All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Sách cho vùng khó

Chào các bạn,

Trong khi tìm ảnh Tây Bắc, mình tình cờ đến trang “Tủ sách cộng đồng” này, thấy có ý nghĩa nên giới thiêu đến các bạn.

Chúng ta cần quan tâm đặc biết đến các anh chị em dân tộc thiểu số ở vùng cao vùng sâu, bởi vì đó là anh chị em của chúng ta, nói chung là sống trong những hoàn cảnh kinh tế xã hội thua kém người Kinh rất xa.  Trong gia đình thì anh chị em thật sự phải quan tâm về nhau, đùm bọc nhau, và đưa nhau đi lên.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

TỦ SÁCH CỘNG ĐỒNG

I. Vì sao phải xây dựng “Tủ sách cộng đồng”?

Miền núi Việt Nam chiếm 3/4 lãnh thổ trải dài trên một không gian địa lý rộng lớn từ Bắc tới Nam, có hơn 1/3 dân số sinh sống với trên 23 triệu người trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Ðây là nơi lưu giữ các thảm rừng nhiệt đới, hình thành các vùng sinh thuỷ, với hệ sinh thái động thực vật phong phú, có tác dụng duy trì cân bằng môi trường sống cho cả nước và khu vực.

Miền núi cũng là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu cho sự nghiệp phát triển kinh tế của cả nước. Sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, đa sắc diện về cấu trúc kinh tế – văn hoá của các nhóm dân tộc thiểu số, tạo nên sự phong phú cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Miền núi Việt Nam không những có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa mà còn góp phần vào sự tồn tại và phát triển chung của thế giới.

Cánh đồng lúc chín vàng – báo hiệu một mùa màng bội thu

Nhiều năm qua, nhất là trong những năm đổi mới, Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã thường xuyên quan tâm đến vùng miền núi, thông qua những chủ trương và chính sách quan trọng cùng nguồn lực đầu tư đáng kể nhằm ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Miền núi đang được thay đổi, cơ sở hạ tầng, sản xuất nông lâm nghiệp đã có những chuyển biến mới, nhiều địa phương đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực và bước đầu sản xuất hàng hoá, rừng được bảo vệ và phục hồi, môi trường dần được cải thiện.

Người dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, phúc lợi khác… Ðời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên đáng kể. Những thành tựu ấy là căn bản, tuy nhiên so với mặt bằng chung, miền núi nước ta vẫn là vùng kinh tế chậm phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật còn lạc hậu, đời sống đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn. Sự nghiệp phát triển miền núi gắn liền với các dân tộc thiểu số đang đứng trước những vấn đề mới, với những thách thức mới của sự biến đổi và phát triển của quốc gia cũng như khu vực.

Thiếu nữ Mường đang hoàn thiện

công đoạn cuối cùng của sản phẩm dệt

Trước kia, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ, mọi chính sách về miền núi và dân tộc chủ yếu phục vụ mục tiêu đảm bảo khối đại đoàn kết dân tộc. Hiện nay, khi cả nước bước vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, “khoảng cách” giàu và nghèo, giữa miền núi và miền xuôi ngày càng rộng ra. Nhu cầu bình đẳng trong phát triển gắn với quá trình dân chủ hoá trên các lĩnh vực đời sống xã hội của mọi vùng, và mỗi người dân ngày càng tăng.

Yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo vệ bản sắc văn hoá và những giá trị truyền thống cũng tăng lên. Cạnh tranh các nguồn lực cho phát triển cũng trở nên gay gắt hơn. Song tăng cường Ðại đoàn kết dân tộc, thực hiện “Bình đẳng, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, giữa các vùng miền” lại càng bức thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, nhận thức, quan điểm và các chính sách của chúng ta cũng phải đổi mới cho phù hợp trước yêu cầu thực tiễn phát triển và thực lực chung của cả nước.

Giá trị về chức năng bảo vệ của miền núi là không gì có thể thay thế được. Tuy nhiên, các tài sản, giá trị này rất dễ bị tổn thương nếu không có một chiến lược toàn diện và cách thức tổ chức quản lý thích hợp. Phát triển miền núi theo hướng thúc đẩy miền núi đảm bảo duy trì chức năng của nó là một chiến lược đúng đắn và bền vững.

Thiếu nữ Bana trong trang phục truyền thống

Quan niệm về nghèo đói của vùng miền núi và dân tộc trước đây nay đã đổi khác. Nghèo đói không chỉ đơn thuần xem xét trên khía cạnh kinh tế, mà còn phải bao hàm cả về khía cạnh văn hoá và xã hội như: giáo dục, bảo vệ sức khoẻ cả cộng đồng, bình đẳng về tiếp cận nguồn lực, văn hoá các dân tộc được bảo tồn và phát huy. Mặt khác, miền núi chịu sự chi phối nhiều của các nét đặc trưng và sự khác biệt với mặt bằng chung của quốc gia nên việc giải quyết vấn đề nghèo đói và thúc đẩy phát triển ở miền núi phải chú ý đến các yếu tố xã hội mới bảo đảm sự thành công và hiệu quả.

Lấy phát triển làm cơ sở để giải quyết vấn đề nghèo đói ở miền núi. Miền núi, với tính độc lập tương đối và thích nghi cao hơn, ít phụ thuộc vào biến động của bên ngoài, đầu tư phát triển không nên nặng tính bao cấp toàn bộ, mà giúp cho miền núi có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với các nguồn lực, phải hỗ trợ, kích thích, phát huy nội lực sẵn có, đảm bảo cho phát triển bền vững.

Chúng ta cũng nhận thức được rằng tương lai và phúc lợi của nhân dân miền núi tuỳ thuộc vào khả năng sử dụng một cách khôn khéo, bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm suy thoái các nguồn tài nguyên và cũng không làm suy thoái môi trường. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là làm thế nào để động viên toàn thể nhân dân ở các vùng, miền của cả nước dựa vào sức mình là chính để gìn giữ và khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên vùng miền núi, đó chính là bảo vệ lợi ích của mình và của đất nước.

Miền núi cần được xã hội nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, tiềm năng phát triển cũng như những khó khăn đang phải đối mặt. Phát triển miền núi phải tập trung quyết tâm xoá hộ đói, giảm hộ nghèo, phấn đấu làm giảm khoảng cách giàu, nghèo và phát triển giữa miền núi với đồng bằng, giữa nông thôn với thành thị.

Thiếu nữ Thái đang trang trí cho chiếc khăn Piêu của mình

Ổn định và phát triển bền vững miền núi không chỉ là mục tiêu của Việt Nam mà cả các quốc gia trên toàn thế giới. “Phấn đấu vì sự phát triển bền vững của miền núi Việt Nam”, đó là bức thông điệp “miền núi” muốn gửi tới toàn thể chúng ta.

Mạng Tủ sách cộng đồng là một Website phi lợi nhuận với mục đích mong muốn góp một phần công sức và nhiệt huyết của sức trẻ Việt nam trong thời đại mới vào công cuộc “nâng cao dân trí” cho đồng bào, thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, mỗi một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách về với “vùng khó” của cả quốc gia. Ban Biên tập Website vì vậy cũng sẽ là một cộng đồng mở với sự tham gia tình nguyện của tất cả những ai quan tâm đến văn hoá miền núi trong cả nước.


II. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN “Tusachcongdong.com.vn”


1. Tên gọi của dự án

– Tên đầy đủ của dự án: “Tủ sách cộng đồng – sách cho vùng khó”

2. Mô tả chung về dự án

“Tủ sách cộng đồng” là một website vì dân trí cho vùng khó, đặc biệt nông thôn miền núi do nhóm sinh viên trẻ năng động từ các trường ĐH sáng lập .Đứng đầu là Sinh viên Đặng Thị Hơn, sinh viên trường ĐH Văn hóa Hà Nội khởi xướng với mong muốn “nâng cao dân trí” cho đồng bào thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách dầy ý nghĩa về với “vùng khó” trên khắp đất nước

3. Hoài bão của dự án (Vision)

Trước dự án này đã có dự án “One book” do Sachhay.com khởi xướng và PACE điều hành đã triển khai rộng rãi trên khắp Việt nam từ năm 2004 và đạt được những thành công nhất định. Ở đây chúng tôi chỉ tập trung vào nhóm đối tượng là người dân ở nông thôn miền núi. Hoài bão của chúng tôi mong muốn được các nhà đầu tư quan tâm đến dự án này để chúng tôi có thể xây dựng “Tủ sách cộng đồng” trên các bản làng vùng cao trên khắp đất nước Việt Nam với khát vọng “thu hẹp khoảng cách giữa miền ngược và miền xuôi và mang sách đến với các em nhỏ, cũng như giúp người dân biết đến các ứng dụng của KHKT để áp dụng vào sản xuất”

4. Sứ mệnh của dự án

Chúng tôi mong muốn có thể là trung gian để đưa những cuốn sách đến với người dân nơi đây và làm cho bộ mặt xã hội dần thay da đổi thịt.

5. Mục tiêu của dự án

Mục tiêu hướng tới là có thể xây dựng tủ sách cộng đồng tại tất cả các bản làng vùng cao. Đến tận ngõ nhỏ của bản bản làng để các em đều có sách đọc.

Mạng Tủ sách cộng đồng là một Website phi lợi nhuận với mục đích mong muốn góp một phần công sức và nhiệt huyết của sức trẻ Việt nam trong thời đại mới vào công cuộc “nâng cao dân trí” cho đồng bào, thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, mỗi một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách về với “vùng khó” của cả quốc gia.

Mạng Tủ sách cộng đồng rất mong nhận được sự ủng hộ và tham gia nhiệt tình của các anh chị và các bạn trên mọi miền tổ quốc.
Mọi hồi âm xin liên lạc theo địa chỉ e-mail: tusachcongdong@gmail.com

Xin trân trọng cảm ơn

Vô Tâm

Chào các bạn,

Vô tâm là đích điểm của Thiền tập. Vô tâm, hay “tâm không”, là một tâm trí không vướng mắc, hoàn toàn tự do. Một ví dụ rất nổi tiếng về vô tâm là chuyện thiền sư Tanzan ẳm cô gái đẹp qua vũng bùn mà lòng chẳng một ly vướng bận trước, trong khi, và sau khi ẳm.

Vô tâm cũng là tâm điểm của võ thuật và các môn nghệ thuật khác. Và là cách sống mà hàng triệu thiền sinh hiện nay, dù là ở chùa hay ở nhà, vẫn cố gắng mỗi ngày để đạt.

Nhưng vô tâm nói thì dễ, làm thì cực kỳ khó khăn.

Mỗi tâm trí chúng ta là một máy computer, với hàng trăm ngàn thước “dây” thần kinh nối lại trong một guồng máy cực kỳ phức tạp. Guồng máy đó là cốt tủy của tâm ta. Bây giờ đổi nó thành “tâm không” thì cũng như là vứt bỏ tất cả các dây thần kinh đó hết để tâm thành “không”, vậy thì còn gì là bộ máy nữa? Nói thế để chúng ta hiểu được khó khăn của vấn đề.

Đây là vấn đề quan trọng, bởi vi nếu mỗi người chúng ta không giải phóng được tư tưởng của mình, cứ bị cầm tù mãi trong giàn máy tư duy của mình, thì đất nước sẽ không bao giờ cất cánh.

Hãy xem xét câu này: “Anh chàng Sơn nói câu này thiếu luận lý quá. Dốt chịu không được.”

Câu “Anh chàng Sơn nói câu này thiếu luân lý quá” chính là “thấy sự việc như nó là” (seeing thing as it is) (nếu thực sự là anh Sơn thiếu khoa học luận lý).

Câu “dốt không chịu được” là “có tâm”, tức là đưa phán đoán của mình vào.

“Có tâm” thường làm cho mình bị mù mờ tâm trí, vì cái nhìn của mình bị sai lạc và thường chết yểu, không đi sâu được vào sự thật. Chẳng hạn, câu nói thiếu luận lý mình vừa nghe có thể là không dốt tí nào, mà có thể là một sự thật sâu thẳm vượt cao hơn luận lý đến mấy tầng.

Ví dụ câu “Thượng đế là tình yêu.” Câu này thì chẳng luận lý một tí nào cả, nhưng nếu bạn tin vào một “người” có tên là Thượng đế thì câu này là một câu thần học đúng. Nếu bạn là một triết gia dùng từ “Thượng đế” như là một sức mạnh tuyệt đối đến từ tình yêu của con người, có thể nối kết tất cả con người lại với nhau và giúp con người cùng đi lên trong thế giới này, thì nó cũng đúng. Hoặc nếu bạn là một thi sĩ, nhìn “Thượng đế” như là nguồn cảm xúc vô tận của trái tim con người, thì câu đó cũng đúng. Cho nên cái nhìn “có tâm”, bị cản trở bởi thành kiến và giới hạn nhỏ bé của kiến thức có sẵn của ta, thường là nguồn gốc của si mê và dốt nát.

Cái nhìn “thấy sự việc như nó là” là cái nhìn “vô tâm”. Đó là cái nhìn giải phóng, của một tâm trí tự do, không bị tù ngục trong những thói quen phán đoán, suy luận, suy diễn, hay kết luận của ta.

Cho nên người “vô tâm” nhìn một chuyện xảy ra trước mắt, có thể thấy sâu hơn người khác “có tâm” đến mấy tầng, trong kinh tế, trong chính trị, trong quản lý, trong giáo dục…

Tuy nhiên, từ “vô tâm” thường làm cho người thiếu căn cơ không hiểu được, vì “tôi chẳng có cách nào để làm tâm tôi thành ‘tâm không’ như thầy nói được cả.” Vậy thì chúng ta sẽ dùng một từ khác dễ hiểu hơn và dễ thực hành hơn.

Nếu trở lại chuyện của thiền sư Tanzan ẳm cô gái qua đường—lúc ẳm cô gái thiền sư chẳng có “tâm” gì cả, ngọai trừ phải chú tâm vào một chuyện—ẳm và đi cách nào cho tốt nhất. Chú tâm hòan tòan vào một việc duy nhất mình đang làm, gọi là “chánh niệm”. Và đó cũng là “vô tâm”, vì tâm trí chỉ tập trung vào một việc phải làm mà không bị vướng bận vào những tư duy vụn vặt tù túng khác.

Ví dụ: Ta thấy một tư tưởng hay, muốn viết một bài gởi đăng trên ĐCN để chia sẻ với các bạn. Thì tập trung tư tưởng vào việc “viết bài để chia sẻ với các bạn”, và không để các “tâm” sau đây chi phối:

– Các bạn sẽ cho rằng mình thông thái không?
– Hay là chê mình dốt?
– Hay là nói mình khoe tài?
– Hay là nói mình có mưu đồ chính trị?
– Hay là nói mình giảng đạo?
– Hay là nói mình đạo đức giả?
– Hay là nói mình cổ hủ?

Và vài chục cái tâm “hay là” như thế nữa.

Ví dụ viết là ví dụ khó, vì thực ra khi viết mình vẫn phải để ý đến các “hay là” bên trên, vì viết cho đám đông thì mình cần cố gắng để mọi người khỏi hiểu lầm ý mình. Nhưng tất cả các “hay là” đó chỉ là những điều nên để ý trong “kỹ thuật viết” để trình bày thế nào cho độc giả hiểu đúng ý mình càng nhiều càng tốt, chứ không có một cái “hay là” nào là động lực để mình viết (hay để bỏ cuộc không viết).

Khi “viết để chia sẻ” là chỉ tập trung tâm trí vào việc “viết để chia sẻ”, mà không bị các ham muốn hay lo sợ nào chi phối. Đó là “viết chánh niệm”, là một thực hành của vô tâm.

Ăn thì tập trung vào việc nhai và thưởng thức từng vị ngon của bữa ăn (mà đừng nghĩ đến ông chồng mình đang đi với ai 🙂 ).

Khiêu vũ thì tập trung vào việc thường thức nhịp nhạc và bước đi của mình (và không cần phải lo là ai chê mình nhảy dở hay khen mình là vũ sư).

Làm việc nhóm thì tập trung vào làm việc của mình và quan sát các người khác trong nhóm để cùng di chuyển đồng điệu mà không phải nói nhiều hay hiểu lầm nhau (và không làm “chính trị văn phòng”—office politics—tức là cạnh tranh ganh tị lặt vặt ta thường thấy trong các nhóm).

Cho một người hành khất vài đồng, thì cho (và đừng quan tâm là ông này có đang giả vờ để quỵt mình không. Nếu lo bị quỵt thì đừng cho, đã cho thì không lo).

Thấy chuyện sai cần phải nói cho người khác biết, thì nói (và đừng lo hậu quả. Nếu lo thì đừng nói).

Và khi đã xong thì xong: Tranh luận xong, đừng ấm ức; tập trung tâm trí vào việc khác. Người đã làm sai với mình, xong chuyện là xong; không để tâm phán đóan. Vợ chồng cãi nhau, xong là xong, tập trung tâm trí thưởng thức bửa ăn tối với nhau. Mỗi lúc làm chỉ một chuyện. Xong là xong.

Tập cho guồng máy tâm trí của mình “chỉ tập trung vào làm một chuyện một lúc” mà không có tư tưởng lắt nhắt nào xía vào, đó là “chánh niệm”, và người sống chánh niệm thì đương nhiên là vô tâm, vì nếu ăn chánh niệm, ngủ chánh niệm, làm việc chánh niệm, đi chánh niệm… cả ngày như thế thì lấy đâu còn tâm trí để cho các tư duy lăng nhăng khác xía vào.

Nếu ta tập được khả năng “thấy mọi sự như nó là” (seeing everything as it is), không bị các tâm lăng nhăng xía vào, ta có thể hiểu được mình và những người chung quanh sâu hơn người bình thường mấy tầng, và thấy được các hiện tượng kinh tế, chính trị, giáo dục, xã hội của quốc gia sâu hơn những người khác mấy tầng.

Đó là đưa mình và đưa đất nước đi lên.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tự do đầu tiên và cuối cùng, Tâm trí tự do.

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Sự đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài vào công cuộc phát triển của đất nước

Chào các bạn,

Mình vừa nhận từ ENDA Vietnam (Environment and Development in Action) một report về “Sự đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài vào công cuộc phát triển của đất nước”. Đăng lại đây để chia sẻ với các anh chị và các bạn làm chính sách trong chính phủ cũng như các tổ chức quốc tế.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

Hãy múa hát ca tụng mùa xuân

Tạ ơn mùa xuân đã trở lại
Cho ta tỉnh giấc ngủ dài
Phương đông phương đông phương đông
Bừng tia nắng sớm
Đàn chim di trú đã hồi lai
Những quả tim tàn tật đã trỗi dậy
Rong chơi trên những dãy đồi
Và những linh hồn quạnh hiu
Đã múa ca trên những con đường đồng nội
Những cánh đồng mênh mông
Mênh mông
Những linh hồn của mẹ
Lượn vòng
Như đàn cò trắng
Điểm danh lúa màu
Buổi sáng
Những giọt nước mắt của bao niên đại
Đã trở thành suối mát trên những nấm mồ
Những làn cỏ xanh đã tái sinh trên thềm mộ địa

Trên mảnh đất này
Ta đứng đây
Giữa những tảng đá đã lặng yên nhiều thế kỷ
Những rừng cây hóa thạch từ thời cổ đại
Và những dòng sông đã khô cằn từ thuở trái tim dẫy chết
Tất cả đang trở mình
Với những tia nắng đầu tiên
Chen vào giữa cơn ngủ đông thế kỷ
Đã kéo dài từ thưở con tim
Tắm sâu trong vinh quang của nó

Hỡi người
Hỡi rừng
Hỡi núi
Hỡi cỏ cây sông suối
Hãy mang lên mình màu lụa mới
Dệt từ những sợi xót thương của trái tim của mẹ
Không bao giờ ngừng đập
Không bao giờ gian dối
Và đã được nấu nung từ thuở hồng hoang bằng lửa mặt trời

Hãy bước ra sân nắng
Và múa hát ca tụng mùa xuân.

TĐH
4:52 pm, Fri., Jan. 29, 2010
Woodbridge, VA, USA

Không nước, không trăng

Khi ni cô Chiyono học Thiền với thầy Bukko của chùa Engaku, cô không gặt được thành quả gì từ thiền định trong một thời gian dài.

Cuối cùng, trong một đêm trăng, ni cô đang xách nước trong một cái gàu cũ bọc tre. Tre bị găy và đáy gàu rớt ra, và ngay lúc đó tâm trí của Chiyono được giải phóng.

Để k‎ỷ niệm, ni cô làm một bài thơ:

Bằng cách này cách kia tôi cố giữ cái gàu cũ
Từ lúc thanh tre đã yếu và gần gãy
Cho đến khi đáy gàu rơi ra.
Không còn nước trong gàu!
Không còn trăng trong nước!

Bình:

Chùa Engaku (円覚寺) là một chùa thiền tông Lâm Tế và một trong những chùa thiền tông quan trọng nhất ở Nhật. Chùa do một vị sư Trung quốc xây dưới thời tể tướng Nhật Hōjō Tokimune sau khi ông đẩy lui được quân xâm lăng Mông Cổ từ 1274 đến 1281. Hōjō Tokimune cũng là một ví thầy về Thiền, vì vậy chùa Engaku rất nổi tiếng về Thiền.

• “Tâm trí của Chiyono được giải phóng.” Đây là điều mà các sách vở của ta gọi là “hốt nhiên đại ngộ”. Chữ “giải phóng” hàm ý tâm trí của Chiyono đã bị tù túng trước đây.

Tù túng vì cái gì?

• Chiyono viết, “Bằng cách này cách kia tôi cố giữ cái gàu cũ”. Đó cũng là một cách để nói “Tôi cứ giữ một nề nếp cũ.” Đây rất rõ là cách suy nghĩ cũ, có nước trong gàu và có trăng trong nước. Đây chính là tù túng.

Trăng là ảo ảnh.

Gàu và nước là cái giữ trăng, cái giữ ảo ảnh. Gàu là cách suy tư, nước là biểu hiện cái sờ mó được. Gàu và nước cách suy tư dựa vào những gì mắt thấy tai nghe, dựa vào những gì sờ mó được mà suy luận. Cho nên tâm trí bị lẩn quẩn trong giới hạn của ngôn ngữ và lý‎ luận, bị cầm tù không thoát ra được.

Ví dụ: Suy tư “Con gà có trước hay trứng gà có trước?” Suy tư này sẽ giữ ta trong vòng lẩn quẩn không bao giờ ra, vì nó bị giới hạn bởi ngôn ngữ và luận l‎ý của con người.

Một ví dụ thường ngày hơn: “Nếu ta làm thiện, ta sẽ được phước, như vậy sẽ gia tăng cơ hội thành công trên đường đời, và được hạnh phúc. Vậy thì, tu học làm việc thiện là đường đưa đến hạnh phúc.” Đây là một chuỗi lý luận rất hợp lý theo lý luận hàng ngày, và chẳng có gì đáng trách cả.

Nhưng nếu ta đã nhận ra chính thân ta là phù du, vô thường, thì tất cả chỉ là ảo ảnh—các việc thiện, tu học, hạnh phúc–đều chỉ là phù du, hư ảo.

Cho nên mọi phương thức suy luận đều là cái gàu nước, giữ ảo ảnh là trăng.

• Vậy thì cái gì không là ảo ảnh? Cái gì là chân l‎ý vĩnh cửu?

Chân lý‎ đó là cái nền thường hằng bất biến (thường trực không thay đổi) của mọi thay đổi. Nếu mọi ngọn sóng đều hiện rồi mất, đều thay đổi liên tục, thì phải có cái gì làm nền cho tất cả mọi ngọn sóng đó. Cái nền đó là đại dương nước. Lọn sóng nào cũng phù du, hiện rồi mất ngay, nhưng đại dương nước thì luôn có đó.

Cái nền thường hằng bất biến của mọi thay đổi đó, ta gọi là Tuyệt Đối. Ta không thể diễn tả được tuyệt đối, không thể tưởng tượng được bằng ‎ý niệm, vì mọi ‎từ ngữ, mọi ý niệm—dài, ngắn, trắng, xanh, lớn, nhỏ…–đều là tương đối, đều là thay đổi.

Cái nền thường hằng bất biến đó, ta gọi là Không, là Như Lai, là Phật. Đó là bản tánh thật của vũ trụ, và là bản tánh thật của chính ta, vì ta cũng từ đó mà ra rồi lại trở về đó, như sóng từ nước mà ra rồi lại tan hòa vào nước.

• Để nắm bắt được Tuyệt Đối (Không, Như Lai), ta phải vượt bỏ hẳn các khái niệm và suy nghĩ, vượt ra khỏi thế giới tương đối của mắt thấy tai nghe và của suy luận trong trí óc, để lên tầng Tuyệt Đối. Cảm nhận trực tiếp được hiện diện của Tuyệt Đối bên trong, và xuyên qua, những điều tương đối ta thấy—gần như là nhìn một người phụ nữ trước mặt và cảm nhận được tình yêu bất diệt của nàng có cho bạn. Cảm nhận này vượt lên trên lý luận và ‎ý niệm.

• Gàu vỡ, hết nước, hết trăng, tức là ngưng suy nghĩ kiểu bình thường, không lệ thuộc vào những điều mắt thấy tai nghe mà suy luận, là nhảy vọt lên đến tầng cảm nhận Tuyệt Đối đó. Cho nên ta nói là “giải phóng tâm trí” hay “hốt nhiên đại ngộ”.

• Người ta dùng chữ “ngộ”, “enlightened”, “giải phóng”, mà không nói “hiểu”, hay “đột nhiên hiểu ra”, vì cái biết này sâu thẳm hơn cái hiểu của suy luận bình thường. Đó tương tự như là cái biết cùa một người nghệ sĩ vừa nắm được một dòng nhạc hiện vào đầu và không giải thích được tại sao có dòng nhạc mới lạ thật hay hiện ra trong đầu như thế.

• Xem thêm về “hốt nhiên đại ngộ” trong bài Ba Ngày Nữa.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

No Water, No Moon

When the nun Chiyono studied Zen under Bukko of Engaku she was unable to attain the fruits of meditation for a long time.

At last one moonlit night she was carrying water in an old pail bound with bamboo. The bamboo broke and the bottom fell out of the pail, and at that moment Chiyono was set free!

In commemoration, she wrote a poem:

In this way and that I tried to save the old pail
Since the bamboo strip was weakening and about to break
Until at last the bottom fell out.
No more water in the pail!
No more moon in the water!

# 29

Mọi thứ đều nhất

Khi thiền sư Banzan đang đi ngang một khu chợ, thiền sư nghe một mẩu đối thoại giữa anh hàng thịt và khách hàng.

“Cho tôi miếng thịt ngon nhất anh có,” người khách hàng nói.

“Trong tiệm tôi mọi thứ đều nhất,” anh hàng thịt trả lời. “Chị chẳng tìm ở đây được miếng thịt nào mà không nhất.”

Nghe những lời này, Banzan tức thì giác ngộ.

Bình:

• “Mọi thứ đều nhất” tức là tâm không còn phân biệt. Tất cả chúng sinh đều như nhau—đều là Phật đang thành. Phải có tâm Phật mới “thấy” và “sống” được điều này.

Cho nên, Phật dạy từ tâm. Từ tâm với tất cả mọi người–thân sơ, tốt xấu.

Kinh Từ Tâm viết:

Tấm lòng nhân ái bao la,
Thật là thuần khiết, thật là cao thâm.
Hướng về tất cả chúng sinh,

Thương người quen lẽ tất nhiên,
Cũng thương những kẻ chưa quen bao giờ.
Xóa đi ngăn cách thân sơ,

Đủ lòng độ lượng, đủ lòng thương yêu.
Với người mưu hại đủ điều,
Bất nhân ác cảm gây bao hận thù.

Với người oán ghét bao đời,
Nguồn thương yêu ấy làm vơi tị hiềm.

Không những là yêu thương tất cả mọi người, mà là tất cả mọi loài, tất cả mọi sinh linh.

• (Và yêu tất cả mọi người không có nghĩa là tin tất cả mọi người. Trong đời sống hàng ngày, đôi khi ta phải thực tế trong việc tin người và dùng người. Nhưng yêu mọi người thì được. Cũng như bố mẹ có thể yêu tất cả các đứa con như nhau, nhưng tin mỗi đứa, và do đó hành xử với mỗi đứa, có thể khác nhau).

• Ở vào mức cao nhất, Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Khi Bồ tát Quán-tự-tại thực hành trí tuệ Bát Nhã thâm sâu, soi thấy [tất cả] là Không, Ngài liền vượt mọi khổ nạn.” Tất cả là Không, tức là không còn phân biệt cái gì hơn cái gì.

• Ở một góc nhìn khác, thì không có gì là rác cả. Tất cả mọi thứ trên đời đều có thể dùng được vào việc nào đó. Tất cả mọi người trên đời đều có thể dùng được vào việc nào đó.

• Anh hàng thịt: Đối với Phật gia cấm sát sinh, thì có lẽ bán thịt là nghiệp tội nặng nhất nhì trên đời rồi. Vậy mà một lời nói của anh hàng thịt cũng “bật công tắc đèn” cho một thiền sư giác ngộ. Vậy thì, lời nói có thể giúp ta giác ngộ có thể đến từ bất kỳ ai. Ta không thể có thái độ kỳ thị, coi thường lời nói của ai, vì họ dốt, hay là người xấu, là kẻ thù, là kẻ tội lỗi, là người khác đạo… Bất kỳ lời nói đến từ đâu, từ ai, đều có thể làm cho ta giác ngộ, vào đúng lúc.

• Tâm vô phân biệt.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Everything is Best

When Banzan was walking through a market he overheard a conversation between a butcher and his customer.

“Give me the best piece of meat you have,” said the customer.

“Everything in my shop is the best,” replied the butcher. “You cannot find here any piece of meat that is not the best.”

At these words Banzan became enlightened.

# 31

Sao xa

Ngồi yên giữa cõi vô cùng
Bỗng dưng sao đến từ vùng vô biên
Hằng hà sa số quang niên
Cớ gì nay gặp giữa triền mênh mông
Nợ duyên nào đã gieo trồng
Từ vô lượng giữa cánh đồng thời gian
Nên giờ có dịp hỏi han
Gởi về một mảnh bình an thiên hà
Cảm ơn em lại gặp ta…

TĐH
Lake of the Woods
5:34 pm Wed., Jan. 27, 2010

Danh thiếp

Keichu, vị thiền sư lớn thời Minh Trị Thiên Hoàng, là sư trụ trì chùa Tofuku, một đại tự ờ Kyota. Ngày nọ, thống đốc Kyoto đến thăm thiền sư lần đầu tiên.

Người trợ lý thống đốc trình danh thiếp của thống đốc, có ghi: “Kitagaki, Thống Đốc Kyoto.

“Tôi không có chuyện gì để nói với một anh chàng như vậy,” Keichu nói với người trợ lý. “Bảo ông ta đì về đi.” Người trợ lý mang tấm danh thiếp trở lại với lời xin lỗi. “Đó là lỗi của tôi,” thống đốc viết, với dòng bút chì xóa cụm từ Thống Đốc Kyoto. “Hỏi thầy anh lần nữa.”

“Ô, Katagaki hả?” thiền sư reo lên khi thấy tấm danh thiếp. “Thầy muốn gặp anh ấy.”

Bình:

• Keichu Bundo (1824-1905) là thiền sư Lâm Tế, hạ nhân của thiền sư “Vậy à” Hakuin.

• Rõ là đại sư muốn dạy cho thống đốc (“anh chàng như vậy”) một bài học về khiêm tốn. Nhưng tại sao phải dạy thì ta không biết trong bài này. Có thể là có nhiều điều đã xảy ra thời đó làm cho thiền sư phải giảng dạy như thế.

• Bài này cũng cho thấy không thể lấy bụng tiểu nhân mà đo lòng quân tử. Không thể thấy việc đại sư xử với thống đốc như thế mà kết luận là đại sư kiêu căng. Cái nhìn bên ngoài có thể được l‎ý giải bằng đủ mọi cách tâm ta muốn. Nếu ta có tâm thanh thoát, ta sẽ thấy mọi điều thanh thoát.


• Điều quan trọng là, nếu ta là thống đốc, ta được đại sư cho một cơ hội bằng vàng để học cung cách khiêm tốn, ta có khiêm cung để nhận bài học không?

Ở đời gặp chuyện loại này cũng thường. Phản ứng của chúng ta thế nào khi ta nằm trong trường hợp gần như trường hợp của Thống Đốc Kyoto?

• Nhiều người đọc bài này có thể nghĩ rằng tác phong không sợ quyền hành của Kaichu là điểm chính. Nhưng đó không là điểm chính. Thầy dạy học thì có đủ cách dạy, từ dịu dàng đến dữ dội, chẳng có gì đáng ngạc nhiên hết.

Điểm chính là phản ứng khiêm tốn, yêu học hỏi, của Thống Đốc Kitagaki.

• Khi nào thì ta mang chức vụ ra để cư xử? Khi nào ta cư xử với nhau chỉ bằng cái tên bố mẹ đã cho ta?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Calling Card

Keichu, the great Zen teacher of the Meiji era, was the head of Tofuku, a cathedral in Kyoto. One day the governor of Kyoto called upon him for the first time.

His attendant presented the card of the governor, which read: Kitagaki, Governor of Kyoto.

“I have no business with such a fellow,” said Keichu to his attendant. “Tell him to get out of here.”The attendant carried the card back with apologies. “That was my error,” said the governor, and with a pencil he scratched out the words Governor of Kyoto. “Ask your teacher again.”

“Oh, is that Kitagaki?” exclaimed the teacher when he saw the card. “I want to see that fellow.”

# 30

Mở kho tàng của bạn

Daiju đến thăm thiền sư Baso ở Trung Quốc. Baso hỏi: “Anh tìm gì?”

“Giác ngộ,” Daiju trả lời.

“Anh có kho tàng riêng của anh. Tại sao tìm bên ngoài?” Baso hỏi.

Daiju thắc mắc: “Kho tàng của tôi ở đâu?”

Baso trả lời: ‘Cái anh đang tìm là kho tàng của anh.”

Daiju mừng rỡ! Kể từ đó Daiju luôn luôn nói với bạn bè: “Mở kho tàng của anh và dùng nó.”

Bình:

Baso dōitsu (Mã Tổ Đạo Nhất, 馬祖道一, 709-788), là một Thiền sư Trung Quốc đời nhà Đường, và là môn đệ và người đắc pháp duy nhất của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sư có rất nhiều môn đệ đắc đạo như Bách Trượng Hoài Hải, Nam Tuyền Phổ Nguyện, Đại Mai Pháp Thường, Đại Châu Huệ Hải…

Mã Tổ Đạo Nhất thường được xem như người có ảnh hưởng mức thứ 3 trên Thiền tông, sau Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma và lục tổ Huệ Năng.

• Bản tiếng Anh này nói “Daiju was delighted”, tức là mừng rỡ hớn hở, khi nghe Mã Tổ Đạo Nhất trả lời. Vài bản khác dùng từ “enlightened”, tức là “giác ngộ.”

• Giác ngộ, Niết Bàn, Phật… ở trong ta. Không nẳm ở ngoài ta đâu mà tìm.

Trần Nhân Tông, tức Trúc Lâm Đầu Đà, thủy tổ của Thiền phái Trúc Lâm, nói trong bài Cư trần lạc đạo:

Gia trung hữu báo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

(Trong nhà có của đừng tìm nữa
Nhìn cảnh vô tâm hỏi chi thiền)

Tâm ta vốn là tâm Phật, chỉ bị vô minh che khuất.

Vô minh là chấp trước—bám vào cái này, bám vào cái kia.
Bám vào tham, sân, si.
Bám vào cái tôi (ngã).
Bám vào thành kiến—cái này tồi, người kia tốt.
Bám vào đạo—phải là thế này mới là đạo, thế kia không là đạo.
Bám vào pháp tu—tu thế này mới đúng, thế kia là sai.
Bám vào Phật–người này là Phật, đi theo ngài thì sẽ giác ngộ.
Bám vào… Bám vào…
Bám vào cả quan niệm “đừng bám” (chấp ngay cả vô chấp).

“Nhìn cảnh vô tâm”–nhìn mưa thì thấy mưa, đừng diễn giải là “chia ly đầy nước mắt”, v.v….—thì đó là Thiền, là ngộ. Như Tanzan vô tâm mang kiều nữ qua vũng bùn.

“Nhìn cảnh vô tâm” là không còn bị chấp trước nào che khuất tâm ta. Lúc đó tâm sẽ sáng láng trở lại như thời ngyên thủy, tức là tâm trở lại “bản lai diện mục” (mặt mũi nguyên sơ) của nó. Đó là giác ngộ, là Niết Bàn.

• Kho tàng ở trong ta. Hạnh phúc, an lạc, an bình… đã có sẵn trong ta. Đừng tìm ở ngoài.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Open Your Own Treasure House

Daiju visited the master Baso in China. Baso asked: “What do you seek?”

“Enlightenment,” replied Daiju.

“You have your own treasure house. Why do you search outside?” Baso asked.

Daiju inquired: “Where is my treasure house?”

Baso answered: “What you are asking is your treasure house.”

Daiju was delighted! Ever after he urged his friends: “Open your own treasure house and use those treasures.”

#28

Tranh luận dân chủ

Chào các bạn,

Nhân dịp chúng ta vừa tạm ngưng cuộc thảo luận sôi nổi, hấp dẫn và đáng làm trường hợp nghiên cứu (case study) cho các bạn muốn nghiên cứu về nghệ thuật tranh luận, về bài Ánh sáng và Bóng tối – Bạn chọn cái nào? vừa qua, chúng ta hãy tóm tắt một vài điểm chính về nghệ thuật tranh luận dân chủ.

Nghệ thuật tranh luận dân chủ là vấn đề lớn với đất nước chúng ta, đang dân chủ hóa từng bước từng ngày. Tiến trình dân chủ hóa tốt và nhanh đến đâu tùy theo chúng ta xây dựng được truyền thống tranh luận dân chủ tốt đến đâu.

Đối với chúng ta, xây dựng dân chủ là xây dựng một truyền thống văn hóa tranh luận mới, vì văn hóa truyền thống của chúng ta là văn hóa “đồng thuận”, mà văn hóa tranh luận dân chủ là văn hóa “Đồng ý‎ rằng chúng ta bất đồng ý” (Let’s agree that we disagree).

Văn hóa đồng thuận—mọi người đồng ý ‎ về mọi điểm–thực ra rất tốt cho sức mạnh tập thể. Vấn đề là, ngày nay chuyện mọi người đều đồng ‎ý về mọi vấn đề hầu như không thể xảy ra, vì chúng ta đã du nhập nền văn hóa lớn rộng của thế giới với đủ mọi trường phái tư tưởng, triết l‎ý, văn hóa… khác nhau. Ngay cả những người trong một nhóm tuổi, một thế hệ, đã có nhiều suy nghĩ và ý thích khác nhau, huống chi là những người khác thế hệ, khác dân tộc, khác giáo dục, khác kinh nghiệm… Khi có nhiều khác nhau trong cá tính mà đòi là phải đồng thuận, thì chỉ có một cách là một nhóm mạnh đặt chuẩn bắt mọi người khác tuân theo, và như thế là có áp bức và mâu thuẫn. Các mâu thuẫn này—ngấm ngầm hay bùng phát—đều làm yếu sức mạnh tập thể. Vì vậy, biện pháp tốt nhất để mọi người cùng vui vẻ với nhau là “đồng ‎ý rằng chúng ta có thể bất đồng ý”, ngoại trừ không được bất đồng ‎ý về qui luật này. 🙂

Nhưng tại sao ta lại nói đến “tranh luận”?

Nếu tư tưởng khác nhau thì đương nhiên đi đến tranh luận. Ta có thể dùng từ “đối thoại”, nhưng từ “tranh luận” chính xác hơn, vì (1) trong các vấn đề nóng bỏng, đối thoại thường đưa đến tranh luận, và (2) tranh luận thường tốt hơn là đối thoại xìu xìu ển ển, vì khi các “đối thủ” tranh luận kịch liệt, mỗi bên sẽ cố gắng đưa các luận cứ mạnh nhất mà mình có thể tìm ra, nhờ đó mà tư tưởng sáng tạo được sinh ra rất nhiều trong mỗi cuộc tranh luận. Tranh luận luôn luôn đưa đến sáng tạo.

Tranh luận thế nào?

Các điều nên tránh:

• Đừng tấn công cá nhân: Tranh luận là nói về vấn đề, không phải là về người đang tranh luận, cho nên không nên tấn công cá nhân, như là: “Anh là người miền trung (hay công giáo, hay dân kỹ thuật…) anh không biết được việc này” hay “Anh đã li dị vợ, chống phụ nữ là phải rồi,” hay “Vợ anh mà còn bất đồng ý‎ với anh huống chi là tui.”

Khi tấn công cá nhân xảy ra, cuộc tranh luận đổ vỡ ngay. Trong giới luật sư, người nào làm thế sẽ bị chánh án chỉnh ngay trong toà và bị các luật sư khác xem thường ngay (như là thiếu lễ nghĩa).

• Đừng lái vấn đề khỏi vấn đề chính. Làm tốn thời giờ mọi người. Bồi thẩm đoàn hay người nghe sẽ rất bực mình, và có thể cho bạn thua.

• Lấy ý và đừng quá câu nệ vào ngôn ngữ (Trừ khi bạn cố tình muốn làm cho bồi thẩm đoàn hay người nghe bị lùng bùng về lý luận của bên kia, chẳng hạn. Đây là đòn thuộc loại ma đạo, và có thể bị backfire—dội ngược lại mình–dễ dàng. Ví dụ, bồi thẩm đoàn (hay người nghe) thấy mình cứ kiếm chuyện với từ ngữ mãi và không tập trung vào vấn đề chính, có thể nổi xùng và cho mình thua).

Các điều nên làm:

• Tương kính nhau một tí, dù là đang ra chiêu rất mạnh. Xem người kia là bạn, dù mình đang chống tư tưởng của bạn kịch liệt, làm cho mình thấy vấn đề rõ hơn.

• Làm việc tận lực: Tức là nếu có tư tưởng mới thì tung ra, đừng giữ lại, vì tư tưởng là hoa trái của tranh luận.

• Khi đã hết ý thì nên ngưng dù là chưa kết luận gì được. Hết ý là khi mọi người bắt đầu lập lại điều mình đã nói mà không thêm được gì mới cả.

• Sau khi đã hết ý, hay hết giờ, thì bắt đầu vui chơi với nhau việc khác.

Các luật sư “giết nhau” trước tòa, hay các chính trị gia “thanh toán” nhau dữ dội trên TV, cũng là một loại kịch cao cấp mà thôi. “Đánh nhau” xong thường rủ nhau đi uống cà phê, dù là các cử tri hay thân chủ ít thấy chuyện đó.

Trong một hệ thống dân chủ, tranh luận không phải là làm quyết định. Tranh luận chỉ để mang ra ý tưởng sáng tạo. Quyết định thường được làm sau đó theo thủ tục hành chánh đã ấn định trước, như là bỏ phiếu ở quốc hội, quan chức hành pháp làm quyết định, đi bầu… Dù là cách quyết định nào thì chúng ta tin rằng các quyết định đó cũng đã thừa hưởng được nhiều tư tưởng sáng tạo do tranh luận trước đó mang lại.

Vấn đề tranh luận dân chủ là vấn đề rất khó khăn cho dân Việt. Ở các cộng đồng người Việt nước ngoài, chúng ta vẫn có một khuynh hướng là đè bẹp tiếng nói khác với tiếng nói của nhóm mạnh nhất, và hàng ngày vẫn có có nhiều chuyện chưởi bới nhau thay vì đối thoại hay tranh luận. Ở trong nước thì chỉ có một tiếng nói đồng thuận, và từ “phản biện” vẫn là từ … nhậy cảm 😦

Vì vậy tất cả chúng ta cố gắng xây dựng văn hóa tranh luận dân chủ cho một Việt Nam mới, dân chủ và phú cường.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tranh luận là gi?

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Giòng…

Xưa

Nón nghiêng phố nhỏ giữa trưa
Em cười rạng rỡ cơn mưa đầu hè
Tóc dài xanh thẳm hàng me…

Nay

Tần ngần giữa chốn đế đô
Néon xanh đỏ xô bồ cộ xe
Chợt nghe như nhớ sắt se…

Mai

Từ bi vô lượng từ bi
Ngủ quên một giấc xuân thì hay sao?
Giữa đời sóng vỗ lao xao…

TĐH
Lake of the Woods, VA, USA
Jan.  24, 2010

Cám ơn Trần Can đã giới thiệu thể thơ lục bát ba câu đến các anh chị em 🙂

Ba ngày nữa

Suiwo, đệ tử của Hakuin, là một vị thầy rất giỏi. Vào một kỳ mở lớp riêng một thầy một trò (zazen) trong mùa hè, một đệ tử từ một hải đảo miền nam nước Nhật đến gặp thầy.

Hotei - tranh Hakuin

Suiwo cho cậu một công án: “Nghe tiếng vỗ của một bàn tay.”

Người đệ tử ở đó 3 năm nhưng không giải được. Một đêm nọ, nước mắt dàn dụa, cậu vào gặp Suiwo. “Con phải về nam, nhục nhã và xấu hổ” cậu nói, “Con không giải được công án này.”

“Đợi một tuần nữa và thiền liên tục,” Suiwo khuyên. Nhưng giác ngộ vẫn không đến được với cậu đệ tử. “Thử thêm một tuần nữa,” Suiwo nói. Người đệ tử vâng lời, nhưng cũng chỉ hoài công.

“Thêm một tuần nữa.” Nhưng lại cũng vô ích. Tuyệt vọng, người đệ tử năn nỉ xin về, nhưng Suiwo yêu cầu cậu thiền năm ngày nữa. Cũng chẳng có kết quả gì. Rồi Suiwo nói: “Thiền thêm 3 ngày nữa, nếu con không đạt được giác ngộ, thì con nên tự tử là hơn.”

Vào ngày thứ hai, cậu đệ tử giác ngộ.

Bình:

• Hakuin Ekaku (1686-1769 hay 1685-1768) là một trong những vì thiền sư có ảnh hưởng lớn nhất trên thiền tông Nhật Bản. Hakuin cải tiến và phát huy thiền Lâm Tế từ thời trì trệ và đốn mạt, chú tâm vào cách dạy dỗ khó khăn cổ truyền, và trộn lẫn thiền quán và công án thành cách luyện tập thường xuyên. Ảnh hưởng của Hakuin lớn đến mức tất cả các thiền sư Lâm Tế ngày nay đều là hậu nhân của Hakuin và dùng những phương cách luyện tập mà Hakuin đã dạy.

Cái bao của Hotei - tranh Hakuin

Hakuin chính là thiền sư “Vậy à” ta đã nói trước đây.

Suiwo vị thầy trong bài này là học trò của Hakuin.

• Bài này nói đến nỗ lực dữ dội để đạt giác ngộ. Không đạt giác ngộ được nếu ta không cực lực cố gắng để hiểu biết.

• Thường thì thầy biết khi nào trò sắp nắm được chân lý. Nên những lúc đó nếu trò muốn bỏ cuộc, thầy sẽ ép trò đi tiếp một tí nữa để đến thành công.‎

• Tại sao “giác ngộ” có vẻ gì thật là bí ẩn như thế? Cả bao năm người học trò cứ cảm thấy mình vẫn bế tắc ngu si trơ trơ như đá, đến mức cứ đòi bỏ cuộc. Rồi đùng một cái thì “hốt nhiên đại ngộ” như là trong tối tự nhiên có một công tắc bật đèn sáng choang, chứ không phải như học toán mỗi ngày hiểu thêm một tí, từ toán cộng, lên trừ, lên nhân, lên chia, lên phân số…?

Thưa, vì chúng ta có thói quen suy nghĩ với luận lý‎ con người: Có cái bàn, thì có ông thợ mộc. Có vũ trụ thì có người làm ra, gọi là Thượng đế. Vậy thì ai sinh ra Thượng đế? Bố TĐ. Lên đến ông nội TĐ, ông cố TĐ… không bao giờ ngưng, dù có suy nghĩ 100 năm.

Con gà có trước hay cái trứng có trước? Suy nghĩ 100 năm.

Trước khi tôi sinh ra, tôi đã từ đâu đến? Chết rồi tôi đi đâu? Suy nghĩ 100 năm.

Cho nên tư tưởng của người suy tư có thể chạy vòng tròn như kiến bò miệng đĩa, bế tắc hoài, không đi đâu được cả, muôn năm.

Cho nên lúc ta đã suy luận hết cách, biết là vô ích, và dẹp bỏ mọi suy luận đó đi, và bắt đầu cảm nhận bằng xúc cảm và trực nghiệm, tức là cảm nhận trực tiếp trong lòng mà không cần suy nghĩ, một điều gì đó sâu xa hơn là suy‎ luận, như là: “Thượng đế là tình yêu—trong ta, trong mọi người, và nối kết mọi người lại với nhau”, hay “tất cả mọi thứ chỉ đều là những lọn sóng của một đại dương Sự Thật mà ta gọi là Không”.

Những điều này ta có thể hiểu tí ti bằng suy luận, nhưng thực ra ta chỉ thực sự hiểu được bằng cảm nhận rất rõ trong lòng. Cũng như là tình yêu. Chỉ có yêu là hiểu được tình yêu; không thể diễn tả bằng ngôn ngữ hay l‎ý luận.

Tranh Hakuin Ekaku

Khi ta dẹp bỏ suy luận và bắt đầu cảm xúc và kinh nghiệm trực tiếp các điều này, tư nhiên ta bừng sáng trong đầu: “hốt nhiên đại ngộ”, như người mới khám phá được tình yêu: “Ồ, đây là tình yêu, vậy mà trước nay đọc sách hoài mà chẳng biết nó thế nào.”

• Ta đã nói về “Tiếng vỗ của một bàn tay” trước đây.

• Từ “giác ngộ” (enlightened, Satori trong tiếng Nhật) không có cùng nghĩ với từ giác ngộ nguyên thủy dùng trong Phật gia. Theo truyền thống, giác ngộ có nghĩa là đạt được tĩnh lặng và hiểu biết đến mức thành Bồ tát, thành Phật. Satori trong thiền tông Nhật Bản là một mức độ hiểu biết và trực nghiệm về “tĩnh thức” đủ để được thầy xác nhận là mình có thể làm thầy (Roshi). Đây là bước đầu tiên, trong nhiều bước giác ngộ, với bước cuối cùng là Niết Bàn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Three Days More

Suiwo, the disciple of Hakuin, was a good teacher. During one summer seclusion period, a pupil came to him from a southern island of Japan.

Suiwo gave him the problem: “Hear the sound of one hand.”

The pupil remained three years but could not pass the test. One night he came in tears to Suiwo. “I must return south in shame and embarrassment,” he said, “for I cannot solve my problem.”

“Wait one week more and meditate constantly,” advised Suiwo. Still no enlightenment came to the pupil. “Try for another week,” said Suiwo. The pupil obeyed, but in vain.

“Still another week.” Yet this was of no avail. In despair the student begged to be released, but Suiwo requested another meditation of five days. They were without result. Then he said: “Meditate for three days longer, then if you fail to attain enlightenment, you had better kill yourself.”

On the second day the pupil was enlightened.

# 25

Giữ đẹp khu vườn tổ quốc

Chào các bạn,

Hôm qua chúng ta đã bàn về nhiều vấn đề quan trọng của đất nước qua những phản hồi rời rạc của hai bài Phát triển con người, phát triển đất nướcÁnh sáng và bóng tối – Bạn chọn cái nào? Hôm nay chúng ta tóm tắt ý chính của các phản hồi đó trong bài này.

“Điều kiện cần và đủ để tội ác chiến thắng là người tốt chẳng làm gì cả.”

Câu nói này của Edmund Burke nói lên căn bản của một xã hội lành mạnh. Một xã hội lành mạnh không chỉ là một xã hội có người tốt, mà là một xã hội có người tốt tích cực ngăn chặn điều xấu.

Khu vườn có thể có đủ thứ kỳ hoa dị thảo, nhưng chỉ cần người làm vườn không nhổ cỏ, thì chỉ trong một thời gian ngắn, khu vườn thành khu rừng, và kỳ hoa dị thảo cũng ngợp thở mà chết.

Nghĩa là, gánh nặng giữ cho xã hội của chúng ta trong sạch rơi vào vai của mỗi người chúng ta trong xã hội. Không “nhưng nhị” gì hết.

Chúng ta đã thừa biết người tiêu cực thường viện hàng trăm cớ để sống tiêu cực, trong khi người tích cực chỉ có một qui luật duy nhất—đời sống của tôi lệ thuộc vào tôi.

Đời sống quốc gia lệ thuộc vào công dân.

Nhưng nói đến đời sống quốc gia thì chúng ta nghe đủ mọi loại bán cái của người tiêu cực. Và rất tiếc là trong vòng bao nhiêu thập niên nay, các lý luận bán cái này là dòng chính của nền văn hóa chúng ta, như là—một con én không làm được mùa xuân, tất cả chúng nó tham nhũng hết không làm gì được, toàn mà một đám gian tham nắm quyền, nhà nước nuôi tham nhũng… Đây toàn là các l‎ý luận tiêu cực kinh điển, các bạn có thấy được điều này không? Chúng luôn luôn được đưa ra như là cái cớ để “tôi không làm gì cả”, hay xa hơn là “tôi cũng phải đi theo họ để sống.”

Đây là qui luật chúng ta phải nắm vững, không thể mập mờ: Cuộc đời của mình do chính mình chịu trách nhiệm. Cuộc đời của quốc gia do quốc dân chịu trách nhiệm.

Và quốc dân là ai? Là mỗi người dân chúng ta góp lại.

Cho nên mỗi người chúng ta phải chấp nhận sự thật căn bản là: Tôi chịu một phần trách nhiệm về những vấn đề của đất nước.

Cũng như sân trường chỉ có thể sạch khi mỗi học sinh chịu trách nhiệm và hành động để giữ sạch nó, mỗi người dân phải chịu trách nhiệm và hành động để giữ sạch quốc gia.

Bằng cách nào?

Cho đến giờ này mà bạn còn hỏi bằng cách nào, thì bạn đã làm gì trong những năm qua?

1. Nhận biết điều sai là sai. Điều này thì ai cũng biết, tối thiểu là 90% của những gì xảy ra. Chỉ 10% vấn đề là mù mờ khó hiểu. Chẳng có gì khó khăn để biết gian lận, dối trá là sai cả.

2. Gọi điều sai là sai. Tiền hối lộ thì gọi là tiền hối lộ, đừng gọi là tiền bồi dưỡng. Và nếu gọi là tiền bồi dưỡng thì cũng đừng cho là bồi dưỡng là đúng, còn hối lộ mới sai.

3. Đừng lải nhải các l‎ý luận chứng minh điều sai là đúng, hay là nó cũng chấp nhận được.

4. Đừng làm điều sai.

5. Đừng ủng hộ người khác làm sai.

6. Đừng tiếp tay với cái xấu, với tham nhũng, dưới bất kỳ hình thức nào, như là chi hối lộ cho tham nhũng.

7. Kêu gọi người khác sống thanh liêm ngay thẳng.

8. Yêu cầu người khác, nhất là nhà nước thanh liêm ngay thẳng.

Một số quan chức nhà nước tham nhũng không thể tiếp tục được nếu toàn dân không tiếp tay.

Tùy theo hoàn cảnh, mỗi người sẽ phải quyết định mình nên làm gì trong hoàn cảnh đó. Điểm chính là chúng ta phải quyết tâm nhận cái sai là sai, và không đồng lõa thỏa hiệp với nó. Nếu không thì ta không thể giải quyết vấn đề phát triển của đất nước.

Chúng ta không thể tiếp tục sống như một quốc gia hạng đáy với tư cách công dân của một quốc gia hạng đáy. Chúng ta có 4 ngàn năm văn hiến, chúng ta đã từng thắng những cường quốc hàng đầu thế giới. Hãy sống như con dân của một quốc gia anh hùng vô địch và góp phần mình trong việc biến quốc gia mình thành một cường quốc vô địch.

Làm người tốt ngồi yên chưa đủ. Quốc gia cần người tốt tích cực ngăn chận cái xấu.

Tích cực như thế nào thì tùy bạn tự chọn lựa trong khả năng và điều kiện riêng của mình. Nhưng “tích cực ngăn chận cái xấu” là điều tổ quốc đòi hỏi trong mỗi công dân. Ta sẽ không làm tròn nghĩa vụ với tổ quốc nếu ta không làm gì để chận tối thiểu là một điều xấu đang xảy ra trước mắt.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành