sfair_ĐB1

Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Dân Ca Dân Nhạc – “Giàn Thiên Lý Đã Xa” (“Scarborough Fair”)

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bài dân ca truyền thống của người Anh vùng Yorkshire “Giàn Thiên Lý Đã Xa” (“Scarborough Fair”, “Chèvrefeuille Que Tu Es Loin”) của các nhạc sĩ Paul Simon & Arthur “Art” Garfunkel, Pierre DelanoePhạm Duy.

“Scarborough Fair” là một bài hát dân ca Anh thuộc địa phận Yorkshire, Scarborough. Nội dung bài hát nói về một thanh niên dặn dò các khán thính giả nghe anh hát nhắn dùm lại với người yêu cũ của anh rằng nếu như cô ấy làm được cho anh những điều mà cô không thể làm, như may chiếc áo cho anh không có mũi kim đường chỉ rồi đem đi giặt trong cái giếng không có nước, thì anh ta mới đón cô trở lại. Bài hát thường được hát theo thể cách với hai người, một nam một nữ, bên nữ cũng có những điều kiện tương tự như thế hát đối lại với bên nam và hứa hẹn sẽ trao chiếc áo được đòi hỏi khi cô hoàn tất.

Lời ca của bài hát có nhiều điểm tương đồng với bài ca dân giả của người Scottish ít người biết đến, “The Elfin Knight” (“Child Ballad #2”), đã được tìm thấy từ năm 1670 hay là sớm hơn. Nội dung bài hát này là một chú Elk dọa bắt cóc một thiếu nữ để làm người tình của chú ngoại trừ khi cô có thể hoàn thành những điều không thể làm (“For thou must shape a sark to me / Without any cut or heme, quoth he”); và cô ta đã trả lời bằng giao hẹn một chuỗi công việc chú cần phải làm trước (“I have an aiker of good ley-land / Which lyeth low by yon sea-strand”) trước khi được cô ưng thuận.

Âm hưởng bài hát theo phong cách Dorian, rất thường có trong tiếng Anh thời Trung Cỗ.

Khi bài hát được phổ biến, đã được người ta chuyển thể, chỉnh sửa, và viết lại lời đến thời điểm mà bài hát đã có khoảng một tá lời khác nhau vào thế kỷ 18th, dù rằng chỉ có vài ba lời được dùng hiện nay. Điểm nhấn mạnh vào truyền thống hội chợ người Anh, “Scarborough Fair” và câu được lập đi lập lại nhiều lần “Parsley, sage, rosemary, and thyme” là ấn bản có lịch sử thời thế kỷ 19th, và câu này có thể được mượn từ bài dân ca “Riddles Wisely Expounded” (Child Ballad #1), vì có điểm tương đồng. Một số ấn bản cổ hướng dẫn đến những địa điểm khác ngoài “Scarborough Fair”, trong số đó có “Wittingham Fair”, “Cape Ann”, “twixt Berwik and Lyne”, etc… Nhiều ấn bản không nói đến địa danh nên thường được người ta gán cho các tên như “The Lovers’ Tasks”, “My Father Gave Me an Acre of Land”, etc…

sfair_Scarborough Fair

Là một bài hát nổi tiếng và được phổ biến rộng rải nên nó có rất nhiều phiên bản. Phiên bản dưới đây dành cho một đôi song ca người nữ và người nam, có tên của địa danh nơi xãy ra hội chợ, đã trở thành tựa đề của bài hát:

(Nam):

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Remember me to the one who lives there,
For once she was a true love of mine.

Tell her to make me a cambric shirt,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Without any seam or needlework,
Then she shall be a true love of mine.

Tell her to wash it in yonder well,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Where never sprung water or rain ever fell,
And she shall be a true lover of mine.

Tell her to dry it on yonder thorn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Which never bore blossom since Adam was born,
Then she shall be a true lover of mine.

(Nữ):

Now he has asked me questions three,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
I hope he’ll answer as many for me,
Before he shall be a true lover of mine.

Tell him to buy me an acre of land,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Between the salt water and the sea sand,
Then he shall be a true lover of mine.

Tell him to plough it with a ram’s horn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And sow it all over with one pepper corn,
And he shall be a true lover of mine.

Tell him to sheer’t with a sickle of leather,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And bind it up with a peacock’s feather,
And he shall be a true lover of mine.

Tell him to thrash it on yonder wall,
Parsley, sage, rosemary, and thyme,
And never let one corn of it fall,
Then he shall be a true lover of mine.

When he has done and finished his work.
Parsley, sage, rosemary, and thyme:
Oh, tell him to come and he’ll have his shirt,
And he shall be a true lover of mine.

Ấn bản thu âm thương mãi sớm nhất của bài hát do diễn viên/ca sĩ Gordon Heath và Lee Payant, hai người là chủ của quán cà phê và vũ trường L’Abbaye ở Rive Gauche, Paris. Họ thu âm bài hát trong Elektra, album “Encores From The Abbaye” in 1955. Ấn bản họ dùng là nhạc trong bộ sưu tập nhạc truyền thống của Frank Kidson, xuất bản năm 1891, được ghi nhận “như đã hát trên các đường phố Whitby từ hai hoặc 30 năm về trước” – đó là, vào khoảng năm 1860s.

sfair_HN1

“Scarborough Fair” cũng nằm trong album “The English And Scottish Popular Ballads” của A. L. Lloyd năm 1955, dùng ấn bản của Kidson’s, nhưng ấn bản này đã được biến tác bởi Simon & Garfunkel trong tác phẩm “Scarborough Fair/Canticle” được thu âm đầu tiên trong album “English Folk Songs” năm 1956 bởi Audrey Coppard.

Tiếp theo bài hát lại được nằm trong album “The Singing Island” của Ewan MacColl và Peggy Seeger, kế đến là album “False True Lovers” của Shirley Collins năm 1959. Rất có thể cả hai người Coppard và Collins học được từ MacColl, người tuyên bố rằng đã sưu tầm được từng đoạn từ một người phu làm mõ người Scottish. Dù sao, theo Alan Lomax, nguồn của MacColl có thể là từ Cecil Sharp’s “One Hundred English Folk Songs”, được xuất bản năm 1916.

Tháng 4 năm 1966, ca sĩ Marianne Faithfull thu âm và phát hành “Scarborough Fair” theo phong cách của cô trong album “North Country Maid” khoảng 6 tháng trước khi Simon & Garfunkel phát hành bài hát theo phong cách đĩa đơn của họ tháng 10 năm 1966.

Paul Simon học được bài “Scarborough Fair” ở London năm 1965 từ Martin Carthy, người nhận được bài hát này từ bộ sưu tập nhạc của Ewan MacColl và Peggy Seeger rồi cho nó vào album “thương hiệu” của ông năm 1965. Simon & Garfunkel gộp “Scarborough Fair” chung với “Canticle” – bài hát được viết lại lời từ bài nhạc phản chiến của Paul Simon năm 1963, “The Side of a Hill”, được Art Garfunkel soạn nhạc lại. Ấn bản mới này là bài chính trong album “Parsley, Sage, Rosemary and Thyme” được phát hành năm 1966 và đã được dùng làm nhạc nền cho phim “The Graduate” năm 1968.

Bản quyền tác giả chỉ ghi có tên của Simon và Garfunkel, gây nên sự mất lòng về phía Martin Carthy, vì ông cho rằng nguồn gốc cổ truyền thống của bài hát cần phải được ghi nhận. sự mất lòng này kéo dài cho đến khi Simon mời Martin Carthy cùng trình diễn chung bài hát tại “London Concert” năm 2000.

Simon cũng từng trình diễn “Scarborough Fair” khi ông xuất hiện là khách trong show truyền hình “The Muppet Show”.

Simon & Garfunkel.
Simon & Garfunkel.

Simon & Garfunkel là ban song ca người Mỹ gồm hai thành viên: ca sĩ/nhạc sĩ Paul Simon và ca sĩ Art Garfunkel. Hai người cùng thành lập nhóm nhạc có tên Tom & Jerry năm 1957 và đạt thành công đầu tiên với một hit nhỏ “Hey Schoolgirl”. Dưới cái tên Simon & Garfunkel, cặp song ca bắt đầu giành được sự chú ý bằng hit lớn “The Sound of Silence”. Âm nhạc của họ tiếp tục được phổ biến rộng rãi nhờ việc phụ trách phần nhạc phim của bộ phim nổi tiếng do Mike Nichols làm đạo diễn “The Graduate”.

Simon & Garfunkel đặc biệt nổi tiếng nhờ nghệ thuật hòa âm độc đáo có một không hai, đã đưa họ trở thành một trong những nghệ sĩ thành công nhất của thập niên 60. Những hit lớn của họ bao gồm:“The Sound of Silence”, “Bridge over Troubled Water”, “Homeward Bound”, “A Hazy shade of winter”,”Mrs Robinson”, “The Boxer”, ” Cecilia”“Scarborough Fair/Canticle” xếp vị trí thứ nhất trên một vài bảng xếp hạng. Đôi song ca cũng đã nhận được 9 giải Grammy, được vinh danh tại “Rock & Roll Hall of Fame” năm 1990 và “Long Island Music Hall of Fame” năm 2007.

Mối quan hệ thỉnh thoảng không mấy tốt đẹp giữa hai thành viên đã dẫn tới album cuối cùng được phát hành vào năm 1970 “Bridge over Troubled Water” sau nhiều tháng bị trì hoãn cùng những bất đồng trong quan điểm nghệ thuật, sau đó Simon & Garfunkel tan rã. “Bridge Over Troubled Water” là album thành công nhất của đôi song ca, xếp vị trí thứ nhất trên nhiều bảng xếp hạng, trong đó có Anh, Mỹ, nhận được 8 chứng nhận Đĩa Bạch Kim, đồng thời xếp thứ nhất trong số những album bán chạy số một tại Mỹ, thứ hai toàn thế giới. Sau khi đường ai nấy đi, Simon & Garfunkel thỉnh thoảng tái hợp một vài lần, trong đó nổi tiếng nhất là buổi hòa nhạc miễn phí tại Central Park năm 1981, thu hút hơn 500,000 khán giả, xếp thứ 7 trong số những buổi biểu diễn được chú ý nhất trong lịch sử. Năm 2004, cặp song ca được Tạp chí âm nhạc Rolling Stone xếp hạng 40 trong số 100 nghệ sĩ lớn nhất mọi thời đại.

Là bạn thân từ thuở ấu thơ, Paul Simon (sinh ngày 13/10/1941) và Arthur Garfunkel (sinh ngày 5/11/1941) cùng lớn lên tại Forest Hills, Queens, NYC, chỉ cách nhau vài tòa nhà. Họ gặp nhau lần đầu tại trường tiểu học PS164 năm 1953 trong vở kịch tốt nghiệp “Alice Ở Xứ Sở Diệu Kỳ” (Simon vào vai White Rabbit còn Garfunkel vào vai Cheshire Cat). Cả hai đều là bạn học tại trường cơ sở Parson, trường trung học Forest Hills và bắt đầu biểu diễn chung từ những năm cấp 2 dưới cái tên Tom & Jerry (Simon là Jerry Landish còn Garfunkel là Tom Graph). Họ bắt đầu tự viết bài hát của riêng mình vào năm 1955 và có ghi âm chuyên nghiệp đầu tiên “Hey Schoolgirl” cho hãng Big Records năm 1957. Được phát hành dưới dạng đĩa vinyl 45 rpm và 78 rpm có kèm theo một bài hát tên “Dancin’ Wild”, single “Hey Schoolgirl” leo lên vị trí 49 trên bảng xếp hạng của tạp chí Billboard. Cả Simon & Garfunkel đều thừa nhận chịu ảnh hưởng rất lớn của The Everly Brothers và hầu hết những bài hát thời kỳ đầu của họ đều thể hiện rất rõ những nét ảnh hưởng này.

Năm 1963, Simon bắt đầu cảm thấy hứng thú với bối cảnh nhạc folk thời bấy giờ, ông bắt đầu thay đổi phong cách viết nhạc viết những bài hát trưởng thành hơn trong giai điệu và nội dung, Simon cũng đã cho Garfunkel xem một số bài hát mà sau này có mặt trong album đầu tiên của họ “Sparrow”, “Bleecker Street”“He Was My Brother”, bài hát tưởng nhớ Andrew Goodman, người bạn cùng lớp trước đây của Paul Simon, một trong ba công nhân bị giết trong vụ đấu tranh quyền công dân ở Neshoba County, Mississippi ngày 21/6/1964.

Năm 1964, cặp song ca có lần ra mắt đầu tiên với hãng ghi âm Columbia Records, Clive Davis, giám đốc của hãng lúc bấy giờ đã quyết định ký với hai người hợp đồng đầu tiên và gọi họ dưới tên thật: Simon & Garfunkel. Album thứ nhất của nhóm có tên “Wednesday Morning 3AM” được phát hành vào ngày 19/10/1964 ban đầu thất bại về thương mại và không nhận được bất kỳ tín hiệu tốt nào từ giới phê bình.

Simon & Garfunkel.
Simon & Garfunkel.

Khi Simon đang ở Anh, mùa hè năm 1965, đài radio ở quanh vùng Cocoa Beach và Gainesville, Florida bắt đầu nhận được những yêu cầu cho một ca khúc trong “Wednesday Morning 3AM” có tên “The Sound of Silence”. Ca khúc này cũng đã được phát trên làn sóng radio ở Boston. Nắm lấy cơ hội đó, nhà sản xuất người Mỹ, Tom Wilson, lấy cảm hứng từ thành công lớn của The Byrds trên phiên bản ghi ta điện những ca khúc của Bob Dylan đã cùng với ban nhạc cộng tác với Bob Dylan trước đó trong ca khúc hit “Like A Rolling Stone” phối thêm tiếng ghi ta điện, ghi ta bass, trống vào bản “The Sound of Silence” gốc rồi phát hành lại nó dưới dạng single kèm theo một ca khúc “We’ve Got a Groovy Thing Goin”. Ngay cả Paul Simon cũng hoàn toàn không hề biết về điều này cho đến khi ca khúc lọt vào Top 40. Đầu năm 1966, ca khúc vươn lên vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Billboard.

Năm 1966, Paul Simon trở về Mỹ tái hợp với Art Garfunkel, hai người cùng ghi âm một số bài hát với phong cách tương tự như “The Sound Of Silence” nhưng không thành công. Ngày 17/2/1966, Simon & Garfunkel phát hành album “Sounds Of Silence”, album xếp hạng 21 trên Billboard Top Album, chủ yếu nhờ thành công của bài hát nhan đề, trong khi “Wednesday Morning 3AM” cũng được phát hành lại đạt hạng 30. Cùng vào đó là các bài hát Simon trước đã ghi âm trong The Paul Simon Songbook được phối lại trên phiên bản ghi ta điện như “I Am a Rock”(single vươn lên vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng mùa hè năm 1966), “Leaves That Are Green”, “A Most Peculiar Man”, “April Come She Will”, “Kathy’s Song”.

Nhiều ca khúc hit đã liên tục ra đời, bao gồm “Scarborough Fair/Canticle”, được viết lại bởi Martin Carthy dựa trên một bài dân ca cổ của Anh và “Homeward Bound” (single sau đó đã vươn lên hạng 5 tại Mỹ) được Paul Simon viết khi ông đang trên đường biểu diễn trong các câu lạc bộ folk khắp nước Anh năm 1965.

Kể từ năm 1969, những chuyến lưu diễn liên tục cùng những bất đồng quan điểm khiến quan hệ giữa hai thành viên trong ban nhạc ngày một xấu đi. Art Garfunkel bắt đầu theo đuổi niêm đam mê mới với điện ảnh bằng việc tham gia vai diễn Nately trong bộ phim làm trên đề tài Thế chiến 2 Catch-22 của Đạo diễn Mike Nichols. Vai diễn kéo dài 5 tháng khiến Garfunkel phải bay đến México, bỏ lại Simon ở lại New York một mình sáng tác và ghi âm.

Cùng thời gian đó chương trình truyền hình đặc biệt ngày 30/12/1969 Songs of America có quay lại cảnh ghi âm trong studio, các cuộc phỏng vấn, những cảnh hậu trường dọc chuyến lưu diễn của Simon & Garfunkel cuối năm 1969, đã bị từ chối phát sóng bởi liên quan quá nhiều đến chính trị, đặc biệt là cuộc chiến tranh Việt Nam.

Năm 1970, cặp song ca tan rã. Đường ai nấy đi Paul Simon tiếp tục theo đuổi sự nghiệp solo thành công, đỉnh cao là album “Graceland” với sự pha trộn của nhạc pop Mỹ cùng những âm thanh châu Phi. Trong khi đó Art Garfunkel duy trì song song giữa đóng phim và ca hát, không viết nhạc hay chơi bất cứ nhạc cụ nào khi còn ở trong Simon & Garfunkel, ông hợp tác với nhiều nghệ sĩ sáng tác bài hát khác, trong đó phải kể đến Jimmy Webb.

Ngay từ những ngày tháng đẩu tiên cho đến tận sau khi tan rã, Simon & Garfunkel luôn có một ảnh hưởng rộng rãi trong nền văn hóa đại chúng Mỹ được chứng tỏ bằng hàng loạt những bản cover các ca khúc nổi tiếng của họ, những bộ phim, những show truyền hình trên ti vi và rất nhiều lĩnh vực khác đều có thể bắt gặp bóng dáng dù ít hay nhiều của đôi song ca này.

Simon & Garfunkel.
Simon & Garfunkel.

sfair_Scarborough Fair-english1

sfair_Scarborough Fair-english2

sfair_Scarborough Fair-english3

sfair_Scarborough Fair-english4

“Scarborough Fair” (phiên bản “Scarborough Fair/Canticle” của Paul Simon và Arthur “Art” Garfunkel)

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine

Tell her to make me a cambric shirt

Parsely, sage, rosemary & thyme
(Tracing a sparrow on snow-crested ground)
Without no seams nor needlework
(Blankets and bedclothes a child of the mountains)
Then she’ll be a true love of mine
(Sleeps unaware of the clarion call)

Tell her to find me an acre of land

Parsely, sage, rosemary, & thyme
(Washed is the ground with so many tears)
Between the salt water and the sea strand
(A soldier cleans and polishes a gun)
Then she’ll be a true love of mine

Tell her to reap it in a sickle of leather

Parsely, sage, rosemary & thyme
(Generals order their soldiers to kill)
And to gather it all in a bunch of heather
(And to fight for a cause they’ve long ago forgotten)
Then she’ll be a true love of mine

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine.

Nhạc sĩ Pierre Delanoë.
Nhạc sĩ Pierre Delanoë.

“Chèvrefeuille Que Tu Es Loin” (“Scarborough Fair” – bản tiếng Pháp của Pierre Delanoe)

Pauvre garçon qui pense au pays
Chèvrefeuille que tu es loin
Pauvre garçon que l’amour oublie
Un peu plus à chaque matin

Veux-tu ma belle tailler pour moi
Chèvrefeuille que tu es loin
Une chemise dans les draps
Où naguère nous dormions si bien

Veux-tu me trouver un arpent de terre
Chèvrefeuille que tu es loin
Tout près de l’église au bord de la mer
Pour chanter mon dernier refrain

Maintenant je sais que c’est la fin du soleil
Chèvrefeuille que tu es loin
Et je voudrais que ce soit toi ma belle
Qui m’enterre de tes propres mains

Pauvre garçon qui pense au pays
Chèvrefeuille que tu es loin
Pauvre garçon que l’amour oublie
Un peu plus à chaque matin

Nhạc sĩ Phạm Duy.
Nhạc sĩ Phạm Duy.

sfair_Ôi Giàn Thiên Lý Đã Xa1

sfair_Ôi Giàn Thiên Lý Đã Xa2

“Giàn Thiên Lý Đã Xa” (“Scarborough Fair” – bản tiếng Việt của NS Phạm Duy)

Tội nghiệp thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà.
Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa.
Đứa bé lỡ yêu, đã lỡ yêu cô em rồi.
Tình đã quên mỗi sớm mai lặng trôi.

Này, này nàng hỡi, nhớ may áo cho người.
Giàn thiên lý đã xa tít mù khơi.
Tấm áo cắt ngay đã cắt trên khăn mượt mà.
Là chiếc chăn đắp chung những ngày qua.

Tìm một miếng đất cho gã si tình.
Giàn thiên lý đã xa mãi ngàn xăm
Miếng đất cắt hoang, miếng đất ngay bên giáo đường.
Biển sẽ ru tiếng hát bên trùng dương.

Giờ đã đến lúc tan ánh mặt trời.
Giàn thiên lý đã xa mãi người ơi.
Lấp đất hố tôi, lấp nối đôi tay cô nàng.
Thì hãy chôn trái tim non buồn tênh.

Dưới đây mình có bài:

– SCARBOROUGH FAIR (Giàn thiên lý đã xa) – Ca khúc truyền thống Anh quốc

Cùng với 11 clips tổng hợp bài hát “Giàn Thiên Lý Đã Xa” (“Scarborough Fair”, “Chèvrefeuille Que Tu Es Loin”) do các ca sĩ lừng danh trên thế giới trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

sfair_HN1

SCARBOROUGH FAIR (Giàn thiên lý đã xa) – Ca khúc truyền thống Anh quốc

(Hoài Nam)

Tiếp tục giới thiệu những ca khúc dân gian điển hình, kỳ này chúng tôi viết về bản Scarborough Fair, một ca khúc truyền thống lãng mạn (traditional ballad) của Anh quốc, hay viết một cách chính xác hơn, là của vùng Yorkshire ở miền Bắc hòn đảo Anh-cát-lợi.

Trước năm 1975, ca khúc này đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Giàn thiên lý đã xa, dịch từ lời Pháp có tựa Chèvrefeuille que tu es loin.

Scarborough Fair nguyên là tên gọi hội chợ thường niên ở thành phố cảng Scarborough, vùng Yorkshire, có từ thời Trung Cổ. Đây không chỉ là hội chợ lớn nhất của Anh quốc, mà còn của cả Âu Châu thời bấy giờ, thu hút giới doanh nhân và nghệ nhân từ các quốc gia ở tận Bắc Âu, vùng biển Baltic và Trung Cận Đông.

Scarborough Fair được chính thức khai sinh bởi sắc lệnh của vua Henri đệ Tam, ban hành ngày 22 tháng 1 năm 1253, theo đó hội chợ sẽ kéo dài 45 ngày, từ Lễ Đức Trinh Nữ Maria lên trời (Feast of the Assumption of the Blessed Virgin Mary) cho tới Lễ kính Thánh Mi-ca-e (Feast of St Michael); tính theo lịch Công giáo La-mã hiện nay là từ ngày 15 tháng 8 tới ngày 29 tháng 9.

Sau 5 thế kỷ, do sự cạnh tranh của các hội chợ quốc tế khác, Scarborough Fair chính thức chấm dứt hoạt động vào năm 1788 (ngày nay chỉ còn những sinh hoạt “diễn lại” để thu hút du khách), nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi trong dân gian Anh-cát-lợi, Tô-cách-lan, Ái-nhĩ-lan. Trong dư âm ấy, có khúc hát dân gian Scarborough Fair.

sfair_HN2

Nội dung ca khúc là lời một chàng trai đã từng sống ở Scarborough và yêu một cô gái ở nơi ấy. Nay anh nhờ mọi người (những người đang nghe chàng hát) khi tới hội chợ hãy nhắn với cô gái rằng: nếu cô thực hiện được những công việc “không thể thực hiện” do chàng đưa ra, chẳng hạn, may cho chàng cái áo sơ-mi không có một đường kim mũi chỉ, rồi giặt cái áo ấy dưới một cái giếng khô…, chàng sẽ mở rộng vòng tay đón cô trở lại.

Theo thời gian, lời hát của ca khúc này được dân gian biến cải tùy theo địa phương, và tính cho tới cuối thế kỷ thứ 18, đã có hàng chục lời hát khác nhau, trong đó có lời hát dưới dạng đối đáp của một đôi nam nữ: nàng ra điều kiện ngược lại là chàng phải thực hiện được những công việc “không thể thực hiện” do nàng đưa ra, thì nàng mới may cho chàng cái áo không có đường kim mũi chỉ kia.

SCARBOROUGH FAIR (ấn bản 1889)

(1) NAM:

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Remember me to one who lives there,
She was once a true love of mine.

*

Tell her to make me a cambric shirt,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Without a seam or needlework,
She will be a true love of mine.

*

Tell her to wash it in yonder dry well,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Where never spring water or rain ever fell,
She will be a true love of mine.

*

Tell her to dry it on yonder grey thorn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Which never bore blossom since Adam was born,
She will be a true love of mine.

(2) NỮ:

Now he has asked me questions three,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
I hope he’ll answer as many for me
Before he shall be a true love of mine.

*

Tell him to buy me an acre of land,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Betwixt the salt water and the sea sand,
Then he shall be a true love of mine.

*

Tell him to plough it with a ram’s horn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And sow it all over with one pepper corn,
And he shall be a true love of mine.

*

Tell him to shear it with a sickle of leather,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And bind it up with a peacock feather.
And he shall be a true love of mine.
Tell him to thrash it on yonder wall,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And never let one corn of it fall,
Then he shall be a true love of mine.

*

When he has done and finished his work.
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Oh, tell him to come and he’ll have his shirt,
And he shall be a true love of mine.

Trong trường hợp chỉ hát lời (1), tùy theo người hát là nam hay nữ, những chữ “she”, “her” sẽ được đổi thành “he”, “him”.

Riêng câu “Parsley, sage, rosemary, and thyme” (ngò tây, ngải thơm, hương thảo, húng tây) được lập lại trong mỗi phiên khúc, với đa số thính giả trên thế giới thì thật khó hiểu, phải là người Anh, Tô-cách-lan, Ái-nhĩ-lan mới biết rằng vào thời xa xưa, bốn giống rau thơm này tượng trưng cho những đức tính của người con gái, và trong trường hợp của ca khúc Scarborough Fair, trang mạng Askville của Amazon giải thích: “they symbolize virtues the singer wishes his true love to have, in order to make it possible for her to come back again.”

Nói cách khác, ngày xưa người Anh sánh phụ nữ với rau thơm (herbs) cũng tương tự như ngày nay họ ví đàn bà con gái như những bông hồng vậy.

Lần đầu tiên Scarborough Fair được phổ biến không dưới hình thức một ca khúc dân gian là vào năm 1941, khi giai điệu của Scarborough Fair được sử dụng làm nhạc nền cho cuốn phim Man Hunt của đạo diễn Mỹ Fritz Lang. Tới năm 1955, hai ca sĩ kiêm diễn viên Mỹ nhưng sinh sống tại Pháp là Gordon Heath và Lee Payant, lúc đó đang làm chủ phòng trà ca nhạc Rive Gauche ở Paris, là hai nghệ sĩ đầu tiên thu đĩa bản Scarborough Fair.

sfair_HN3

Tuy nhiên phải đợi 11 năm sau (1966), sau khi được đôi song ca Simon & Garfunkel của Mỹ soạn hòa âm, thu đĩa và phổ biến trong album lấy tên là Parsley, sage, rosemary, and thyme, Scarborough Fair mới nổi tiếng quốc tế.

Nói về Simon & Garfunkel, tính cho tới nay, vẫn được ghi nhận là đôi song ca tài ba nhất, được ái mộ nhất, bán ra nhiều đĩa nhất, đoạt nhiều giải thưởng nhất, được trao tặng nhiều vinh dự nhất trong lịch sử âm nhạc.

Simon & Garfunkel gồm hai thành viên Paul Simon và Arthur “Art” Garfunkel, cả hai đều sinh năm 1941 và cùng là ca nhạc sĩ (piano, guitar), nhà soạn nhạc, nhà viết ca khúc; riêng Art Garfunkel còn là một thi sĩ, và sau khi chuyển sang đóng phim, đã được xướng danh giải Trái Cầu Vàng (Golden Globe) về diễn xuất.

Chính thức thành lập năm 1964 và chia tay nhau năm 1970 (sau đó thỉnh thoảng lại tái hợp để trình diễn), Simon & Garfunkel có vô số ca khúc được lên “top”, trong đó được ưa chuộng nhất phải là ba bản The Sound of Silence (1964), Scarborough Fair/Canticle (1966), và Bridge over Troubled Water (1969).

Riêng bản Scarborough Fair/Canticle không chỉ được ưa chuộng mà còn gây tranh luận.

Thứ nhất, nhân dịp sang Luân-đôn vào năm 1965, Paul Simon được gặp gỡ đồng nghiệp Martin Carthy. Martin Carthy, cùng tuổi với Paul Simon, là ca nhạc sĩ có công lớn nhất trong việc khôi phục, quảng bá các ca khúc dân gian truyền thống của Anh nơi thế hệ trẻ, trong số đó có bản Scarborough Fair. Paul Simon trở về Hoa Kỳ mang theo ca khúc dân gian này, cùng với Art Garfunkel soạn hòa âm, rồi phối hợp với ca khúc Canticle của anh viết từ năm 1963, để cho ra đời bản Scarborough Fair/Canticle. Việc trên các ấn bản của ca khúc này chỉ ghi: ca khúc truyền thống của Anh, hòa âm của Paul Simon và Art Garfunkel, mà không hề nhắc tới tên tuổi của Martin Carthy đã bị nhiều người cho là một sự vô tình đáng trách.

Thứ hai, việc Paul Simon cho xen lẫn lời hát của ca khúc phản chiến Canticle vào một ca khúc dân gian lãng mạn đã gây bất mãn nơi một số thành phần thính giả không nhỏ.

Lời hát của Canticle:

On the side of a hill in the deep forest green
Tracing a sparrow on snow-crested ground
Blankets and bedclothes a child of the mountains
Sleeps unaware of the clarion call
On the side of a hill, a sprinkling of leaves
Washed is the ground with so many tears
A soldier cleans and polishes a gun
War bellows, blazing in scarlet battalions
Generals order their soldiers to kill
And to fight for a cause they’ve long ago forgotten.

Nhưng không một ai có thể phủ nhận chính nhờ hòa âm và nghệ thuật song ca của Simon & Garfunkel mà Scarborough Fair mới được hàng trăm triệu người trên thế giới biết tới, và ưa chuộng.

Từ ngày ấy (1966) tới nay, Scarborough Fair đã được rất nhiều ca sĩ nổi tiếng thu đĩa; lẽ dĩ nhiên là chỉ hát lời của ca khúc dân gian nguyên thủy chứ không hát thêm lời của bản Canticle.

Gregorian Band.
Gregorian Band.

Trong số ấy, chúng tôi chọn gửi tới quý độc giả hai đĩa … một vì tính cách phổ biến, một vì tính cách độc đáo. Đĩa phổ biến là của Sarah Brightman, nữ danh ca giọng soprano nổi tiếng của Anh mà chúng tôi đã đôi lần nhắc tới trong loạt bài này; còn đĩa độc đáo là của ban hợp ca Gregorian Band của Đức, hát theo hình thức vãn ca của Thiên chúa giáo.

[“Vãn ca”, còn được gọi là “bình ca”, tức “gregorian chant”, hoặc chỉ ngắn gọn là “gregorian” – được gọi theo tên nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo đã đề xướng thể loại thánh ca này là Đức Giáo hoàng Gregory I (540-604). Tới hậu bán thế kỷ thứ 20, “vãn ca” đã vượt khỏi khuôn viên giáo đường, và ban hợp ca nổi tiếng nhất trong việc ứng ụng hình thức hát thánh ca này vào nền nhạc pop chính là ban Gregorian Band, gồm 9 thành viên, thường được xưng tụng là Masters of Chants]

Tương tự trường hợp bản Donna Donna chúng tôi đã giới thiệu trong bài kỳ trước, bản Scarborough Fair cũng được đặt lời hát bằng tiếng Pháp với nội dung hoàn toàn khác, và cũng được ưa chuộng không thua gì nguyên tác.

Tác giả lời hát tiếng Pháp của Scarborough Fair là nhà soạn ca khúc và viết lời hát nổi tiếng Pierre Delanoe (1918-2006). Ông từng viết, hoặc viết chung hàng chục ca khúc cho các ca sĩ hàng đầu của Pháp, từ thế hệ trước như Édith Piaf, André Claveau, Gilbert Bécaud, Charles Aznavour cho tới đám trẻ như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Mireille Mathieu, Michel Sardou…

Pierre Delanoe (1918-2006),
Pierre Delanoe (1918-2006),

Năm 1958, ca khúc Dors, mon amour (Hãy yên giấc, người tình ta ơi) ông viết cho André Claveau tham dự cuộc thi ca khúc Âu Châu Eurovision đã đoạt giải nhất.

Trong số những bản nổi tiếng quốc tế của ông có Et maintenant và Je t’appartiens. Et maintenant sau này được đặt lời Anh với tựa What Now My Love, được rất nhiều ca sĩ và ban nhạc nổi tiếng trình bày, như Frank Sinatra, Barbra Streisand, Elvis Presley, The Supremes, Sonny & Cher, Herb Alpert & the Tijuana Brass, The Temptations…; còn Je t’appartiens được đặt lời Anh với tựa Let’s It Be Me, được The Everly Brothers, Bob Dylan, Willie Nelson, Tom Jones, Nina Simone… thu đĩa.

Năm 1967, ngay sau khi bản Scarborough Fair/Canticle do Simon & Garfunkel thu đĩa trở nên nổi tiếng quốc tế, Pierre Delanoe đã đặt lời Pháp cho ca khúc này với tựa Chèvrefeuille que tu es loin.

Sự tài tình của Pierre Delanoe là trong khi đặt lời hát mới với một nội dung khác hẳn, ông không chỉ duy trì được tính cách “dân gian” của ca khúc mà còn đem lại cho người nghe một cảm giác bâng khuâng trước câu chuyện nửa thực nửa hư, tương tự những gì mà ca khúc Scarborough Fair đã đem lại cho thính giả ở các xứ nói tiếng Anh.

Chèvrefeuille (“honeysuckle” trong tiếng Anh, “hoa kim ngân” trong tiếng Việt.
Chèvrefeuille (“honeysuckle” trong tiếng Anh, “hoa kim ngân” trong tiếng Việt.

CHÈVREFEUILLE QUE TU ES LOIN

Pauvre garçon qui pense au pays
Chèvrefeuille que tu es loin
Pauvre garçon que l’amour oublie
Un peu plus à chaque matin

*

Veux-tu ma belle tailler pour moi
Chèvrefeuille que tu es loin
Une chemise dans les draps
Où naguère nous dormions si bien

*

Veux-tu me trouver un arpent de terre
Chèvrefeuille que tu es loin
Tout près de l’église au bord de la mer
Pour chanter mon dernier refrain

*

Maintenant je sais que c’est la fin du soleil
Chèvrefeuille que tu es loin
Et je voudrais que ce soit toi ma belle
Qui m’enterre de tes propres mains

*

Pauvre garçon qui pense au pays
Chèvrefeuille que tu es loin
Pauvre garçon que l’amour oublie
Un peu plus à chaque matin

Điểm nổi bật nhất trong lời hát của Pierre Delanoe là câu thứ nhì – Chèvrefeuille que tu es loin – không chỉ được lập lại trong mỗi phiên khúc mà còn được sử dụng làm tựa đề ca khúc.

Đó là về hình thức, còn về ý nghĩa, “chèvrefeuille” (“honeysuckle” trong tiếng Anh, “hoa kim ngân” trong tiếng Việt) là một trong những loài hoa leo phổ biến và thông dụng nhất ở các miền quê Âu châu, đặc biệt ở Pháp, nơi nó được trồng để đem lại cảnh sắc và hương thơm dịu dàng, để ướp trà, bánh kẹo, và cất nước hoa, v.v…

Tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, khi bản Scarborough Fair/Canticle của Simon & Garfunkel lên Top vào năm 1967/68, đã được giới trẻ nồng nhiệt đón nhận, thường là nghe qua làn sóng điện của đài phát thanh FM hoặc xem đài truyền hình quân đội Hoa Kỳ; một phần vì tỷ lệ người Việt đủ trình độ Anh ngữ để thưởng thức các ca khúc của Anh – Mỹ đã khá cao, một phần vì hòa âm độc đáo và nghệ thuật song ca siêu đẳng của Simon & Garfunkel.

Qua đầu thập niên 1970, sau khi Chèvrefeuille que tu es loin (Scarborough Fair lời Pháp) được phổ biến tại Hòn Ngọc Viễn Đông, Phạm Duy mới đặt lời Việt với tựa Giàn thiên lý đã xa.

Có thể nói đây là một bản dịch rất sát nghĩa, trừ mấy chữ “giàn thiên lý” và “thằng bé”, “đứa bé”.

Hoa Thiên Lý.
Hoa Thiên Lý.

Chèvrefeuille dịch sang tiếng Việt là hoa kim ngân (Hán Việt: kim ngân hoa), có tên khoa học là Lonicera, thuộc họ Caprifoliaceae, còn hoa thiên lý có tên khoa học là Telosma cordata, thuộc họ Apocynaceae, là hai chủng loại hoàn toàn khác biệt. Thế nhưng nếu xét về mức độ phổ biến cũng như hình ảnh của nó trong dân gian ở Pháp và ở Việt Nam thì hai loài hoa này lại có nhiều điểm tương đồng.

Hiện nay ở Việt Nam, trồng hoa thiên lý đã trở thành một kỹ nghệ, và người ta đã chế biến thành hàng chục món ăn món nhậu bằng hoa thiên lý, từ trong gia đình cho tới nhà hàng “cao cấp”. Nhưng trước năm 1975, việc trồng thiên lý còn hoàn toàn mang tính cách gia đình. Theo đa số sách vở, việc trồng hoa thiên lý bắt đầu phổ biến từ miền Bắc. Chúng tôi vẫn còn nhớ ở quê xưa Nam Định, hầu như nhà nào cũng có một giàn thiên lý trước nhà, trước ngõ, vừa cho cảnh quan thêm đẹp mắt, vừa cho bóng mát vừa tỏa hương thơm.

Thiên lý thơm ngát, mùi hương thật dễ chịu và đáng yêu, cho nên các cô gái chưa chồng thường sử dụng để ủ quần áo, còn chàng trai nào “điệu” một chút thì mỗi khi ra đường không quên bỏ một chùm hoa vào túi áo sơ-mi!

Dĩ nhiên, ngày ấy chúng tôi cũng biết rằng hoa thiên lý có thể ăn được, chẳng thế mà ca dao đã có câu:

Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh hoa lý, nấu chè hạt sen

Tuy nhiên, với đa số thính giả yêu nhạc ngày ấy, chúng tôi tin rằng khi nghe ca khúc Giàn thiên lý đã xa, sẽ liên tưởng tới hình ảnh thân thương và mùi hương muôn thuở của giàn thiên lý trước nhà trước ngõ, hơn là nghĩ tới bát canh hoa lý của người vợ nấu riêng cho chồng.

Thành thử việc Phạm Duy thay hoa kim ngân bằng hoa thiên lý là đã “Việt hóa” ca khúc Chèvrefeuille que tu es loin một cách hết sức tài tình và đầy ý nghĩa.

Thế nhưng tới khi ông dịch mấy chữ “pauvre garçon” thành “tội nghiệp thằng bé” thì chúng tôi cho rằng chỉ đáng phục một nửa; đó là chữ “pauvre” (tội nghiệp), còn “garçon” mà dịch thành “thằng bé, đứa bé” thì không ổn.

Theo văn mạch (context) trong ca khúc lời Pháp nguyên thủy, chữ “garçon” ở đây có nghĩa là một người con trai đã khôn lớn, đã tới tuổi biết yêu. Đó cũng là chữ “garçon” trong bản “Tous les garçons et les filles” nổi tiếng của nữ ca sĩ Françoise Hardy:

Tous les garçons et les filles de mon age
Se promenent dans la rue deux par deux
Tous les garçons et les filles de mon age
Savent bien ce que c’est d’etre heureux
Et les yeux dans les yeux
Et la main dans la main
Ils s’en vont amoureux
Sans peur du lendemain…

Chữ “thằng bé, đứa bé” ở đây để dịch chữ “petit garçon” trong bản Donna Donna (Il était une fois un petit garçon qui vivait dans une grande maison) thì đúng hơn.

Việc Phạm Duy dịch “garçon” thành “thằng bé, đứa bé” có thể khiến những người không biết nguyên bản tiếng Pháp, hoặc không hiểu tiếng Pháp, hiểu lầm rằng đây là một đứa bé yêu một cô gái lớn tuổi hơn mình, như trường hợp bản “Diana” của Paul Anka (I’m so young and you’re so old – This, darling, I’ve been told…)

Thế nhưng, theo cung bậc của bản Scarborough Fair/Chèvrefeuille que tu es loin và vần bằng trắc trong tiếng Việt, không dịch “garçon” thành “thằng bé, đứa bé” thì sử dụng chữ gì cho xứng hợp? Câu hỏi ấy, trong hơn 40 năm qua, cứ mỗi lần nghe lại bản Chèvrefeuille que tu es loin – Giàn thiên lý đã xa, chúng tôi lại cố nặn óc tìm một lời giải đáp, để rồi cuối cùng chịu thua.

Thành thử, theo sự hiểu biết của chúng tôi, ít nhất cũng là cho tới nay, muốn hát, muốn nghe lời Việt của bản Chèvrefeuille que tu es loin, người ta không có lựa chọn nào khác hơn là Giàn thiên lý đã xa của Phạm Duy.

Giàn thiên lý đã xa

Tội nghiệp thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà.
Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa.
Đứa bé lỡ yêu, đã lỡ yêu cô em rồi.
Tình đã quên mỗi sớm mai lặng trôi.
Này, này nàng hỡi, nhớ may áo cho người.
Giàn thiên lý đã xa tít mù khơi.
Tấm áo cắt ngay đã cắt trên khăn mượt mà.
Là chiếc chăn đắp chung những ngày qua.
Tìm một miếng đất cho gã si tình.
Giàn thiên lý đã xa mãi ngàn xăm
Miếng đất cắt hoang, miếng đất ngay bên giáo đường.
Biển sẽ ru tiếng hát bên trùng dương.
Giờ đã đến lúc tan ánh mặt trời.
Giàn thiên lý đã xa mãi người ơi.
Lấp đất hố tôi, lấp nối đôi tay cô nàng.
Thì hãy chôn trái tim non buồn tênh.

sfair1

Trước năm 1975, Thanh Lan – Nữ hoàng nhạc Pháp của Sài Gòn – là người đầu tiên hát hai bản Chèvrefeuille que tu es loin và Giàn thiên lý đã xa. Tuy nhiên, vì chất lượng âm thanh của băng nhạc cũ quá kém, chúng tôi xin kết thúc bài này với bản lời Việt qua tiếng hát của Ngọc Hương.

Hoài Nam

oOOo

Scarborough Fair – Ca sĩ Hayley Westenra, thành viên mới nhất trong nhóm Celtic Woman:

Scarborough Fair – Ca sĩ Simon & Garfunkel:

Scarborough Fair – Ca sĩ Sarah Brightman:

Scarborough Fair – Ca sĩ Andy Williams, Simon & Garfunkel:

Scarborough Fair – Ca sĩ Amy Nuttall:

Chèvrefeuille Que Tu Es Loin (Scarborough Fair) – Ca sĩ Nana Mouskouri (tiếng Pháp):

Chèvrefeuille Que Tu Es Loin (Scarborough Fair) – Ca sĩ Philippe Richard (tiếng Pháp):

Giàn Thiên Lý Đã Xa (Scarborough Fair) – Ca sĩ Tuấn Ngọc, Bằng Kiều (bắt đầu ở phút 3:35):

Giàn Thiên Lý Đã Xa (Scarborough Fair) – Ca sĩ Thanh Lan:

Giàn Thiên Lý Đã Xa (Scarborough Fair) – Ca sĩ Ái Vân:

Giàn Thiên Lý Đã Xa (Scarborough Fair) – Ca sĩ Nguyên Nhung:

4 cảm nghĩ về “Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Dân Ca Dân Nhạc – “Giàn Thiên Lý Đã Xa” (“Scarborough Fair”)”

  1. Chị Phượng ơi,

    Khi đọc tiêu đề có chữ “Scarborough”, em nghĩ bài hát này có liên quan tới bãi cạn Scarborough sao? (Đây là một bãi cạn nằm ở Biển Đông. Cả Đài Loan, Philippines và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền với bãi cạn này.)

    Nhưng khi đọc cả bài viết và nghe nhạc thì chẳng thấy bãi cạn đâu cả, chỉ thấy một giai điệu tình yêu thật lãng mạn (và nghe khá thân quen).

    Em cám ơn chị giới thiệu một bài hát thật hay.

    Chúc anh chị luôn khỏe và an lành ạ.

    Like

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s