Các bài đăng bởi loanptd

Vẻ đẹp tâm hồn

dream-heart

“Vẻ đẹp tâm hồn tỏa sáng khi con người vẫn điềm tĩnh hứng chịu những bất hạnh, không phải vì họ không cảm nhận được những bất hạnh đó, mà vì họ là người có khí phách cao cả và anh hùng.”

Loan Subaru dịch

.

“The beauty of the soul shines out when a man bears with composure one heavy mischance after another, not because he does not feel them, but because he is a man of high and heroic temper.”

Aristotle

Bagan – Myanmar

Kinh đô cổ đại Bagan
Kinh đô cổ đại Bagan

Tuy chỉ là một quốc gia nhỏ bé nằm khiêm tốn bên cạnh người láng giềng khổng lồ Thái Lan, Myanmar lại tự hào được sở hữu một trong những di chỉ khảo cổ lớn nhất, nổi tiếng nhất Đông Nam Á. Đó là Bagan (còn được gọi là Pagan) – cội nguồn của đất nước Miến Điện. Nếu tới Myanmar mà chưa tới Bagan thì chẳng khác nào kẻ khát nước chưa tìm được nguồn nước. Bagan chính là thành phố tôn giáo đặc biệt nhất trên thế giới. Hiện nay ở Bagan vẫn còn tồn tại tới 2.224 trong tổng số 4.446 ngôi đền được xây dựng từ thế kỷ 11 cho tới thế kỷ 13 – bộ bách khoa thư đồ sộ về kiến trúc cổ Miến Điện. Từng là thủ phủ của một vương quốc hùng mạnh, giờ đây Bagan chỉ là thành phố bị dòng chảy của xã hội văn minh “bỏ quên”, nằm lặng lẽ ở tả ngạn sông Ayeyawady hiền hòa. 

Theo lịch sử, trong 12 thế kỷ (kể từ năm 168), 55 vị vua đã kế tiếp nhau trị vì vùng đất này và người có công lớn nhất trong việc biến Bagan thành một trung tâm quyền lực, tôn giáo và kinh tế hưng thịnh là vua Anawrahta (1044 – 1077). Ông đã chinh phục vương quốc láng giềng Thaton, bắt hàng ngàn thợ thủ công Thaton về nước để xây dựng đền chùa, đưa đạo Phật thành quốc giáo. Cũng dưới triều đại Anawrahta, văn tự burman (miến điện cũ) ra đời. Truyền thuyết kể lại rằng, cứ một ngày, ở Bagan lại mọc lên 40 ngôi chùa và ngày nay, bất cứ du khách nào đặt chân tới Bagan cũng bị choáng ngợp trước tài năng của những người thợ vô danh khi xưa, và cả sự cuồng tín của một quốc gia: hàng vạn, có thể là hàng triệu người bỏ công sức, tiền bạc, của cải để dựng lên những công trình vĩ đại với mục đích duy nhất – ngợi ca công đức cùng những giáo lý của Phật tổ từ bi. 

Chùa Shwezigon
Chùa Shwezigon

Trong cái nóng nực, bụi bặm của miền trung Myanmar, dọc theo bờ sông Ayeyawady, từng cụm đền, chùa với những ngọn tháp nhọn hoắt như muốn chọc thủng cả bầu trời xanh ngắt hiện dần ra trước mắt, trên một vùng cao nguyên rộng lớn. Mỗi công trình mang một dáng vẻ, kiểu kiến trúc riêng biệt, hoàn toàn không có sự trùng lắp. Tuy nhiên, hầu hết đã mất đi màu trắng tinh khôi của lớp tường vôi ban đầu, thay vào đó là màu đỏ thẫm hoặc bị xỉn đi bởi lớp bụi dầy do những cơn gió dữ dội trong mùa khô mang tới. Không có nhiều màu xanh trên cao nguyên này, chỉ toàn cọ và những thân xương rồng khẳng khiu, đầy gai nhọn. Thỉnh thoảng mới có một cơn mưa ngắn ngủi, không đủ để gột rửa sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Hiếm hoi lắm mới thấy được ánh vàng rực rỡ còn sót trên một đỉnh chóp. Ấy vậy mà từ năm 1300, khi cư dân cuối cùng rời khỏi Bagan, những ngôi đền chùa này vẫn đứng sừng sững, trơ gan cùng tuế nguyệt, ngắm nhìn cảnh bể dâu, xem vật đổi sao dời. Một sự may mắn lớn dành cho hậu thế.

Với những người lần đầu tiên tới Bagan, có lẽ chùa Shwezigon nằm ở khu vực ngoại ô là thắng cảnh để lại nhiều ấn tượng nhất. Bản thân nó cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chùa ở Myanmar, chẳng kém gì Chùa Vàng (Shwedagon) ở thủ đô Yangon. Shwezigon là ngôi chùa đầu tiên của quốc gia Miến Điện xưa được xây dựng theo lối kiến trúc Phật giáo tiểu thừa. Hơn thế, nó còn là nơi lưu giữ Xá lợi phật – bao gồm hai mẩu xương và phiên bản của một chiếc răng.

Những điều bí ẩn ở ngôi chùa này cho đến ngày nay vẫn làm đau đầu các nhà khoa học, còn hàng triệu lượt du khách đến viếng thăm Shwezigon chỉ biết lắc đầu khâm phục mà thôi. Bạn có biết rằng, dù là sáng, trưa hay chiều, chiếc bóng khổng lồ của Shwezigon chẳng bao giờ đổ qua bốn bức tường bao bọc. Và bất chấp những cơn gió cuồn cuộn, vô số mẩu giấy rơi xuống từ đỉnh tháp dát vàng cũng không bao giờ bay qua những bức tường kia. Đó thực sự là một ranh giới vô hình ngăn cách Shwezigon với thế giới phàm tục bên ngoài. Và bất cứ ai đã một lần tới đây cũng phải thừa nhận, dù lượng khách viếng thăm Shwezigon có nhiều tới cỡ nào thì họ cũng không hề cảm nhận được sự đông đúc trong bốn bức tường bao. Luôn là cảm giác vắng vẻ, u tịch của chốn đình viện thâm nghiêm. Không chỉ có vậy, trong các dịp lễ hội cử hành ở đây, người ta đã phát hiện ra rằng, đứng ở phía bên này của chùa thì chẳng thể nghe thấy bất cứ một âm thanh nào từ phía bên kia, kể cả tiếng trống rền vang. Và ngay cả những trận mưa dầm dề kéo dài hàng tuần cũng không thể làm nước đọng lại ở bất cứ góc nhỏ nào trên khoảng sân trong của chùa. Còn cây sơn trà trồng ở góc chùa phía Đông Nam thì tươi tốt và ra hoa quanh năm. Điều cuối cùng là dù được xây trên khoảng đất bằng nhưng nhìn từ xa, du khách luôn có cảm giác chùa đứng sừng sững trên một ngọn đồi nhỏ. Thật là kỳ diệu. 

Đền Anada
Đền Anada

Hai ngôi đền nổi tiếng nhất ở Bagan là Anada va Thatbynnyu. Cả hai đều được xây vào cuối thế kỷ 11, trong đó Thatbynnyu với chiều cao 62m là ngôi đền cao nhất và Anada – chịu nhiều ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ – là ngôi đền đẹp và hài hòa nhất. Cái tên Anada bắt nguồn từ Anata, tức là sự sáng suốt vô tận của Phật tổ. Du khách đến với Anada và Thatbynnyu không chỉ để chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của hai ngôi đền này mà còn để thưởng thức cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp trên cao nguyên Bagan. Mặt trời khuất dần sau những ngọn đồi phía xa, ráng chiều đỏ rực phủ lên những hoang tàn, đổ nát của muôn vàn đền đài càng làm tăng thêm vẻ cô liêu, hoang vắng. Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó, con người chợt cảm thấy mình nhỏ nhoi biết nhường nào…

Loan Sabaru

Nắm bắt cái vô hình

electricity

“Năng lực này là gì, tôi không giải thích được. Tôi chỉ biết là nó có đó…và nó chỉ hiện ra khi bạn ở trong một trạng thái tâm thức mà bạn biết chính xác bạn muốn gì… và bạn hoàn toàn quyết tâm, không từ bỏ cho đến khi bạn nắm được nó.”

Loan Subaru dịch

“What this power is, I cannot say. All I know is that it exists…and it becomes available only when you are in that state of mind in which you know exactly what you want…and are fully determined not to quit until you get it.”

Alexander Bell (Cha đẻ của điện thoại)

Lễ hội Té nước

Lễ hội Té nước Songkran ở Thái Lan
Lễ hội Té nước Songkran ở Thái Lan

Khác với Tết Nguyên Đán của Việt Nam rơi vào tháng giêng âm lịch, Tết Nguyên Đán của một số quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á, gọi là Chol Chnam Thmay ở Campuchia, Songkran ở  Thái Lan, và Bunpimay ở Lào, rơi vào tháng 4 Dương Lịch hàng năm, kéo dài 3 ngày–từ 13/4 đến 15/4. Đây là Tết theo Phật Lịch do ở Campuchia, Thái Lan, Lào, Đạo Phật từ lâu đã trở thành quốc đạo.

Trong ngày Tết cổ truyền này, người ta tổ chức lễ hội té nước để cầu may, bình yên cho cả năm. Lễ hội này mang ý nghĩa đem lại sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc, thanh khiết hóa cuộc sống của con người.

Người dân mang hoa tươi, đồ lễ lên chùa nghe giảng kinh từ sáng sớm, rồi thực hiện nghi thức tắm Phật, cắm cờ hoa lên bảo tháp bằng cát và đổ ra đường phố, lấy nước tạt nhau chúc mừng năm mới. Thay cho lời chúc may mắn đầu năm, người dân sẽ tưng bừng chào đón năm mới với nghi thức dội nước lên người nhau. 

Người dân Capuchia múc nước từ ao hồ lên để té nhau
Người dân Capuchia múc nước từ ao hồ lên để té nhau

Tết té nước Songkran của Thái Lan mang nhiều tính chất cộng đồng. Mọi người dùng tất cả vật dụng chứa được nước thi nhau té nước vào nhau. Bất kể là ai đều có thể té nước mà không sợ bị mắng và té nước càng nhiều, năm mới càng gặp may mắn, thành đạt. Ngoài té nước, người Thái còn bôi bột mì lên mặt, lên đồ vật để trừ tà ma, xua đi rủi ro trong cuộc sống. Hoàng cung Thái và chùa Vàng những ngày này càng thêm lộng lẫy, đông vui bởi người dân sẽ lên chùa dự lễ cầu bình an cho năm mới, hoa tươi được treo khắp nơi. 

Bên cạnh đó, không khí đón Tết cổ truyền của Campuchia tưng bừng và náo nhiệt không kém. Không khí vui nhộn, đèn hoa sáng rực ở các chùa và khắp các ngả đường dẫn đến Hoàng Cung. Thủ đô Phnôm Pênh, nhà nhà treo đèn kết hoa lộng lẫy, người dân tham gia vào các hoạt động lễ hội đường phố lễ té nước, bôi bột màu…Trước những ngôi chùa, mọi người đắp những núi cát nhỏ với mong muốn xây dựng những điều tốt đẹp.

Một cảnh té nước trong Tết Lào tại Luông Pra Băng
Một cảnh té nước trong Tết Lào

Ở Lào, vào buổi chiều, người dân trong làng tập trung ở chùa để làm lễ cúng Phật, cầu nguyện, nghe các nhà sư giảng đạo. Sau đó, người ta rước tượng Phật ra một gian riêng trong ba ngày và mở cửa để mọi người có thể vào tắm Phật. Nước thơm sau khi tưới lên các tượng Phật sẽ được hứng lại đem về nhà để sức vào người làm phước. Người ta còn té nước vào các nhà sư, chùa và cây cối xung quanh chùa. Để tỏ lòng tôn kính, người trẻ tuổi té nước những người lớn tuổi để chúc sống lâu và thịnh vượng. Bạn bè té nước vào nhau. Họ không chỉ té nước vào người mà còn vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật và công cụ sản xuất. Người Lào tin rằng nước sẽ giúp gột rửa điều xấu xa, bệnh tật và cầu chúc năm mới sống lâu, sạch sẽ và mạnh khỏe. Tục lệ té nước trong ngày tết của Lào cũng có phần do thời tiết nóng bức (tháng 4 là thời điểm nóng nhất ở Lào). Trước khi té nước cho nhau, người ta thường dành cho nhau những lời chúc tốt lành.

Loan Subaru

Brunei

Brunei

Negara Brunei Darussalam, thường được gọi là Vương quốc Hồi giáo Brunei hay đơn giản là Brunei, là một nước nằm trên đảo Borneo, ở Đông Nam Á. Nước Brunei giàu dầu lửa và khí gas, một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh. Về mặt chính trị và chính phủ: người đứng đầu nhà nước và chính phủ Brunei là Vua Hassanal Bolkiah.

Theo tiếng Malay, Brunei Darussalam có nghĩa là Nơi ở của hoà bình. Diện tích toàn đất nước là 5.765 km2, dân số khoảng 380.000 người, được hình thành cuối thế kỷ 14. Nằm lọt thỏm giữa đảo Borneo của Malaysia và nhìn ra biển Đông, Brunei có trên 75% diện tích là rừng cây nên thành phố và rừng gần gũi, hài hòa. Người ta có lý khi ví Brunei là “hòn ngọc xanh” của Đông Nam Á. Không có những tòa nhà chọc trời, không có những quán cóc bên đường, không có bóng một chiếc xe máy hay xe đạp nào, rất ít thấy người rảo bộ trên đường phố… Brunei Darussalam thật yên bình đúng với tên gọi của nó.

Một trong những ấn tượng đầu tiên ở Brunei là giao thông. Thành phố toàn xe hơi (thống kê: mỗi gia đình bình quân sở hữu ba xe hơi!). Tuy nhiều xe hơi và chạy với tốc độ khá cao, chủ nhân của những chiếc xe không bao giờ tranh cướp đường, không một tiếng còi xe, và họ kiên nhẫn chờ đợi để đến lượt rẽ vào phần đường của mình. Khi bạn muốn qua đường, họ sẵn sàng dừng lại, cười rất thân thiện, ra hiệu rất lịch sự và nhường đường cho bạn.

Tuy nhiên, vì quá nhiều xe hơi, nên rất ít xe bus và taxi (trung bình chỉ có 50,000 chiếc taxi trong toàn Brunei). Do đó, rất khó để bạn có thể đón một chiếc taxi khi cần. Tôi may mắn có dịp đến Brunei vào kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán năm 2008. Ngày đầu tiên, loay hoay mãi không bắt được taxi, chờ mãi mới gặp được và hỏi một người đi đường: “Làm thế nào để bắt được taxi?” (How can I catch a taxi?), thì ông ấy cười và trả lời rất hóm hỉnh: “Bạn phải chạy theo để bắt được taxi” (You have to run to catch it!!!). Và sau đó…ông ấy dùng điện thoại công cộng để gọi taxi giúp tôi! 🙂

Thánh đường Hồi giáo
Thánh đường Hồi giáo

 Vì Đạo Hồi là tôn giáo chính thức của Brunei, Brunei có rất nhiều thánh đường Hồi giáo (với hơn 100 thánh đường), với kiến trúc đặc trưng là mái hình chóp với hai màu trắng – vàng. Các thánh đường rất lộng lẫy, các chóp mái dát vàng – đỉnh chóp thường bằng vàng ròng.

Nhiều người biết rõ là trong tháng Ramadhan những người theo đạo Hồi không ăn, không uống từ khi mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Vì thế nếu bạn là người nước ngoài có mặt ở đây vào tháng này, để tôn trọng họ, bạn nên tránh ăn uống trước mặt họ. Kết thúc tháng Ramadhan là bắt đầu bốn ngày lễ truyền thống được tổ chức hàng năm của Brunei gọi là Hari Raya Aidilfitri. Ngày đầu tiên của Hari Raya là sự xum họp của con cháu trong gia đình, họ hàng. Sang ngày thứ hai gọi là ngày Mở cửa (Open house), mỗi gia đình đều chuẩn bị các món ăn dân tộc để thết đãi khách và bạn bè đến “xông nhà”. Tuy nhiên khi đến nơi bạn nhớ quan sát xem đâu là bàn ăn dành cho phái nữ, đâu là bàn ăn dành cho phái nam, vì theo luật Hồi giáo, trong các bữa tiệc công cộng nam nữ không được ngồi ăn chung cùng bàn (kể cả trong tiệc cưới cũng vậy). Cũng trong ngày thứ hai của lễ này, Hoàng cung Brunei bắt đầu mở cửa trong ba ngày để đón tất cả mọi người vào thăm. Khách thăm có vinh dự được bắt tay Quốc vương, Hoàng hậu cùng các thành viên trong gia đình Hoàng gia…

Kampong Ayer
Kampong Ayer

Nếu đến Brunei mà không đến thăm Kampong Ayer (Water Village: Làng nổi) – nơi được mệnh danh là “Venice của Phương Đông” – thì có nghĩa bạn chưa bao giờ đến Brunei. Chỉ 10 phút đi bằng thuyền máy từ bất cứ bến thuyền nào trên sông, bạn sẽ tới một ngôi làng trên mặt nước khá rộng và nổi tiếng thế giới, nơi có 600 năm tuổi với gần 500 căn hộ , khoảng 30.000 cư dân sinh sống. Trường học, thánh đường, bệnh viện, cơ quan hành chính… cũng là những nhà nổi. Trước mỗi nhà đều có cầu tàu cho thuyền cập. Đây thực sự là biểu tượng của truyền thống văn hóa lâu đời và là niềm tự hào của người dân Brunei.

Loan Subaru

Trà Đạo Nhật Bản

Nghi Lễ Trà Đạo
Nghi Lễ Trà Đạo

Có lẽ, một trong những nét văn hóa đặc sắc nhất của Nhật Bản là Trà Đạo – một loại nghệ thuật thưởng thức trà. Gọi là “nghệ thuật”, bởi lẽ việc uống trà của người Nhật thực sự mang tính nghệ thuật rất cao, đồng thời cũng mang phong cách sống của người dân Nhật.

Theo truyền thuyết, vào khoảng thế kỷ 12, có nhà sư Eisai sang Trung Hoa để tham vấn học đạo. Khi trở về nước, ngài mang theo một số hạt trà về trồng và phổ biến tác dụng của trà cùng với cách thức uống trà. Thời kì sau đó, trà được sử dụng phổ biến trong giới quý tộc.

Đến thế kỉ 14, một nhà sư tên là Murata Juko đưa văn hóa uống trà thành nghệ thuật. Với tư cách là một nhà sư, ông rất coi trọng cuộc sống tinh thần. Ông tìm thấy vẻ đẹp giản dị trong văn hóa uống trà hòa cùng với tinh thần Thiền – Zen trong Phật Giáo. Từ đó Trà đạo ra đời.

Từ uống trà, cách uống trà, rồi nghi thức uống trà cho đến trà đạo là một tiến trình không ngưng nghỉ mà cái đích cuối cùng người Nhật muốn hướng tới đó là cải biến tục uống trà du nhập từ ngoại quốc trở thành một tôn giáo trong nghệ thuật sống của chính dân tộc mình, một đạo với ý nghĩa đích thực của từ này. Hiển nhiên ở đây trà đạo, không đơn thuần là con đường, phép tắc uống trà, mà trên hết là một phương tiện hữu hiệu nhằm làm trong sạch tâm hồn bằng cách hòa mình với thiên nhiên, từ đó tu tâm dưỡng tính để đạt giác ngộ.

Trà viên
Trà viên

Tinh thần của trà đạo được biết đến qua bốn chữ “Hoà, Kính, Thanh, Tịch”.

“Hòa” có nghĩa hài hòa, hòa hợp, giao hòa. Đó là sự hài hòa giữa trà nhân với trà thất, sự hòa hợp giữa các trà nhân với nhau, sự hài hòa giữa trà nhân với các dụng cụ pha trà.

“Kính” là lòng kính trọng, sự tôn kính của trà nhân với mọi sự vật và con người, là sự tri ân cuộc sống. Lòng kính trọng được nảy sinh khi tinh thần của trà nhân vươn tới sự hài hòa hoàn toàn.

Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh. Đó là ý nghĩa của chữ “Thanh”.

Khi lòng thanh thản, yên tĩnh hoàn toàn thì toàn bộ thế giới trở nên tịch lặng, dù sống giữa muôn người cũng như sống giữa nơi am thất vắng vẻ tịch liêu. Lúc đó, thế giới với con người không còn là hai, mà cả hai đều vắng bặt. Đó là ý nghĩa của chữ “Tịch”.

Bốn chữ “Hòa, Kính, Thanh, Tịch” như một thước đo bản thân vị trà nhân đang ở vị trí nào trên con đường Trà đạo.

Để có thể tiến hành những nghi thức Trà đạo đúng nghĩa, cần phải có một không gian thanh tịnh và hoài hòa với cảnh sắc thiên nhiên. Đáp ứng những tiêu chuẩn đó mà dần hình thành hai không gian thưởng trà chính, đó là Trà Viên và Trà Thất.

Trà Viên: là một khu vườn được thiết kế phù hợp với việc ngắm hoa, và thưởng thức trà. Trà viên đòi hỏi bố cục khu vườn phải tinh tế, làm cho khu vườn vẫn giữ được nét tự nhiên.

Trà thất
Trà thất

Trà thất: là một căn phòng nhỏ dành riêng cho việc uống trà, nó còn được gọi là “nhà không”. Đó là một căn nhà mỏng manh với một mái tranh đơn sơ ẩn sau một khu vườn. Cảnh sắc trong vườn không loè loẹt mà chỉ có màu nhạt, gợi lên sự tĩnh lặng. Trà thất làm ta nghĩ đến cái vô thường và trống rỗng của mọi sự.

Trà thất không có một vẻ gì là chắc chắn hay cân đối trong lối kiến trúc, vì đối với Thiền, sự cân đối là chết, là thiếu tự nhiên, nó quá toàn bích không còn chỗ nào cho sự phát triển và đổi thay. Điều thiết yếu là ngôi Trà thất phải hòa nhịp với cảnh vật chung quanh, tự nhiên như cây cối và những tảng đá. Lối vào Trà thất nhỏ và thấp đến nỗi người nào bước vào nhà cần phải cúi đầu xuống trong vẻ khiêm cung, thể hiện sự bình đẳng, không phân biệt giai cấp. Ngay trong Trà thất cũng ngự trị một bầu không khí lặng lẽ cô tịch, không có màu sắc rực rỡ, chỉ có màu vàng nhạt của tấm thảm rơm và màu tro nhạt của những bức vách bằng giấy.

Tokonoma: một góc phòng được trang trí và hơi thụt vào trong so với vách tường. Tokonoma là một trong bốn nhân tố thiết yếu tạo nên phòng khách chính của một căn nhà. Có một vài dấu hiệu để biết đâu là tokonoma. Thông thường, có một khu vực để treo tranh hoặc một bức thư pháp. Hay có một cái giá nhỏ để đặt hoa, có thể là một chiếc bình, có thể nhìn thấy một hộp hương trầm. Khi bước vào một trà thất, người ta thường quỳ và ngắm tokonoma một lát. Thiền gây ảnh hưởng đến tokonoma lẫn chabana… chỉ khi chúng ta chú tâm đến những chi tiết nhỏ bé trong cuộc sống thì mới thấy vẻ đẹp trong những điều giản dị.

tradao4

Chabana: phong cách cắm hoa đơn giản mà thanh lịch của Trà đạo, có nguồn gốc sâu xa từ việc nghi thức hóa Ikebana. Phong cách của chabana là không có bất kỳ qui tắc chính thức nào để trở thành chuẩn mực cho nghệ thuật cắm hoa trong trà thất. Hoa thể hiện tình cảm của chủ nhà trong một buổi tiệc trà. Hoa được cắm trong một chiếc bình hoặc một cái lọ mộc mạc với phong cách thay đổi theo mùa. Hoa trong phòng trà gợi được cho người ngắm cảm giác như đang đứng giữa khu vườn tự nhiên.

Kakejiku: có thể là một bức tranh treo tường, một bức thư pháp hoặc là sự kết hợp cả tranh và chữ (thư họa) ở tokonoma. Những bức thư pháp treo tại tokonoma thường mang nghĩa sâu xa, có thể là một công án Thiền tông. Chẳng hạn: “Bình thường tâm thị đạo” hoặc đơn giản chỉ là một chữ “Vô”

Đạo cụ dùng trong Trà Đạo: trà, nước pha trà, ấm nước, ấm nước, lò nhỏ, chén trà, hủ đựng trà, khăn nhỏ, muỗng múc trà, gáo múc trà, bình trà, tách trà và bánh ngọt.

Nước pha trà là nước suối, nước mưa hay nước đã qua khâu tinh lọc. Khi pha trà, người ta lấy nước ở tầng giữa của ấm vì tầng giữa tượng trưng cho Hiện Tại (Tầng dưới -sát đáy ấm- là Quá Khứ, tầng trên cùng là Tương Lai)

Bánh ngọt trong Trà Đạo: Dùng bánh trước khi uống trà sẽ làm cho khách cảm thấy hương vị đậm đà đặc sắc của trà. Trong những lễ hội 4 mùa, người Nhật làm những chiếc bánh hình dáng nhỏ nhắn để thể hiện phong vị thiên nhiên. Bánh truyền thống nổi tiếng được lấy cảm hứng từ vẻ đẹp thiên nhiên, bốn mùa, từ thơ Waka, Haiku (là các thể thơ cổ của Nhật Bản) và cảm hứng từ quê hương.

Loan Subaru

Nhỏ và ấm

Thành phố Okazaki, tỉnh Aichi
Thành phố Okazaki, tỉnh Aichi

Tôi đến Nhật vào khoảng thời gian gần cuối mùa xuân. Lần đầu đi Nhật cũng là lần đầu tôi rời Việt Nam và sống xa gia đình. Chưa bao giờ rời Việt Nam, chưa bao giờ có kinh nghiệm sống ở nước ngoài, nên tâm trạng tôi đầy ắp hồi hộp, bồn chồn và lo lắng…

Ngày đầu tiên đến Nhật, tôi thật sự bị sốc văn hóa (culture shock). Cái gì cũng mới mẽ, lạ lẫm và xa lạ. Nơi tôi đến: một thành phố tỉnh lẽ , rất yên tĩnh – khác hẳn với không khí ồn ào náo nhiệt của Sài gòn. Ký túc xá tôi ở: xung quanh chỉ toàn người Nhật. Trông họ thật lanh lùng, và chẳng ai quan tâm đến việc tôi là ai, từ đâu đến.

Tàu Shinkansen Komachi đi Akita
Tàu Shinkansen Komachi đi Akita

Trường học rất đông các bạn nước ngoài, đa số đến từ Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…nhưng không có người Việt (Có lẽ tôi là người Việt duy nhất lúc đó). Không bạn bè, không người thân, nên tuần đầu tiên tinh thần tôi xuống rất nhiều. Tuần thứ hai đúng vào kỳ nghỉ Tuần Lễ Vàng (Golden Week). Chẳng biết làm gì, tôi quyết định đi lên tỉnh Akita (một thành phố tỉnh lẽ miền núi, thuộc vùng Đông Bắc nước Nhật, cách nơi tôi ở khoảng 970km) gặp vài người quen (mà tôi quen biết trong thời gian họ ở Việt Nam), nhằm rủ bỏ tâm trạng nặng nề và tìm kiếm một chút ấm áp, chia sẻ.

Đến ga Tokyo vào buổi sáng, tôi rời tàu điện thường, và lên tàu Shinkansen Komachi để đi Akita. Sau một đêm di chuyển từ Nagoya lên Tokyo, tôi khá mệt mỏi và ủ rũ. Ngồi cạnh tôi là một anh người Nhật xa lạ. Nhìn thấy vẻ mặt mệt mỏi, buồn bã thiếu sức sống của tôi, đột nhiên anh ấy chủ động bắt chuyện, hỏi tôi từ đâu đến, là người nước nào (Từ lúc đến Nhật, đây là lần đầu tiên có một người Nhật bắt chuyện với tôi). Chỉ qua vài ba câu chào hỏi, anh ấy đưa tôi một bánh cơm nắm Onigiri và mời ăn sáng cùng. Cuộc trò chuyện dù ngắn ngủi nhưng làm tinh thần tôi phấn chấn hẳn lên. Tuy nhiên, để di chuyển đến Akita, tôi lại phải chuyển sang tàu khác. Biết tôi chẳng rành đường đi nước bước, anh ấy đã hướng dẫn tận tình, đưa tôi đến đúng chuyến tàu đi Akita rồi mới quay về…

Tĩnh Akita
Tỉnh Akita

Ngồi trên tàu đi đến Akita, tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên về việc vừa xảy ra. Nó là một cái gì đó rất nhẹ nhàng, dịu dàng, giúp tôi trút hết mọi mệt mỏi và buồn chán. Ngày hôm ấy, đường đi Akita xa lắm, nhưng tôi cảm thấy rất gần và quen thuộc. Bên ngoài trời lạnh lắm, nhưng tôi lại cảm thấy lòng mình thật ấm áp vì nhận được sự chia sẻ rất tình người từ một người Nhật không quen biết, trên đất Nhật xa lạ.

Và rồi…cách đây một tuần, khi tôi đọc bài “Những giọt nước hôm nay” của anh Trần Đình Hoành, tôi lại nhớ lại câu chuyện ngày xưa trên tàu Komachi đi Akita. Tôi rất tâm đắc và thích câu trong bài viết của anh: “Small is beautiful – Nhỏ thì đẹp”.

Loan Subaru