Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Bài Thơ Cuối Cùng” – TTKH & Hoàng Thi Thơ

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Bài Thơ Cuối Cùng” của Thi sĩ TTKHNhạc sĩ Hoàng Thi Thơ.

TTKH là bút danh của một thi sĩ ẩn danh trong phong trào Thơ Mới (1930–1945), là tác giả bài “Hai Sắc Hoa Tigôn” nổi tiếng. Nhiều người đã suy đoán lai lịch thật của TTKH nhưng chưa có giả thuyết nào thuyết phục được công chúng.

Tháng 7 năm 1937, tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội đăng truyện ngắn “Hoa Tigôn” của nhà văn Thanh Châu. khoảng 2 tháng sau, thì “tòa soạn nhận được một phong bì dán kín do một thiếu phụ trạc 20 tuổi, dáng bé nhỏ, thùy mị, nét mặt u buồn mang đến gửi cho chủ bút tờ báo trên, trong ấy chỉ vỏn vẹn có bài thơ “Hai Sắc Hoa Tigôn”, dưới ký tên là TTKH… Có thể nói đây là lần duy nhất người thiếu phụ ấy xuất hiện”… Trong đó có những câu sau:

…Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người…

ttkh_bìa

Sau khi bài thơ được đăng, sự việc trở nên rắc rối là vì một vài nhà thơ đương thời như Nguyễn Bính, Thâm Tâm đã sáng tác các bài thơ hưởng ứng, trong đó thầm thố lộ rằng mình có biết, thậm chí có “dính líu tình cảm với người này” từ trước (xem “Cô Gái Vườn Thanh” của Nguyễn Bính, “Màu Máu Tigôn” của Thâm Tâm). Và kể khi ấy, những lời đồn đại về TTKH càng nhiều, và càng có thêm nhiều dị bản.

TTKH chỉ đăng trên tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy có 3 bài thơ, đó là:

“Hai Sắc Hoa Tigôn” (đăng ngày 23 tháng 9 năm 1937)
“Bài Thơ Thứ Nhất” (đăng ngày 23 tháng 11 năm 1937)
“Bài Thơ Cuối Cùng” (đăng ngày 30 tháng 10 năm 1938)

Riêng bài “Đan Áo Cho Chồng”, đăng trên báo Phụ Nữ Thời Đàm năm 1938.

Các bài thơ của TTKH và sự bí ẩn của tác giả đã từng gây xôn xao dư luận một thời. Những điều đó cũng tạo cảm hứng cho nhiều nhà văn, nhà thơ sáng tác những tác phẩm hưởng ứng nối tiếp. Các bài thơ của TTKH cũng được vài nhạc sĩ phổ nhạc, như bài “Chuyện Hoa Tigôn”, “Đan Áo Cho Chồng” của NS Anh Bằng, cùng với bài “Hai Sắc Hoa Tigôn” của NS Trần Trịnh.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và Ca sĩ Thúy Nga.
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và Ca sĩ Thúy Nga.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (1929-2001) là một nhạc sĩ lừng danh tại miền Nam Việt Nam trước 1975 với những bài hát ca ngợi quê hương, đất nước, con người Việt Nam. Một số bút hiệu khác của ông là Tôn Nữ Trà Mi, Tôn Nữ Diễm Hồng, Bích Khê, Triệu Phong.

Sau năm 1975, tại Việt Nam, ông cùng với nhạc sĩ Phạm Duy là hai người bị cấm về nhân thân (cấm toàn bộ tác phẩm), đến đầu năm 2009, một số bài hát của ông mới được Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn thuộc Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch cho phép phổ biến trở lại.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh ngày 1 tháng 7 năm 1929 tại làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông thuộc dòng họ Hoàng Hữu, một dòng họ khoa bảng có tiếng tăm ở đất Quảng Trị.

Tháng 5 năm 1947, ông bắt đầu làm báo, viết văn, trở thành phóng viên và biên tập viên cho tờ nhật báo Cứu Quốc. Tháng 9 năm 1948, ông trở lại Huế, tiếp tục hoàn thành chương trình trung học ở Trường Khải Định (về sau trường dời ra Hà Tĩnh và đổi tên thành Trường Huỳnh Thúc Kháng).

Sau khi học xong Tú Tài, tháng 10 năm 1950, ông vào đại học tại trường Dự Bị Đại Học Liên khu 3 và 4 tại Thanh Hóa, theo khoa Văn-Triết. Sau hiệp định Genève, ông được tự do và vào Sài Gòn sống, dạy sinh ngữ Anh – Pháp ở các trường tư thục và theo nghề viết nhạc, hoạt động văn nghệ.

Năm 1955, Hoàng Thi Thơ sáng tác hai bài trường ca đầu tiên mang tên “Triều Vui Thế Hệ” & “Máu Hồng Sử Xanh”. Năm sau, ông cho ra đời trường ca “Ngày Trọng Đại” và đến năm 1963 là “Tiếng Trống Diên Hồng”.

Năm 1957, ông bắt đầu tổ chức những kỳ Đại Nhạc Hội tại rạp Thống Nhất Sài Gòn.

Tháng 9 năm 1957, ông lập gia đình với Ca sĩ Thúy Nga và có 4 người con: 3 trai 1 gái. Trong đó, người con trưởng là Hoàng Thi Thi, vừa là nhạc sĩ vừa là kỹ sư. Ngoài ra ông còn một người con nuôi là Hoàng Thi Thao, người cháu ruột gọi ông bằng chú và cũng là người theo sát chân ông trong nhiều năm hoạt động văn nghệ.

Năm 1961, ông thành lập Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm hơn 100 nghệ sĩ tên tuổi và lưu diễn qua nhiều nước Á Châu cũng như nhiều thành phố trên thế giới: Vạn Tượng, Hồng Kông, Đài Bắc, Tokyo, Bangkok, Singapore, Sénégal, Paris, London… và nhiều nơi ở Hoa Kỳ.

Năm 1967, ông thành lập tiếp Đoàn Văn Nghệ Maxim, gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch, tổ chức những chương trình ca vũ nhạc kịch đặc biệt tại nhà hàng Maxim. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là người duy nhất được Bộ Thông Tin và Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa nhiều lần cử thành lập và dẫn các đoàn văn nghệ Việt Nam sang Châu Âu trình diễn…

Tháng 4 năm 1975, Đoàn Văn Nghệ Maxim của ông đang lưu diễn ở Nhật Bản thì xảy ra sự kiện lịch sử ngày 30-4-1975. Ông không thể trở về nước được và từ đó phải định cư ở Hoa Kỳ. Ông có về Việt Nam 2 lần kể từ năm 1993.

Sáng Chủ Nhật 23 tháng 9 năm 2001, ông qua đời một cách thanh bình tại nhà riêng ở Glendale, California. Ông được an táng tại vườn Vĩnh Cửu – nghĩa trang Peek Family, Quận Cam. Mộ của ông nằm ở nhà quàn Heritage Memorial Service, 17712 Beach Boulevard, Huntington Beach, Hoa Kỳ.

ttkh_ĐB2

Thi phẩm “Bài Thơ Cuối Cùng” (Thi sĩ TTKH)

Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ?
Một mùa thu cũ một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ
Em đã câm lời có nói đâu.

Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
Mà viết tình em được ích gì?

Chỉ có ba người đã đọc riêng
Bài thơ đan áo của chồng em
Bài thơ đan áo nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem.

Là giết đời nhau đấy biết không?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh em viết dòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng.

Từ đây anh hãy bán thơ anh
Còn để yên tôi với một mình
Những cánh hoa lòng, hừ đã ghét
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi
Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp
Đi nhớ người không muốn nhớ lời.

Tôi oán hờn anh mỗi phút giây
Tôi run sợ viết bởi rồi đây
Nếu không yên được thì tôi chết
Đêm hỡi, làm sao tối thế này?

Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín
Lại chính là anh, anh của em.

Tôi biết làm sao được hỡi trời
Giận anh không nỡ nhớ không thôi
Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt
Sợ quá đi anh, có một người…

ttkh_Bài Thơ Cuối Cùng1

Thi khúc “Bài Thơ Cuối Cùng” (Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ)

Ðây bài thơ cuối cùng anh viết cho em
Anh viết cho em bài ca mộng ước
Vừa khi tàn úa, tựa như mùa lá
Chết theo thu già, cũng như trăng tà
Chết theo đêm buồn dần qua

Thôi tình đã thế này, anh đó em đây
Em đó anh đây, mà đâu còn nữa
Chiều trông chờ đón, buồn vui cũng uống
Những đêm trăng buồn, những khi dỗi hờn
Ðón nhau bên đường tình mơ

Em ơi thôi thế là thôi là thế đó
Ba năm thôi thế mộng tan tành
Em ơi thôi thế là thôi là thế đó
Thiên thu thôi thế đời buồn tênh

Ðây bài thơ cuối cùng anh viết cho em
Anh viết cho em, bài thơ của những
Mùa trăng đã tắt,ngày vui đã mất
chứa chan điệu buồnxót xa những giờ
Đã đem theo vào hồn thơ !!!

Dưới đây mình có các bài:

– Huyền thoại TTKh và Hai sắc hoa ty gôn
– HOÀNG THI THƠ: đã 6 năm qua…

Cùng với 6 clips tổng hợp thi khúc “Bài Thơ Cuối Cùng” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

ttkh_HSHTG

Huyền thoại TTKh và Hai sắc hoa ty gôn

(Thụy Khuê)

Trong những bài thơ tác giả ẩn danh hoặc ký tên nhưng không biết rõ người ấy là ai, Hai sắc hoa ty gôn và TTKh là một huyền thoại lãng mạn đã gây mối trắc ẩn cho nhiều thế hệ yêu thơ.

Câu chuyện bắt đầu cách đây 70 năm, ngày 27/9/1937 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 174 xuất bản tại Hà Nội, có đăng truyện ngắn Hoa ty gôn của Thanh Châu, nội dung kể lại mối tình tan vỡ của đôi trai gái ngày trước đã hò hẹn dưới giàn hoa ty gôn. Ít lâu sau, có người đàn bà trẻ, dáng dấp bé nhỏ, nét mắt u buồn, mang đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy một phong bì dán kín, gửi cho ông chủ bút, trong có bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh. Bài thơ Hai sắc hoa ty gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 179, ra ngày 30/10/1937, và sau đó còn ba bài nữa cũng ký tên TTKh được gửi bằng đường bưu điện đến tòa soạn:

– Bài thơ thứ nhất, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 182 (20/11/1937),
– Đan áo cho chồng, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm,
– Bài thơ cuối cùng, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 217 (23/7/1938).

Bài thơ thứ nhất xuất hiện sau Hai sắc hoa ty gôn gần một tháng, và Bài thơ cuối cùng đăng tám tháng sau.

Ngay khi Hai sắc hoa ty gôn ra đời, giới văn nghệ sĩ đã xôn xao, thi sĩ J. Leiba, người cùng tâm sự với TTKh và là tác giả hai câu thơ nổi tiếng “Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai”, chép lại nguyên văn bài Hai sắc hoa ty gôn trên Ngọ Báo với lời mở đầu:

Anh chép bài thơ tự trái tim
Của người thiếu phụ lỡ làng duyên
Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ
Yên ủi anh và để tặng em.

Nguyễn Bính sau khi đọc Bài thơ thứ nhất đã viết bài Dòng dư lệ để tặng TTKh, in lại trong tập Lỡ bước sang ngang và Thâm Tâm có ba bài Màu máu ti gôn, Dang dở  Gửi TTKh, và nhiều thế hệ sau còn có những bài thơ khác sụt sùi thương cảm cho số phận TTKh. Vậy TTKh là ai?

Giọt lệ tương tư mới

Hai sắc hoa ty gôn mở đường cho một lối lãng mạn khác với lãng mạn Đông Hồ, Tương Phố. Có thể nói Hai sắc hoa ty gôn là giọt lệ tương tư mới, nơi TTKh, không phải là giọt lệ khóc chồng của Tương Phố, khóc vợ của Đông Hồ, mà là giọt lệ khóc cho tình yêu; hơn thế nữa, khóc người tình ngoài hôn nhân, một đối tượng tự do, phóng khoáng, vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo thời bấy giờ. Và lần đầu tiên hai chữ người ấy được chính thức đưa vào thi ca, sau này nó sẽ trở thành “cổ điển”, trở thành ngôn ngữ gối đầu giường của giới trẻ trong nhiều thế hệ:

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng:”Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp:”Màu hoa trắng
Là chút long trong chẳng biến suy.”

Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá ! – Tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.

Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.
Và đỏ như màu máu thắm pha !

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi…
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi !

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không ?
Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng ? (1)

Người ấy

Trong văn xuôi Việt Nam, hai chữ người ấy đã được Nguyễn Trọng Quản dùng để chỉ người tình trong truyện ngắn Thày Lazaro Phiền từ 1887. Vậy Nguyễn Trọng Quản là người đầu tiên đưa danh từ Người ấy vào trong văn Việt. Và Thanh Châu xướng lên hình ảnh hoa ty gôn trong truyện ngắn đăng trước bài thơ của TTKh một tháng, trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy.

Nhưng TTKh là người đầu tiên sử dụng hai chữ “người ấy” và hình ảnh “hoa ty gôn” vào thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ. Về mặt tâm lý xã hội, người đàn bà có chồng những năm 36 – 37, mấy ai dám nói đến người tình một cách công khai ? TTKh đã viết nên những lời tâm sự của bao nhiêu người đàn bà cùng cảnh ngộ ngang trái, sống trong xã hội Khổng Mạnh đầu thế kỷ:

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.

TTKh là ai ?

Trong Bài thơ thứ nhất, in sau Hai sắc hoa ty gôn hai tháng, có những yếu tố xác định rõ hơn về cuộc tình này:

Ở lại vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

và nhất là hai câu cuối:

Biết đâu tôi một tâm hồn héo
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

Vườn Thanh và chồng nghiêm là hai yếu tố gây tranh luận về nơi xẩy ra cuộc tình và tên người chồng. Vườn Thanh ở đâu? Có phải ở Thanh Hóa không? Và người chồng của TTKh tên là gì? Có phải là Nghiêm không?

Đến bài thơ thứ ba, bài Đan áo cho chồng, lời thơ xa xót đầy nước mắt:

Ngoài trời mưa gió xôn xao
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
Ai đem lễ giáo giam em
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời.

Và Bài thơ cuối cùng có những câu gần như khó hiểu:

Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
Mà viết tình em được ích gì?

Bởi nếu TTKh là người đem chuyện của mình ra viết thành thơ, thì tại sao nàng lại trách ai ? Vậy ai đây là ai? Nàng trách chính nàng hay nàng trách người yêu? Nhất là đoạn sau, lời hờn giận càng thêm gay gắt:

Là giết đời nhau đấy biết không?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh em viết dòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng.

Tất cả những lời trách móc u uẩn này với nhịp điệu du dương, lời thơ tha thiết, gắn bó, làm cho toàn bộ tác phẩm trở thành huyền thoại.

Nếu so sánh 4 bài thơ ký tên TTKh và 3 bài thơ “trả lời” của Thâm Tâm in trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy sau đó, người ta có thể mở được những nấc cửa đầu tiên vào những bí ẩn này. Bài Gửi TTKH của Thâm Tâm có những câu sau đây:

Tiếng xe trong vết bụi hồng
Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ
Tiếng xe trong xác pháo xưa,
Nàng đi có bốn bài thơ trở về
Tiếng xe mở lối vu qui
Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời!
Miệng chồng, Khánh gắn trên môi
Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
Từ ngày đàn chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan
Kéo dài một chiếc áo len
Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.
Nàng còn gỡ mãi trên tay,
Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
Góp hai thứ tóc đôi đầu,
Sao còn đan nối những câu tâm tình?
Khánh ơi còn hỏi gì anh?
Lá rơi đã hết mầu xanh màu vàng.”

….

Thâm Tâm nhắc đến người yêu tên Khánh. Vậy TTKh là gì? Có phải là những chữ Thâm Tâm – Khánh, viết tắt? Hay là Tuấn Trình – Khánh (vì Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình). Hay TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm?

Có thể nói hầu hết những nhà biên khảo từ Hoài Thanh, Hoài Chân, trong Thi Nhân Việt Nam (1940), Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên (1965), Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Tấn Trọng trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến (1968) … và gần đây trong Tuyển Tập Thơ Mới 1932-1945 Tác Giả và Tác Phẩm do Lại Nguyên Ân và Ý Nhi tập hợp phát hành năm 1992, tất cả đều đánh dấu hỏi về TTKh.

Lập luận của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng 

Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng là hai nhà biên khảo đầu tiên có ý tìm hiểu kỹ nhất về cái mà hai ông gọi là “Nghi án TTKH và Thâm Tâm”. Trong bộViệt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, hai ông đưa ra những nhân chứng và những giả thuyết đã xuất hiện trên báo chí, văn đàn từ năm 38 đến 68 của các ông Giang Tử, Thạch Hồ, Y Châu, Nguyễn Bá Thế, Lê Công Tâm, Anh Đào. Người thì cho rằng TTKh chính là Thâm Tâm. Người lại quả quyết TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm.

Ông Giang Tử thuật lại cuộc gặp gỡ với nhà thơ Tế Hanh vào tháng 11 năm 1944 trên chuyến xe đi Quảng Ngãi: “Tế Hanh cho biết TTKh chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với mình ở Thanh Hoá và kể rõ thiên tình hận của nàng và thi sĩ Thâm Tâm. Giả  thuyết này không đứng vững vì Tế Hanh không phải người Thanh Hoá mà Quảng Ngãi và vườn Thanh trong bài thơ không chắc đã là Thanh Hoá.

Ông Thạch Hồ và ông Y Châu đều cho biết: TTKh là nhân vật có thật, đã đôi ba lần đến thăm thi sĩ Thâm Tâm ở Khâm Thiên, lúc ông này ở chung với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân (giả thuyết này phù hợp với lời tường thuật của Nguyễn Vỹ sau này).

Ông Nguyễn Bá Thế, tức nhà văn Thế Nguyên lại xác định: TTKh chính là nhà văn Thẩm Thệ Hà, có tên thật là Tạ Thành Kỉnh, TT là Tạ Thành còn K và H là chữ Kỉnh viết tắt. Việc này bị Thẩm Thệ Hà phủ định hoàn toàn.

Nhưng có ba giả thuyết đáng chú ý:

– Trên tạp chí Giáo Dục Phổ Thông, số 49, ra ngày 1/11/1959, tại Sài Gòn, ông Lê Công Tâm cho biết: TTKh chính là thi sĩ Thâm Tâm, người đã dàn cảnh một thiếu phụ bị ép duyên, khóc tình dang dở bằng những bài thơ Hai sắc hoa ty gôn và Bài thơ thứ nhất.

– Báo Sống ra ngày 15/4/1967, ông Nguyễn Tố, xác định đã sống chung với Thâm Tâm năm 1936, cùng với Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can. Thâm Tâm có mấy bài thơ ký tên TTKh như bài Hai sắc hoa ty gôn. Lúc đó Khánh là người mà Thâm Tâm yêu say đắm, lúc Khánh đi lấy chồng, Thâm Tâm đau khổ gần như phát điên. Lũ chúng tôi vừa giễu cợt, vừa khuyên lơn. Chính trong thời gian thất tình, Thâm Tâm viết được mấy bài thơ ký tên TTKh.

– Nhưng trong báo Nhân Loại, bộ mới số 108 ra tháng 7 năm 1958 tại Sàigòn, ông Anh Đào lại đưa ra một thoại mới mà thoại này, theo ông, do chính Thâm Tâm kể lại. Ông Anh Đào kể rằng: Năm 1941, trong một đêm thu lạnh lẽo, ông được ngồi giữa hai nhà thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm bên một bàn đèn thuốc phiện và chính ông được nghe Thâm Tâm tâm sự. Thâm Tâm nói rằng: TTKh. là tên một thiếu phụ mà trước kia tôi yêu. Và Thâm Tâm xác định những bài thơ đăng trên báo là của nàng, và ông Anh Đào kết luận rằng Thâm Tâm xứng đáng là “người ấy” của TTKh.

Sau khi đưa ra các luận chứng và giả thuyết trên đây, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến,  kết luận:

TTKh. không thể là sản phẩm tưởng tượng của Thâm Tâm vì đó là nỗi lòng tha thiết của một người, với những vần thơ lâm ly như thế thì người khác không thể viết thay được. Vậy Thâm Tâm là Thâm Tâm và TTKh là TTKh. Hai người có thể là đôi tri kỷ nhưng không thể cùng là một người. Các tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến muốn đóng hồ sơ nghi án trên một huyền thoại.

Sự xác định của Nguyễn Vỹ

Nguyễn Vỹ là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ Mới. Năm 1970, khi Nguyễn Vỹ xuất bản cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến tại Sàigòn, thì ông đã đưa sự thực về Thâm Tâm và TTKh ra ánh sáng.

Như chúng ta đã biết, sau Phan Khôi, Nguyễn Vỹ cùng với Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Manh Manh, Thế Lữ là những người đã phát triển phong trào Thơ Mới. Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn lập trường phái Bạch Nga, chủ trương cách tân thơ, chú trọng đến khía cạnh âm nhạc và hình thức xếp chữ trong thơ. Trường phái Bạch Nga bị Thế Lữ và Hoài Thanh đả kích kịch liệt, thơ Nguyễn Vỹ không được tiếp nhận đúng mức. Đánh giá thơ Nguyễn Vỹ là một vấn đề khác mà chúng tôi không đề cập đến trong bài này. Nguyễn Vỹ là bạn thân của Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Trương Tửu và trong cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến ông đã vẽ lại chân dung 35 nhà văn, nhà thơ sinh hoạt trong không khí văn học từ đầu thế kỷ đến 1945. Một tư liệu quý cho những người nghiên cứu văn học.

Sau hơn 30 năm im lặng, 1970, một năm trước khi mất, Nguyễn Vỹ đã công bố những lời tâm sự của Thâm Tâm 22 năm sau khi Thâm Tâm qua đời trong bài viếtThâm Tâm và sự thât về TTKh. mà chúng tôi xin lược trình sau đây:

Năm 1936, 37 có xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người nữa. Ít ai để ý đến họ. Huyền Trân và Thâm Tâm đều mới 18, 19 tuổi. Họ có một tờ tuần báo nhỏ, tên là Bắc Hà ở phố Chợ Hôm. Chủ động trên tờ báo là Trần Huyền Trân. Báo Bắc Hà bán không chạy lắm, tuy có vài mục hài hước, vui, nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình. Thâm Tâm là bút hiệu của Tuấn Trình. Tuấn Trình vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một bài thơ, vài mẩu truyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao, ái tình của Nguyễn Bính học sinh lớp nhất trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính thi rớt, nghỉ học luôn.

Tôi – tức là Nguyễn Vỹ – tuy không chơi thân, nhưng quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, phía sau chợ. Tôi ở một gác trọ của đường Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo Bắc Hà “cho vui” vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông của văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài, và chỉ có một lần.

Trong một số báo đặc biệt Mùa Hè, Tuấn Trình có vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới “Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn”.

Tôi quen biết Tuấn Trình là do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba, bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sàigòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, na ná giống Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonnard Sàigòn, tôi quên lững, cứ tưởng như gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm Hà Nội.

Một buổi chiều gần tối, Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tôi tưởng anh đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà. Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy, tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.

Câu chuyện tình

Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp nhất trường tiểu học Sinh Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh Từ, ngay cạnh Thanh Giám, nơi đền thờ Khổng Tử.

Thanh Giám là một thắng cảnh Hà Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ cho tới đời nhà Lê, hình chữ nhật, xung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước Đền thì ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có những tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh Giám có cổng tam quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán “Hạ mã” và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng, nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về đây ngủ, cho nên người Pháp cũng gọi là Pagode des corbeaux. Chùa Quạ, ngoài danh từ lịch sử Temple de Confucius, Đền Khổng Tử.

Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp. Tuấn Trình có một người cô, nhà ở phố Chợ Cửa Nam, gần Sinh Từ. Anh thường đến đây thăm cô và trông thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình -tên gọi hồi đó- mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất hiện.

Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa antigone trắng cũng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô.

Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó là loại hoa dây, lá giống như lá nho, cho nên ở miền Nam nhiều người gọi là hoa nho. Có hai loại : hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà Nội người ta trồng rất nhiều và bán cũng rất nhiều ở chợ Đồng Xuân, cũng như ở Chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt là hoa ty gôn. Ở phố Sinh Từ, antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Hàm Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng, hoa tàn thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.

Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm hoa antigone vừa hé nụ, và chết giữa mùa đông năm đó, trong lúc giàn hoa ty gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng hè, sang hết mùa thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình.

Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm. Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng cô Khánh. Những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà đều ký là Thâm Tâm, nhưng các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt, theo lễ giáo của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng đúng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình Thâm Tâm.

Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà Nội và ngoại ô, thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: “Thầy mẹ em nghiêm lắm, gia đình em nghiêm lắm.” Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.

Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lẻn băng qua đường vào vườn Thanh Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cả hai cũng không nói được gì, Khánh run sợ. Tuấn Trình bối rối, tất cả những lời lẽ bay bướm đã sắp sẵn, bây giờ quên hết. Cuối cùng lại trách móc nhau vì những chữ “Thầy mẹ em nghiêm lắm” và rồi Khánh cũng vội vã chạy về nhà.

Lần thứ hai, vườn Thanh Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng thu. Nhiều người nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng, khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Rồi nàng buồn bã hỏi: “Anh định bao giờ đến xin thầy mẹ cho chúng mình ?” Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo:“Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì…” Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây cho đến khi từ giã.

Hai người vẫn thư từ với nhau cho đến một hôm… Tuấn Trình nhận được  bức thư của người yêu, không, của người đã hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng. Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương Hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ).

Đại khái trong thư Khánh nhắc lại tình yêu “thơ mộng” của cô với “người nghệ sĩ tài hoa son trẻ”, đó là những chữ cô dùng trong thư. Tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy mẹ của cô rất “nghiêm” theo lễ giáo, nên dù vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi nhưng cô vẫn có “bổn phận phải giữ tròn chữ hiếu”, cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm, v.v… Cuối thư ký tắt Kh.

Tuy Khánh không viết gì về vị hôn phu và ngày cưới, nhưng sau dọ hỏi, Tuấn Trình được biết chồng Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, đẹp trai, góa vợ và không có con. (Trong câu thơ bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi là chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng và tuổi vị thành niên của Khánh). Tiệc cưới rất linh đình, rước dâu bằng 10 chiếc Citroën mới. Cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh.

Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai quế lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.

Trái với mọi dự đoán, Khánh rất hạnh phúc với chồng. Người đau khổ là Tuấn Trình Thâm Tâm. Vừa nhớ thương đơn phận, vừa bị mặc cảm của người nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn chế nhạo, đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

Vì một chút tự ái văn nghệ, Tuấn Trình đã thức suốt đêm, theo lời anh thuật lại, để làm bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh, với thâm ý cho Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm ra để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình nhờ cô em họ chép lại bài thơ trên, dán kín bao thơ và nhờ cô này mang thư đến tòa báo.

Tất nhiên là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình hoàn toàn khác với lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của Khánh báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Và theo lời Tuấn Trình, cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm. Sau khi nhận được bức thư cuối cùng của Khánh, trong thư Khánh tỏ ý không bằng lòng Tuấn Trình đã mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ trên báo, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong lá thư phản đối đó, Khánh xưng tôi chứ không xưng em nữa.

Thâm Tâm lấy lại những lời, những chữ trách móc giận dữ của Khánh trong thư để làm Bài thơ cuối cùng ký tên TTKh, với những câu:

Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
Mà viết tình em được ích gì?

Bài thơ đan áo nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem.
Là giết đời nhau đấy biết không?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh em viết dòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng.
Từ nay anh hãy bán thơ anh
Còn để yên tôi với một mình

Rồi để đáp lại Bài thơ cuối cùng, Thâm Tâm làm bài Dang dở tặng TTKh, cũng là bài thơ kết thúc niềm đau của mối tình dang dở:

Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ,
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,
Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

Huyền thoại Hai sắc hoa ti gôn, sở dĩ được những tên tuổi nổi tiếng của thi ca đương thời phụ họa và đứng vững lâu dài trong lòng người đọc, bởi nó chở những đớn đau chân thực của một người tình, dù viết dưới bàn tay trá hình Thâm Tâm. Và cũng nhờ tài năng của Thâm Tâm mà chúng ta có được hai hình tượng mới: người ấy và hoa ty gôn. Tính mơ hồ bóng gió của người ấy và cái chết thảm khốc của Antigone ẩn trong một chùm hoa nhỏ, xinh như mộng, càng làm tăng thêm chất bi đát thầm lặng của tình yêu, liệm thêm sự bí mật của những chữ TTKH.

Phụ lục

Bài thơ thứ nhất – TTKh (2)

Thuở trước hồn tôi phơi phới quá
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại
Êm ái trao tôi một vết thương.
Tai ác ngờ đâu gió lại qua
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa
Thổi tan tâm điệu du dương trước
Và tiễn người đi bến cát xa.
Ở lại vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.
Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác
Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều.
Từ đấy không mong không dám hẹn
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ
Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em.
Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên.
Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ
Thì ai trông ngóng chả nên chờ.
Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:
“Cố quên đi nhé câm mà nín
Đừng thở than bằng những giọng thơ”.
Tôi run sợ viết lặng im nghe
Tiếng lá thu khô xiết mặt hè
Như tiếng chân người len lén đến
Song đời nào dám gặp ai về.
Tuy thế tôi tin vẫn có người
Thiết tha theo đuổi nữa than ôi
Biết đâu tôi một tâm hồn héo
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

Đan áo cho chồng – TTKh (3)

Chị ơi, nếu chị đã yêu
Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương
Đã xa hẳn quãng đời hương
Đã đem lòng gửi gió sương mịt mùng
Hay chăng chị mỗi chiều đông
Đáng thương những kẻ có chồng như em
Vẫn còn giá lạnh trong tim
Đan đi đan lại áo len cho chồng
Con chim ai nhốt trong lồng
Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ
Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ
Hay đâu gió đã sang bờ ly tan
Tháng ngày miễn cưỡng em đan
Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng
Như con chim nhốt trong lồng
Tháng ngày than tiếc ánh hồng nơi nao
Ngoài trời hoa nắng xôn xao
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
Ai đem lễ giáo giam em
Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời
Lòng em khổ lắm chị ơi
Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai
Quang cảnh lạ, tháng năm dài
Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.

Bài thơ cuối cùng – TTKh (4)

Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ?
Một mùa thu cũ một lòng đau…
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em đã câm lời có nói đâu!
Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
Mà viết tình em được ích gì?
Chỉ có ba người đã đọc riêng
Bài thơ “đan áo” của chồng em
Bài thơ “đan áo” nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem…
Là giết đời nhau đấy biết không ?
…Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương điệu cuối cùng!
Từ nay anh hãy bán thơ anh
Còn để yên tôi với một mình
Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.
Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi…
Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp
Đi nhớ người không muốn nhớ lời!
Tôi oán hờn anh mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây,
Nếu không yên được thì tôi … chết
Đêm hỡi, làm sao tối thế này?
Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín
Lại chính là anh? anh của em!
Tôi biết làm sao được hỡi trời?
Giận anh không nỡ nhớ không thôi!
Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt…
 Sợ quá đi, anh… “có một người”!…

Gửi T.T. Kh. – Thâm Tâm (5)

Các anh hãy uống thật say,
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
Giờ hình như quá nửa đêm ?
Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa
Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến đã rời rã đi.

Hồn tôi lờ mờ sương khuya
Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời
Vâng, tôi biết có một người
Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng
Ðể hôm sau khóc trong lòng
Vâng tôi có biết cánh đồng thời gian
Hôm nay rụng hết lá vàng
Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.
Tiếng xe trong vết bụi hồng
Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ.
Tiếng xe trong xác pháo xưa,
Nàng đi có bốn bài thơ trở về.
Tiếng xe mở lối vu qui
Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời !
Miệng chồng Khánh gắn trên môi
Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
Từ ngày đàn chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.
Kéo dài một chiếc áo len
Tơ càng đứt mối, nàng càng nối giây.
Nàng còn gỡ mãi trên tay
Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
Góp hai thứ tóc đôi đầu,
Sao còn đan nối những câu tâm tình?
Từng năm từng đứa con non
Mỉm cười vá kín vết thương lại lành.
Khánh ơi còn hỏi gì anh?
Xưa tình đã vỡ, nay tình lại nguyên
Em về đan mối tơ duyên
Vào tà áo mới, đừng tìm duyên xưa.
Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.
Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.
Nhắc làm chi chuyện đôi ta
Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi…

Hãy vui lên các anh ơi
Nàng đi, tôi gọi hồn tôi trở về
Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài “hoa máu” đã gieo nốt đời.
Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh?
Sá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay.

———————————————–

(1) Hai sắc hoa ty gôn – TTKH (Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, 30/10/1937)
(2) Tiểu thuyết thứ bảy, số 182 ra ngày  20-11-1937)
(3) Phụ nữ thời đàm
(4) Tiểu thuyết thứ bảy, số 217, 23/07/1938)
(5) Tiểu thuyết thứ bảy, số 307, 04/05/1940)

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ tại tư gia ở Glendale, nam California năm 1998.
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ tại tư gia ở Glendale, nam California năm 1998.

HOÀNG THI THƠ: đã 6 năm qua…

(Trường Kỳ)

Thấm thoát 6 năm đã qua kể từ khi nhạc sĩ Hòang Thi Thơ, người từng có những đóng góp lớn lao cho nền âm nhạc Việt Nam, vĩnh viễn ra đi vì bệnh tim. Ông trút hơi thở cuối cùng vào lúc hơn 8 giờ sáng ngày Chúa Nhật 23 tháng 9 năm 2001 tại nhà riêng ở thành phố Glendale, nam California.

Cũng tại ngôi nhà xinh xắn này vào năm 1998, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã dành cho người viết một cuộc phỏng vấn đặc biệt kéo dài trên 3 tiếng mặc dù bệnh tình của ông lúc đó đang ở trong thời kỳ nguy ngập. Tuy nhiên ông vẫn vui vẻ và hăng say khi trả lời những câu hỏi liên quan đến quãng đời họat động âm nhạc rất phong phú của ông mà một phần đã được gửi đến bạn đọc trong một bài viết dài 2 kỳ trên TiVi Tuần Sansau khi ông nhắm mắt xuôi tay.

Nhân dịp kỷ niệm 6 năm ngày nhạc sĩ Hoàng thi Thơ qua đời, TiVi Tuần San sẽ gửi đến quí vị thêm một bài viết dài để tưởng nhớ đến một người mà cả cuộc đời đã sống gắn bó với âm nhạc bằng tất cả niềm đam mê vô bờ bến, bằng tất cả tấm lòng và trái tim nhiều rung động.

Ngoài những chi tiết do chính nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cung cấp là một số tài liệu được phổ biến trong tuyển tập nhạc kỷ niệm 50 họat động văn nghệ của ông, phát hành vào năm 1995. Trong số có bài viết rất giá trị của tiến sĩ Phan Ngọc Tiến, một thân hữu của nhạc sĩ họ Hoàng. Nhưng đặc biệt hơn cả là người viết đã có được một cuộc tiếp xúc rất lâu với người cháu ruột, cũng là người được coi như nghĩa tử của Hòang Thi Thơ là nhạc sĩ Hoàng Thi Thao tại nơi anh cư ngụ là Orange County vào cuối tháng 8 năm 2007 vừa qua.

Qua cuộc tiếp xúc với nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, người một thời được mệnh danh là “thần đồng vĩ cầm”, anh đã bổ xung cho chúng tôi nhiều chi tiết đặc biệt chưa hề được công bố về người bố nuôi của anh là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Là người sống kề cận với Hoàng Thi Thơ từ khi còn nhỏ cho đến khi ông từ giã cõi đời, không ai khác biết rõ Hoàng Thi Thơ hơn là Hoàng Thi Thao trên một số góc cạnh nào đó chưa được đề cập tới.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, cháu ruột và là nghĩa tử của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ.
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, cháu ruột và là nghĩa tử của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ.

Nhân dịp kỷ niệm 6 năm ngày ông xa rời cuộc đời mà ông rất yêu mến với một tinh thần luôn luôn lạc quan cho đến những giây phút cuối cùng. Hy vọng những chi tiết trong bài viết gồm 2 phần này sẽ là những tài liệu quí cho những nhà nghiên cứu lịch sử âm nhạc…

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh ngày 1 tháng 7 năm 1929 tại làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Hoàng Thi Thơ thuộc dòng họ Hoàng Hữu, một dòng họ khoa bảng lừng lẫy, đã được sọan giả Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đề cập đến trong quyển Gia Phả do nhà xuất bản Văn Hóa tại Hà Nội xuất bản năm 1992 là “Họ Hoàng Hữu là một trong những họ tiếng tăm ở đất Quảng Trị, Trung Bộ. Từ đời thứ 13, con cháu nhà này bắt đầu đỗ đạt cao. Người khai khoa đầu tiên cho làng Bích Khê là Hoàng Hữu Xứng và Hoàng Hữu Bỉnh đều đậu cử nhân”.

Riêng cụ Hoàng Hữu Bỉnh làm đến chức Lang Trung Bộ Công, chức Thái Thượng Tự Khanh dưới triều vua Đồng Khánh. Cụ Hoàng Hữu Bỉnh chính là thân phụ nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và là ông nội của nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, theo lời anh kể: “Ông nội tôi có 24 người con. Tôi có tới 3 bà nội. Và 3 bà là chị em ruột. Còn những cái… lẻ tẻ tôi không biết. Nhưng đại khái 3 bà là chị em ruột nên rất thương nhau. Thật ra đó là sự cố ý bên phía bà nội tôi là không muốn cho ông nội tôi đi lấy phía ngoài. Như vậy chỉ có 1 dòng thôi, thành ra gần gũi nhau. Nhất là không muốn để lọt tài sản ra ngoài”.

Vì vậy tất cả anh chị em đều gần gũi và gắn bó với nhau, không phân biệt là con của bà nào. Ai sinh trước được làm anh, làm chị. Thân phụ Hoàng Thi Thao là người con trai cả và là người con thứ 7 của bà vợ cả trong số 24 người con này. Trước ông là 6 người chị gái. Trong khi đó nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, con của bà vợ út, là người con thứ 22 của cụ Hoàng Hữu Bỉnh. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ còn một người em gái hiện sống ở Virginia và một người em trai năm nay đã 73 tuởi, sống ở Việt Nam.

Sự gần gũi giữa hai chú cháu Hoàng Thi Thơ và Hoàng Thi Thao bắt đầu từ năm 1952, sau khi nhạc sĩ Hòang Thi Thơ rời vùng kháng chiến để về với gia đình Hoàng Thi Thao ở Huế.

Lý do chính yếu khiến nhạc sĩ Hòang Thi Thơ về Huế là xin gia đình người anh một số tiền để trở lại vùng kháng chiến tức Liên Khu Tư ở Thanh Hóa để sau đó đưa người yêu ra Hà Nội với mục đích theo học Văn Khoa ở đây.

Nhưng khi trở về thì cả gia đình giữ ông lại và khuyên ông đừng nên trở ra Liên Khu Tư mặc dù ông rất nôn nóng muốn trở ra với người yêu. Nhưng cuối cùng ông xiêu lòng trước những lời khuyên nhủ của những người thân nên quyết định vào Sài Gòn để được an toàn. Trong khi người yêu của ông vẫn ở lại ngoài vùng kháng chiến. Và kể từ đó coi như hai ngươi chia tay nhau và không còn một sự liên hệ nào.

Được biết người yêu của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ trong thời kỳ kháng chiến là một ca sĩ tên Trương Tân Nhân, cùng họat động với ông trong Đoàn Tuyên Truyền Kháng Chiến Trung Bộ. Sau khi Hoàng Thi Thơ trở về Huế, người yêu ông mới phát giác là đã mang thai. Hiện người con của hai người tên Lê Khánh Hoài đang họat động trong lãnh vực điện ảnh và kịch nghệ cùng một lúc là phóng viên tại Sài Gòn với nghệ danh là Châu La, năm nay cũng vào khoảng 55 tuổi.

Trên vai vế, Lê Khánh Hoài là em chú bác với Hoàng thi Thao. Và trong một trường hợp có thể gọi là thần giao cách cảm, Hoàng Thi Thao đã gặp người em của mình lần đầu tiên trong một dịp rất hi hữu vào cuối năm 75 trong thời gian anh còn kẹt lại Sài Gòn: “…khi đó, tôi đi trên mộr cái cyclo còn anh ta đạp cái xe đạp đi bên cạnh. Không biết tại sao, tôi tự dưng buột miệng hỏi có phải là Hoài không? Và bất ngờ, anh ta cũng hỏi tôi phải anh Thao không? Thật là một trường hợp hi hữu, xẩy ra ngay trên giữa đường phố Sài Gòn. Thế là 2 anh em chúng tôi ngừng xe ôm chầm lấy nhau, mừng mừng tủi tủi. Sau đó, tôi góp lại được một số quần áo cũ của ông Thơ mang cho Hoài coi như một kỷ niệm ấm áp giữa bố con”.

NS Hoàng Thi Thơ với thiền sư Lương Sĩ Hằng, người sáng lập hội Vô Vi Quốc Tế.
NS Hoàng Thi Thơ với thiền sư Lương Sĩ Hằng, người sáng lập hội Vô Vi Quốc Tế.

Thời gian này nhạc sĩ Hoàng Thi Thao cũng sống một cách rất chật vật bằng cách chơi vĩ cầm tại một số địa điểm ở Sài Gòn. Và sau lần gặp gỡ trên, hai anh em Hoàng Thi Thao va Lê Khánh Hoài trở nên rất gần gũi với nhau cho đến khi Hoàng Thi Thao vượt biên rời Việt Nam vào năm 1979 cùng với một số nghệ sĩ.

Gần đây nhất, Hoàng Thi Thao có dịp gặp lại nguời em của mình tức người con đầu tiên của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ trong một dịp về thăm quê hương. Về phần bà Trương Tân Nhân, năm nay cũng đã ngoài 70, hiện cư ngụ tại Sài Gòn. Sau khi mất liên lạc với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, bà đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng nên đã có lần nhẩy xuống sông tự tử theo lời kể của Hoàng Thi Thao.

Nhưng bà Trương Tân Nhân được cứu sống và được một vị lãnh đạo cao cấp của Đoàn Văn Tuyên đề nghị kết hôn với một người được chỉ định mang họ Lê tức người bố trên giấy tờ của Lê Khánh Hoài.

Trở lại với chú cháu nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và Hoàng Thi Thao sau khi họ vào đến Sài Gòn năm 1952. Được biết, cuộc sống của hai người trong thời gian đầu tiên rất là chật vật, thiếu thốn. Hai người chỉ biết trông cậy vào số tiền của thân phụ Hoàng Thi Thao từ Huế gủi vào hàng tháng.

Thoạt đầu hai chú cháu ở trọ tại căn nhà số 47 trên đường Catinat (tức đường Tự Do sau đó và là đường Đồng Khởi hiện nay) của một người quản gia cho một gia đình người Pháp. Lúc đó Hoàng Thi Thao lên 7 tuổi và bắt đầu theo học đàn violin, gần như do sự ép buộc của ông chú họ Hoàng rất mê vĩ cầm vì có quen biết với một tay đàn violon lừng danh vào thời đó là Tạ Bôn. Cho nên “ông ấy muốn ép tôi học nhạc khí này. Ông ấy tưởng tôi thông minh lắm, tưởng là tôi có khiếu về nhạc lắm nên nhất định ép học violon cho bằng đựợc”.

Hoàng Thi Thao tâm sự thêm là tuy lúc nhỏ có được chút lanh lợi nhưng chưa chắc đã là có khiếu học nhạc. Nhất là anh không cảm thấy thú vị gì khi được đề nghị theo học vĩ cầm. Trái lại còn cảm thấy rất cực, rất mệt khi phải theo học món nhạc khí này. Và “thế nhưng rồi bị đòn, bị bắt buộc rồi cũng phải đàn thuộc thôi!”

Tuy nhiên Hoàng Thi Thao cho biết sau đó anh trở nên một người rất đam mê âm nhạc, cũng như người chú và là bố nuôi của mình. Mặc dù trước đó không hề ưa thích môn vĩ cầm vì anh cho là ngoài khả năng của mình, nhất là từng được nghe nhiều cao thủ vĩ cầm trình tấu “thì mình thấy không thể nào mình theo nổi. Lại còn cảm thấy nhục nhã nữa nên không thấy có hứng thú chút nào”.

Hoàng Thi Thao còn cho biết nếu không phải theo học violon lúc đó, chắc chắn anh sẽ theo học piano hay guitar. Nhưng định mệnh đã an bài để Hoàng Thi Thao vài năm sau trở thành một “thần đồng vĩ cầm”. Và từ đó trở đi, anh là người luôn có mặt với cây vĩ cầm trong những đoàn văn nghệ do người chú nổi danh của anh làm trưởng đoàn để có dịp đi trình diễn khắp nơi. Đặc biệt anh trở thành một tên tuổi rất quen thuộc với khán giả trong tiết mục “Cò Tây, Cò Ta” với nhạc sĩ Lữ Liên. Anh sử dụng violon, trong khi nhạc sĩ Lũ Liên sử dụng đàn cò gây rất nhiều thú vị cho khán thính giả suốt hàng chục năm qua.

Sau hơn một năm ở trọ căn nhà trên đường Catinat, hai chú cháu lại tiếp tục cùng nhau ở trọ tại một số nơi khác… Do đó tình chú cháu càng này càng trở nên gần gũi hơn trong những hoàn cảnh thiếu thốn và nghèo túng như lời kể của nhạc sĩ Hoàng Thi Thao: “Thời đó, lúc nào cũng ăn rồi đi ở trọ thôi. Hai chú cháu chỉ có trần xì một cái ghế bố tại vì nghèo lắm. Ở trọ hết nhà này qua nhà khác. Sau đó thì đến đường Galíenie tức Trầh Hưng Đạo bây giờ. Ở dưới là hãng máy may Sinco. Rồi sau đó xuống Chợ Quán, đường Ký Con, rồi Trần Bình Trọng, rồi lên Tân Định, tức là đi khắp nơi. Nhà nào chứa chấp thì họ cho ở trọ, nếu không thì họ đuổi đi”.

Thời kỳ ở trọ trên đường Ký Con vào năm 1953, nhạc sĩ Hòang Thi Thơ đã cho ra đời một tác phẩm giá trị là “Để Sáng Tác Một Bài Nhạc Phổ Thông”, rất nổi tiếng với những phần hướng dẫn về hòa âm, luật sáng tác…

Quyển sách dày 500 trang này xuất bản vào năm 1955 và sau đó được tái bản nhiều lần đã trở thành kim chỉ nam cho những người viết nhạc trẻ.

Đối với Hoàng Thi Thao, anh nhận thấy thời kỳ hai chú cháu đi ở trọ là thời kỳ anh ghi nhớ nhiều kỷ niệm nhất về ông chú rất khó tính với anh khi còn nhỏ: “Hồi xưa lúc tôi còn bé, ông ấy khó tính với tôi lắm. Sau này chắc ông ấy thấy khó khăn như vậy rất vô ích với lại có vẻ trật đường thành ra ông ấy trở nên dễ dãi. Tuy nhiên ông ấy cũng có những cái rất khó đối với cách đối xử. Ông ấy muốn là lúc nào người khác cũng phải long trọng với ông ấy chứ đừng giỡn mặt. Một thằng cháu là một đại gia rất khá giả, mà chỉ vì một chuyện không đáng gì ông ấy không nhìn mặt là không nhìn mặt”.

Cũng vì vậy anh không sao quên được những trận đòn kinh hoàng mà ông chú Hoàng Thi Thơ đã dành cho anh. Tuy nhiên anh không lấy thế làm buồn giận vì biết người ông chú chỉ muốn anh nên người…

Hoàng Thi Thao cho biết ông chú Hoàng Thi Thơ của mình rất hiếu học nên có được một kiến thức khá về Pháp cũng như Anh văn. Ông đã bắt đầu đi dạy học ngay sau khi vào Sài Gòn một thời gian ngắn và làm nghề này liên tục cho đến năm 1965, song song với những họat động văn nghệ. Một chi tiết ít người biết, ông từng là người dạy kèm cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ năm 1952 cùng với dược sĩ Cao Văn Nghi…

Lúc này gia đình Trịnh Công Sơn ngụ trên đường Đặng Trần Côn, và Hoàng Thi Thao thì theo học cùng trường Aurore, tức Rạng Đông với 2 em trai của Trịnh Công Sơn là Hà và Tịnh.

Mặc dù không có liên hệ họ hàng, nhưng hai bên rất thân nhau, thể hiện qua cách xưng hô. Trịnh Công Sơn gọi nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là cậu. Còn Hoàng Thi Thơ gọi thân mẫu Trịnh Công Sơn là chị.

Trường Kỳ và NS Hoàng Thi Thơ trong lần đến thăm ông tại tư gia ở Glendale, nam California năm 1998.
Trường Kỳ và NS Hoàng Thi Thơ trong lần đến thăm ông tại tư gia ở Glendale, nam California năm 1998.

Hoàng Thi Thao cho biết anh cũng không thể quên những buổi tối nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, trước khi lập gia đình vào năm 1957, chở anh trên chiếc xe Vespa cũ mèm đến những rạp chiếu bóng ở Sài Gòn và Chợ Lớn như Việt Long, Moderne, Thanh Bình, Cathay, vv… để trình diễn vĩ cầm trong các chương trình phụ diễn tân nhạc vào thời đó.

Ngoài ra vào mỗi sáng Chúa Nhật, kể từ khoảng giữa thập niên 50, “thần đồng vĩ cầm Hoàng thi Thao” cũng tham gia vào những tiết mục phụ diễn cho chương trình Tuyển Lựa Ca Sĩ do đài phát thanh Sài Gòn tổ chức tại rạp Norodom, tức rạp Thống Nhất sau đó.

Cũng trong một cuộc tuyển lựa ca sĩ trong năm 1954, có một nữ thí sinh tên Thúy Nga, quê quán ở Sơn Tây, mới từ Bắc di cư vào Nam, đã lên sân khấu dự thi với nhạc phẩm Đường Lên Sơn Cước và tự đệm phong cầm một mình, không cần ban nhạc phụ họa. Hình ảnh người thiếu nữ sinh năm 1936 xinh xắn với mái tóc thề, lại có duyên và hát hay, đàn giỏi đã khiến con tim nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ rung động mạnh.

Người nhạc sĩ có tâm hồn nhiều đam mê và tính tình bay bướm này không bỏ lỡ cơn hội để tìm cách làm quen. Trong khi đó Thúy Nga thọat đầu chỉ coi ông như một người anh, và nhất là người thầy để có thể học hỏi thêm về âm nhạc. Nhưng rồi cuối cùng cũng đã xiêu lòng trước những tình cảm Hòang Thi Thơ dành cho mình để nhận lời cầu hôn của ông.

Tiệc thành hôn của cặp nghệ sĩ Hoàng Thi Thơ và Thúy Nga đã diễn ra tại nhà hàng Văn Cảnh vào ngày 10 tháng 10 năm 1957. Con trai đầu lòng của họ mở mắt chào đời vào năm sau tên Hoàng Thi Thi, hiện là một tay keyboard cừ khôi tại hải ngọai. Người con trai thứ hai của hai người ra đời sau đó là Hoàng Thi Thương, nhưng không may bị mất sớm. Người con thứ ba là con gái duy nhất tên Hoàng Mỵ Thi Thoa. Hai người sau là Hoàng Thi Thư và Hoàng Thi Thanh.

Được hỏi về cuộc sống gia đình của ông chú nghệ sĩ của mình, Hoàng Thi Thao đưa ra nhận xét là hai người có một cuộc sống rất hạnh phúc. Nhất là “khó có ai chiều chồng như bà Thúy Nga. Biết chồng như vậy cho nên chiều ghê lắm! Rất là quý! Lại còn nhịn nhục ghê lắm. Biết ông Thơ có cái tánh nghệ sĩ, cho nên bà Thúy Nga, cũng là ca sĩ, cho nên hiểu và thông cảm được”.

Riêng về cá nhân nhạc sĩ Hoàng thi Thơ, Hoàng Thi Thao đưa ra nhận xét ngắn gọn về ông chú của mình là một người có tính “bay bướm kinh hoàng!”. Anh từng chứng kiến nhiều trận ghen tuông giữa hai vợ chồng. Tuy nhiên một phần do tính của bà Thúy Nga rất hiền và một phần vì con cái nên kết cuộc mọi việc cũng được giải quyết êm xuôi.

Sau khi nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ lập gia đình, Hoàng Thi Thao vẫn ở chung với gia đình ông chú. Nhưng đến năm 1962 thì gia đình Hoàng Thi Thao gọi anh về lại Huế sống với gia đình vì sợ anh sa chân vào con đường ăn chơi của Sài Gòn khi anh mới được 16, 17 tuổi, như anh kể: “Lúc đó Thao bắt đầu mê vũ nữ rồi. Là cũng tại bạn của Kỳ là Tùng giang dẫn Thao vô Melodie nhảy đầm. Lúc đó Thao nhỏ nhỏ, tròn tròn, trắng trắng nên mấy cô vũ nữ thích lắm. Đã đi nhẩy đàm thì lại dính dáng đến vũ nữ. Cho nên gia đình biết chuyện đó mới hết hồn, sợ quá nên mới xách cổ về. Được coi như là từ Sài Gòn ra Huế du học!”

Nhưng đến năm 65, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ lại xin phép gia đình Hoàng Thi Thao để anh trở vào sống ở Sài Gòn vì ông cần người thân tín giao phó cho những công việc quan trọng. Và từ đó anh lại luôn có mặt bên cạnh người chú mà anh rất kính trọng và quý mến.

Sau khi lập gia đình, Hoàng Thi Thơ bước vào một thời kỳ họat động rất mạnh và hăng hái. Nhất là trong lãnh vực sáng tác với nhiều nhạc phẩm được gửi đến người nghe, đặc biệt qua giọng ca của Thúy Nga và cặp Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết. Sau đó những sáng tác của ông còn được phổ biến mạnh mẽ bằng tiếng hát của Duy Khánh, Thùy Hương, Tuyết Mai…vv…

Như ai cũng biết, Hoàng Thi Thơ là một nhạc sĩ sáng tác rất đa dạng, nổi bật nhất là thể loại nhạc Quê Hương, những thiên trường ca và những nhạc cảnh. Sự thành công như vậy theo người cháu và cũng là nghĩa tử của ông là Hoàng thi Thao đã đến từ sự siêng năng, chăm chỉ và lòng đam mê nghệ thuật vô bờ bến. Những năm tháng dài sống bên cạnh người chú tài hoa đủ để xác nhận cho sự đánh giá của Hoàng Thi Thao.

Và ngoài việc sáng tác, nhạc sĩ Hoàng thi Thơ rất giỏi trong việc tổ chức cũng như dàn dựng sân khấu. Còn Hoàng Thi Thao rất tích cực trong vai trò một cộng tác viên đắc lực, vì “Lúc đó không có ai, nên tôi là một thằng đệ tử, một tên tiểu đồng để ông ấy sai vặt hoặc là đứng trong hậu trường kêu gọi, nhắc nhở tiết mục trình diễn cho các ca nhạc sĩ. Hoặc đi mời các nghệ sĩ đến trình diễn hay tập dựơt. Tóm lại, ông ấy bảo gì thì làm cái đó!”.

Tuy mang bản chất của một nghệ sĩ thuần túy, nhưng Hoàng Thi Thơ rất khó khăn trong công việc, ngay cả với Hoàng Thi Thao lúc còn nhỏ. Vì nếu “lôi thôi là ăn bạt tai. Làm gì thì phải làm răm rắp. Quá khó khăn! Ông ấy úynh tôi te tua hết!”. Nhờ vậy sau này Thao trở thành một người rất được ông tin cậy để giao phó cho nhiều công việc của một người quản lý, nhất là đối với những chương trình đại nhạc hội do ông thực hiện từ cuối thập niên 50 tại những rạp như Thống Nhất, Thái Bình, vv… ở Sài Gòn cũng như tại các thành phố lớn như Nha Trang, Cần Thơ, Huế vv…

Đến khi Đoàn Văn Nghệ Việt Nam được thành lập vào đầu năm 1960, Hoàng Thi Thao vẫn theo sát ông chú của mình, vừa để trình diễn vĩ cầm, vừa để làm phụ tá cho ông mà đối với Hoàng Thi Thao là “làm mọi chuyện. Vừa thư ký, vừa tà lọoc, vừa người để sai vặt, vừa nhân viên, vừa nhạc sĩ, vừa đủ mọi thứ!”.

Chuyến lưu diễn đầu tiên của đoàn văn nghệ Việt Nam với Hoàng thi Thơ là trưởng đoàn và Lê Thương là phó đoàn đã diễn ra ở Nhật, Đài Loan và Hồng Kông vào năm 1960 với một thành phần nghệ sĩ lên đến cả trăm người thuộc đủ mọi bộ môn như ca, vũ, nhạc, kịch với sự chú trọng đặc biệt vào những tiết mục vũ và hợp xướng.

Những chuyến đi sau đó của đoàn Văn Nghệ Việt Nam đã được diễn ra tại Singapore, Mã Lai, Thái Lan và nhiều quốc gia khác. Họat động của đoàn văn nghệ này đã phải chấm dứt vào cuối năm 1963, sau cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 đưa đến cái chết của hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và việc lên nắm chính quyền của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Sau cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 63, có thời gian nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng truy tố về tội chuyển tiền ra ngọai quốc cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông bà Ngô Đình Nhu qua những chuyến lưu diễn của Đoàn Văn Nghệ Việt Nam. Ông phải vào tù Chí Hòa hơn một năm.

Nguyên nhân là Tổng Nha Ngân Khố tìm ra được những giấy tờ, theo đó ông Diệm và ông Nhu đã cấp phép cho Hoàng Thi Thơ đổi tiền Việt ra Mỹ Kim để dùng vào việc chi tiêu cho đoàn văn nghệ. Sự thật chỉ có vậy, sau đó xét thấy vô tội nên ông được trả tự do. Sau khi nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ ra tù vào năm 65, hai chú cháu và một số nhạc sĩ khác kết hợp thành một ban nhạc đi làm cho một vũ trường do gia đình khai thác tên Bồng Lai ở tận Qui Nhơn.

Đến cuối năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ lại được chính phủ mời làm trưởng đoàn để hướng dẫn một đoàn văn nghệ đi trình diễn tại nhiều quốc gia ở Âu Châu. Và sau đó đoàn này đã sang tận Trung Phi trình diễn nhân dịp đăng quan của hoàng đế Bokassa.

Vào khoảng những năm 67, 68, sau khi vũ trường Maxim’s được bán cho giám đốc công ty kem đánh răng Hynos là Huỳnh Đạo Nghĩa, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được giao cho nhiệm vụ đảm trách vấn đề nghệ thuật sân khấu trong khi địa điểm này được tổ chức theo lối các nhà hàng ca vũ nhạc nổi tiếng ở Paris như Moulin Rouge hoặc Lido.

Dưới tài tổ chức và khả năng nghệ thuật của Hoàng Thi Thơ, đoàn văn nghệ Maxim’s đã trở thành một nơi qui tụ rất nhiều nhân tài thuộc nhiều bộ môn nghệ thuật, nhất là vũ và nhạc kịch. Chính nhờ sân khấu Maxim’s mà Hoàng Thi Thơ đã có dịp phát triển rất mạnh tài năng của ông, đặc biệt qua những nhạc kịch rất giá trị đã đưa tên tuổi ông lên cao như Từ Thức Lạc Lối Bích Đào, Đường Minh Hoàng Du Nguyệt Điện, Cô Gái Điên, Ả Đào Say, vv… là những tiết mục chính trong chương trình của Maxim’s, được thay đổi mỗi 4 hoặc 6 tháng.

Theo một giao kèo ký kết với chính phủ Nhật một năm trước, đoàn văn nghệ Maxim’s với thành phần nghệ sĩ trên 20 đã người lên đường sang quốc gia này trình diễn vào ngày 10 tháng 3 năm 75 trong khi tình hình chiến sự đang đến hồi căng thẳng nhất. Hoàng Thi Thao ở trong số những người đưa tiễn phái đoàn ra phi trường Tân Sơn Nhất mà không ai ngờ đó là lần xa rời quê hương của những nghệ sĩ trong đoàn.

Về phần Hoàng Thi Thao, anh ở lại Việt Nam đến năm 79 để sau đó vượt biên. Sau khi tới Mỹ, anh lại cùng với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sát cánh trong việc tổ chức các đại nhạc hội tại nhiều nơi trên đất Mỹ cũng như trong việc thu băng hay video vv… Và cũng từ đó Hoàng Thi Thao luôn dính sát với cây vĩ cầm thân yêu của mình trong các buổi trình diễn, khởi đầu với những đêm hợp cùng Trung Nghĩa và cậu em Hoàng Thi Thi cộng tác với các vũ trường ở miền nam California. Ngoài ra công việc chính của anh là cộng tác với một văn phòng luật sư ở Orange County từ năm 1982 cho đến nay.

6 năm đã qua đi từ khi ông chú thân yêu của mình vĩnh viễn ra đi, nhưng Hoàng Thi Thao vẫn nhớ rõ mồn một những thói quen đặc biệt của ông. Chẳng hạn như về mặt trang phục, dưới mắt anh, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là một người rất thích chưng diện, nhiều khi hơi quá vì “có những lúc không cần diện thì ông ấy cũng diện… Bước ra ngoài đường là phải diện như vậy”.

Ông lại còn rất khó tính về ăn uống. Có nghĩa là ăn món gì phải ra món đó. Đặc biệt ông rất thích ăn những món ăn đăc thù của quê hương trong khi quan niệm của ông, ăn uống là một nghệ thuật. Cũng nhờ vậy, ông là một người nấu ăn rất ngon. Đặc biệt là món bún bò Huế.

Tuy là một nghệ sĩ nhưng Hoàng Thi Thơ không bao giờ đụng tới một giọt rượu hay một điếu thuốc lá. Ông chỉ có chút đam mê cờ bạc, như thích đánh cá ngựa chẳng hạn. Những điểm nổi bật nhất nơi ông có thể nói là một con người hào hoa, đa tình và bay bướm.

Theo Hoàng Thi Thao, chú anh không biết mình bị bệnh tim cho đến khi bị nhồi máu cơ tim 2 lần. Sau lần thứ hai, ông được đưa vào bệnh viện chữa trị. Tại đây cho biết tim ông đã bị tổn thương nặng với một vết thâm rất lớn. Do đó rất yếu nên không bơm được nước từ trong phổi ra. Tình trạng này khiến nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ luôn bị sặc nước nên phải ngủ ngồi suốt mấy năm trời. Từ đó ông ra vào bệnh viện nhiều lần trước khi vĩnh viễn ra đi một cách thanh thản vào ngày 23 tháng 9 năm 2001.

Đêm hôm trước ông còn nói chuyện rất vui vẻ với vợ cùng các con từ các nơi về thăm ông. Ông cho bà Thúy Nga biết là thèm ăn cơm với cá kho, với món này, món nọ. Sáng sớm hôm sau, vợ ông chuẩn bị đi chợ để làm theo ý ông. Trước khi đi, bà còn vào thăm ông. Nhưng gõ cửa thì không thấy trả lời. Đến khi đẩy cửa vào thì biết ông đã êm ái từ giã cõi đời.

Hoàng Thi Thao cho biết nhạc sĩ Hòang Thi Thơ có để lại một vài điều trăn trối mà anh đã có dịp đọc được. Trong đó có ghi lại một trong những ước muốn của ông là những nhạc kịch và nhạc cảnh lớn của ông sẽ có dịp được thực hiện tại Việt Nam. Vì ở hải ngoại việc thực hiện rất khó khăn, nhất là về vấn đề nhân lực và phương tiện.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã về thăm quê hương tất cả 2 lần kể từ năm 1993. Ông có gặp lại người con của ông với bà Trương Tân Nhân là Lê Khánh Hoài. Nhưng giữa hai cha con đã xẩy ra nhiều bất đồng ý kiến nên sau đó hai bố con không có được tình trạng gần gũi.

Theo nhận xét của Hoàng Thi Thao thì người con cả của ông đã có những đòi hỏi anh cho là quá đáng. Chẳng hạn như muốn bố mình xé bỏ passport để ở lại luôn Việt Nam. Đề nghị này đã khiến nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ rất khó xử. Nhưng cuối cùng ông đã quay trở lại Hoa Kỳ.

Đúng như nguyện vọng của ông, thi hài nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã được an táng tại Vườn Vĩnh Cửu trong khuôn viên nghĩa trang Peek Family ở Orange County. Nghĩa trang này nằm quay mặt ra đường Bolsa, vùng Little Saigon là nơi tập trung đông đảo người Việt Nam tỵ nạn, đại diện cho những người đồng hương và là những khán thính giả thân thiết với dòng nhạc Hoàng Thi Thơ ở khắp 4 phương trời.

6 năm đã qua đi, nhưng những người yêu mến dòng nhạc của ông vẫn thấy hình ảnh người nhạc sĩ đa tài này hiện diện trong những sáng tác đã trở thành bất tử của ông…

(Trường Kỳ)

oOo

Bài Thơ Cuối Cùng – Ca sĩ Hoàng Oanh diễn ngâm:

 

Bài Thơ Cuối Cùng – Ca sĩ Thanh Lan:

 

Bài Thơ Cuối Cùng – Ca sĩ Hà Thanh:

 

Bài Thơ Cuối Cùng – Ca sĩ Ý Lan

 

Bài Thơ Cuối Cùng – Ca sĩ Lê Bảo:

 

Bài Thơ Cuối Cùng – Ca sĩ Y Tuấn:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s