I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn.
.
I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC.
I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters.
I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law.
I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam.
In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship.
Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam.
I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN.
I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism.
In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net).
I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries.
I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi:
"Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011)
"10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013)
"Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023)
I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.
Bài này nghe có vẻ như dành cho các bạn làm giáo chức, nhưng thực ra thì tất cả chúng ta ai cũng làm thầy và cũng làm trò. Dù ta là ai, ta cũng phải huấn luyện ai đó—con cái, em út, thuộc cấp, đồng nghiệp—và ta cũng phải học từ ai đó—cấp chỉ huy, huấn luyện viên chuyên môn, sư phụ, sư mẫu. Cả cuộc đời là dạy và học cùng một lúc, dù muốn dù không, dù ta có thấy điều đó hay không.
Học thế nào
Học thì dễ thấy hơn. Ai trong chúng ta cũng đã thấy “càng học càng thấy bể học càng mênh mông và cái biết của mình càng nhỏ”, cho nên chúng ta ham sách, ham Internet, ham thảo luận, ham học… Học không chỉ là vì đam mê có thêm kiến thức, mà còn là vì nỗi sướng vui khi khám phá ra điều mới, như người dọ dẫm trong cánh rừng rậm âm u thỉnh thoảng lại vớ được một hòm sắt nhỏ đầy châu báu của đám hải tặc nào đó đã chôn dấu hàng trăm năm trước.
Vấn đề của ta không phải là không ham học, mà là có quá nhiều thứ để học, mà thời gian thì có hạn, làm thế nào để học được nhiều nhất trong khoảng thời gian hạn hẹp của ta. Đây là một số trực nghiệm của mình:
1. Chọn thông tin.
Thông tin tồi, sách nói bậy rất nhiều, phải chọn thông tin mà đọc.
Thông tin trên Internet từ các nguồn rác thì đừng tốn thời giờ đọc. Nguồn rác là: Các nguồn spam thông tin tuyên truyền một chiều, quảng cáo lăng nhăng, các người quen có thói quen forward rác… Delete thì tốt hơn là tốn thời giờ mở mail xem họ nói gì. Dành thời gian cho chuyện khác.
Các thông tin giật gân về y tế, chính trị, xã hội, v.v… thường là thông tin rác. Delete. Nếu là thông tin tốt đương nhiên là bạn sẽ biết sau này.
Sách thì đọc qua các tóm tắt về quyển sách trước khi quyết định nên đọc quyển nào.
2. Tâm tĩnh lặng
Nếu tâm bạn tĩnh lặng, không choi choi, nó sẽ trong sáng, bạn sẽ thấy nhiều điều trong cái bạn đọc, kể cả các điều tác giả không cố tình viết, nhưng bạn vẫn thấy trong đó.
Nếu tâm bạn có nhiều thành kiến (mê Mỹ chê Tàu, mê công giáo chê phật giáo), ghen ghét (tên ca sĩ địch thủ của ta), thù hận (sách phản động versus sách quốc doanh), mê chuộng (tên Mỹ hay Tây), kiêu căng (chỉ các sách dân Harvard đọc)… thì bạn chỉ thấy được 1 hay 2 trong cả chục mặt của một vấn đề.
Đọc một thấy mười là nhờ “đầu óc mở rộng” đến từ “tâm tĩnh lặng”.
3. Tìm tinh túy của điều mình đọc
Một quyển sách thường chỉ có một tinh tuý có thể tóm tắt trong một câu. Ví dụ: Quyển The World Is Flat có thể tóm tắt là “Thế giới như một sân bóng bằng phẳng, và các nước đang lên cũng có thể cạnh tranh ngang hàng với các đại gia của thế giới trên sân bóng phẳng đó.”
Đôi khi đọc tóm tắt quyển sách, ta thấy được tinh túy quyển sách, và không cần phải đọc quyển sách, hoặc chỉ cần đọc một hai chương đầu là xong. Đa số sách ngày nay có cả mấy trăm trang, nhưng chỉ có một chương đầu là đáng đọc. (Người ta rất phí giấy và phí thời gian).
Đọc cả mấy trăm trang mà không nắm được tinh túy thì cũng vô ích.
Hoặc, quyển sách đầu đề “12 bí quyết thành công”, bạn có thể chỉ đọc mục lục xem 12 bí quyết đó là gì cũng đủ. Đa số các chi tiết chẳng có gì mới lạ. Nếu có thời giờ, có thể đọc chi tiết sau, nhưng biết được 12 bí quyết tên gì cũng tạm xong quyển sách lúc bận rộn.
Nếu một quyển sách, một bài viết, mà bạn không thể tóm tắt tinh túy trong một câu nói, thì hoặc là bạn chưa nắm được tinh túy, hoặc là tác giả viết chẳng có gì trong đó.
4. Khi tìm thấy điều gì mình muốn đọc nghiêm chỉnh, thì đọc nghiêm chỉnh, tức là đọc chậm rãi, vừa đọc vừa suy nghĩ. Đọc nghiêm chỉnh thì không thể đọc nhanh được.
Sách là để giúp mình suy nghĩ. Nếu đọc nghiêm chỉnh, tác giả viết một, ta có thể có thêm chín điều suy nghĩ của riêng mình, thành ra đọc một hấp thụ mười.
5. Ngoài thông tin sách vở, thế giới là cả một trường học.
Nếu mở mắt quan sát, như ra đường thì quan sát người ta ngoài đường, bạn có thể biết được dân vùng đó hiền hay dữ, tác phong văn minh đến mức nào, kinh tế đang lên hay xuống, đời sống đang dễ thở hay khó…
Các triết gia và thi nhân khám phá thế giới thường chỉ bằng nhìn trời trăng mây nước chim chóc cỏ cây…
6. Cũng như thế giới, tất cả mọi người đều có thể là thầy nếu bạn chú tâm đến từng câu nói của người đối diện mà không đối thoại một cách hời hợt cho có lệ. Ví dụ: Thái độ của bà bán hàng rong với bạn có thể cho bạn nhiều dấu hiệu về nền kinh tế đang thế nào đối với đời sống dân nghèo.
Dạy thế nào
Dạy ở đây là ý nói ta biết một điều gì đó và muốn chỉ lại cho người khác để họ cũng có được kiến thức và kinh nghiệm như ta.
Dạy trong trường, có kỹ luật của trường và thi cử giúp thầy cô, cho nên ta tạm gác môi trường trường học kỹ luật đó qua một bên, và chỉ nói đến truyền tải kiến thức chung chung cho đời. Bạn biết một điều, làm sao để truyền tải nó đến cho đời? 1. Chỉ lại điều mình thực sự biết là làm cho cuộc đời này giàu có sung túc thêm một tí nhờ kiến thức và kinh nghiệm của mình.
Ngược lại, không biết mà chỉ người khác, thì có thể làm cho thế giới tăng rác rến.
Cho nên cần định trước là mình đã biết đến đâu.
2. Cách dạy duy nhất là dạy điều mình biết bằng kinh nghiệm.
Đừng đọc sách xong rồi viết lại điều mình đọc trong sách để “dạy” người khác trong khi mình chưa có kinh nghiệm gì về việc đó cả.
Dĩ nhiên là bạn có thể chuyển tải thông tin bạn thích, như đọc một bài viết hay thì forward hay dịch bài đó để chia sẻ với bạn bè. Nhưng đó không phải là dạy. Dạy là chỉ lại điều bạn đã biết.
3. Biết đến đâu thì nói mình biết đến đó. Chỗ nào chưa biết thì nói là chưa biết.
Ví dụ: Môn này tôi đã tập được năm năm và đã có những kinh nghiệm này. Còn các chuyện ABC này thì thấy sách có nói nhưng tôi chưa được trực nghiệm nên không thể kiểm chứng đúng sai.
Không nên cho học trò nghĩ là mình đã thông hết môn đó 100% nếu mình biết là mình chưa đến mức đó. (Có một vị sư ở Việt Nam, xin tạm không nêu tên, thường xuyên nói với khách khứa đạo hữu là tôi có thể xuất thần đến nơi khác vài ngàn dặm trong vòng một tích tắc. Nam mô a di đà phật. Đạo pháp suy đồi!)
4. Dùng ngôn ngữ diễn tả giản dị nhất.
Nếu nói cho một đám đông, thì nói đến mức trình độ tiểu học cũng có thể hiểu được là hay nhất. Người tiến sĩ đứng đó cũng sẽ hiểu, và sẽ hiểu sâu hơn người tiểu học rất nhiều.
Nếu bạn nói mà người tiến sĩ cũng chẳng hiểu là bạn nói gì thì có thể là bạn cũng chẳng hiểu bạn đang nói gì.
5. Nói là việc của bạn, nghe hay không và nghe được đến đâu là việc của người khác.
Khi chia sẻ kiến thức kinh nghiệm, bạn chỉ có thể nói thôi, bạn không thể làm cho người khác hấp thụ được. Hấp thụ hay không là do trái tim, thái độ, và căn cơ của họ. Có người hấp thụ ít, có người hấp thụ nhiều, có người chẳng thèm nghe một chữ, có người hiểu sai hết ý của bạn vì họ “suy diễn” lời bạn nói theo công thức trong tâm họ…
Nếu người muốn hiểu, hỏi, bạn có thể giải thích thêm, theo trình độ của họ. Nếu người không muốn hiểu, thích cãi nhau với bạn, đừng tranh luận, họ sẽ không hiểu. Nếu người muốn hiểu ngày hôm nay mà không chờ kinh nghiệm, bảo họ chờ kinh nghiệm đến, kiên nhẫn thực tập cho đến khi có được kinh nghiệm…
Mọi chuyện ở đời thường như học võ. Có những chuyển động của thầy rất nhẹ nhàng uyển chuyển và có uy lực kinh hồn, nhưng nhiều học trò thấy rất vô lý vì họ tập theo lời thầy dạy thì thấy lọng cọng, không phù hợp với cơ thể tự nhiên của họ, và hầu như là uy lực không đủ để đập con kiến. Nhưng học trò tập được 3 năm thì bắt đầu thấy tự nhiên, 10 năm thì uy lực kinh khủng mà nhẹ nhàng như vũ điệu, ít người hiểu được.
6. Dạy chính là học
Dạy người khác chính là ôn lại bài của mình. Cho nên thầy luôn luôn dạy và học cùng một lúc.
7. Người thầy thực sự luôn luôn thầm mong học trò sẽ khá hơn mình.
8. Người thầy đã “giác ngộ” sẽ hiểu được thầy của mình sâu đến mức nào.
9. Người thầy thực sự biết rằng thực ra chẳng ai là thầy của ai cả. Mỗi người tự là thầy của mình. Mọi người khác chỉ giúp tí tí ý kiến trên đường đi mà thôi.
“Bạn làm gì khi mọi chuyện hỏng hết?” Bạch Tuyết hỏi. Và các chú chim trả lời “Hát một bài.” 🙂 Tuyệt vời! Các thiền sư phải tu tập 30 năm mới trả lời được điều các chú chim nhỏ làm hàng ngày. “Khi em lo lắng em vẫn líu lo ca hát như mọi ngày.”
Với nụ nười và một bài ca, ngày sẽ ngập tràn ánh nắng và mọi lo lắng sẽ tan đi.
Với nụ cười và một bải ca
Cuộc đời sáng như ngày đầy nắng
Mọi lo lắng phai đi
Và quả tim rất trẻ
Với nụ cười và một bài ca
Cả thế giới hình như mới lại
Sướng vui cùng bạn
Khi bài ca vang lên
Chẳng ích gì mà càu nhàu
Khi mưa ồ ạt đổ
Hãy nhớ, bạn là người
Có thể đem ánh nắng tràn đầy thế giới
Khi bạn cười và hát
Tất cả mọi thứ hòa điệu và xuân đến
Và cuộc đời trôi bình thản
Với nụ cười và một bài ca
TĐH dịch
With a smile and a song
Life is just a bright sunny day
Your cares fade away
And your heart is young
With a smile and a song
All the world seems to waken anew
Rejoicing with you
As the song is sung
There’s no use in grumbling
When the raindrops come tumbling
Remember, you’re the one
Who can fill the world with sunshine
When you smile and you sing
Everything is in tune and it’s spring
And life flows along
With a smile and a song
Mời các bạn nghe Bạch Tuyết hát bài With a Smile and a Song.
Một ngày nọ Gasan giảng cho các đệ tử: “Những người khuyên không sát sinh và muốn tha mạng cho mọi sinh linh đều đúng. Bảo vệ ngay cả thú vật và côn trùng là điều thiện. Nhưng những người giết thời gian thì sao, hay những người hủy hoại tài sản, và những người phá hoại nền kinh tế chính trị? Chúng ta không bỏ qua được. Hơn nữa, người thuyết giảng mà không giác ngộ thì sao? Hắn đang giết Phật pháp.”
.
Bình:
Đây là tránh nhiệm của người Phật tử trước những vấn đề liên hệ đến xã hội mình đang sống. Đây là câu trả lời rõ ràng nhất cho những người nghĩ rằng phật pháp chỉ là để cho các bà già ngồi gõ mõ tụng kinh trong nhà, và không quan tâm gì đến mọi bất công phá hoại đang xảy ra trong xã hội của ta, và những người nghèo khổ yếu đuối và cô thế quanh ta.
Kinh Pháp Cú, đoạn 183, tóm tắt lời tất cả chư Phật đều dạy: “Không làm điều ác, làm điều lành, và giữ tâm thanh tịnh.”
Không làm các điều ác là không nhúng tay vào áp bức, bất công, tham nhũng, phá hoại Phật pháp.
Nhưng thấy áp bức, bất công, tham nhũng, phá hoại Phật pháp trước mắt, thì “làm điều thiện” không phải là chống các hành động này bằng các cách trong tầm tay mình hay sao? Ít ra cũng nói lên một câu, dạy người nhà một tiếng. Không thể sống như là “không nghe, không thấy, không biết” được.
Điều kiện duy nhất để cái ác thắng toàn thế giới là người thiện chẳng làm gì cả.
(Trần Đình Hoành bình)
.
Killing
Gasan instructed his adherents one day: “Those who speak against killing and who desire to spare the lives of all conscious beings are right. It is good to protect even animals and insects. But what about those persons who kill time, what about those who are destroying wealth, and those who destroy political economy? We should not overlook them. Furthermore, what of the one who preaches without enlightenment? He is killing Buddhism.”
Đã có những tháng ngày
Cậu bé lang thang trên những cánh đồng khô nứt nẻ
Tìm bắt dế
Thách thức gai chùm quân
Rách sược cả quần
Tìm trái chín
Tắm trần truồng cùng lũ bạn
Trên con sông nhỏ
Đặc quánh màu đỏ phù sa
Những ngày tháng ấy đã xa
Anh về thành phố cũ
Giảng đường còn đó nhưng đã thành rất lạ
Các cô cậu học trò còn đó
Nhưng đã vài thập kỷ phôi pha
Dù tim anh vẫn là cậu bé
Nồng nhiệt trên giảng đường
Reo hò trên những cánh đồng lộng gió
Và quê hương vẫn còn đó
Những ngọn gió đùa những vạt áo dài phần phật
Và những sợi tóc bay lồng lộng mây trời
Nhưng hình như tất cả vẫn rất xa
Rất xa
Như một cuốn phim dĩ vãng
Trắng đen
Quay chậm
Không lời
Quê hương anh ngày nay là những phương trình kinh tế
Là những định đề định lý phát triển
Là những bức xúc và giải pháp xã hội…
Ôi, nếu anh có thể làm một cậu bé
Trong hội quán đại học
Tiếng guitar ngập ngừng
Giọt cà phê lóng lánh
Chìm vào mắt em
Cô đầm hái nho khờ khạo
Khi nắng chói sân trường
Như ngày xa xưa đó…
Ngày xa xưa đó…
Ngày xa xưa đó…
Dù chỉ một phút thôi
Thì quê hương hẳn là rất thật
Một Hiệp Sĩ Đạo thượng thừa tên Nobunaga quyết định tấn công quân địch dù quân số của ông chỉ bằng một phần mười số quân bên địch. Ông biết rằng ông sẽ thắng, nhưng quân của ông thì rất nghi ngại.
Trên đường đi ông ghé vào một đền thờ Thần đạo và nói với lính của của ông: “Sau khi ta viếng đền ta sẽ thẩy đồng bạc cắc. Nếu là đầu, chúng ta sẽ thắng; nếu là đuôi, chúng ta thua. Định mệnh nắm chúng ta trong tay ngài.”
Nobunaga vào đền thờ và cầu nguyện thầm lặng. Rồi ông bước ra và thẩy đồng bạc. Đầu hiện ra. Lính của ông hăng chiến đấu đến mức họ thắng trận chiến thật dễ dàng.
“Không ai có thể thay đổi bàn tay định mệnh,” người hầu cận của Nobunaga nói với ông sau cuộc chiến.
“Đúng vậy, không ai có thể,” Nobunhaga nói, cho anh hầu cận thấy đồng bạc cắc với cả hai mặt đều là “đầu”.
.
Bình:
• Tất cả các hình thức lễ bài thần thánh chung qui cũng chỉ là các hiện tượng tâm lý cho con người. Định mệnh của ta nằm trong ý chí của ta, dù ta biết điều đó hay không.
Kinh Pháp Cú mở đầu: “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo.”
(Trần Đình Hoành bình)
.
In the Hands of Destiny
A great Japanese warrior named Nobunaga decided to attack the enemy although he had only one-tenth the number of men the opposition commanded. He knew that he would win, but his soldiers were in doubt.
On the way he stopped at a Shinto shrine and told his men: “After I visit the shrine I will toss a coin. If heads comes, we will win; if tails, we will lose. Destiny holds us in her hand.”
Nobunaga entered the shrine and offered a silent prayer. He came forth and tossed a coin. Heads appeared. His soldiers were so eager to fight that they won their battle easily.
“No one can change the hand of destiny,” his attendant told him after the battle.
“Indeed not,” said Nobunaga, showing a coin which had been doubled, with heads facing either way.
Mình vừa tìm thêm được một số bài thơ của thi sĩ Hữu Loan trên Net: Chuyện Tôi Về, Đèo Cả, Hoa Lúa, Đêm. Đăng lại đây để tưởng niệm một tâm hồn cương trực. Bài Màu Tím Hoa Sim đã đăng trong bài Nhà thơ Hữu Loan qua đời.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
Chuyện Tôi Về
Chuyện Hữu Loan là chuyện
Một vạn chín trăm năm mươi ngày gấp hơn
mười lần chuyện Ba Tư
vô cùng căng thẳng
Giữa hai bên
một bên là chính quyền có
đủ thứ nhân dân
quân đội nhân dân
tòa án nhân dân
nhà tù nhân dân
và nhất là
cuồng tín nhân dân
thứ bản năng ăn sống
nuốt tươi
ăn lông ở lỗ nguyên thủy
được huy động đến
tột cùng
sẳn sàng hủy
cũng như tự hủy
một bên nữa là
một người tay không
với nguyện vọng
vô cùng thiết tha
được làm người lương thiện
nói thẳng
nói thật
bọn ác
bọn bịp
thì chỉ tên vạch mặt
người nhân thì
xin thờ
như Thuấn Nghiêu
Hữu Loan
Đèo cả
Núi cao vút
Mây trời Ai Lao
sầu
đại dương
Dặm về heo hút
Đá bia mù sương
Bên quán Hồng Quân
người
ngựa
mỏi
Nhìn dốc ngồi than
thương ai
lên đường
Chầy ngày
lạc
giữa suối
Sau lưng
suối vàng
xanh
tuôn
Dưới khe
bên suối độc
cheo leo
chòi canh
ven rừng hoang
Những người
đi
Nam Tiến
Dừng lại đây
giữa
đèo núi quê hương
Tóc tai
trùm
vai rộng
Không nhận ra
người làng
Rau khe
cơm vắt
áo
pha màu
sa trường
Ngày thâu
vượn hót
Đêm canh
gặp hùm
lang thang
Gian nan lòng không nhợt
Căm hờn trăm năm xa
Máu thiêng trôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha
Giặc
từ trong
tràn tới
Giặc
từ Vũng Rô
bắn qua
Đèo Cả
vẫn
giữ vững
Chân đèo
máu giặc
mấy lần
nắng khô
Sau mỗi trận thắng
Ngồi bên suối đánh cờ
Kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt
Người vá áo thiếu kim mài sắt
Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu
Suối mang
bóng người
Trôi những về đâu….
Hữu Loan
( 1947)
Hoa lúa
Em là con gái đồng xanh
Tóc dài vương hoa lúa
Đôi mắt em mang chân trời quê cũ
Giếng ngọt, cây đa
Anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm
Nhạc quê hương say đắm
Trong lời em từng lời
Tiếng quê hương muôn đời và tiếng em là một
Em ca giữa đồng xanh bát ngát
Anh nghe quê ta sống lại hội mùa
Có vật trụi, đánh đu, kéo hẹ, đánh cờ
Có dân ca quan họ
Trai thôn Thượng, gái thôn Đoài hai bên gặp gỡ
Cầm tay trao một miếng trầu
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Quê hương ta núi ngất, sông đầy
Bát ngát làng tre, ruộng lúa
Em gái quê hương mang hình ảnh quê hương
Xa em năm nhớ, gần em mười thương
Còn bàn tay em còn quê hương mãi
Em mang nguồn ân ái
Căng ngực trẻ hai mươi
Và trong mắt biếc nhìn anh
Em gái quê si tình
Chưa bao giờ được yêu đương trọn vẹn…
Anh yêu em muôn vàn như quê ta bất diệt
Quê hương ta ơi từ nay càng đẹp
Tình yêu ta ơi từ nay càng sâu
Ta đi đầu sát bên đầu
Mắt em thăm thẳm đựng màu quê hương.
Hữu Loan
(1955 – Tặng vợ, Phạm Thị Nhu)
Đêm
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Trằn trọc
Không yên
Những cửa
Từ đầu hôm
Như những mắt nhắm nghiền
Bóng nhà bóng cây
Ôm nhau
Run sợ
Đêm Hà Nội ngày xưa
Như con bệnh hạ xoài
Nung mủ
Như một nhà thương điên
Lên cơn hôn mê
Thiết giáp
Xe tăng
Lính tẩy
Phòng Nhì.
Tiếng rú của người
Tiếng rít của xe
Những chiếc jeep điên
Đuổi gái
Nghiến người
Quắc mắt đèn pha
Đỏ tia đòng đọc
Đêm Hà Nội ngày xưa
Đầu người
Và tình yêu
Treo
Trên đầu sợi tóc
Và sau từng đêm
Mệt nhọc
Hốc hác
Hồ Gươm
Như mắt thâm quầng
Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Loã lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả
Những đêm Sài Gòn
Ngày mai
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mâng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà phê
100$ con gái…”
Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn
Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên
Ngã Tư Sở, Cống Vọng, Khâm Thiên
Nằm ngủ
Những đêm
Giữa tình cảm lớn
Gió đêm về
Thơm hoa rừng, lúa ruộng
Đặt bàn tay
Lên những cửa ô nghèo
Khi chúng ta về
Ánh sáng
Đã về theo
Và từng cặp người yêu
Đem về trong giấc mơ
Hình ảnh hồ Gươm
Đẹp như hồ thần thoại
In bóng người yêu
Chung thuỷ
Đợi chờ.
Thiên hoàng Goyozei học Thiền với Gudo. Thiên hoàng hỏi: “Trong Thiền, tâm này là Phật. Phải không? Thiên hoàng Go-Yōzei
Gudo trả lời: “Nếu bần tăng nói ‘đúng’, hoàng thượng sẽ nghĩ là hoàng thượng hiểu trong khi không hiểu. Nếu bần tăng nói ‘sai’, bần tăng có thể nói ngược lại với điều hoàng thượng đã hiểu rất rõ.”
Một hôm khác Thiên hoàng hỏi Gudo:: “Người giác ngộ đi đâu khi chết?”
Gudo trả lời: “Bần tăng không biết.”
“Tại sao thầy không biết?” Thiên hoàng hỏi.
“Tại vì bần tăng chưa chết,” Gudo trả lời.
Thiên hoàng ngại hỏi thêm về những điều mà trí óc Thiên hoàng không hiểu nổi. Nên Gudo vỗ tay xuống sàn như là để đánh thức Thiên hoàng, và Thiên hoàng giác ngộ!
Sau khi giác ngộ Thiên hoàng càng tôn trọng Thiền và sư già Gudo hơn trước, ngay cả cho phép Gudo đội mũ trong cung trong mùa đông. Khi Gudo quá 80 tuổi, thiền sư thường ngủ gục trong khi giảng bài, và Thiên hoàng chỉ lặng lẽ lui sang phòng khác để người thầy yêu quý hưởng được giấc nghỉ cơ thể già lão của thầy đòi hỏi.
.
Bình:
• Các thiền sư cho học trò câu hỏi, nhưng không cho câu trả lời. Người học trò phải tự tìm ra câu trả lời bằng trực nghiệm (không phải bằng đọc sách hay nghe người khác). Và khi các câu trả lời đến, đó là lúc giác ngộ.
• Thiền sư không bao giờ đoán (bằng lý luận) chuyện mình không biết được bằng trực nghiệm, như là khi chết thì đi đâu.
(Ngoại trừ một câu trả lời ai trong chúng ta cũng thấy được, là khi ta chết ta tan rã vào vũ trụ, mà các thiền sư nói là “trở về với Không” như sóng tan vào biển. Xem bài thơ Các Bộ Xương của thiền sư Ikkyu).
• Giác ngộ xong càng trọng Thiền và thầy vì lúc đó mới biết được Thiền sâu đến đâu, thầy sâu đến đâu và mình chỉ mới đến đâu. Chưa giác ngộ thì chưa thấy được các điều này.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Gudo and the Emperor
The emperor Goyozei was studying Zen under Gudo. He inquired: “In Zen this very mind is Buddha. Is this correct?”
Gudo answered: “If I say yes, you will think that you understand without understanding. If I say no, I would be contradicting a fact which you may understand quite well.”
On another day the emperor asked Gudo: “Where does the enlightened man go when he dies?”
Gudo answered: “I know not.”
“Why don’t you know?” asked the emperor.
“Because I have not died yet,” replied Gudo.
The emperor hesitated to inquire further about these things his mind could not grasp. So Gudo beat the floor with his hand as if to awaken him, and the emperor was enlightened!
The emperor respected Zen and old Gudo more than ever after his enlightenment, and he even permitted Gudo to wear his hat in the palace in winter. When Gudo was over eighty he used to fall asleep in the midst of his lecture, and the emperor would quietly retire to another room so his beloved teacher might enjoy the rest his aging body required.
Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của tuyệt tác Màu Tím Hoa Sim, đã qua đời tại quê nhà ở Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3, 2010, lúc 21 giờ, hưởng thọ 95 tuổi.
Màu Tím Hoa Sim, ai đọc qua mà không buồn da diết!
Cuộc tình trong thời nhiễu loạn phân ly…
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…
Chiến tranh không có quy luật phân ly!
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt…
Tiểu sử
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa, đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó, bằng tú tài rất hiếm, rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.
Năm 1943, ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà, và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.
Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội, phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.
Tháng 2 năm 1948, lúc ấy ông 32 tuổi, được nghỉ phép hai tuần lễ, về quê cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi, con gái của ông bà tham Kỳ, một gia đình nền nếp, gia sản có tới hàng trăm mẫu ruộng ở Thanh Hoá mà trước đây ông đã từng làm gia sư dạy kèm cho các con của ông bà suốt nhiều năm liền. Cô Ninh yêu ông bằng một tình yêu kỳ lạ, nửa như người anh, nửa như người thầy. Ông cũng coi cô bé xinh đẹp 16 tuổi đó nửa như em gái, nửa như cô học trò vì khi ông mới đậu tú tài, được ông bà tham Kỳ nhờ đến dạy học cho hai người anh của cô Ninh thì cô mới 8 tuổi. Sau, ông cũng làm gia sư cho cô luôn.
Cưới nhau xong, ông lại lên đường ra mặt trận. Sư đoàn lúc ấy ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ba tháng sau, tháng 5 – 1948, từ ngoài mặt trận, ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê nhà vắn số: cô giặt đồ ở ngoài sông, xảy chân ngã xuống sông, bị nước cuốn đi, chết đuối. Ông quá đau khổ, định sẽ ở vậy suốt đời, đồng thời đem nỗi lòng mình viết thành những câu thơ rồi dần dần thành bài Màu tím hoa sim đầy kỷ niệm. Mấy năm sau – khoảng các năm 1951-1953 – bài thơ này nổi tiếng, được lưu truyền trong dân chúng nhưng bị phê bình là ủy mị, mang tính chất tiểu tư sản!
Năm 1954, sáu năm sau ngày vợ chết, hoà bình lập lại nhưng chuyện đấu tố diễn ra. Bộ đội đóng ở Nghệ An, ông về nhà chơi, được biết ở làng bên có một gia đình địa chủ ngày trước vẫn tiếp tế lương thực cho sư đoàn của ông, nay bị đấu tố chết rất thê thảm, chỉ trừ cô gái 17 tuổi tên Phạm Thị Nhu thì được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, cấm không cho ai được phép liên lạc. Ông nhớ tới ơn xưa, bèn đi tìm xem cô ta ra sao thì gặp cô đang đói khát, mặt mũi lấm lem, quần áo rách rưới, đang đi mót những củ khoai người ta bới xong còn sót lại ở ngoài cánh đồng, chùi sơ rồi bỏ vào miệng ăn sống. Thấy ông, cô khóc rưng rức vì cảnh khốn cùng của mình và cho biết ban đêm cô ngủ trong một ngôi miếu hoang, chỉ sợ có kẻ làm bậy và không hiểu mình sẽ tồn tại được bao lâu. Ông rất thương xót, đồng thời cũng nhớ tới những kỷ niệm mà hồi trước, khi cô còn nhỏ, ông dạy học ở xã bên ấy, cô thường núp nghe ông giảng truyện Kiều.
Ông quyết định đem cô về nhà cha mẹ và lấy cô làm vợ. Cấp trên không đồng ý. Ông là đảng viên, lại trưởng phòng Tuyên huấn kiêm chính trị viên tiểu đoàn, không được lấy con cái địa chủ, nếu lấy thì sẽ bị đuổi khỏi quân đội và bị khai trừ khỏi đảng. Tính ông ngang bướng, ông chấp nhận điều kiện thứ hai và cô Phạm Thị Nhu trở thành người vợ sống với ông cho đến bây giờ, sinh cho ông được 10 người con cùng với 37 đứa cháu như chúng ta sẽ biết.
Đầu năm 1955, ra khỏi quân đội, ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án quyết liệt những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, ám hại lẫn nhau vv… Như trong tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và trong truyện ngắn Lộn sòng, ông coi mình là nạn nhân và phê phán một cách gay gắt.
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đi cải tạo mấy năm rồi được thả, cho về địa phương và bị quản chế tại địa phương. Hiện nay tất nhiên lệnh quản chế đó đã hết từ lâu nhưng ông vẫn sống tại quê nhà.
Các tác phẩm
Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào. Một số bài thơ đã được phổ biến trên các báo chí của ông: Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô…
Tại miền Nam, bài Màu tím hoa sim đã được các nhạc sĩ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh phổ nhạc… Trong đó bài của Dzũng Chinh và Phạm Duy là nổi tiếng nhất.
Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. (Nguồn: datviet.com)
Để tưởng niệm Hữu Loan, sau đây là:
1. Nguyên văn bài thơ Màu Tím Hoa Sim
2. Bản dịch bài thơ sang tiếng Anh (“Berryflower Violet”) của TĐH.
3. Video bài thơ Màu Tím Hoa Sim, do Quốc Anh ngâm.
4. Video bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, Phạm Duy viết, do Elvis Phương hát.
5. Video bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”, Dzũng Chinh, do Phương Dung hát.
6. Audio link “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, do Hương Lan và Duy Quang hát.
7. Video bản “Chuyện Hoa Sim” của Anh Bằng, do Như Quỳnh hát.
8. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do chính Duy Khánh hát.
9. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do Giao Linh hát.
10. Tiếp theo đó là lời kể của Hữu Loan về cuộc tình đã tạo nên bài thơ này.
Cầu xin cho linh hồn Hữu Loan được an lạc nơi chín suối.
Hoành
Màu Tím Hoa Sim
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nhìn nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).
Hữu Loan
Berryflower Violet
She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft
I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband
I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…
Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness
Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…
An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone
In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”
TĐH translated
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi: -Thầy có thích ăn sim không ? Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. -Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : Chiều hành quân, qua những đồi sim Những đồi sim, những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt Và chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đến vụ Nhân văn Giai phẩm
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…
Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.
Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
Zenkai, con trai của một người hiệp sĩ đạo, đến Edo và được nhận vào làm hầu cận cho một quan chức lớn. Zenkai yêu vợ viên quan này và bị khám phá. Để tự bảo vệ, Zenkai giết viên quan. Rồi bỏ trốn cùng với vợ ông ta.
Cả hai sau đó trở thành ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam đến nỗi Zenkai dần dần ghê tởm bà ta. Cuối cùng, Zenkai rời bà ta và đi thật xa, đến thành phố Buzen, nơi Zenkai trở thành một vị sư khất thực.
Để chuộc lại tội lỗi quá khứ, Zenkai quyết định làm một việc thiện nào đó trong đời. Biết có một con đường nguy hiểm băng qua đỉnh núi làm nhiều người chết và mang thương tật, Zenkai quyết định đào một đường hầm xuyên núi tại đó.
Ban ngày khất thực, ban đêm Zenkai đào đường hầm. Sau 30 năm, đường hầm dài 2280 feet (695 m), cao 20 feet (6,1m), và rộng 30 feet (9,15m).
Hai năm trước ngày hoàn thành, người con trai của vị quan Zenkai đã giết, nay là một kiếm sĩ tài giỏi, tìm ra được Zenkai và đến để giết thiền sư trả thù cha.
“Tôi sẽ tình nguyện trao mạng cho cậu,” Zenkai nói. “Chỉ để tôi làm xong việc này đã. Ngày nào xong, cậu có thể giết tôi.”
Vậy cậu con đợi ngày đó đến. Vài tháng trôi qua và Zendai vẫn tiếp tục đào. Cậu con chán ngồi không chẳng làm gì và bắt đầu phụ Zenkai đào. Khi đã giúp Zenkai được một năm, cậu con bắt đầu ngưỡng mộ ý chí và tính cách của Zendai.
Cuối cùng đường hầm hoàn thành và mọi người có thể dùng nó và đi lại an toàn.
“Bây giờ chặt đầu tôi đi,” Zendai nói. “Việc của tôi đã xong.”
“Làm sao tôi chặt đầu của thầy của tôi được?” cậu trai trẻ hỏi với đôi mắt đẫm lệ.
.
Bình:
• Đồ tể buông đao thành Phật.
Nếu bạn chưa cướp vợ giết chồng, thì bạn vẫn còn nhiều hy vọng. Hãy vững tin vào Phật tánh tiềm tàng trong mình.
Nếu bạn đã “xóa sổ” một người vì xấu xa tội lỗi gì đó, hãy nghĩ đến Phật tánh tiềm tàng trong người đó. Nếu bạn nghĩ là người đó không có Phật tánh, thì bạn cũng không có Phật tánh.
• Tâm Phật tự nhiên chuyển hóa tâm sân.
• Trong khi đào đường hầm để giúp người đi từ bên này núi qua bên kia núi, Zenkai cũng giúp độ chàng kiếm sĩ trẻ đi từ bên này bờ đến bên kia bờ của giòng sông sân hận đau khổ
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
The Tunnel
Zenkai, the son of a samurai, journeyed to Edo and there became the retainer of a high official. He fell in love with the official’s wife and was discovered. In self-defence, he slew the official. Then he ran away with the wife.
Both of them later became thieves. But the woman was so greedy that Zenkai grew disgusted. Finally, leaving her, he journeyed far away to the province of Buzen, where he became a wandering mendicant.
To atone for his past, Zenkai resolved to accomplish some good deed in his lifetime. Knowing of a dangerous road over a cliff that had caused death and injury to many persons, he resolved to cut a tunnel through the mountain there.
Begging food in the daytime, Zenkai worked at night digging his tunnel. When thirty years had gone by, the tunnel was 2,280 feet long, 20 feet high, and 30 feet wide.
Two years before the work was completed, the son of the official he had slain, who was a skillful swordsman, found Zenkai out and came to kill him in revenge.
“I will gived you my life willingly,” said Zenkai. “Only let me finish this work. On the day it is completed, then you may kill me.”
So the son awaited the day. Several months passed and Zenkai kept digging. The son grew tired of doing nothing and began to help with the digging. After he had helped for more than a year, he came to admire Zenkai’s strong will and character.
At last the tunnel was completed and the people could use it and travel safely.
“Now cut off my head,” said Zenkai. “My work is done.”
“How can I cut off my own teacher’s head?” asked the younger man with tears in his eyes.
Buổi sáng nghe một bản nhạc vui vui dễ thương để bắt đầu một ngày. 🙂
“I love the Mountains” (Tôi Yêu Núi Rừng) là một bản dân ca Mỹ rất giản dị và dễ thương.
Tôi yêu núi rừng
Tôi yêu những dãy đồi cuồn cuộn
Tôi yêu hoa
Tôi yêu thủy tiên
Tôi yêu ngồi bên lửa
Khi trời sẫm tối
Gần đây công ty nhạc trẻ em Beat Boppers Children’s Music phát hành bản nhạc này dưới tên I Like the Flowers (Tôi Thích Hoa), đổi chữ Love thành Like, và đảo ngược hai câu hát từ dưới lên trên, để mở đầu bằng I like the flowers thay vì I love the mountains.
Thế là bản nhạc dân ca người lớn, trở thành thịnh hành cho trẻ em!
Dưới dây là lời ca cho trẻ em, sau đó là lời dân ca nguyên thủy, và video rất vui và dễ thương cho trẻ em và những người lớn với quả tim con nít 🙂 Mời các bạn thưởng thức.
Chúc mọi người một ngày tươi trẻ ! 🙂
Hoành
.
I Like the Flowers
I like the flowers
I like the daffodils
I like the mountains
I like the rolling hills
I like the fireside
When the lights are low
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da
Lời dân ca nguyên thủy “I Love The Mountains”
I love the mountains I love the rolling hills, I love the fountains, I love the daffodils, I love the fireside, When all the lights are low. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da.
I love the Rockies I love the lakes and plains, I love the desert, I love the falling rains, I love the redwood firs, The golden eagle and all the birds. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da.
I love Mt. Rushmore, I love Niagra Falls, I love the Grand Canyon, I love when thunder calls, I love the starry night, When Lady Liberty Shines her light. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da. Boom.
I Like the Flowers – by Beat Boppers Children’s Music
Có lần một sư đoàn quân đội Nhật tập trận, và một số sĩ quân thấy cần phải lập bộ chỉ huy trong thiền viện của Gasan. Gasan Jôseki (1276-1366)
Gasan bảo đầu bếp: “Cho các sĩ quan các món đơn giản như chúng ta ăn.”
Các sĩ quan tức giận, bởi vì họ quen được ưu đãi. Một sĩ quan đến gặp Gasan và nói: “Ông nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi la chiến binh, hy sinh mạng sống cho tổ quốc. Tại sao ông không đối xử với chúng tôi tương xứng?”
Gasan trả lời cứng rắn: “Anh nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi là chiến binh của nhân loại, nhắm vào cứu vớt tất cả mọi sinh linh.”
.
Bình:
• Gasan Jôseki (1276-1366) là một thiền sư quan trọng của dòng thiền Tào Động (Soto). Gasan đầu tiên học Thiên Thai Tông, nhưng sau khi gặp thiền sư Tào Động Keizan ở Kyoto, Gasan theo làm đệ tử của Keizan. Tuy nhiên Keizan có gởi Gasan đến học với các thiền sư khác, đặc biệt là thiền sư Lâm Tế Kyôô Unryô, trước khi truyền chức cho Gasan. Về sau Gasan là sư trụ trì thứ hai của chùa Sôjiji, trong 40 năm, và sau đó là sư trụ trì thứ tư của chùa Yôkôji trong một thời gian ngắn. Gasan đóng một vai quan trọng trong việc phát triển dòng thiền Tào Động tại Nhật.
• Thực ra thì các sĩ quan không nên ăn cơm của dân như thế, vì khi đánh trận thật không có ai nấu ăn sẵn cho ăn. Lẽ ra muốn tập trận tốt thì phải làm y như thật, là phải tự lo việc ăn uống.
Thái độ các sĩ quan này cho thấy đây là một nhóm quan binh hống hách chuyên hà hiếp dân. Chính vì vậy mà Gasan, dù lịch sự với họ, vẫn phải giữ thái độ cứng rắn.
• Câu trả lời của Gasan “Chúng tôi là chiến binh của nhân loại, nhắm vào cứu vớt tất cả mọi sinh linh,” chỉ có vị thầy đã đạt đạo mới nói được thế, vì đạt đạo rồi mới thấy được rằng điều mình đã trải nghiệm và liễu ngộ thì quan trọng cho mọi người trên thế giới đến thế nào.
Những người ngớ ngẩn thường nghĩ rằng sư sãi chẳng sản xuất gì cho xã hội và chỉ là gánh nặng cho xã hội vì sống nhờ cúng dường của người khác. Sư sãi chưa nắm được đạo cũng không thể thấy và tin vào vai trò quan trọng của mình cho thế giới. Chỉ có các bậc chân tu mới thấy được điều đó, và mới đủ tự tin để nói nó ra.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Soldiers of Humanity
Once a division of the Japanese army was engaged in a sham battle, and some of the officers found it necessary to make their headquarters in Gasan’s temple.
Gasan told his cook: “Let the officers have only the same simple fare we eat.”
This made the army men angry, as they wre used to very deferential treatment. One came to Gasan and said: “Who do you think we are? We are soldiers, sacrificing our lives for our country. Why don’t you treat us accordingly?”
Gasan answered sternly: “Who do you think we are? We are soldiers of humanity, aiming to save all sentient beings.”
Training workshops on new media, ICT, and wireless technologies for social change
Mekong ICT Camp is a biannual training workshop on information, communication, and technologies for citizen media, community health, and civil society practitioners in Mekong sub-region.
Participants are welcome from EVERY countries and territories.
About 60 participants will be selected from Mekong sub-region, another additional 5-10 will be selected from outside.
The camp is organized by Thai Fund Foundation and Opendream, in collaborations with partners.
Two main themes we are thinking about for this camp:
Open mobile technologies for community communication, disease surveillance and disaster relief; and
EC Call for Proposals on the field of sexual and reproductive health and rights (SRHR)
In the field of sexual and reproductive health and rights (SRHR), the indicators worldwide are not improving, the needs gap regarding modern contraception remains high, and adolescents — both girls and boys — remain largely underserved despite the fact that they are mostly already sexually active and that they represent future generations. Also sexual and reproductive health (SRH) is not consistently addressed inhealthcare programmes, nor is it linked to HIV/AIDS programmes in developing countries.
The overall objective of the call is to support developing countries to improve SRHR by strengthening civil society organisations to effectively advocate for the development and implementation of SRHR strategies for their population and contributing to provision of SRH services in fragile states.
Applications must address only one of the specific objectives of the call:
Specific objective 1: Advocate for SRHR policy development and implementation and awareness raising of SRHR
Specific objective 2: Improve access to SRH services and services for victims of abuse and rape in fragile states
Một thương gia mang 50 cuộn bông gòn trên vai, ngừng để tránh nắng dưới mái một căn chòi trong đó đứng một tượng Phật lớn bằng đá. Rồi anh ta ngủ thiếp đi, và khi anh tỉnh dậy hàng hóa của anh đã biến mất. Anh lập tức trình báo với cảnh sát.
Một quan tòa tên O-oka mở cuộc điều tra. “Chắc ông Phật đá này ăn trộm,” quan tòa kết luận. “Ông ta lẽ ra là phải lo lắng cho mọi người, nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ. Bắt hắn.”
Cảnh sát bắt tượng Phật đá và khiêng tượng về tòa. Một đám đông ồn ào chạy theo tượng, tò mò muốn biết quan tòa sẽ ra hình phạt thế nào.
Khi O-oka ra ngồi ghế xử, ông mắng đám đông ồn áo. “Quí vị có quyền gì mà ra trước tòa cười giỡn thế này? Quí vị khinh thường tòa án và đáng bị phạt vạ và phạt tù.”
Mọi người lật đật xin lỗi. “Tôi sẽ phải phạt tiền quí vị,” quan tòa nói, “nhưng tôi sẽ bỏ qua nếu mỗi người mang đến cho tòa một cuộn bông gòn trong vòng ba ngày. Người nào không làm sẽ bị bắt.”
Một trong những cuộn bông mọi người nộp được người thương gia nhận ra ngay là cuộn bông của anh ta, nhờ đó tìm ra người ăn trộm ngay. Người thương gia tìm lại được hàng hóa, và tòa trả các cuộn bông lại cho mọi người.
.
Bình:
• Tượng Phật đá chỉ là cục đá vô tri, chẳng có quyền năng gì hơn một cục đá. Quan tòa xử tượng đá như thần thánh, chỉ là một phương cách để giúp người.
Tượng Phật trong chùa hay trong nhà ta cũng chỉ là tượng vô tri. Chúng ta cung kính với tượng, thực ra là để chúng ta tự giúp chúng ta. Tượng chẳng làm gì cả.
• Người tốt thì dùng tượng để giúp người. Người xấu cũng có thể giả vào “quyền năng” của tượng để lừa lọc người.
• Chính vì con người thường quên mất Chúa Phật trong tâm mình, mà hay tôn thờ các tượng gỗ tượng đá, nên 1500 trước công nguyên, trong Mười Điều Răn của Cựu Ước, điều răn thứ 2 có câu: “Các ngươi không được làm cho mình một hình tượng nào, dù theo hình dáng của bất kỳ điều gì trên trời hay dưới đất hay dưới đại dương.” Exodus 20:4.
(Ngày nay các chi phái Tin Lành – Protestantism – vẫn còn tuân theo điều răn này, nhưng các chi phái khác của Thiên Chúa Giáo thì đã dẹp bỏ nó cả hơn nghìn năm).
Một lần khác khi Đan Hà thiền sư ghé lại một thiền viện, vì trời lạnh nên ông lấy pho tượng Phật trên chánh điện xuống đốt để sưởi ấm. Sư trụ trì trách ông bất kính với một pho tượng thiêng liêng, thì ông trả lời rằng ông đốt để lấy xá lợi, vị sư tưởng ông ngờ nghệch, bèn cười mà hỏi vặn lại ông làm sao tìm được xá lợi trong pho tượng gỗ, Đan hà bèn cười to mà rằng: “Thế sao sư lại trách ta đốt gỗ?”
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Arresting the Stone Buddha
A merchant bearing fifty rolls of cotton goods on his shoulders stopped to rest from the heat of the day beneath a shelter where a large stone Buddha was standing. There he fell asleep, and when he awoke his goods had disappeared. He immediately reported the matter to the police.
A judge named O-oka opened court to investigate. “That stone Buddha must have stolen the goods,” concluded the judge. “He is supposed to care for the welfare of the people, but he has failed to perform his holy duty. Arrest him.”
The police arrested the stone Buddha and carried it into the court. A noisy crowd followed the statue, curious to learn what kind of sentence the judge was about to impose.
When O-oka appeared on the bench he rebuked the boisterous audience. “What right have you people to appear before the court laughing and joking in this manner? You are in contempt of court and subject to a fine and imprisonment.”
The people hastened to apologize. “I shall have to impose a fine on you,” said the judge, “but I will remit it provided each one of you brings one roll of cotton goods to the court within three days. Anyone failing to do this will be arrested.”
One of the rolls of cloth which the people brought was quickly recognized by the merchant as his own, and thus the thief was easily discovered. The merchant recovered his goods, and the cotton rolls were returned to the people.
Mỗi khi nói đến “trí thức” nhiều người chúng ta có khuynh hướng tìm vài định nghĩa trong tự điển hay trong vài quyển sách triết học hay xã hội học nào đó, rồi từ đó suy luận thêm. Chúng ta không cần làm việc tốn thời giờ đó ở đây, vì ai trong chúng ta cũng biết trí thức là gì, cũng như mọi chúng ta đều biết đẹp là gì. Mang tự điển ra để tranh luận về “đẹp” hay “trí thức” thường là việc không cần thiết. Mỗi người chúng ta tự biết mình có phải là người trí thức hay không. Nếu bạn nói rằng bạn là người trí thức, mình tin như thế là đúng. Nếu bạn nói bạn không thích xem bạn là người trí thức, mình cũng tôn trọng ý của bạn.
Chuyện quan trọng của chúng ta hôm nay là bàn luận về vai trò của người trí thức trong xã hội chúng ra đang sống. Người trí thức là gì trong xã hội? Họ cần có thái độ thế nào để làm trọn vai trò đó?
Về vai trò thì rất rõ và rất dễ: Trí thức là chất xám của quốc gia, mỗi người trí thức là một tế bào chất xám của quốc gia. Trong cơ thể quốc gia, trí thức là não bộ.
Đây là một định đề hiển nhiên, chẳng cần phải chứng minh, và cũng chằng cần ai đồng ý, chấp thuận, hay cho phép. Bạn có cho phép hay không, thì cái đầu của bạn, chứ không phải cái tay hay cái chân, làm việc suy nghĩ. Người trí thức làm việc bằng cái đầu nhiều hơn bằng chân tay, cho nên họ là tế bào chất xám, họ là não bộ.
Và khi cái tay của bạn muốn sờ mó gì đó, thì toàn thể não bộ của bạn phải quyết định và chỉ huy hành động đó, không phải chỉ là vài tế bào não bộ kiểm soát các cơ tay. Trước khi quyết định bắt tay ai đó chẳng hạn, bạn có thể phải giải rất nhiều con toán: Ta nên chìa tay ra trước hay hay đợi người kia chìa tay ra trước, ta nên bắt một tay hay hai tay kiểu Á châu, ta nên đứng thẳng lưng hay hơi cúi đầu, ta nên mỉm cười hay trịnh trọng… Nói vậy để chúng ta thấy là các hoạt động của não bộ, dù là có chuyên môn hóa phần nào, nhưng nói chung là rất tổng hợp trong tư duy.
Có nghĩa là, trong cơ thể quốc gia, người trí thức không thế gói mình trong một vai trò chuyên môn rất nhỏ. Chất xám không làm việc như thế.
Nhưng, nền giáo dục thế giới ngày nay chỉ đào tạo chuyên viên với chuyên môn rất nhỏ. Ở Mỹ chẳng hạn, bạn học xong tiến sĩ nha khoa để làm bác sĩ răng. “Răng” là chuyên môn nhỏ lắm rồi; nhưng vẫn chưa. Một lúc nào đó nhức răng đi bác sĩ nha khoa khám, bạn mới khám phá ra là ông nha sĩ của bạn đưa cho bạn thêm 3 tờ giấy đi khám với 3 ông nha sĩ khác: Một ông chuyên về lợi răng, một ông chuyên giải phẩu miệng (để lấy răng hư ra) và một ông chuyên làm răng giả. Nếu nặng hơn chút đỉnh, biết đâu lại lòi ra vài loại chuyên gia răng miệng nữa.
Cho nên đa số trí thức ngày nay, sau khi xong tiến sĩ, thì cũng chỉ là một loại chuyên viên với kiến thức và thái độ của một chuyên viên trong một ngành cực kỳ hạn hẹp, chỉ như là người sửa máy xe, hạng máy xe cao cấp. không hơn không kém.
Tiến sĩ gì thì cũng vậy—kinh tế, luật, toán, computer…
Chính vì vậy mà nhiều tiến sĩ thời nay, bước ra khỏi công việc kiếm cơm hàng ngày của họ, họ chẳng hơn một học sinh đã tốt nghiệp trung học bao nhiêu về các chuyện khác. Lớ nga lớ ngớ. Không chấp nhận được.
Và đây là điều đáng tiếc cho nền giáo dục thế giới, vì PhD có nghĩa là Doctorate of Philosophy, Tiến sĩ Triết. PhD về tâm lý là tiến sĩ triết về tâm lý. PhD về computer là tiến sĩ triết về computer. Tức là, tiến sĩ là cấp triết gia, cấp nhìn rộng rãi, tổng hợp, từ trên đỉnh núi nhìn xuống, và các tiến sĩ của mọi ngành đều gặp nhau tại đỉnh núi như là triết gia. Nhưng đó là lý tưởng khi xưa. PhD ngày nay còn lọ mọ dưới chân núi, chưa lên đến được sườn, nói chi là đỉnh.
Đó là cái đi xuống của giáo dục thế giới ngày nay. Nhưng đó cũng là vấn đề lớn của quốc gia chúng ta. Nếu người trí thức chỉ biết làm công việc kỹ thuật nhỏ xíu của mình, thì họ không quan tâm và không hiểu được những vấn đề của đất nước đòi kiến thức tổng hợp, như là: Các hiện tượng suy thoái văn hóa, các hiện tượng bất quân bình xã hội, các hiên tượng liên hệ đến nhân quyền, các hiện tượng liên hệ đến phát triển dân chủ, các hiện tượng liên hệ đến công pháp quốc tế… Và họ có khuynh hướng phe lờ mọi chuyện và để cho… nhà nước lo (cứ y như nhà nước biết lo hết mọi sự!).
Đó là thái độ rất tai hại cho đất nước, vì nếu các tế bào não không hoạt động thì não bộ bị tê liệt.
(Dĩ nhiên, là một số vị nào đó trong nhà nước có thể thích thái độ ngủ quên của giới trí thức, để họ tự tung tự tác muốn làm gì thì làm, chẳng ai nói gì cả, nhất là trong các lãnh vực họ mới dán lên cái nhãn “chính trị”— Định nghĩa: Chính trị là cái tôi không thích anh rớ vào. Chuyện gì tôi không muốn anh nói đến, nhắc đến, sờ đến thì đó là “chuyện chính trị.” Anh hiểu chưa?)
Người trí thức, trí thức thật sự, chỉ làm đúng vai trò “trí thức” của mình khi mình quan tâm vào MỌI vấn đề của đất nước, cũng như bộ não phải quan tâm đến toàn cơ thể. Quan tâm cách nào là chuyện riêng của bạn, nhưng bạn không có quyền nói “Tôi không quan tâm về vấn đề đó.” Câu này không thể có trong tự điển của người trí thức chân thật.
Chính vì vậy mà, dù là bạn học nghề chuyên môn nào, bạn cũng cần nhiều kiến thức tổng quát về con người và xã hội: Tâm lý học, triết học, đạo đức học, xã hội học, tôn giáo, văn hóa, kinh tế, luật…
Bạn không cần phải đọc nhiều, mỗi môn chỉ cần đọc KỸ quyển “nhập môn” là đủ, vì các quyển nhập môn thường là căn bản cho TOÀN môn đó, viết một cách tóm tắt. Và nếu bạn còn trong trường, chỉ cần ghi danh lấy một cua nhập môn của môn mà bạn muốn biết.
Đó là chuẩn bị kiến thức nhập môn. Vững kiến thức nhập môn thì, nếu muốn, bạn có thể thành chuyên gia, hay ít ra là bán chuyên gia, không mấy hồi. Chỉ cần nghiên cứu thêm nghiêm chỉnh thôi.
Rồi, thái độ “trí thức” phải là thường xuyên quan tâm đến các vấn đề của đất nước.
Nếu bạn thấy không đủ sức viết hay nói cho người khác hiểu, thì ít ra bạn có thể đọc và nghe người khác, và hỏi nếu không hiểu.
Điều quan trọng là đừng nói “Đó không phải là việc của tôi”. Không có việc gì của cơ thể mà lại không phải là việc của các tế nào não bộ.
Quan tâm là đủ. Còn quan tâm rồi làm gì, bạn sẽ tự biết cho chính bạn.
Hãy nhớ rằng não bộ tê liệt khi các tế bào chất xám không hoạt động như tế bào chất xám.