All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Văn hóa an bình

Chào các bạn,

Khi nói về tư duy tích cực ta luôn luôn nghe cụm từ “bình an trong tâm hồn”, tức là bình an trong tâm mình. Bình an trong tâm hồn để đi qua cuộc đời một cách sống động là đích điểm tối hậu của tư duy tích cực.

Và tư duy tích cực luôn luôn khởi đầu với tâm ta. Tâm của chính ta là nơi toàn năng lượng của tư duy tích cực tập trung vào.

Nhưng ta sống trong xã hội với nhiều người khác. Tư duy tích cực của ta sẽ thể hiện hàng ngày qua cách sống của ta với người chung quanh. Và cách sống của ta với người chung quanh thường là bằng chứng rõ ràng nhất về trình độ tư duy tích cực của ta. Đây là một điểm quan trọng trong tiến trình huấn luyện tư duy tích cực, vì thông thường nếu ta chỉ ở một mình không gặp ai, thì có thể rất khó cho ta biết mình tư duy tích cực đã đến đâu. Ta có thể tưởng là ta đã đạt được mức thượng thừa (vì lúc nào cũng thấy bình an tĩnh lặng), cho đến khi ra ngoài, đụng chuyện với người khác, thì ta hành động rất ấu trĩ. Lúc đó ta mới thấy rất rõ là mình vẫn còn ớ mức nhập môn, và công phu của mình chưa đến đâu cả.

Mình có quen vài người thầy như thế. Một vị thầy dạy Yoga vẫn xem chính anh là người đã tĩnh lặng, vì anh dạy học trò môn này. Tuy nhiên, rất nhiều khi ra ngoài, gặp người phê phán, thái độ anh bất mãn cay cú thấy rõ. Và có một lần nói chuyện, chính anh ta cũng xác nhận với mình là anh cay cú khi bị phê phán (tức là cũng rất tốt; ít ra là anh ấy thấy vấn đề). Một vị sư mình biết và rất khâm phục về kiến thức kinh kệ của thầy, nhưng nếu ngồi nói chuyện một tí là thầy sẽ đi vào các khẩu hiệu và lời nói chống cộng cực đoan, dù là đang nói đến Bát Nhã Tâm Kinh, chẳng tí nào liên hệ đến chính trị, và thầy chẳng biết thầy luôn luôn tự lái đi trật đường rầy như thế.

Điểm quan trọng chúng ta muốn nói ở đây là ngồi một mình thì khó biết là ta thực sự tĩnh lặng hay xao động, cho đến khi ta ra ngoài và đụng chuyện với người khác.

Tâm tĩnh lặng, khi ở trong tâm là tâm, khi đi ra ngoài xã hội là “văn hóa an bình”. “Tâm tĩnh lặng” sẽ ứng xử với mọi người với “văn hóa an bình.”

Mỗi người chúng ta thử nhìn quanh ta một vòng, rồi nhìn xa hơn tí nữa, nhìn quanh thế giới một vòng. Không phải là chung quanh ta đánh nhau, áp bức nhau, chia rẽ nhau, thù hận nhau, ghen ghét nhau, chiến tranh với nhau đầy tràn hay sao? Những thứ này từ đâu tới, không phải chúng đến từ tâm con người hay sao?

Thế thì làm thế nào để thành phố của ta, làng xã của ta, đất nước của ta, nhân loại của ta bớt ghen ghét, thù hận và chiến tranh? Không phải câu trả lời là phải làm cho trái tim của ta hiền dịu và an bình sao? Không phải là mang an bình từ trong tâm ta ra thành văn hóa an bình trong xã hội hay sao?

Văn hóa an bình là văn hóa không có ghen ghét, thù hận, và chia rẽ trong đó.

Văn hóa an bình không có nghĩa là lúc nào cũng giả vờ ngọt như đường phèn vì “khẩu Phật tâm xà” hay vì mình hoàn toàn không có xương sống. Đọc các truyện Thiền về các Thiền sư, ta thấy các vị thường la lối chưởi mắng học trò, đôi khi còn cho vài cái tát hay vài gậy… xem ra rất bạo động… nhưng vẫn là văn hóa an bình, vì trong tất cả các hành động ồn ào đó không có ghen ghét, thù hận, và chia rẽ, ngược lại chúng là tình yêu, là giáo huấn, là tĩnh lặng.

Tâm làm chủ.

Một người , vì lý do nào đó, nói điều gì đó không tốt cho ta. Ta có sân hận lên không? Sân là một trong ba độc, là văn hóa bạo động.

Một người nào đó buôn bán cạnh tranh làm ta mất khách, ta có nổi sân lên không? Nếu có, là văn hóa bạo động. Đó là tham và sân, hai trong ba độc.

Trong một nhóm—trường học, gia đình, khu phố, chính phủ, hay diễn đàn—ta có vì bất kì lý do nào đó mà kết bè kết đảng và chẻ nhóm đó ra thành hai ba mảnh không. Đó là văn hóa bạo động, và là nguyên do số một gây ra chiến tranh trên thế giới, cũng là nguyên do số một làm cho Việt Nam chậm tiến. Đây là si trong ba độc.

Dù người nói xấu về ta đúng hay sai, cố tình hay vô ý, ta không cay cú và sân hận. Đó là không sân. Và đó là văn hóa an bình. Làm gì thì tính sau. Đôi khi phải làm gì đó để mai mốt họ không làm thế với mọi người, để cho làng xóm có bình an hơn, nhưng có làm gì thì cũng làm với tâm tĩnh lặng, không sân hận.

Người cạnh tranh làm ta mất khách, nhưng ta không sân hận thù oán. Đó là không tham. Và đó là văn hóa an bình. Làm gì thì tính sau. Thường thì phải nghĩ ra chiêu thức mới, chiếm thị trường trở lại, để còn lo công ăn việc làm cho nhân viên. Nhưng làm với tâm tĩnh lặng an bình.

Mọi người thích kết bè kết đảng, và ai nấy đều có lý do “đúng” của riêng họ để làm thế. Ta có thể vượt lên trên các cái “đúng” bè đảng đó, vượt lên trên thói quen cố hữu của người Việt là kết bè kết đảng để đì nhau, tìm mọi cách để mọi người có thể làm việc chung hay không? Đó là không si. Và đó là văn hóa an bình.

Các bạn,

Các bậc thánh nhân—Phật Thích Ca, Chúa Giêsu, Tiên Tri Mohammad—tốn thời giờ giáo huấn mọi người là để mang an bình lại cho toàn thế giới, chẳng phải cho riêng ai. Nhưng các ngài luôn chỉ chú tâm vào quả tim của một người mà thôi—quả tim của chính bạn. Các ngài thường chẳng nói gì về thế giới và các vấn đề xã hội cả. Tất cả quan tâm đều tập trung vào một trái tim của bạn. Vì các thánh nhân đều biết một điều rất căn bản: Chiến tranh thế giới, hay hòa bình thế giới, chẳng đến từ đâu khác hơn là quả tim của mỗi người.

Các bạn đừng nên tiếp tục nghĩ rằng các cuộc chiến trên đường phố của thành phố của bạn chẳng liên hệ gì đến con tim bạn cả, và con tim bạn chẳng liên hệ gì đến việc mang lại an bình cho thành phố hay đất nước của bạn cả. Nếu bạn đã từng nghĩ là bạn chẳng liên hệ gì, thì hãy ngưng cách suy nghĩ lầm lạc đó.

Văn hóa của một thành phố, của một quốc gia, không thể tự nó mà có. Nếu mang tất cả người dân của một thành phố ra khỏi thành phố đó, thì thành phố đó không còn văn hóa gì hết. Văn hóa đến từ tư duy, thái độ và tác phong của mỗi người. Mỗi chúng ta có trách nhiệm liên đới về thành phố của ta, đất nước của ta, thế giới của ta.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Đám cưới đầu tiên của ĐCN

Chào các bạn,

Hân hạnh thông báo với các bạn đám cưới đầu tiên giữa hai thành viên của Đọt Chuối Non Minh Hiển và Khánh Hòa.

Hiển và Khánh Hòa thực sự hiểu nhau nhờ làm việc chung trong admin team của ĐCN hàng ngày. Và như chúng ta thấy, mọi sự chuyển biến rất nhanh. Nói theo kiểu ông bà, đây là duyên số, duyên nợ, duyên kiếp… ĐCN chỉ tình cờ là sân chơi và hai người gặp trong sân chơi. ĐCN không ở trong kinh doanh môi giới 🙂 Nhưng dù sao đi nữa thì chắc là ĐCN cũng sẽ bắt đầu nổi tiếng là nơi tạo các cặp. 🙂

Đây là thiệp thông báo của Hiển và Khánh Hòa:

Chúc Hiển và Khánh Hòa lễ cưới vui vẻ tốt đẹp. Trăm năm hạnh phúc. Con cháu đầy đàn.

Hy vọng là hai em sẽ dành thời giờ du lịch vài nơi trong nước cho honey moon.

Safe trip back to Vietnam. 🙂

A. Hoành

Phật sống và thợ làm bồn tắm

Các thiền sư cho giáo huấn cá nhân trong một phòng kín. Không ai vào phòng được khi thầy và trò đang ở trong đó.

Nấm Bất Tử, tranh Mokurai

Mokurai, thiền sư của thiền viện Kennin ở Kyoto, thích nói chuyện với các doanh nhân, nhà báo, cũng như với đệ tử của mình. Có một anh thợ làm bồn tắm gần như là thất học. Anh ta hay hỏi Mokurai một mớ các câu hỏi khùng điên, uống trà, rồi đi.

Ngày nọ khi anh thợ làm bồn tắm đang ở đó Mokurai muốn giáo huấn cá nhân cho một đệ tử, nên thiền sư bảo anh thợ sang phòng khác đợi.

“Tôi biết thầy là một vị Phật sống,” anh ta phản đối. “Ngay cả các ông Phật đá trong chùa không bao giờ từ chối bao nhiêu người đến trước các vị. Vậy tại sao tôi lại bị mời ra?”

Mohurai phải đi ra khỏi phòng để gặp học trò.
.

Bình:

• Mokurai, Takeda Mokurai (1854-1930), là Tiếng Sấm Tĩnh Lặng chúng ta đã nói đến trong bài Tiếng vỗ của một bàn tay.

• Dĩ nhiên là anh chàng thợ làm bồn tắm này vừa sai, vừa bất lịch sự, vừa gàn.

Chịu thua là thượng sách. Người thông thái biết khi nào nên thua.

• Ở một góc độ tâm linh nào đó, anh gàn này có thể đúng: Phật sống thì phải tử tế hơn Phật đá. Đó tâm thượng thừa của Phật.

Trong các vấn đề tâm linh, phải chăng những người ít học và ngay thẳng lại có được mắt trí tuệ (tuệ nhãn) hơn đa số mọi người có học?

Phải chăng đó cũng là lý do tại sao nhiều vị khoa bảng bằng cấp cao lại không quan tâm gì đến vấn đề tâm linh—cho đó là chuyện nhảm nhí hay mê tín dị đoan chỉ vì không lý giải được hết bằng lý luận hay chứng minh được hết bằng khoa học–và ngược lại những người bình dân ít học lại thường chăm chú vào tâm linh hơn?

Phải chăng đó cũng là lý do lục tổ thiền tông Huệ Năng, không biết chữ, không học kinh sách bao giờ, nhưng khi nghe người hàng xóm đọc Kinh Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì hốt nhiên đại ngộ?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Living Buddha and the Tubmaker

Zen masters give personal guidance in a secluded room. No one enters while teacher and pupil are together.

Mokurai, the Zen master of Kennin temple in Kyoto, used to enjoy talking with merchants and newspapermen as well as with his pupils. A certain tubmaker was almost illiterate. He would ask foolish questions of Mokurai, have tea, and then go away.

One day while the tubmaker was there Mokurai wished to give personal guidance to a disciple, so he asked the tubmaker to wait in another room.

“I understand you are a living Buddha,” the man protested. “Even the stone Buddhas in the temple never refuse the numerous persons who come together before them. Why then should I be excluded?”

Mokurai had to go outside to see his disciple.

# 86

Thấy sự vật như nó là

Chào các bạn,

Chúng ta đã nhiều lần nói đến cụm từ “thấy sự vật như nó là” (seeing everything as it is). Hôm nay chúng ta nói sâu hơn một tí về cụm từ nay.

“Thấy sự vật như nó là” (seeing everything as it is)—tức là nhìn sự vật một cách “vô tình” (non-emotional), thấy sự vật một cách “vô tình”, không mang cảm tính của mình vào cái nhìn, cái thấy. Trời mưa thì thấy “trời mưa”, chứ không thấy “mưa buồn” hay “mưa vui”. Trời nắng thì thấy “trời nắng” chưa không thấy “nắng đáng ghét” hay “nắng đáng yêu”. Chỉ nhìn sự vật, thấy sự vật, và không thấy cảm tính vào đó.

Cái nhìn nầy còn gọi là “vô tâm” (no mind) trong Thiền, dù rằng từ “vô tình” có lẽ dễ hiểu hơn. Cái nhìn này cũng là cái nhìn rất chính xác, vì nó nhìn sự vật rõ ràng “như nó là”, không bị bức màn cảm tinh che đậy cái nhìn. Tức là, không bị cảm tính làm cho mình “si mê”, tức là sáng suốt, tức là “ngộ.”

Nhìn sự vật như nó là cũng là cái nhìn giúp cho ta tĩnh lặng luôn luôn và chận đứng được những xung động trong lòng. Ví dụ: Thấy người yêu mình ngồi ăn trưa với một chàng thì chỉ thấy hai người ngồi ăn, chứ không “thấy” thêm “cô ấy có thằng bồ khác” Thấy hai người họ hôn nhau thì thấy “họ hôn nhau, và có thể kết luận chính xác và họ cặp bồ hay yêu nhau” nhưng đừng thấy thêm “cô ấy khinh thường mình” hay “cô ấy phản bội mình.” Cô ấy nói cô ấy yêu chàng kia và không yêu mình nữa thì thấy là cô ấy không yêu mình nữa, đừng thấy thêm “Cô ấy xảo trá, đại gian đại ác.” Thấy mình vò võ một mình thì thấy mình có thể mở cửa cho các nàng khác (chắc chắn), chứ không thấy “thê giới sụp đổ” (suy đoán).

Nói chung, “thấy sự vật như nó là” tức là chỉ thấy đúng cái gì mình thấy, và không suy đoán kết luận thêm lăng nhăng.

Chúng ta có thể thấy rất dễ dàng là “thấy sự vật như nó là” có những cái lợi sau:

1. Tâm ta luôn tĩnh lặng an lạc, không nhảy choi choi theo mọi suy đoán lăng nhăng hàng ngày.

2. Ta luôn luôn sáng suốt khi nhìn vấn đề, mà không bị các cảm xúc và tình cảm làm cho cái nhìn bị lêch lạc.

3. Tâm trí luôn luôn tự do, không bị vướng mắc vào các tình cảm và định kiến. (Định kiến cũng chỉ là tình cảm. Ta có định kiến về việc gì đó chỉ vì ta quá “mê” kêt luận có sẵn trong đầu ta thôi. Ví dụ: Định kiến “da đen thì dốt”. Sở dĩ ta có định kiến này vì ta mê cái kết luận “da đen thì dốt” đến mức làm cho đầu ta không thể buông bỏ định kiến đó, và ngừng suy nghĩ—hễ thấy da đen liền cho là dốt, khỏi suy nghĩ mất công).

Trong liên hệ con người, người “thấy sự vật như nó là” không phán đoán ai cả–chỉ thấy mà không suy diễn, nên không phán đoán. Phán đoán là nguồn gốc chia rẽ số một của con người. Người bị phán đoán thì đau đớn, người phán đoán thì ít nhất là vừa đạo đức giả vừa bất công.

    “Đừng phán đoán, hay là bạn sẽ bị phán đoán. Cùng cung cách bạn phán đoán người khác, bạn sẽ bị phán đoán, và cách đo nào bạn dùng, sẽ được dùng để đo bạn.

    Tại sao bạn tìm một mụn cưa trong mắt của anh em bạn và không để ‎ y’ đến tấm ván trong mắt bạn. Làm sao bạn có thể nói với anh em bạn, ‘Để tôi lấy mụn cưa ra khỏi mắt anh,’ trong khi còn cả tấm ván trong mắt bạn? Này đạo đức giả, trước hết hãy lấy tấm ván ra khỏi mắt bạn, rồi bạn sẽ nhìn rõ được để lấy mụn cưa ra khỏi mắt của anh em bạn.” Jesus of Nazareth, (Matthew 7:1-5).

Phán đoán người khác là đầu mối mọi chia rẽ và chiến tranh trên thế giới. Mà phán đoán người khác thì luôn luôn từ hoàn toàn sai đến sai tí tí, chẳng bao giờ hoàn toàn đúng được, vì mình đâu có biết được tâm người khác đâu.

Chỉ có một người mà ta có thể phán đoán chính xác nhất là chính ta, thì ta lại không làm.

Thế có phải vừa si mê vừa đạo đức giả không?

Nếu bạn muốn tĩnh lặng, thông thái, nhân ái, không mù quáng si mê, thì hãy tập “nhìn/thấy sự vật như nó là”, không đắp lên sự vật các màn cảm tính, và không phán đoán gì cả. Khi sự vật có kết luận, đương nhiên ta sẽ thấy kết luận của sự vật bằng “nhìn nó như nó là,” mà chẳng cần suy diễn lăng nhăng trước đó.

Trong các kỹ năng tư duy tích cực thì kỹ năng “nhìn/thấy sự vật như nó là” là dễ thực hành nhất, vì nó rất công thức—cứ nhìn và không thêm cảm tính hay suy đoán. Thật ra các điều tra viên sống với kỹ năng này hàng ngày—điều tra “lạnh lùng”, không cảm tính, sự việc đưa đi hướng nào thì điều tra theo hướng đó, không suy đoán và kết luận lăng nhăng. (Điều tra viên suy đoán chỉ để định hướng điều tra, không phán đoán và kết luận trước khi kết luận đã rất rõ ràng). Chỉ có điều tra “vô tình” “lạnh lùng” thì mới có thể điều tra chính xác được.

Tuy thực hành giản dị thế, nhưng đại đa số người trên thế giới rất thích “bình”. Làm thơ thì phải là “mưa não nùng” thì mới cho là hay, chứ chỉ “mưa rơi” thì chê dở. Thấy ai làm gì đó, là lo phán đoán lên án xuống án lung tung, đù đó không là chuyện của mình, và mình biết chỉ khoảng 1/10 câu chuyện và chẳng biết trong lòng mỗi người trong cuộc họ nghĩ thế nào, cảm xúc thế nào. Thế thì đừng đổ thừa cho các tay khủng bố làm thế giới đại loạn. Đại loạn đi ra từ tâm phán đoán của mỗi người phán đoán. Và mỗi lần ta phán đoán một chiều, là ta thải thêm hơi độc vào bầu khí quyển. Hơi độc đó giúp tạo ra các tay khủng bố.

Đây là vấn đề căn bản chia con người trên thế giới thành hai nhóm—nhóm thông thái và nhóm si mê. Thấy sự việc rõ ràng là thông thái; thấy bậy bạ vì mình kết luận lăng nhăng là si mê.

Ta có tự do lựa chọn đứng vào nhóm nào.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Vô tâm

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Niềm tin chiến thắng – Mỹ Tâm

Nguyên Tác : When The Boy Was Born
Nhạc : Boney M
Lời Việt : Mỹ Tâm, Lê Quang

Tôi sẽ hát cho những niềm vui những nỗi buồn
Tôi sẽ hát cho giọt nước mắt lang trên môi ai
Đừng khóc nhe em đừng buồn nhé anh
Vì cuộc đời đâu mãi chỉ có niềm vui

Tôi sẽ hát cho những niềm tin hiện lên rạng ngời
Tôi sẽ hát cho ngọn lửa mãi vẫn cháy trong tim
Hạnh phúc sẽ đến với tôi và sẽ đến cho mọi người
Hát về một ngày mai tươi sáng rạng ngời

Dẫu có khó khăn thì bạn ơi vẫn luôn tin rằng
Dẫu có đớn đau thì bạn ơi hãy giữ một niềm tin

Niềm tin chiến thắng sẽ đưa ta đến bến bờ vui
Niềm tim chiến thắng nối con tim yêu thương mọi người
Niềm tin chiến thắng sẽ đưa ta đi giữa cuộc đời
Niềm tin chiến thắng luôn mãi trong tim mỗi chúng ta

Tôi sẽ hát cho những niềm tin hiện lên rạng ngời
Tôi sẽ hát cho ngọn lửa mãi vẫn chạy trong tim
Hạnh phúc sẽ đến với tôi và sẽ đến cho mọi người
Hát về một ngày mai tươi sáng rạng ngời

God bless everything that you have to do hard
That not ok that u have to come through

We are the chariot we make a better world
We are the chariot we come to understand
We are the chariot we all in hand in hand
We are the chariot keep on fighting to the end.

Niem tin chien thang – My Tam [Asia Indoor Game – 30/10/2009]

Lời nguyện của người đang đau khổ

Chào các bạn,

Chúng ta thường xuyên gặp đau khổ, và không có gì giúp chúng ta mạnh nhất khi đau khổ bằng cầu nguyện.

Đây là lời cầu nguyện giúp các bạn chưa biết cầu nguyện dùng khi cảm thấy muốn cầu nguyện gì đó. Cầu nguyện thực sự là đối thoại, là nói chuyện, cho nên cầu nguyện không hẳn là kinh ai đó viết sẵn. Mẫu cầu nguyện sau đây gồm vài ý căn bản và giản dị mình hay dùng để cầu nguyện hàng ngày. Chia sẻ với các bạn.

Vì cầu nguyện là đối thoại, nên các bạn cứ tự nhiên “nói chuyện” theo kiểu của riêng mình. Lời cầu nguyện này chi là để giúp các bạn khởi sự làm quen với cầu nguyện.

Chữ “Amen” chỉ có nghĩa là “mong được như vậy”, một từ ngắn gọn để kết thúc.

Cầu nguyện là đối thoại thầm lặng. Khi cầu nguyện ta lắng nghe tiếng nói trong tim, qua các cảm xúc của mình.

Mong rằng nỗi đau của bạn sẽ giảm bớt với nguyện cầu. Và dú bạn là ai thì bạn cũng biết rằng mình đang cầu nguyện cho bạn trong câu này: “Xin Chúa giảm bới nỗi đau của tất cả chúng con, nhất là những bạn bè con đang gánh những nỗi đau hơn mức bình thường”

Mến,

Hoành

Chúa ơi,

Con đang có nhiều đau khổ, và con muốn nói chuyện với Chúa.

Con biết Chúa thương yêu con. Xin Chúa hãy đứng bên con. Hãy đỡ con lên. Hãy cho con tựa vào Chúa. Hãy là nơi trú ẩn của con. Hãy là dòng suối của con. Hãy là mặt trời của con. Hãy là cánh đồng cho con ngơi nghỉ.

Xin Chúa hãy là bạn của con. Đưa con vào vòng tay Người. Đưa con vào quả tim Người.

Xin Chúa hãy vào trong tim con, để con có được bình an của Người, ánh sáng của Người, niềm vui của Người.

Xin chúa cho con cảm nhận được Chúa trong con.

Amen

Giờ chết

Thiền sư Ikkyu rất thông minh lúc còn nhỏ. Thầy của Ikkyu có một tách trà quý, đồ cổ hiếm có. Ikkyu lỡ làm vỡ tách này và rất bối rối. Nghe tiếng chân thầy, Ikkyu dấu chiếc tách sau lưng. Khi thầy đến, Ikkyu hỏi: “Tại sao người ta phải chết?”

“Đó là tự nhiên,” vị thầy già giải thích. “Tất cả mọi thứ đều chết và chỉ có một thời gian để sống.”

Ikkyu, đưa cái tách vỡ ra, và thêm: “Giờ chết của cái tách của thầy đã đến.”
.

Bình

• Các quy luật tự nhiên thì ai cũng biết. Nhưng khi đụng chuyện thì ta quên mất. Ví dụ: Người đang stress thì hay nói bất bình thường. Tuy nhiên, khi nghe ta vẫn giận dỗi, mà quên mất là người đó đang stress. Rốt cuộc, stress chiến thắng được cả hai người—người nói và người nghe.

Vì vậy, khi đụng chuyện, ta cũng nên nghe lời nhắc nhở của người khác về các quy luật tự nhiên đang hoạt động trong cuộc sống của ta.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Time to Die

Ikkyu, the Zen master, was very clever even as a boy. His teacher had a precious teacup, a rare antique. Ikkyu happened to break this cup and was greatly perplexed. Hearing the footsteps of his teacher, he held the pieces of the cup behind him. When the master appeared, Ikkyu asked: “Why do people have to die?”

“This is natural,” explained the older man. “Everything has to die and has just so long to live.”

Ikkyu, producing the shattered cup, added: “It was time for your cup to die.”

# 85

Bạn thật

Ngày xưa lâu lắm rồi ở Trung quốc có hai người bạn, một người đàn hay và một người nghe hay.

Khi người đàn về núi cao, người nghe nói: “Tôi có thể thấy núi cao trước mặt ta.”

Khi người đàn về nước, người nghe nói: “Đây là dòng nước chảy!”

Nhưng người nghe gặp bạo bệnh mà chết. Người đàn cắt đứt dây đàn và không bao giờ đàn nữa. Từ đó trở đi, cắt đứt dây đàn là biểu tượng của tình bạn thắm thiết.
.

Bình:

• Đây là câu chuyện về Bá Nha Tử Kỳ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha, làm quan, là người đàn; Tử Kỳ, người nghe, là tiều phu. Gặp nhau và kết nghĩa anh em vì “tri âm” (hiểu được âm thanh), cho nên ngày nay ta có từ “bạn tri âm”.

Cây đàn mà Bá Nha dùng có lẽ là cây Cổ Cầm, mà ngày nay vẫn còn dùng. Cổ cầm còn là tiền thân của Thập Lục Huyền Cầm (hay Tam Thập Lục Huyền Cầm), tức là Đàn Tranh (16 dây hay 36 dây) ngày nay.

• Hiểu nhau không cần phải ở chung với nhau 20 năm. Chưa gặp nhau cũng đã có thể hiểu nhau ngay chỉ qua tiếng đàn.

• Hiểu nhau không cần nói nhiều.

• Nhưng hiểu nhau cần: (1) Người biết diễn đạt đúng điều mình muốn diễn đạt, và (2) người biết nghe điều người kia diễn đạt.

Điều quan trọng ở đây là: Người diễn đạt, không chỉ làm ra âm bằng tay, mà là hồn mình đang nói những lời lẽ sâu kín trong tâm. Và người nghe không chỉ nghe âm bằng tai, mà hồn mình đang trực nhận những thì thầm từ hồn người kia.

Vậy thì, để có tri âm, khi nói chuyện, ta có nói thành thật những sâu kín của hồn ta không, hay ta màu mè, bày vẻ, thiếu thành tâm? Nếu ta không thành tâm thì rất khó có bạn tri âm.

Và khi ta nghe, ta có dùng tâm hồn để nghe tâm hồn không, hay ta chỉ biết nghe âm bằng tai? Nếu không biết nghe thì làm sao “tri âm” ai được?

• Giữa đàn và nghe, điều nào khó hơn? Dĩ nhiên ở mức cao thì làm gì cũng khó. Nhưng có lẽ là nghe khó hơn đàn, vì đàn là đàn điều mình nghĩ, nghe là nghe điều người khác nghĩ. Mình biết mình nghĩ gì để diễn đạt, nhưng người nghe thì lại không biết người kia nghĩ gì, phải lấy âm thanh mà suy đoán.

Nói bao giờ cũng dễ hơn nghe. Vậy thì trong liên hệ con người, nói cẩn thận, nhưng phải nghe cực kỳ chăm chú.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

True Friends

A long time ago in China there were two friends, one who played the harp skillfully and one who listen skillfully.

When the one played or sang about a mountain, the other would say: “I can see the mountain before us.”

When the one played about water, the listener would exclaim: “Here is the running stream!”

But the listener fell sick and died. The first friend cut the strings of his harp and never played again. Since that time the cutting of harp strings has always been a sign of intimate friendship.

# 84

Đóng dấu ấn Việt trên thế giới

Chào các bạn,

Mình ở Washington nên thường có cơ hội gặp người từ mọi nơi trên thế giới. Nhưng mình lại tồi về địa lý, cho nên nhiều khi gặp bạn mới, mình rất ngớ ngẩn và thiếu ngoại giao.

“Hi, I am John Lawata. I’m from Fiji.
“I’m Hoanh Tran. Nice to meet you. Sorry I couldn’t catch where you’re from.”
“Fiji. Republic of Fiji Islands.”
“Uhm…”
“You know, Fiji Islands.”
“Yes… yes… Please forgive me for my ignorance. Where is that?”
“We’re in the Pacific. We’re close to Vanuatu to the west, New Caledonia to the southwest, New Zealand’s Kermadec to the southeast, Tonga to the east, Wallis and Futuna to the northeast and Tuvalu to the north.”
“Oh, great. A group of islands in the Pacific!”

Thực thì các tên này, đối với nhiều người chúng ta, nghe cũng giống như nơi nào đó trên mặt trăng, chứ chẳng biết là đó là những quốc gia hải đảo nằm giữa Thái Bình Dương, mà Việt Nam là một phần bờ Thái Bình Dương, láng giềng rất gần.

Rất may là nếu bạn đi khắp nơi trên thế giới, khi nói “Tôi đến từ Việt Nam” thì mọi người đều biết đến Việt Nam. Hai cuộc chiến thắng chống Pháp và Mỹ làm Việt Nam trở thành một quốc gia nổi danh và được thán phục trên thế giới.

Được cả thế giới biết đến tên là một vốn liếng kinh tế chính trị rất lớn. Cho dù Thái Lan có dùng hàng tỉ đô là mỗi năm quảng cáo trên TV thế giới hàng chục năm liền như vậy, thì thế giới vẫn ít người biết về Thái Lan như là Việt Nam, vì học sinh thế giới, nhất là học sinh Mỹ, đều phải học về hai cuộc chiến lớn mà Việt Nam đã thắng–về chiến lược, về qui ước chiến tranh, về sự thay đổi chính trị quốc tế, về chính sách ngoại giao của Mỹ trên thế giới… Khi người khác phải học về ta, thì đó là một vốn liếng kinh tế chính trị lớn ngoài sức tiền bạc có thể mua. Đừng quên vốn liếng vô giá này.

Ít ra là cũng không còn “vô danh”.

Nhưng có lẽ vẫn còn “tiểu tốt”. Vì chúng ta vẫn còn là một quốc gia nghèo kém.

Vây thì, nhiệm vụ của chúng ta vào thời đại này là mang Việt Nam ra khỏi vòng “tiểu tốt” lên đến hàng “đại gia.” Và cuộc “chiến” này sẽ dài hơn, gay go hơn, và đòi hỏi nhiều trí tuệ và quyết tâm hơn hai cuộc chiến trước—Chúng hắn không giỏi đấm đá, nhưng chúng hắn rất giỏi về phát triển.

“Thừa thắng xông lên” là dùng những chiến thắng cũ làm bàn đạp để tiến lên. Chúng ta cần tận dụng tiếng tăm có sẵn của chúng ta để tiếp tục để lại dấu ấn Việt Nam trên cánh đồng quốc tế.

Những vốn liếng truyền thống chúng ta đã có mà người khác chưa có thì cần phải triển để tiếp thị ra ngoài:

1. Văn hóa cổ truyền: Nhất là Phật giáo. Đây là một luồng tư tưởng hòa bình thâm sâu, mà chúng ta là một trong chỉ vài truyền nhân lâu đời. Phật học Việt Nam nên được khôi phục vững mạnh, các học giả Phật học cần được ủng hộ để học tập sâu sắc, với tầm mức có thể dạy lại cho thế giới. (Và ta đang nói chuyện tư tưởng, không phải chuyện xây chùa).

Văn hóa truyền thống của 55 dân tộc anh em cần được bảo vệ và phát triển, để làm mạnh bản chất tâm linh của mỗi dân tộc, và để dùng đó làm nền tảng cho kỹ nghệ du lịch, cho du khách thế giới học được chiều sâu của một quốc gia, hơn là chỉ tắm biển rồi về như là đi mọi nơi khác.

Ngay cả các truyền thống tâm linh và văn hóa mới, như Thiên chúa giáo, có thể tự làm giàu cho chính mình và cho quốc gia mình bằng cách hòa nhập với văn hóa Việt Nam để cho nó một dáng vẻ Việt Nam đặc sắn riêng (như công giáo Việt Nam, tin lành Việt Nam), thay vì nhìn và suy nghĩ rất Tây và rất đối chỏi với văn hóa truyền thống Việt.

2. Võ thuật, nhất là các môn võ Viêt Nam như Tây Sơn Bình Định hay Vovinam nên được khuyến khích xuất cảng.

3. Văn chương: Bao nhiêu năm chinh chiến đau thương với các đại cường mà chúng ta không có được những tác phẩm lớn trên thế giới, thì nhất định là mọi tội tình phải đổ lên đầu ông văn hóa (thay vì kết luận cả nước chúng ta toàn người dốt). Ông văn hóa thích chém đầu chém đuôi, gọt dũa chuyện có thật thành truyện nhi đồng giả tưởng… cho nên không có gì gọi là đáng giá.

Nhưng nguồn hứng khởi thì còn nguyên đó — lịch sử bi thảm và hào hùng, những hùng tráng cộng những lỗi lầm còn thấy đó… Nếu các nhà văn của ta được khuyến khích viết tự do, viết thật, không chỉ viết quàng cáo ba xu, thì nhất định là ta sẽ có những tác phẩm lớn trên thế giới. Điều này chắc chắn 100%. Một giải Nobel cho một nhà văn Viêt Nam cũng giúp kỹ nghệ du lịch nhiều lắm chứ không ít (dù rằng rất tiếc là nhà văn sẽ không được chia tí hoa hồng nào 🙂 ).

4. Thực phẩm (nhà hàng): Các món ăn Việt Nam đã có tiếng trên thế giới. Nếu ta chăm chút vào vệ sinh thực phẩm và nhà hàng, thì nhiều người trên thế giới sẽ muốn đến thăm Việt Nam chỉ để… ăn.

5. Hòa Bình: Thế giới hiện đang nằm trong nhiều cuộc chiến địa phương và quốc tế lớn lao. Dân ta đã biết mùi đau khổ của chiến tranh, văn hoá Việt Nam lại là văn hóa tổng hợp của nhiều văn hóa khác nhau, cho nên Việt Nam có đủ tư cách và khả năng để lãnh đạo các tổ chức và phong trào hòa bình trên thế giới. Chúng ta đủ tư cách làm trung gian điều hợp hòa bình cho nhiều cuộc chiến trên thế giới. Không phải chỉ là các cường quốc mới xây dựng hòa bình được. Thực ra các cường quốc thường là những tay gây chiến. Thế giới cần những tổ chức thứ ba, ngoài cuộc, không thiên vị, không mâu thuẫn quyền lợi, để giúp các bên lâm chiến hòa giải.

6. Made in Viet Nam: Chúng ta muốn thương hiệu “Made in Vietnam” có tiếng tăm trên thế giới, từ con người đến văn hóa đến vật chất. Con người Việt Nam chúng tôi hiền hậu, hiếu khách và dũng mãnh. Văn hóa chúng tôi phong phú, đa dạng và sâu sắc. Hàng hóa chúng tôi sáng tạo, bền rẻ đẹp.

Nói chung là các bạn đừng có ảo tưởng là chúng ta đang có thể thong thả ngủ ngày vì chiến tranh đã xong hơn 30 năm. Chúng ta hiện đang ở trong một vận hội mới với những tranh đấu mới và những cơ hội mới. Đây là một thời kỳ rất kích thích và thú vị. Đã hàng ngìn năm ông cha chúng ta chỉ là một cái bóng trong một góc đất nhỏ của thế giới, chẳng ai biết đến. Nhưng ngày nay, thế hệ đàn anh ngay trước ta đã giúp chúng ta trở thành nổi tiếng trên thế giới. Nhiệm vụ của chúng ta là tiếp tục tiến lên, biến Việt Nam trở thành hùng cường trên thế giới. Đây là một cuộc chạy đua rất thú vị, vì nếu chúng ta quyết tâm, tận lực, và đồng nhất như một, thì không về nhất, nhì, hay ba, chúng ta cũng về rất cao, chẳng thể thua được.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Dừng chân bên đường

Trên đường hành hương
Dừng chân bên hồ vắng
Trời trong xanh
Nước trong xanh
Ném viên sỏi vào mặt hồ tĩnh lặng
Ô những vòng đồng tâm
Của lòng ta gợn sóng
Một cánh hồng hạc
Lao xuống lòng hồ rồi lại vút lên
Mất hút vào quãng trời không
Những vòng sóng lăn tăn
Lại biến tan vào tĩnh lặng
Mây trắng
Lững lờ đáy nước
Tựa gốc phong già
Lá tím gió nắng lao xao
Con đường hành hương đất đỏ
Hun hút dài, hun hút cao
Qua dải đồi chiều
Biến mất sau cánh đồng thông
Về hướng rừng phong chập chùng vách núi

TĐH
LOW, 4;09pm, Wednesday, April 14, 2010

Không làm, không ăn

Hyakujo, thiền sư người Trung quốc, thường làm việc lao động với các học trò ngay cả khi cả đã tám mươi, dọn vườn, cắt cỏ, tỉa cây.

Các học trò lo lắng thấy vị thầy già làm việc cực quá, nhưng họ biết thầy chẳng nghe lời khuyên của họ mà nghỉ ngơi, nên họ dấu đồ nghề làm vườn.

Ngày đó sư phụ chẳng ăn. Ngày kế tiếp thầy cũng chẳng ăn, và ngày kế tiếp cũng vậy. “Có lẽ thầy giận mình đã dấu đồ nghề,” các học trò đoán, “Mình phải trả lại thôi.”

Ngày họ trả lại đồ nghề, thầy làm việc và ăn như trước đó. Tối đó thầy dạy học trò: “Không làm, không ăn.”
.

Bình:

• Thiền sư già này là Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất, một trong ba người có ảnh hưởng lớn nhất trong Thiền tông–Sư tổ Bồ Đề Đạt Đa, Lục tổ Huệ Năng, Mã Tổ Đạo Nhất.

Sau khi Mã Tổ sáng lập tu viện Tòng Lâm, Bách Trượng Hoài Hải nối tiếp lập ra hệ thống các quy tắc trong tu viện. Chủ trương cuộc sống “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Ngày nào không làm, ngày đó không ăn) của Bách Trượng từng gặp nhiều khó khăn, bị chỉ trích vì trái với quy củ, giới luật trước đây của người tu hành Phật Giáo, thậm chí có người còn cho sư là kẻ ngoại đạo.

• Thiền tông từ đó trở thành tích cực hơn. Các thiền sư có lối sống “vào đời” rất tích cực. Các vị không chỉ ngồi thiền cả ngày, chẳng làm gì như mọi người lầm tưởng. Thiền có thể thực hành mỗi giây phút, dù ta đang làm việc gì. Thiền không có nghĩa chỉ là ngồi Thiền.

• Ngay trong hàng khất sĩ, khất thực (xin ăn) là một loại tu tập tích cực hàng ngày. Đi khất thực là một công việc khó khăn, để tu tập hạnh khiêm tốn và tĩnh lặng cho mình, đồng thời giúp mọi người thực hành hạnh bố thí.

• “Không làm, không ăn” hay “làm để ăn” là quy luật tự nhiên. “Sống là làm”—đây là một triết lý tự nhiên về hoạt động tích cực trong đời sống.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

No Work, No Food

Hyakujo, the Chinese Zen master, used to labor with his pupils even at the age of eighty, trimming the gardens, cleaning the grounds, and pruning the trees.

The pupils felt sorry to see the old teacher working so hard, but they knew he would not listen to their advice to stop, so they hid away his tools.

That day the master did not eat. The next day he did not eat, nor the next. “He may be angry because we have hidden his tools,” the pupils surmised. “We had better put them back.”

The day they did, the teacher worked and ate the same as before. In the evening he instructed them: “No work, no food.”

# 83

Người trông cậy được

Chào các bạn,

Từ quan trọng nhất khi định điểm một người để tuyển họ vào việc nào đó là “trông cậy được” (reliable). Tất cả mọi nhận xét về đức tính và vốn liếng của người đó—thông mình, hoạt bát, kinh nghiệm…– rốt cuộc quy về một chữ “reliable.” Reliable thì tuyển, không reliable thì không tuyển.

Trong mọi liên hệ khác ở đời cũng chỉ một từ reliable—thương mãi, kinh tế, chính trị, chủ thợ, vợ chồng, bạn trai bạn gái, teamwork, v.v… Một người mà ta có thể sống chung hay làm việc chung thường xuyên là một người có thể trông cậy được. Hắn có thể đẹp trai hay xấu trai, kiêu căng hay khiêm tốn, thông minh hay khù khờ, nhưng nếu trông cậy được là được.

Trông cậy được (reliable, reliability) tối thiều được thành hình nhờ các tính chất sau:

1. Thành thật: Nếu bác không thành thật thì Diêm Vương gặp bác cũng phải chạy, nói chi người.

2. Lời nói chắc chắn: Nói 3 giờ có mặt thì động đất cũng có mặt lúc 3 giờ. Nói là sẽ làm việc gì thì sẽ làm việc đó. Việc gì chưa biết thì nói chưa biết, biết mơ hồ thì nói biết mơ hồ.

Dĩ nhiên là người nói chắc chắn cũng là người thành thật, nhưng đôi khi có người thành thật nhưng lại ăn nói không chắc chắn. Ví dụ: Hắn nói có mặt 3 giờ, thì thế nào hắn cũng có mặt, nhưng có thể là 4, 5 giờ. Tên này rât lỏng lẻo về thời gian.

3. Trung thành: Đã là bạn thì luôn là bạn, không vì bất đồng ‎y’ kiến về việc gì đó mà đổi bạn thành thù, hay vì cả hai mê một cô hoặc giành một chức vị mà không chơi với nhau được nữa, hay bực nhau chuyện gì đó rồi đổi bạn thành thù.

Trung thành không có nghĩa là luôn luôn đồng ý. Trung thành là luôn luôn giữ vững liên hệ nền tảng, dù có bất đồng ý về chuyện gì đó.

Trung thành là không bỏ chạy khi đụng chuyện—khi bạn lên thì là bạn, khi bạn bị đời chối bỏ và ngyền rủa thì ta bỏ bạn. Thế thì ruồi chạy theo mật chứ bạn bè gì. Bạn có nghĩa là: Khi cả thế giới bỏ bạn, bạn có thể đến tựa vào vai mình.

Vợ chồng, thầy trò … cũng vậy.

4. Hiểu ‎ý nhau: Người reliable nghe rất kỹ và luôn cố để hiểu đúng ý người kia và làm đúng ý. Rất ít khi có chuyện “Ồ, em tưởng thế này.”

Người reliable chẳng cần nói nhiều. Nói một từ với nhau là đã hiểu trọn ý.

Nhưng làm sao thực hiện được nghệ thuật hiểu nhau này? Thưa, lắng nghe với sự nhậy cảm của cả con tim và khối óc.

4. Không có ngạc nhiên: Một người reliable không bao giờ làm người kia ngạc nhiên. “Ủa, sao anh làm kỳ vậy?” “Trời, tui đâu có ngờ anh làm việc này.”

Người thường đưa cho bạn ngạc nhiên là không reliable.

Người reliable, nếu có việc gì không rõ thì luôn luôn hỏi lại. Muốn làm gì cũng nói chuyện qua với nhau trước.

Nói chung, người reliable là người nếu làm việc chung với bạn, buôn bán chung với bạn, ngủ chung với bạn, thì bạn luôn cảm thấy an tâm, thấy được thêm đồng minh, thêm sức mạnh; có thể đi chơi xa, để công việc lại cho người này chăm sóc mà không mảy may lo lắng.

5. Không dễ tin việc nhảm. Người reliable là người nếu có người nói xấu với họ về bạn, bạn biết là họ sẽ không tin, vì họ hiểu bạn.

Nếu có người nói xấu bạn mà họ tin ngay thì họ không reliable.

6. Tha thứ: Người reliable dù biết bạn sai cũng không thay đồi tình cảm với bạn, sẽ tha thứ cho bạn, và sẽ vẫn thương yêu bạn.

Nếu đọc đến đây mà bạn vẫn chưa hiểu reliable là thế nào thì theo công thức này: Người reliable nhất với bạn mà bạn đã biết là mẹ bạn. Hãy theo đó mà sống reliable với mọi người.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thứ tư, 14 tháng 4 năm 2010

Bài hôm nay

Kumbaya – Come by my God, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Nguyễn Minh Hiển.

Học dũng cảm và kiên nhẫn , Danh Ngôn, song ngữ, chị Lê Phan Hiên Vi.

Luôn đặt câu hỏi , Danh Ngôn, song ngữ, chị Lâm Thanh Thanh .

Logic và trí tưởng tượng, Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Nguyện Cầu Ân Phúc Cho Em , Thơ, song ngữ, Nhạc Xanh, Video, chị Huỳnh Huệ.

Impression – Cảm Nhận, Thơ, song ngữ, chị Vivian Hoàng Nhất Phương.

Một rổ nước , Trà Đàm, song ngữ, Phạm Hoàng Hiệp.

Chẳng có gì hiện hữu, Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Ba điều căn bản cho ta và đất nước, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Scholarship, Grants & Jobs

Endeavour Awards for Research, Postgraduate study or research, Vocational education and training, Professional Development and Student Exchanges

Open on 5 April 2010 and will close on 31 July 2010

The Endeavour Awards is an internationally competitive, merit-based program providing opportunities for citizens of the Asia-Pacific region to undertake study, research and professional development in Australia. Awards are also available for Australians to do the same abroad.

The aims of the Endeavour Awards are to:

Deepen Australia’s global engagement in education and research;

Reinforce Australia’s reputation as a high quality education provider and leader in research, innovation and knowledge management;

Enhance language skills and cultural understanding of Australia; and

Provide opportunities for Australian professionals to enhance their skills and knowledge.

As part of Australian Scholarships, the Endeavour Awards promote excellence in education. Australian Scholarships brings together under one umbrella, scholarships administered by the Australian Government Department of Education, Employment and Workplace Relations and AusAID, the Australian Agency for International Development. Australian Scholarships aims to build mutual understanding between Australia and its Asia-Pacific neighbours.

Endeavour Awards for international applicants
Through the Endeavour Awards, the Australian Government provides opportunities for high achieving international students, researchers and professionals to undertake short or long term study, research and professional development in Australia in a broad range of disciplines.

Readmore: http://cambodiajobs.blogspot.com/2008/04/endeavour-awards-for-research.html
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non