: “Nhường chỗ cho bà già ngồi với chớ!” thì một người đàn ông trung niên đứng dậy. Hôm ấy, tôi thật buồn, không phải cho tôi mà cho chính các em.

– Sau đó, tôi đi trên một chiếc xe buýt chỉ có một cửa. Cửa hẹp chỉ đủ một người bước lên hay xuống. Tôi không cách nào bước xuống được vì một nữ sinh lớn (hay sinh viên!) bước lên, xộc thẳng vào người tôi khiến tôi không thể nhúc nhích. Tôi buộc phải nói với em “mất lịch sự quá”, khi đó em mới bước trở xuống đường nhường chỗ cho tôi.

– Trên một chiếc xe lam chờ khởi hành, một bà có vẻ khá giả mở chiếc bóp da khá đẹp ra “làm vệ sinh”. Bà quăng cả chục vé xe buýt cũ xuống đường.

– Từ sự kiện này, tôi quan sát tiếp xem người ta làm sao với vé xe. Buổi sáng sớm đa số khách là sinh viên học sinh, đa số các em cũng bỏ ngay vé xuống sàn xe. Một hôm một nữ thanh niên mua một chiếc nhíp nhổ lông mày từ một bà bán hàng rong ngồi đối diện. Em xé cái bao cactông và cũng bỏ ngay xuống sàn xe.

Từ bến xe tới chỗ đến trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, tôi phải đi bộ trên một con hẻm nhỏ khá rộn rịp.

– Để tránh nắng tôi đi bên trái, mắt ngó cửa hàng bên phải. Suýt chút nữa tôi hứng một đống nước bọt do một người đàn ông trung niên từ trong nhà phun ra.

– Hối hận vì chính mình đã sai khi đi bên trái tôi sang bên phải, nếu đi nhanh hơn một chút chắc tôi đã lãnh một tàn thuốc đang cháy đỏ mà một ông khác đứng trong nhà quăng ra.

– Thêm vài bước tôi thấy một bà mẹ xi tè cho đứa con trai chừng 8-9 tháng tuổi. Tôi tự nói với mình: té ra nạn “đái đường” được “giáo dục” ngay từ nhỏ!

Quẹo ra đường Xô Viết Nghệ Tĩnh là một con đường lớn, tôi thấy gì?

– Sáng sớm các bà đua nhau đẩy rác từ sân nhà mình ra đường. Một bà hất nguyên một đống mảnh chai mà quên rằng người đi đường có thể đạp lên.

– Ngó xuống miệng cống tôi thấy nào là hộp nhựa, lon thiếc, hộp giấy, chén bể, bao xốp…
garbagecan

Vậy mà trong một lớp kỹ năng làm cha mẹ, khi tôi yêu cầu học viên nêu một tính từ có thể diễn đạt chính xác nhất hành vi này, đa số chỉ cho là “thiếu ý thức”. Nói vậy là quá nhẹ. Theo tôi là “vô văn hóa, thiếu nhân cách” hay hơn thế nữa…

Nguyên nhân do đâu?

Cách hành xử của cá nhân được hình thành từ sự vận hành của xã hội. Phải nói rằng trong xã hội ta hiện nay sự sa sút về nhân cách là khá trầm trọng. Điều chúng ta quan tâm không phải là phép xã giao bên ngoài. Những sự kiện mà tôi vừa đưa lên không thể sửa đổi bằng luật pháp hay giáo dục công dân như nó được dạy ngày nay. Đây là vấn đề nhân cách và nhân cách không thể hình thành bằng lời kêu gọi suông. Những điều ta vừa thấy biểu hiện một sự ích kỷ cực đoan.

Người ta chỉ biết mình, lợi ích của mình. Rác rến hay những điều bất lợi cho mình thì đẩy qua cho người khác, đẩy ra ngoài đường. Những kiểu chạy xe lấn lướt ngoài đường không phải là do không biết luật mà là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cực đoan này.

Từ đâu có chủ nghĩa cá nhân cực đoan ấy? Có người cho rằng đó là hậu quả của chủ nghĩa tập thể cực đoan một thời. Cũng như giờ đây người ta tham lam vật chất để “trả thù” cho giai đoạn thắt lưng buộc bụng đã qua. Và hành vi của giới trẻ là bắt chước người lớn thôi. Trong thanh niên có thể còn có sự mất niềm tin từ nhiều gương xấu nữa.

Các nhà nghiên cứu về phát triển còn cho rằng biểu hiện của sự chậm phát triển là người ta chỉ quan tâm đến bản thân, gia đình, lối xóm của mình và không với được tầm nhìn tới cộng đồng và xã hội rộng hơn. Một xã hội chậm phát triển khi ý thức cộng đồng hay ý thức về lợi ích chung còn yếu kém. Nó lớn lên dần với nỗ lực tổ chức và giáo dục cộng đồng. Trong một xã hội đô thị hóa nhanh chóng, sự “vô danh” còn khiến cá nhân hành động như không có ai xung quanh mình.

Vì sao ta hết sức quan tâm đến giáo dục mà chưa đạt được kết quả mong muốn?

– Trước tiên là gia đình. Trong quá trình chuyển đổi, gia đình đang bị khủng hoảng và đang vô cùng lúng túng trong giáo dục con cái.

– Nhà trường thì quên dạy người.

– Đoàn thể thì chú trọng vào giáo dục chính trị, luật pháp, ít (hay chưa) quan tâm đến giáo dục nhân cách.

– Giáo dục xã hội thì quá tốn kém với truyền thông đại chúng, cách làm phô trương, hình thức mà ít hiệu quả.

Phía nào cũng đầy quyết tâm và thiện chí, nhưng cái thiếu là nhận thức đúng thế nào là truyền thông thay đổi hành vi.

Đây cũng là một từ thời thượng nhưng còn là một khẩu hiệu mới chưa được nhận thức đúng. Truyền thông một chiều cho dù là bằng phương tiện tối tân nhất cũng chỉ cung cấp thông tin hay kiến thức, bởi từ thay đổi kiến thức đến thay đổi thái độ và hành vi còn là một quá trình dài.

garbagestreet

Cuộc thể nghiệm về lòng bò trong Thế chiến thứ 2 ở châu Âu đã tạo ra bước ngoặt lớn trong nhận thức khoa học về tâm lý xã hội. Được giao nhiệm vụ làm sao giúp các bà nội trợ châu Âu tập thói quen sử dụng lòng bò khi thực phẩm khan hiếm, các nhà tâm lý xã hội đã thử nghiệm hai phương pháp thuyết trình và thảo luận nhóm trên những bà nội trợ với những đặc điểm dân số học giống nhau. Kết quả: nhóm nghe thuyết trình chỉ có 3% sử dụng lòng bò (thay đổi hành vi ẩm thực), còn ở nhóm thảo luận thì kết quả là trên 30%… Từ đó có kết luận rằng thuyết trình (thông tin từ trên xuống) và thảo luận nhóm (với sự tham gia tích cực của người học) có kết quả về mặt thông tin như nhau nhưng kết quả về thay đổi hành vi thì cao hơn nhiều với thảo luận nhóm.

Nhưng tiếc thay dù thảo luận nhóm cũng đang “mốt” nhưng kết quả cũng không cao vì người ta đang sử dụng một công cụ khoa học mà không thèm học! Trong khi ở các nước, nhóm như một đối tượng khoa học được dạy ở các trường đại học và người học phải trả học phí cao để mong làm việc và quản lý hiệu quả.

Các phương pháp giáo dục chủ động chưa có hiệu quả vì người học được (bị) dạy bằng phương pháp áp đặt.

Cần quan tâm hơn nữa đến các phương pháp “giáo dục gây thức tỉnh” như sắm vai, tranh luận, những trò chơi giáo dục và đặc biệt là các phương pháp học bằng hành (learning by doing). Như Lão Tử đã nói:

Điều gì ta nghe ta quên
Điều gì ta thấy ta nhớ
Điều gì ta làm ta biết

Có nhiều cách học bằng hành trong các khóa tập huấn và vô số việc mà trẻ có thể cùng làm với người lớn trong gia đình, ở trường học hay ngoài đường. Một trường hợp học bằng hành tuyệt đẹp. Một hôm ngồi ở tòa soạn Tuổi Trẻ, tôi thấy một bà mẹ trẻ cùng con trai độ 8-9 tuổi khiêng một gói đồ vào phòng tiếp nhận hàng cứu trợ của báo. Gói đồ này bà mẹ dư sức cầm một mình. Nhưng chị muốn cho chính đứa nhỏ là người thực hiện cử chỉ đẹp này.

Giáo dục bằng vi môi trường

Vi môi trường (micro milieu) – một khái niệm vừa là tên và nội dung của một quyển sách hay của nhà xã hội học Nga Sytchov. Vi môi trường là một đơn vị tập thể mà người ta cùng sống hay làm việc như gia đình, nhà trường, cơ quan, xí nghiệp có ranh giới quản lý riêng. Nó có một tác động toàn diện trên cá nhân là thành viên qua những yếu tố như:

– Môi trường vật chất mà mọi người phải giữ gìn và tôn trọng

– Kỷ luật chung mà mọi người phải tuân thủ

– Những quy tắc bất thành văn mà mọi người chấp nhận hay gắn bó

– Và quan hệ tương tác giữa các thành viên từ góc độ cảm xúc hay công việc

garbagecan1
Theo các nhà khoa học khác, giáo dục bắt đầu từ tổ chức, nghĩa là khi một vi môi trường được tổ chức và vận hành tốt, cá nhân tất yếu sẽ tích cực theo nề nếp chung. Ví dụ như không dám xả rác ngoài sân, phá hoa trong vườn, đi về không đúng giờ, không dám vi phạm kỷ luật chung…

Khi đi vào nề nếp anh ta được hưởng tình thương yêu của cha mẹ, sự tôn trọng của đồng nghiệp hay khen thưởng của cấp trên. Nếu không sẽ bị chế tài về mặt kỷ luật hay tình cảm. Một nhân cách tốt có được là nhờ “sự tích cực” này mà bao nhiêu lời kêu gọi hay răn đe không tạo ra được. Ở đây, vai trò gương mẫu của cha mẹ hay nhà quản lý quan trọng bậc nhất không chỉ trong chấp hành kỷ luật mà trong khả năng tạo ra bầu không khí tập thể tích cực, mối tương tác hài hòa, nhờ đó các thành viên gắn bó và có những hành vi tích cực.

Một ví dụ lý thú về xe buýt. Ban đầu không ai quan tâm đến tôi như một người cao tuổi. Lần lần với sự kêu gọi khẩn trương của các anh chị phụ xế, các thanh niên đứng dậy nhường chỗ một cách miễn cưỡng. Từ đó họ đứng dậy nhanh hơn, và nay thanh niên cả nam lẫn nữ đều nhanh nhẹn đứng dậy nhường chỗ khi tôi bước lên xe. Vì sao? Chưa hẳn là một hành vi môi trường nhưng xe buýt không mang tính vô danh như ngoài đường, có sự chế tài của người xung quanh làm cá nhân biết xấu hổ. Những cử chỉ ấy sẽ thành thói quen và người ta trở nên hãnh diện với nó nữa. Giáo dục phải từ trong cuộc sống là vậy.

Một số đồng nghiệp trong ngành công tác xã hội quyết định nhắc nhở thẳng với các đối tượng làm sai ngoài đường, miễn là mình nhẹ nhàng và lễ phép. Trên xe buýt bạn tôi thấy một ông già đùa dai và đùa dơ với một vài thanh niên. Chị lễ phép đề nghị ông không nên làm như vậy. Ông phớt lờ, nhưng ba bốn chị em phụ nữ khác lên tiếng. Chừng đó ông ngưng luôn. Tôi cũng nhận xét khi thấy cử chỉ không đúng hoặc khen khi thấy các em nhỏ có những cử chỉ đẹp.

Sử dụng áp lực nhóm trong cộng đồng là một phương cách tốt. Một thành viên tổ tiết kiệm phụ nữ nọ không đi họp vì vừa bị chồng đánh bầm cả mình. Sau buổi họp, cả nhóm kéo vô nhà thăm chị. Không ngờ từ đó về sau ông chồng không còn đánh vợ nữa.

Để kết luận

Nếp sống văn minh đô thị phải bắt đầu từ nếp nhà nơi mà nền tảng ban đầu của nhân cách được hình thành (ví dụ như sự nhường nhịn, quan tâm chia sẻ hay việc giữ gìn kỷ luật chung…). Cho nên các lớp dạy kỹ năng làm cha mẹ cần được tổ chức rộng rãi như trên thế giới.

Kế đó là thực hiện cuộc cách mạng rốt ráo về phương pháp giáo dục ở nhà trường, đoàn thể và cộng đồng. Trên thế giới, các lớp giáo dục tráng niên, giáo dục cộng đồng được tổ chức để dạy người lớn ý thức cộng đồng. Điều này không thể thiếu trong xã hội hiện đại.

Tất cả những điều này đòi hỏi những nhà giáo dục mới, mà việc đầu tiên cần làm là cập nhật hóa kiến thức về tâm lý xã hội cơ sở của giáo dục học.

NGUYỄN THỊ OANH (ThS phát triển cộng đồng)

Chiến đấu với chính mình?

fightagainstmyself
Chào các bạn,

Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã quen với câu “Cuộc chiến khó nhất là cuộc chiến chống lại chính mình.” Và điều này thì thật là chính xác. Tự thắng mình để trở thành thiện hảo hơn một tí mỗi ngày không phải là dễ, và đó là cuộc đấu tranh suốt đời. Thắng kẻ địch bên ngoài thì rất dễ, tự thắng thì khó hơn nghìn lần. (Mình không cưỡng được máu tiếu lâm để nêu ra đây một ví dụ rất rõ. Đảng ta bách chiến bách thắng với tất cả hùng binh thiên hạ, vậy mà chỉ có cái việc chống tham nhũng thôi thì cà xịch cà tang muôn năm 🙂 ).

Nhưng hôm nay mình muốn bàn đến một vấn đề tế nhị trong suy tưởng. Khi nói đến “cuộc chiến tự thắng” phải chăng ta rất dễ bị lỗi lầm là nghĩ đến những điểm yếu của chính ta như là một kẻ thù cần phải triệt hạ? Và nếu như vậy thì không phải là ta tự chối bỏ một phần của chính ta sao? Và như vậy không phải là ta sẽ bị đặt trong một tình trạng đau khổ trong tâm thức hay sao? “Cái tên tồi tệ này, sao nó cứ ở mãi trong tôi, làm sao để tôi giết chết nó đi để con người tôi thánh thiện ra?” Đó không phải là một hình thức split personality (phân chia nhân cách) mà những trường hợp nặng nề là một loại tâm bệnh nguy hiểm hay sao?

Nếu các bạn nghĩ rằng đây là một câu hỏi lý thuyết chẳng liên hệ gì đến cuộc sống, thì hãy nghĩ lại xem. Đã bao nhiêu lần chúng ta đã rất bực mình với yếu kém của chính mình? Đã bao nhiêu lần ta làm ta thất vọng? Đã bao nhiêu lần ta hầu như tuyệt vọng về yếu kém của mình? Lý thuyết không?

Nhưng nếu suy nghĩ sâu xa hơn một tí thì lối suy nghĩ “chiến đấu chống lại chính mình” có gì không ổn, phải không các bạn? Bao nhiêu chuyện trên đời phải chiến đấu, cơm, gạo, điện, nước, nhà ở, áo quần, công việc, lại ôm thêm cuộc chiến chống lại chính mình 24 giờ một ngày! Sống sao nổi?

fightagainstmyself1
Trước đây nhiều năm, nếu mình nhớ không lầm, đọc cuốn giảng Kinh Kim Cang của Thiền Sư Nhất Hạnh, có đoạn Thiền Sư nói về ôm ấp cái giận, cái đau của mình, đừng chối bỏ hay xua đuổi nó, hãy nhìn nhận và yêu thương nó, vì nó chính là mình, là một phần của mình. Phản ứng đầu tiên của mình là “Hmm… thiền sư này nói sao nghe… chùa quá… nhưng… nghe cũng rất mới lạ. Ít ra là nó đề nghị cách giải quyết vấn đề chỉ có một phe, là phe ta, chứ không có thằng tôi thiện đánh nhau với thằng tôi ác. Không có mâu thuẫn nội tâm.” Vậy là mình để tâm nghiên cứu vấn đề thêm một tí.

Và sau đó thì mình nhận ra ngay là “nhìn nhận và ôm ấp cái yếu, cái đau của mình” đã là một thực hành tâm lý được sử dụng rất nhiều từ Tây sang Đông. Kể từ Sigmund Freud, khoa phân tâm học đã chữa bệnh tâm thần bằng cách giúp bệnh nhân từ từ đi ngược về dĩ vãng để lôi ra ngoài ánh sáng những kinh nghiêm không vui bị chôn giấu (repressed) trong tiềm thức từ trước và ngày nay sinh ra những vấn đề tâm lý. Khi bệnh nhân (với sự giúp sức của bác sĩ phân tâm) lôi ra đúng “chàng đạo tặc” và bệnh nhân xác nhận là “chính hắn”, thì bệnh nhân tức thì lành bệnh. Điều này thì rất căn bản; mình đã biết từ hồi học triết ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, nhưng chỉ nghĩ đến “mấy người bị bệnh” chứ không nghĩ đến áp dụng vào đời sống thường nhật cho chính mình.

Trong khoảng một thập niên trở lại đây, khoa tâm lý phổ thông (pop psychology) ở Mỹ cũng chú tâm đến đối diện niềm đau trong tâm, nói nó ra ngoài (talk it out), để có thể làm hòa (reconcile) với nó và với chính mình, và đóng cửa vấn đề (put a closure on the problem).

(Vấn đề là lý thuyết này trở thành quá hấp dẫn đến nỗi ngày nay nó trở thành các reality show (show thực tế) trên TV Mỹ, trong đó mọi người được trả tiền để mang những chuyện kín trong gia đình, lên TV nói cho thiên hạ nghe, để reconcile và put a closure!! Mà mình cũng không biết các chuyện này có thực đến mức nào hay các vị sẵn sàng phịa đủ thứ chuyện điên khùng chỉ để lấy tiền bỏ túi).
asianicecream

Ở phương Đông thì dĩ nhiên là các thiền sư đã thực hành từ hơn 2 nghìn năm nay bằng cách thiền quán—ngồi quan sát tâm thức của mình rất kỹ, vui thì thấy mình vui và biết tại sao mình vui, buồn thì biết mình buồn và tại sao buồn, giận thì biết mình giận và tại sao giận. Các thiền sư chỉ làm việc giản dị là quán sát để thấy mà thôi, chứ không triệt hạ, thanh toán cái xấu của mình gì hết. Chỉ có thiền định và thiền quán, chứ không có thiền triệt hạ, thiền đấu tranh. Chỉ nhìn chính mình, cái xấu lẫn cái tốt của mình, một cách dịu dàng, rõ ràng, khộng kết án, không phán đoán, không nhảy cỡn, không than khóc, chỉ với một quả tim thân ái dịu dàng và sáng suốt. Từ từ cái yếu của mình sẽ biến đi, như tên trộm đã được biết tên biết mặt và được cư xử dấu ái và nay biến thành người lương thiện.

Tư tưởng thiện ác thanh toán nhau là tư tưởng căn bản của triết lý và văn minh Tây phương mấy ngàn năm nay. Nó là một loại tư tưởng dễ gây xung đột trong tâm thức con người cũng như chiến tranh trong xã hội. Những năm gần đây, Phật học trở thành một hấp lực với trí thức Tây phương cũng vì lý do hòa ái là căn bản của Phật học.

Nhưng mình không viết bài này để nói về Phật học, mà nói về một điểm quan trọng trong tâm thức chúng ta. Chúng ta không cần phải chối bỏ hay chạy trốn sự yếu đuối của mình. Cứ nhìn nhận nó, ôm ấp nó, nói chuyện với nó, với yêu thương dấu ái, vì nó là một phần của mình, nó là mình. Không vì lý do gì mà mình có thể tự ghét mình, tự coi thường mình, tự nguyền rủa mình—đó là một thái độ thiếu lành mạnh. Điều này được xem là căn bản của tâm lý học ngày nay, từ Tây sang Đông, không có ngoại lệ.

Giả sử cánh tay trái của mình bị liệt, mình không cần phải chặt nó đi, hay thù ghét nó, hay cố tình xem như nó không có đó. Cứ vẫn nhìn nhận nó, yêu thương nó, và xử với nó như là cánh tay của mình. Một ngày nào đó mình sẽ khám phá ra là mình vẫn có thể làm các việc phi thường, với một cánh tay bị liệt.

Chúc các bạn cuối tuần nghỉ lễ vui vẻ thoải mái.

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
www.dotchuoinon.com
Licensed for non-commercial use

Chào mừng Ngày Quốc tế Lao động

1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)
1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)

Chào các bạn,

Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.

Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2009), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 7 tháng 9. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.

Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.

Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!

Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Khởi đầu với biến cố Haymarket, ngày Thứ ba, 4.5.1886, tại Quảng trường Haymarket ở Chicago. Ba ngày trước đó, 1.5.1886, hàng chục nghìn nhân công ở Chicago và các thành phố khác đã biểu tình đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Ngày 4/5, cảnh sát đàn áp, một trái nổ không biết ai ném, giết chết một nhân viên cảnh sát. 8 lãnh đạo nghiệp đoàn bị bắt. 7 người bị tuyên án tử hình và 1 người án tù 15 năm, dù là không có bằng chứng gì nối cuộc ném bom với các lãnh đạo nghiệp đoàn, và cho đến ngày nay người ta vẫn không xác minh được là ai đã ném bom. Hai người án tử hình sau đó được thống đốc bang Illinois giảm xuống thành án chung thân. Trước ngày tử hình, một người tự tử trong tù, 4 người bị đưa ra pháp trường.

Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Vụ án này làm giới lao động và báo chí nước Mỹ phẩn nộ, đưa đến nhiều đấu tranh của lao động ở Mỹ cũng như tại các nơi khác trên thế giới. Năm 1888, Hiệp Hội Lao Động Mỹ (AFL — American Federation of Labor) quyết đinh chọn ngày 1.5.1890 (kỷ niệm biến cố Haymarket) để biểu tình tranh đấu đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Năm 1889, chủ tịch AFL, Samuel Gompers, gửi một lá thư đến hội nghị đầu tiên của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đang họp ở Paris, đề nghi một cuộc đấu tranh quốc tế cho “Ngày làm việc 8 tiếng.” Đệ Nhị Quốc Tế liền quyết định gọi một “cuộc biểu tình quốc tế vĩ đại” cùng một ngày trên khắp thế giới, vào ngày 1 tháng 5.

Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay
Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay

Chúng ta có thể đọc bài sau đây trên VietNamNet, viết ngày 1.5.2007.


Lịch sử ngày Quốc tế Lao động 1/5

(VietNamNet) – Hằng năm, người lao động trên toàn thế giới lại cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5. Tại Việt Nam, đây là một ngày mà mọi người dân ai ai cũng được nghỉ ngơi, vui chơi không phải làm việc. Tuy vậy, không phải ai cũng biết được lịch sử cũng như ý nghĩa trọng đại của ngày Quốc tế Lao động, nhất là các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X.

Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland
Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.

Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: “…Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.

1.5.1948 New York City
1.5.1948 New York City

Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston… hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.

Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy”.

1.5.2008 New York City
1.5.2008 New York City

Ngày 20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.

Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1920, dưới sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.

Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của hai giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.

L.A (dịch từ Internet)

Chúc các bạn một Ngày Quốc Tế Lao Động vui vẻ thoải mái, không lao động !

Mến,

Hoành

Thử thách Anh Ngữ hàng ngày — 1.5.2009

englishchallenge
Chào các bạn,

Hôm nay ta có thử thách này. Câu này chị Huỳnh Huệ gởi tới.

Nine Requisites For Contended Living

1. HEALTH enough to make work a pleasure.

2. WEALTH enough to support your needs.

3. STRENGTH enough to battle with difficulties and overcome them.

4. GRACE enough to confess your sins and forsake them.

5. PATIENCE enough to toil until some good is accomplished.

6. CHARITY enough to see some good in your neighbor.

7. LOVE enough to move you to be useful and helpful to others.

8. FAITH enough to make real the things of God.

9. HOPE enough to remove all anxious fears concerning the future.

Các bạn xem kỹ cấu trúc của câu văn trước khi dịch nhé. Ý nghĩa của các câu này chỉ là một phần. Các câu này hay phần lớn là nhờ cấu trúc. Tất cả các câu đều cấu trúc như nhau, tạo ra đồng nhất (uniform) và lập lại (repetition), rất quan trọng trong rhetoric (nghệ thuật hùng biện).

Về bài hôm qua, để mình nói thêm một tí về một vài kỹ thuật viết. Trong bài hôm qua có vài câu dùng chữ “would”, như “In free time he would walk around the island..” Câu hỏi là tại sao ta nói “he would walk” mà không nói “he walked”?

Câu trả lời là ta không bị bắt buộc phải dùng he would, dùng cũng được, không cũng được. “He walked” là đủ rồi.

Tuy nhiên chỉ dùng “he walked” thì không hay bằng “he would.”

Vậy thì he would là gì? Và khi nào thì ta dùng nó.

Nếu bạn mở tự điển, thì would là past tense của will. Chẳng giải thích được gì cho bạn hết.

Cách trả lời chính xác nhất là tưởng tượng bạn đang vẽ tranh. Khi dùng past tense như he walked, thì đó là các nét vẽ rõ nét. Khi dùng would, thì đó là các nét vẽ mờ nét, mờ ảo hơn, lãng mạn hơn.

Vậy thì khi nào dùng would được? Ta dùng would khi có đủ cả 3 điều kiện sau đây

1. Đó là hành động trong quá khứ.
2. Xảy ra rất thường xuyên, ví du: hàng ngày.
3. Và ta muốn nói đên việc thường xuyên đó chung chung, mà không nhất định một hành động tại một thời điểm rõ ràng nào đó.

Điểm số 3 này rất quan trọng. Ví dụ: “Every day I would take a walk in the forest in early morning. And one day as I walked past her house on the way to the forest, she stepped out and smiled.”

Trong câu đầu ta dùng I would vì ta muốn chỉ một việc hàng ngày chung chung. Câu sau, ta phải dùng I walked bởi vì ta muốn nói đến walk tại một thời điểm đặc biệt, ngày đặc biệt được gặp nàng bước ra và mỉm cười.

Would là optional, tức là dùng thì hay hơn, không dùng thì cũng chẳng sai. Nhưng dùng bậy thì sẽ sai. (Cho nên, nếu không chắc thì đừng dùng).

Nhưng, tại sao khi dùng would thì đó là “mờ nét, mờ ảo hơn, lãng mạn hơn”?

Thưa, vì trong văn hóa Anh ngữ nó thế. Chữ would luôn luôn làm nhẹ câu văn. Ví dụ: Nói “I like to have a cup of tea” chẳng sai văn phạm, nhưng nghe hơi nặng và bất lịch sự; I would like… thì nhẹ nhàng và lịch sự hẳn ra.

Người ít học và bất lịch sự ít dùng chữ would hơn người học cao và lịch sự. Người sống bằng tiếng Anh, khi tai nghe chữ would là tự nhiên tâm trí thấy nhẹ nhàng dịu dàng hẳn lại.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Giảng dạy

lop-hoc_thay-khoa
Giảng dạy

Rồi một thầy giáo nói: “Giảng cho chúng tôi về Giảng dạy.”
Và [Tiên tri] nói:

Không ai có thể khai mở điều gì cho bạn, ngoại trừ những điều đã nằm lim dim trong hừng đông kiến thức của chúng ta.

Người thầy đi trong bóng thánh đường, giữa các tín đồ, không trao tặng trí tuệ nhưng trao tặng lòng tin và tình yêu của ông.

Nếu thầy thật sự khôn ngoan, ông sẽ không mời bạn đi vào căn nhà trí tuệ, nhưng sẽ dẫn bạn đến ngưỡng cửa của tâm trí của chính bạn.

Nhà thiên văn có thể nói với bạn về hiểu biết của ông về không gian, nhưng ông không thể cho bạn hiểu biết của ông.

Người nhạc sĩ có thể hát cho bạn nhịp điệu có trong mọi không gian, nhưng ông không thể cho bạn đôi tai có thể bắt được nhịp điệu hoặc giọng hát dội vang nhịp điệu.

Và người rành khoa toán số có thể nói về các lãnh vực của trọng lượng và đo lường, nhưng ông không thể đưa bạn vào các lãnh vực đó.

Bởi vì tầm nhìn của một người không cho người khác mượn đôi cánh của nó.

Và như mỗi người các bạn đứng một mình trong tri kiến của Thượng đế, mỗi người các bạn phải một mình trong kiến thức của mình về Thượng đế và trong hiểu biết của mình về quả đất.

Trần Đình Hoành dịch
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

.

cogiao
Teaching

Then said a teacher, “Speak to us of Teaching.”
And he said:

No man can reveal to you aught but that which already lies half asleep in the dawning of our knowledge.

The teacher who walks in the shadow of the temple, among his followers, gives not of his wisdom but rather of his faith and his lovingness.

If he is indeed wise he does not bid you enter the house of wisdom, but rather leads you to the threshold of your own mind.

The astronomer may speak to you of his understanding of space, but he cannot give you his understanding.

The musician may sing to you of the rhythm which is in all space, but he cannot give you the ear which arrests the rhythm nor the voice that echoes it.

And he who is versed in the science of numbers can tell of the regions of weight and measure, but he cannot conduct you thither.

For the vision of one man lends not its wings to another man.

And even as each one of you stands alone in God’s knowledge, so must each one of you be alone in his knowledge of God and in his understanding of the earth.

The prophet
Kahlil Gibran

Các chương trong The Prophet đã dịch:

Giving
Love
Reason and Passion

Thất bại của Michael Jordan

michael_jordan
Michael Jordan được xem như cầu thủ hay nhất trong lịch sử bóng rổ. Và đây là câu nói của Michael trong video:

Tôi thẩy trật hơn 9 nghìn lần trong đời chơi bóng.
Tôi thua gần 300 trận.
26 lần tôi đã được giao nhiệm vụ thẩy quả bóng quyết định trận đấu, và thẩy trật.
Tôi thất bại, thất bại tới thất bại lui hoài trong đời.
Và đó là lý do tại sao tôi thành công.

.

.

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 30.4.2009

englishchallenge
Chào các bạn,

Có lẽ các bạn bận đi đi chơi dịp lễ nên chưa có bạn nào trả lời thử thách hôm qua.

Hôm nay mình sẽ làm hai việc. Đầu tiên là góp ý với các bạn một tí về thử thách hôm qua. Sau đó, là hỏi ý kiến các bạn về một diễn đàn để bàn luận về các vấn đề Anh ngữ.

I. Muốn cho bài viết của mình trôi chảy, ta có thể tạm dùng các qui luật sau đây (tạm dùng cho đến khi ta trở thành điêu luyện đến mức quên luôn cả qui luật).

1. Các qui luật viết. 50%
2. Dùng tai nghe. 25%
3. Cảm được ngôn ngữ. 25%

Các qui luật viết chiếm 50%, tức là theo các qui luật này thì đạt được một nửa đường.

25% kế tiếp là đọc to tiếng để nghe xem có trôi chảy không. Điều này chỉ có thể đạt được với những người có trình độ nghe khá cao. Ngay dân bản xứ, nhiều người cũng không đến được mức này. Ví dụ nhiều người Việt viết tiếng Việt rất lủng củng.

25 phần trăm còn lại là mức cảm được ngôn ngữ như thi sĩ. Phần này thì ít người đạt tới.

Bây giờ ta nói qua một tí về qui luật viết nhé. Các qui luật này hầu như đúng với mọi ngôn ngữ, chứ không nhất thiết chỉ là tiếng Anh.

1. Giữ cho câu văn ngắn gọn. Chữ nào không cần thì đừng viết. Nếu hai câu cùng nghĩa, câu ngắn hơn là câu hay hơn.

2. Viết rõ ràng. Chữ nào không rõ nghĩa cho người đọc, hay bắt người đọc ngừng lại tìm hiểu, không nên viết.

3. Đừng viết câu quá dài. Nếu quá dài thì ngắt thành nhiều câu ngắn. Dễ hiểu hơn cho người đọc.

4. Passive voice không nên viết, vì vừa tối nghĩa vừa nghe lọng cọng.

Qui luật thì luôn luôn có ngoại lệ. Và qui luật khác ngoại lệ thế này: Luôn luôn theo qui luật mà không cần lý do. Nếu muốn dùng ngoại lệ thì bạn phải có một lý do rất rõ ràng là tại sao bạn muốn dùng ngoại lệ, và lý do đó phải đủ mạnh đề bạn bỏ qui luật.

Bây giờ mình edit một đoạn của bài báo hôm qua để các bạn xem nhé. Đoạn còn lại để các bạn tiếp tục thử thách. Ngôn ngữ thì không chính xác 100%. Cao lắm là 90% hay thấp hơn. Hơn nữa cá tính của một người luôn luôn có ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ của người đó. Cho nên mình chỉ đưa ra như một ví dụ về editing thôi. Các bạn tha hồ edit theo ý riêng.

Trong editing này mình chỉ làm các việc cần thiết để “smooth out” bài viết thôi, chứ không phải là edit để bài viết có thể đến mức rất hay (bởi vì như vậy là viết lại chứ không phải là biên tập nữa).

Đây là phần chưa edit.

Tran Huynh, 82, worked at the Hoang Sa meteorological observation station in 1964-1968.

He left his wife and his son at home on the mainland to take up his position. At that time he had to cook for his colleagues and fly weather balloons.

He was stationed with four other meteorological staff, three from Saigon and a fellow citizen from Da Nang.

Every day, he had to get up early to release weather balloons as big as rice baskets, and then he had to cook breakfast.

In his free-time he would walk around the island, enjoying the nature around him.

Huynh said there were a lot of fish in Hoang Sa islands at that time. It took him only a few hours to catch ten groupers. To supplement the meals he cooked, he planted vegetables and bred pigs.

Đây là phần đã edited.

Tran Huynh, 82, worked at the Hoang Sa meteorological observation station between 1964 and 1968.

He had left his wife and son on the mainland to take up a position at the station. Once there, he cooked for the team and flew weather balloons.

Beside him there were four other meteorological staffers, three from Saigon and a hometown fellow (?) from Da Nang.

Every day he woke up early to release weather balloons the size of a rice basket, and then cooked breakfast.

In free time he would walk around the island, enjoying the surrounding nature.

Huynh said Hoang Sa islands were teeming with fish then. It would take him only a couple of hours to catch ten groupers. To supplement the meals, he planted vegetables and bred pigs.

Rồi. Các bạn cứ tiếp tục thử thách với phần còn lại nhé.

II. Và bây giờ là câu hỏi. Nếu ta muốn bàn luận sâu xa hơn và hấp dẫn hơn về Anh ngữ, blog format rất bất tiện. Ta cần forum format. Nếu cần, chúng ta có thể mở một forum rồi link forum với trang nhà của dotchuoinon. Câu hỏi là các bạn thấy có cần vậy không?

Các bạn cho ý kiến nhé.

Mến,

Hoành

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 29.4.2009

englishchallenge
Chào các bạn,

Hôm nay ta tạm ngưng bài thơ I Still Rise của Maya Angelou. Nhưng trước khi ngưng hẳn, mình cần nói đến một điểm quan trọng trong bài thơ này, để các bạn không hiểu lầm.

Bốn câu đầu:

You may write me down in history
With your bitter, twisted lies,
You may trod me in the very dirt
But still, like dust, I’ll rise.

Câu thứ ba “You may trod me in the very dirt” là bad English (Anh văn tồi). Các bạn đừng học theo nhé. Đây là Angelou cố tình dùng Anh văn của những người ít học, nói theo kiểu người da đen ít học. Chữ trod là past tense của to tread (bước đi). Nói “you may trod” là không được rồi.

Chữ “very” thì trước kia được xem là bad English nếu dùng với noun, như “This is the very man I love” (nhấn mạnh: Đây là chính người tôi yêu). Nhưng ngày nay thiên hạ dùng hơi nhiều nên mọi người có thể du di chút đỉnh. Nhưng nếu bạn viết thơ xin việc mà viết kiểu đó thì rất nguy hiểm. Don’t do that!

OK. cho phần thử thách hôm nay. Dưới đây là một bài báo tiếng Anh của một tờ báo Việt. Nó là một bài dịch từ một bài tiếng Việt. Đọc biết là văn dịch. Các bạn có thể edit bài, sửa lại cách viết chỗ này chổ kia một tí, để đọc cho trôi chảy và hay hơn không?

Mình post nguyên bài ở đây để các bạn có thể đọc (vì đây cũng là một bài thông tin hay). Nhưng không cần edit cả bài. Làm đến đâu cũng được.

Nếu thích, thì giải thích thêm là tại sao bạn edit như thế (để giúp các bạn yếu Anh ngữ hơn học thêm được một tí).

Tran Huynh, 82, worked at the Hoang Sa meteorological observation station in 1964-1968.

He left his wife and his son at home on the mainland to take up his position. At that time he had to cook for his colleagues and fly weather balloons.

He was stationed with four other meteorological staff, three from Saigon and a fellow citizen from Da Nang.

Everyday, he had to get up early to release weather balloons as big as rice baskets, and then he had to cook breakfast.

In his free-time he would walk around the island, enjoying the nature around him.

Huynh said there were a lot of fish in Hoang Sa islands at that time. It took him only a few hours to catch ten groupers. To supplement the meals he cooked, he planted vegetables and bred pigs.

Memories of Hoang Sa islands are also imprinted in the minds of Vo Nhu Dan and Nguyen Tan Phat.

Dan and Phat are from Da Nang City and often get together to reminisce about their times on the island.

Dan went to Hoang Sa in 1953, at that time he had a one-year old son. He cooked for soldiers based on the island and dug for turtles’ eggs, as part of his menu. He devised a method to transfer food from boats to the meteorological station by tortoise shells.

Phat was 25 years-old went he went to the islands in 1958. After finishing his three month tenure, he decided to stay on for another three.

Phat said that Hoang Sa is an important position for weather forecasting. When he was on the island he had to read surface atmospheric pressure, wind direction and then radio the results in. Based on the figures, forecasts were always accurate.

According to Dan, the island’s summer is very nice but is very harsh in the storm season.

During the storm season, the occupants of Hoang Sa faced food shortages for months. Many boats were unable to land at the island due to the strong winds, while the islanders could not go out fishing or plant vegetables. They had to snare birds which flew into their station.

Dan added he also loved to catch snails.

Their story betrayed that Hoang Sa is still strong in the minds of many people, they have a strong attachment to it. They, along with other Vietnamese believe the islands are forever Vietnam.

Hoang Sa (Paracel) Island is an integral part of Vietnam.

Chúc các bạn vui khoẻ.

Mến,
Hoành

Chùm ảnh thế giới phòng cúm lợn

Click vào ảnh này để xem toàn chùm ảnh
Click vào ảnh này để xem toàn chùm ảnh

Chào các bạn,

Cúm lợn thì chẳng có gì là tích cực. Nhưng Việt Nam ta, có lẽ nhờ kinh nghiệm chống cúm gia cầm, đã phản ứng rất nhanh với cúm lợn. Đó là điều tích cực và đáng mừng, như các tin sau đây cho thấy.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

WHO nâng câp cảnh báo cúm lợn ở người lên mức 4

Việt Nam: Phòng chống dịch cúm lợn tử sân bay và hải cảng

Kiểm soát chặt thịt lợn nhập khẩu vào Việt Nam

Sẽ hủy tour đi Mỹ nếu dịch cúm lợn nguy cấp

Đối phó với dịch cúm: Những bài học kinh nghiệm

Cộng hưởng tích cực

synergy
Chào các bạn,

Synergy là “Năng lực cộng hưởng”, năng lực tạo ra do làm việc hòa hợp với nhau. Synergy có gốc chữ Hy Lạp là “làm việc với nhau.” Năng lực cộng hưởng nói đến một hiện tượng quan trọng: Năng lực tạo ra do một nhóm người làm việc chung với nhau thì cao hơn là tổng số năng lực của tất cả các cá nhân trong nhóm cộng lại. Ví dụ: Một người làm riêng rẽ có thể cày xong 1 hecta đất một ngày, nhưng nếu 20 người làm chung với nhau thì có thể làm xong 25 hecta một ngày. Số gia tăng năng suất 5 hecta là hậu quả của cộng hưởng.

Cộng hưởng là từ của âm học. Khi một âm thanh với một tần số nào đó gặp một vật nào đó có thể dao động cùng một tần số, như tiếng của dây đàn gặp thùng đàn, cộng hưởng sẽ xảy ra và tăng cường độ âm thanh rất nhiều. Từ vật lý đến quan hệ con người, hoạt động chung với nhau cùng “tần số” sẽ làm cho cường độ của năng suất gia tăng vượt bực. Vì vậy, trong quản lý, từ synergy được nhắc nhở đến hầu như hằng ngày.

Trong quản lý thì chúng ta có thể hiểu synergy rất dễ–nếu một đội bóng thân thiết nhau, mọi người ai cũng làm đúng phận sự mình, chia sẻ với đồng đội, hiểu ý nhau rất nhanh, không ghen tị nhau, cùng một lòng quyết thắng, thì đội bóng đó có synergy rất cao và rất hay thắng. Tuy nhiên, nếu đội bóng hay cãi vã nhau, ganh tị nhau, một người nói 10 thì người các người kia hiểu được có 5, đội bóng như vậy thiếu synergy và sẽ khó thắng.

Tạo ra được synergy hay không, phần lớn là do người lãnh đạo. Khi tuyển cầu thủ mới vào đội bóng, kỹ thuật chơi bóng chỉ là một phần, tâm tính người cầu thủ có phù hợp với tâm tính của các cầu thủ khác trong đội, và tinh thần teamwork (tinh thần đồng đội) của người đó cao không, mới là yếu tố quyết định. Việc tuyển đúng người là quyết định rất quan trọng của lãnh đạo. Một con sâu làm rầu nồi canh. Một cầu thủ không có tinh thần đồng đội làm hỏng cả đội bóng.

Và trong tiến trình quản lý đội bóng, dĩ nhiên là lãnh đạo phải đặt lên mức hàng đầu việc duy trì và phát triển thiết thân và tinh thần đồng đội. Nếu có thiết thân và tinh thần đồng đội cao, tự nhiên các kỹ năng làm việc đồng đội sẽ có, như kỹ năng truyền thông—nói với nhau, ra hiệu cho nhau, và thấu hiểu nhau; kỹ năng phối hợp trên sân cỏ; kỹ năng chuyển động toàn đội đúng chiến thuật và chiến lược trên sân cỏ.

Đó là quản lý; khó nhưng vẫn còn dễ, bởi vì người lãnh đạo có một đội và kỷ luật của đội để làm việc. Cái khó là trong những sinh hoạt xã hội, khi chúng ta ai cũng là phó thường dân nhưng lại quan tâm đến việc thành phố, việc quốc gia (Nói chung là làm lính nhưng hay quan tâm đến việc quan 🙂 ), làm thế nào để chúng ta có thể tạo ra synergy cho việc gì?
synergy1

Nếu quan sát các phong trào xã hội, ta thấy tiến trình phát triển của synergy xảy ra thế này. Hãy dùng việc vệ sinh thành phố làm ví dụ.

1. Một phó thường dân viết bài trên Internet nói về vệ sinh thành phố–ngưng xả rác, thêm thùng rác, giáo dục làm đẹp thành phố, đầu tư làm đẹp thành phố, v.v…

2. Vài phó thường dân khác đồng ý và viết bài tương tự. Thế là ta bắt đầu có synergy. Càng nhiều người nói, “Đúng rồi, các bạn nói phải lắm” là ta càng có nhiều synergy. Một lúc nào đó, khi có nhiều người lên tiếng, synergy có thể mạnh đến nỗi ta cảm như có thể sờ nó được trên không.

3. Một nhóm phó thường dân nào đó quyết định đi một bước xa hơn, làm điều gì đó ngay trên đường phố–ví dụ, tổ chức với các doanh nghiệp địa phương đặt một dãy thùng rác đẹp mắt ngay trên một khúc phố. Ta sẽ thấy synergy tăng lên rất cao.

4. Tại các địa phương khác, nhiều nhóm phó thường dân, theo gương, cũng lập ra những dự án làm sạch và đẹp đường phố. Bây giờ ta đã có một phong trào, và synergy cứ tuôn lên ngùn ngụt.

Các phong trào cách mạng xã hội từ cổ chí kim phát triển theo mô hình này, ít có ngoại lệ, bởi vì tất cả đều được chi phối bởi một quy luật tự nhiên: Một năng lực tích cực từ một người có khả năng kích động năng lực tích cực từ một người khác. Và năng lực tích cực của từ hai người trở lên có tác động cộng hưởng và thành mạnh hơn rất nhiều và sẽ kích thích nhiều năng lực tích cực từ nhiều người khác. Rồi lại tăng cộng hưởng, tăng kích động, tăng tham gia, rồi tăng cộng hưởng, tăng kích động, tăng tham gia… cứ vậy mà phát triển như là quả cầu tuyết bằng nắm tay lăn từ trên núi xuống, càng lăn thì càng dính tuyết, càng lớn, lại càng lăn mạnh hơn, dính nhiều tuyết hơn, lớn hơn, lăn mạnh hơn… đến lúc lớn như trái núi lăn.

Năng lực đó thật là kinh khủng, phải không các bạn? Nhưng mình sẽ nói cho các bạn nghe một bí mật ngọt ngào khác. Cho đến lúc này, có thể là một số bạn đọc bài này như đọc tiểu thuyết nói đến những phong trào cách mạng xã hội của những huyền thoại nào đó, chẳng ăn nhập gì đến “con người nhỏ nhoi tầm thường của mình.”
synergy2

À, bạn đừng đo lường mình quá thấp như thế. Năng lực tích cực của bạn có sức mạnh không thấp hơn năng lực của người mạnh nhất trên thế giới như là Gandhi and Abraham Lincohn là bao nhiêu đâu. Nếu bạn cử tạ được bao nhiêu kg, các vị thánh nhân số một thế giới, cho là tập tạ cả đời, thì cũng chỉ có thể cử tạ bằng 3, bằng 4, hay cùng lắm là bằng 5 bạn. Không thể hơn thế được. Thế thì không lý do gì mà ta có thể nói năng lực tinh thần của các vị ấy khá hơn năng lực của ta quá 5 lần, dù là các vị ấy có thiền định hay tu cách nào cả đời. Có khác chăng là các vị ấy sử dụng tất cả mọi năng lượng tích cực của mình vào việc tích cực để đẻ ra nhiều thành quả tích cực, còn chúng ta thì không tập trung năng lực như thế mà thôi.

Có một câu nói mà hồi nhỏ mình cứ nghĩ đó là câu nói thần thoại, cho đến những năm sau nầy mình mới trải nghiệm và hiểu nó sâu xa. Đó là, “Một tiếng gảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.” Bất kỳ một cái gì rất nhỏ ta làm cũng có ảnh hưởng lây lan từ tâm thức người này đến tâm thức người kia, vô cùng vô tận, dù là ta chẳng biết rõ ràng con đường lây lan đó đi như thế nào, từ đâu đến đâu.

Ví dụ thực tế. Nếu bạn đến Đọt Chuối Non và đọc, và chẳng làm gì thêm hết, bạn đã đương nhiên tạo ra một năng lượng tích cực cho bạn và cho Đọt Chuối Non.

Nếu bạn tích cực hơn một tí, chỉ ở mức tối thiểu, và viết một comment chỉ có hai chữ “cám ơn” (tốn tổng cộng dưới 10 giây đồng hồ để viết), bạn đã cho tác giả bài viết một viên vitamin sống được ít nhất cũng phải một tuần. Đây là mình nói rất thật, không màu mè, không phóng đại. Mình đã viết liên tục 20 năm trên Internet và các tờ báo ở Việt Nam, kể cả Nhân Dân, Tuổi Trẻ hay Đài Tiếng Nói Việt Nam, cho nên đây là kinh nghiệm sống thực. Chỉ hai chữ “cám ơn” của một người đọc có thể tạo ra một năng lượng cực kỳ lớn cho người viết, dù là anh ta đã viết mấy chục năm và đã nghe cám ơn vài nghìn lần. “Cám ơn” là vitamin, là thực phẩm. Nếu ngày nào ta cũng phải ăn ba bữa cơm, ăn cả đời không chán, không no, thì người ta cũng có thể nhận tiếng cám ơn cả đời, không chán, không no. “Cám ơn” không phải là nuôi dưỡng cái tôi của người nhận, mà là báo tin, “Ờ, việc anh làm, anh không có hoài công đâu.” Đó là synergy.

Đó là chỉ nói đến hai chữ cám ơn nhỏ xíu, các bạn đã có thể thấy năng lượng cực kỳ dũng mãnh của bạn. Nếu các bạn lại tích cực hơn, lâu lâu viết một vài câu, một vài bài, về việc làm đẹp làm sạch thành phố, các bạn có tưởng tượng được năng lượng của bạn tạo ra mạnh đến mức nào không? Những vấn đề tâm lý và siêu tâm lý thường là vô hình, không sờ mó được. Nhưng những năng lượng vô hình này cực kỳ mạnh, không thể xem thường. Dòng điện 1000 volt rất vô hình, nhưng sờ vào là biết ngay.

Và thay vì viết lách, bạn lại thực sự làm gì đó trên đường phố cho sạch thành phố, thì năng lượng tích cực đó lại càng mạnh mẽ hơn rất nhiều.

Điểm chính ta muốn nói ở đây là mỗi người chúng ta đã có những năng lượng tích cực rất mạnh. Kể cả khi bạn tin rằng bạn là người tiêu cực, thì năng lượng tích cực đó vẫn còn nguyên đó. Bạn chỉ cần dùng nó, bằng cách đọc một cái gì tích cực, hay suy nghĩ về một cái gì tích cực, hay nói một hai chữ tích cực, hay nói một hai bài tích cực, hay làm một hai hành động tích cực nào khác, năng lượng tích cực đó sẽ “đụng” người khác và sẽ sinh ra synergy, dù là bạn có thể không thấy synergy đó đâu hết.

Đừng coi thường năng lượng có sẵn trong mình. Người mạnh nhất thế giới thì cũng không hơn mình được 5 lần. “Một tiếng gảy móng tay có thể làm rung động vô lượng thế giới.” Nếu hiện nay bạn chưa hiểu hết câu này, một ngày nào đó bạn sẽ hiểu, bằng trải nghiệm thực sự.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
www.dotchuoinon.com
Licensed for non-commercial use

Thử thách Anh ngữ hàng ngày, 28.4.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Hôm qua ta có 4 câu đầu trong bài thơ I still rise của Maya Angelou. Hôm nay thêm 8 câu nữa nhé. Tổng cộng đến lúc này là 12 câu:

.

.

.

I still rise

    Maya Angelou

You may write me down in history
With your bitter, twisted lies,
You may trod me in the very dirt
But still, like dust, I’ll rise.

Does my sassiness upset you?
Why are you beset with gloom?
‘Cause I walk like I’ve got oil wells
Pumping in my living room.

Just like moons and like suns,
With the certainty of tides,
Just like hopes springing high,
Still I’ll rise.

Các bạn tiếp tục dịch nhé.

Để mình giải thích một tí, góp ý cho các bạn.

Maya Angelou là nữ thi sĩ người da đen ở Mỹ. Hiểu được lịch sử người da đen ở Mỹ thì thấm bài thơ này hơn.

Ngôn ngữ thi ca cực kỳ sáng tạo. Thi sĩ dùng những chữ bình thường và sử dụng nó một cách mới lạ, làm ta liên tưởng đến những hình ảnh và ý tưởng rất sâu xa.

Trong tiếng Việt, chữ bình thường là tiếng Việt Nôm, như là ăn, uống, anh, em. Chữ khó hiểu là Việt Hán, như bình đẳng, thân tâm, vọng quốc. Trong nghệ thuật viết, dù là viết gì, thì các chữ bình thường luôn luôn có sức mạnh hơn các chữ khó hiểu.

Trong Anh văn các chữ bình thường là các chữ có một hay hai vần (syllables), như I still rise, mỗi chữ chỉ có một syllable. Đa số các từ này là từ Anglo-Saxon, tức là từ gốc Anh Mỹ, như là tiếng Việt Nôm của ta. Các từ có 3 syllables trở lên, đa số là từ gốc Latin, tức là gốc ngoại quốc đối với truyền thống Anh Mỹ, tương tự như Việt Hán của ta. Vì vậy, các bản văn hay Anh Mỹ dùng rất ít từ có 3 syllables trở lên.

Có lẽ các bạn đã nhận ra câu đầu rất hay, “You may write me down in history.” Đây là các chữ bình thường thôi, nhưng là một sáng tạo mới.

1. Write … history liên tưởng đến “viết sử.”

2. Write me down in history: Viết tên tôi vào sử sách. (Write me down in that list = Ghi tên tôi vào danh sách đó).

Tuy nhiên, khi người Mỹ nghe câu này, vì chữ “down” và vì tác giả là người da đen, họ liên tưởng ngay đến:

3. Push me down, step down on me, reduce my value down, etc…

4. Thực ra trong kế toán có từ “write down.” Khi giá trị thực của tài sản không còn cao như trong sổ sách, kế toán viên điều chỉnh sổ sách bằng cách “write down” giá trị của tài sản cho đúng giá trị hiện hành. Nhưng người Mỹ không làm kế toán chắc không biết từ này; ngay cả các kế toán viên cấp thấp cũng có thể không biết từ này. Và có lẽ Angelou cũng không dùng từ kế toán để làm thơ (nếu bà biết kỹ thuật kế toán).

5. Ngày nay, theo tự điển thì write down còn có nghĩa là viết để hạ giá trị của điều gì, cũng gần như là nghĩa kế toán. Nhưng mình không biết nghĩa này có trước khi Angelou làm bài thơ (tức là do kế toán mà ra), hay nó trở thành từ ngữ phổ thông nhờ bài thơ. Dù sao thì dân Mỹ vẫn chưa dùng cách này hằng ngày, và có lẽ là đại đa số dân Mỹ vẫn chưa biết ý write down này.

Nhưng đối với đại đa số dân Mỹ (kể cả người ít học), thì các điểm 1, 2 và 3 đã đủ để họ thấm đúng ý thơ ngay khi nghe.

Các bạn cứ tiếp tục nhé.

Mến,

Hoành