bupbe_db

Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Nhạc Pháp Xưa – “Búp Bê Không Tình Yêu” (“Poupée De Cire, Poupée De Son”) – Serge Gainsbourg, Vũ Xuân Hùng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Búp Bê Không Tình Yêu” (“Poupée De Cire, Poupée De Son”) của Serge GainsbourgVũ Xuân Hùng.

Serge Gainsbourg (sinh 2 tháng 4, 1928, mất 2 tháng 3, 1991) là nghệ danh của Lucien Ginsburg, người Pháp, ca sĩ, nhà soạn nhạc, nhạc sĩ dương cầm, nhà viết truyện phim, thi sĩ, họa sĩ, nhà viết kịch bản phim, nhà văn, diễn viên, và đạo diễn. Ông được xem là một trong những nhân vật quan trọng nhất của nhạc phổ thông Pháp, ông nổi tiếng với những bài hát đầy khiêu khích và tai tiếng, cũng như sự phong phú đa chiều của các tác phẩm nghệ thuật của ông, từ jazz, đến mambo, world, chanson, pop, yé-yé, rock and roll, progressive rock, reggae, electronic, disco, new wave, và funk.

Lời nhạc của ông có rất nhiều cách chơi chữ để làm người nghe lẫn lộn, thường là để tiếu lâm, khiêu khích, diễu cợt hay chống đối. Những cách chơi chữ thường xuyên trong các bài hát của ông gồm mondegreen (nói một chữ nghe nhầm thành chữ khác), onomatopoeia (chữ có âm lấy từ một âm thanh nào đó, như chích chích, meo meo), rhyme (vần), spoonerism (nói lái), dysphemism (tiếng lóng xúc phạm), paraprosdokian (chữ ngược lại với mong đợi của đọc giả từ các lời lẽ trước đó) and pun (chữ cuối cùng, đầy ngạc nhiên làm câu chuyện thành chuyện hài).

Serge Gainsbourg viết tổng cộng 550 bài hát, đã được nhiều ca nhạc sĩ ghi âm hơn 1000 lần. Từ lúc ông qua đời, nhạc của ông đã đạt vị trí huyền thoại ở Pháp. Ông cũng có nhiều người hâm mộ trong thế giới tiếng Anh và nhiều nhạc sĩ chịu ảnh hưởng hòa âm của ông.

Serge Gainsbourg (1981).
Serge Gainsbourg (1981).

Sinh ra ở Pháp, Serge Gainsbourg là con của cặp vợ chồng người Ukraine gốc Do Thái, Joseph và Olga Ginsburg, di dân sang pháp sau cách mạng Cộng sản Nga 1917. Joseph Ginsburg là nhạc sĩ đã học nhạc cổ điển và chơi dương cầm trong các nơi trình diễn vũ nhạc và các sòng bài, ông dạy Serge Gainsbourg và em gái song sinh Liliane chơi dương cầm.

Tuổi thơ của Serge Gainsbourg bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự chiếm đóng nước Pháp của quân Đức Quốc Xã. Ngôi sao vàng 6 cánh mà mọi người Do Thái bị bắt phải mang trở thành một biểu tượng và ám ảnh ông và được chuyển thành các gợi hứng sáng tạo cho những năm sau này. Trong thời chiếm đóng, gia đình ông, nhờ thông hành giả, đến được thành phố Limoges, thủ phủ của vùng tự do của Pháp chưa bị Đức chiếm đóng, vẫn đang trong tay chính phủ Pháp Vichy và là nơi ẩn trốn không chắc chắn cho người gốc Do Thái. Sau Thế chiến thứ 2 Serge Gainsbourg được việc dạy nhạc và vẽ tại một trường ở bên ngoài Paris, tại Mesnik-Le-Roi. Trường này được các giáo sĩ Do Thái thành lập cho các trẻ em mồ côi có cha mẹ đã bị giết trong các trại tập trung. Ở đây Gainsbourg được nghe các chuyện về bắt bớ, ngược đãi và giết người trong các trại tập trung, ảnh hưởng đến ông cả đời. Trước khi được 30 tuổi, ông đã là một họa sĩ vỡ mộng nhưng kiếm tiền bằng chơi piano trong các quán rượu.

Serge Gainsbourg đổi tên mình thành Serge, cho rằng tên này biểu hiện bối cảnh Nga của đời ông, và đổi họ thành Gainsbourg vì ông ái mộ họa sĩ Thomas Gainsboroough.

Ông cưới Elisabeth “Lize” Leietsky năm 1951 và ly dị năm 1957. Lấy vợ lần thứ hai năm 1964, cưới Françoise-Antoinette “Béatrice” Pancrazzi (sinh 28.7.1931) và có hai con với bà: con gái Natacha (sinh năm 1964) và con trai Paul (sinh năm 1968). Ông ly dị Béatrice năm 1966.

Khoảng gần cuối năm 1967 ông quan hệ tình cảm với sao điện ảnh Pháp Brigitte Bardot, người được ông đề tặng album nhạc “Tên tắt BB”.

Năm 1968 Gainsbourg có người yêu mới, một ca sĩ và diễn viên trẻ tên Jane Birkin, người ông gặp trong khi làm phim “Slogan”. Quan hệ của họ kéo dài một thập niên, nhưng không lập hôn thú chính thức. Năm 1971, họ có một con gái, Charlotte Gainsbourgh, sau này là ca sĩ và diễn viên.

Nữ tài tử điện ảnh Brigitte Bardot.
Nữ tài tử điện ảnh Brigitte Bardot.
Brigitte Bardot và Serge Gainsbourg.
Brigitte Bardot và Serge Gainsbourg.

Bạn gái cuối cùng của ông là Bambou, tức là Caroline Paulus, cháu nội của tướng Đức Friedrich Paulus, tướng chỉ huy trận tấn công Stalingrad của Nga (1942-1943), trận chiến được cho là lớn nhất và đổ máu trong lịch sử chiến tranh của loài người. Năm 1986, Bambou và ông có một con trai, Lucien. Năm 2010, Lise Levitzky phát hành cuốn sách “Lise và Lulu”, nói lên khả năng Serge Gainsbourg là người lưỡng tính (ái nam ái nữ).

Những bản nhạc đầu tiên của Serge Gainsbourg có ảnh hưởng của Boris Vian và phần lớn có hơi hướm nhạc phổ thông kiểu cũ của Pháp. Khoảng 1957, ông chơi nhạc bối cảnh cho ca sĩ Michèle Arnaud, ca sĩ chính của dàn vũ nhạc “Cabaret Milord l’Arsouille” của Paris. Cô này cho rằng nhạc của ông có vẻ quá tân kỳ và khiêu khích so với nhạc phổ thông cũ. Michèle Arnaud tình nguyện hát những bài hát của ông, và đẩy tên ông lên từ đó.

Sau đó Serge Gainsbourg bắt đầu thử nghiệm với nhiều thể loại khác nhau: nhạc jazz mới, “yé-yé” và “brit-pop” thập niên 1960s, funk, rock và reggae thập niên 1970s và nhạc điện tử thập niên 1980s.

Nhiều bản nhạc của ông có những đề tài tình dục quái gỡ, u uất hay tình dục. Một bài thành công sớm, “Le Poinçonneur des Lilas”, diễn tả một ngày trong đời của một người soát vé ở trạm xe điện ngầm Paris Metro, chuyên ấn lổ trên vé của hành khách. Gainsbourg tả công việc này nhàm chán đến độ anh soát vé nghĩ đến việc đóng một lổ vào đầu anh ta và được chôn trong một lổ khác.

Nữ tài tử điện ảnh Jane Birkin.
Nữ tài tử điện ảnh Jane Birkin.
Serge Gainsbourg và Jane Birkin.
Serge Gainsbourg và Jane Birkin.

Khi nhạc “yé-yé” vào Pháp, Serge Gainsbourg đã 32 tuổi và cảm thấy bất ổn. Ông dành nhiều thời gian với ca nhạc sĩ Jacques Brel và ca sĩ Juliette Greco, nhưng đám đông cũng như các nhà bình luận chê ông, phê phán tai và mũi của ông. Trong thời này, ông và ca sĩ Juliette Greco làm việc chung với nhau, kết quả là bài hát “La Javanaise” vào mùa thu 1962.

Năm 1964, Serge Gainsbourg gặp Elek Bacsik và Michel Gaudry và hỏi họ làm một đĩa nhạc với ông. Kết quả là “Confidentiel” với màu sắc nhạc Jazz mới, làm hài lòng Serge Gainsbourg, dù ông biết rằng âm điệu đó không thể làm ông thành công. Đĩa này bán được 1500 đĩa.

Năm 1965 ông thành công hơn với bài “Poupée De Cire, Poupée De Son” được đại diện Luxembourg để dự thi “Eurovision Song Contest”, được trình bày bởi ca sĩ teen Pháp, France Gall, bản nhạc thắng giải nhất. Sau đó, bài hát được ghi âm tiếng Anh với tên “A Lone Singing Doll” bởi ca sĩ teen người Anh, Twinkle.

Bài kế tiếp của ông cho ca sĩ France Gall là “Les Sucettes” (“Kẹp Mút”), tạo xì căng đan ở Pháp: Serge Gainsbourg viết bài hát với nghĩa đôi và ám chỉ rõ ràng về tình dục nhưng cô ca sĩ không biết. Trong khi France Gall nghĩ đến bài hát về một cô gái ăn mút kẹp mút, thì thực sự Serge Gainsbourg đang nói về khẩu dâm. Nhiều tranh cãi về bản nhạc đến, và dù nó là một “hit” lớn cho France Gall, sự nghiệp của cô bị đứng lại vài năm.

Ca sĩ France Gall.
Ca sĩ France Gall.

Serge Gainsbourg viết một số nhạc khác cho Gall, thuộc loại nhạc psychedelic (nhạc tâm thần) phổ thông cuối thập niên 1960s, một album trong số đó là “1968” album của France Gall. Một bản nhạc khác của Serge Gainsbourg “Boum Bada Boum” được tiểu quốc Monaco gởi dự thi năm 1967, do Minouche Barelli hát, được về hạng 5. Ông còn viết được một số nhạc phẩm “hit” cho các ca sĩ khác như “Comment Te Dire Adieu” cho Françoise Hardy, “Sous Le Soleil Exactement, Ne Dis Rien” cho Anna Karina, và “Les Papillons Noirs” cho Michèle Arnaud.

Năm 1969 ông phát hành “Je T’aime… Moi Non Plus”, có lời nhạc tình dục và âm thanh của phụ nữ đến đỉnh. Bài hát trước đó dự định ghi âm với Brigitte Bardot, nhưng sau đó chuyển sang cho Jane Birkin, bạn gái tương lai của Gainsbourgh khi Brigitte Bardot đổi ý.

Serge iansbourg gọi đó là “bản tình ca rốt ráo”, nhưng bản nhạc được xem là “quá nóng”, và bị cấm hát tại một số quốc gia, ngay cả phiên bản nhẹ nhàng hơn ở Pháp cũng bị cấm. Tòa thánh Vatican tuyên bố bài hát “công xúc”. Dù là gây nhiều tranh cãi, bài hát bán rất chạy và lên đến “Top 10” tại nhiều quốc gia Âu Châu.

Serge Gainsbourg viết khoảng 60 nhạc cho khoảng 60 phim và chương trình truyền hình. Sau khi chết, ông được giải “César Award for Best Music Written for a Film” cho phim “Élisa”, cùng với Zbigniew Preisner và Michel Colombier.

Ông mất ngày 2 tháng 3, 1991 vì động tim, chỉ còn một tháng là sẽ được 63 tuổi. Ông được chôn cất trong khu Do Thái của nghĩa trang Montparnasse Cemetery ở Paris. Tổng thống Pháp François Mitterrand nói về ông: “Ông là [thi sĩ] Baudelaire, [thi sĩ] Apollinaire của chúng ta… Ông đưa các bài hát lên tầng nghệ thuật.”

Nhà của ông tại đia chỉ nổi tiếng, 5 bis Rue de Verneuil, ngày nay vẫn còn đầy hình vẽ trên tường và thi ca của ông.

“Poupée De Cire, Poupée De Son” là nhạc phẩm thắng giải Eurovision Song Contest năm 1965, do ca sĩ người Pháp, France Gall, đại diện cho Luxembourg trình bày. “Poupée De Cire, Poupée De Son” được vinh danh là một trong 14 nhạc phẩm Eurovision hay nhất trong ngày kỷ niệm “50 năm Eurovision Song Contest” được tổ chức tháng 10 năm 2005. Ngay sau khi đoạt giải, phiên bản đĩa đơn “Poupée De Cire, Poupée De Son” bán ra 16.000 đĩa ở Pháp; bốn tháng sau con số này vượt lên hơn 500.000 đĩa.

“Poupée De Cire, Poupée De Son” du nhập vào Việt Nam cuối thập niên 1960s được nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng đặt lời Việt dưới tựa đề “Búp Bê Không Tình Yêu” do ca sĩ Thanh Lan thu âm phát hành trước tiên, tiếp theo có nhiều ca sĩ chuyên trị nhạc Pháp khác ở Sài Gòn thời đó. Sau này tại hải ngoại ca sĩ Ngọc Lan phát hành một phiên bản riêng cho cô.

bupbe_phap

bupbe_phap1

bupbe_phap2

Nhạc phẩm “Poupée De Cire, Poupée De Son” (Tác giả: Serge Gainsbourg)

Je suis une poupe de cire
Une poupe de son
Mon coeur est grav dans mes chansons
Poupe de cire poupe de son
Suis-je meilleure suis-je pire
Qu’une poupe de salon
Je vois la vie en rose bonbon
Poupe de cire poupe de son

Mes disques sont un miroir
Dans lequel chacun peut me voir
Je suis partout la fois
Brise en mille clats de voix

Autour de moi j’entends rire
Les poupes de chiffon
Celles qui dansent sur mes chansons
Poupe de cire poupe de son

Elles se laissent sduire
Pour un oui pour un non
L’amour n’est pas que dans les chansons
Poupe de cire poupe de son

Mes disques sont un miroir
Dans lequel chacun peut me voir
Je suis partout la fois
Brise en mille clats de voix

Seule parfois je soupire
Je me dis quoi bon
Chanter ainsi l’amour sans raison
Sans rien connatre des garons

Je n’suis qu’une poupe de cire
Qu’une poupe de son
Sous le soleil de mes cheveux blonds
Poupe de cire poupe de son

Mais un jour je vivrai mes chansons
Poupe de cire poupe de son
Sans craindre la chaleur des garons
Poupe de cire poupe de son

Nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng.
Nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng.

bupbe_viet1

bupbe_viet2

bupbe_viet3

Nhạc phẩm “Búp Bê Không Tình Yêu” (“Poupée De Cire, Poupée De Son” – Lời Việt: Vũ Xuân Hùng)

Tôi như con búp bê bằng nhựa
Một thứ búp bê thật xinh xắn
Đừng để trong trái tim nghìn muôn ca khúc buồn vui nhớ mong khóc thương mơ mộng

Sáng láng tươi vui như hàng ngàn vạn búp bê xinh nằm khung kính
Nhìn đời mê đắm như càng thêm thơ ấu
Lòng như đóa hoa trong ngày đầu xuân

Thơ ngây vui ca dưới nắng hồng
Tâm hồn dại khờ chẳng giấu chút gì
Rong chơi vui ca suốt tháng ngày
Vấn đề hàng ngàn hàng vạn đều ca

Có lúc tôi nghe tim sao buồn
Và nước mắt êm đềm rơi xuống
Trọn đời ca hát cho tình yêu ai đó
Còn tôi tháng năm mãi sầu đơn đông

Tôi như con búp bê bằng nhựa
Một thứ búp bê thật xinh xắn
Mặt trời trên tóc nhưng lòng sao băng giá
Vì sao búp bê thiếu một tình yêu

Dưới đây mình có 7 clips tổng hợp nhạc phẩm “Búp Bê Không Tình Yêu” (“Poupée De Cire, Poupée De Son”) do các ca sĩ nổi tiếng trên thế giới trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

oOOo

Poupée De Cire, Poupée De Son – Ca sĩ France Gall:

 

Poupée De Cire, Poupée De Son – Ca sĩ Jenifer:

 

Poupée De Cire, Poupée De Son – Nhóm The Hillbilly Moon:

 

Poupée De Cire, Poupée De Son – Ca sĩ Therion:

 

Búp Bê Không Tình Yêu (song ngữ) – Ca sĩ Thanh Mai (Việt), Thanh Lan (Pháp):

 

Búp Bê Không Tình Yêu – Ca sĩ Ngọc Lan (song ngữ):

 

Búp Bê Không Tình Yêu – Ca sĩ Đồng Lan (song ngữ Pháp-Việt)

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s