Nhạc cụ cổ truyền VN – Kềnh/Khèn

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Kèn Xaranai & Bộ nhạc cụ Chăm”, mình giới thiệu đến các bạn nhạc cụ Kềnh/Khèn của người Việt/H’Mông hôm nay.

Kềnh/Khèn H’Mông là nhạc cụ thổi hơi của người H’Mông. Một số dân tộc khác cũng có loại nhạc cụ Kềnh. Người Kinh gọi KềnhKhèn, vì thế Kềnh H’Mông còn được gọi là Khèn Mèo.

Kềnh H’Mông có 6 ống trúc rỗng ruột với độ dài ngắn khác nhau. Những ống này xuyên qua 1 bầu gỗ. Phần trên của đầu bầu gỗ thuôn nhỏ, nối với 1 ống trúc khác tạo thành ống thổi. Trên mỗi thân ống trúc nằm ngang có 1 lưỡi gà nhỏ bằng đồng nằm ở chỗ cắm qua bầu gỗ, gần đó, phía bên ngoài bầu gỗ là lỗ bấm. Muốn tạo ra âm thanh của ống nào, người ta bịt tay vào lỗ bấm của ống đó, thổi hơi vào khiến lưỡi gà rung lên phát ra âm thanh. Lúc hít hơi vào lưỡi gà cũng bị tác động cho ra âm thanh.

Tùy theo mức độ dài ngắn, to nhỏ mà các ống có âm thanh khác nhau. Riêng ống ngắn nhất và ống dài nhất có 2 lưỡi gà song song phát ra đồng âm. Nhìn chung, khi bịt lỗ hay mở ra đều có thể tạo âm thanh khi thổi. Kỹ thuật sử dụng Kềnh H’Mông cơ bản là những thế bấm như vỗ, vê, ngắt, láy rền, đánh chồng âm, hợp âm và hoà âm…

Kềnh H'Mông.
Kềnh H’Mông.

Kềnh H’Mông giống như nhiều loại Khèn khác, là nhạc cụ đa thanh, âm sắc có nhiều chất kim loại, hơi rè nhưng mạnh mẽ. Nhạc cụ này có âm vực trong vòng 1 quãng tám, mỗi ống chỉ phát ra 1 âm thanh. Một số nghệ nhân đã cải tiến loại Kềnh này thành 8 – 9 ống hoặc vẫn giữ nguyên 6 ống nhưng làm khóa bịt mở lỗ bấm để tạo thêm vài âm nữa, do đó âm vực rộng hơn đôi chút.

Người H’Mông thổi Kềnh trong những cuộc vui, tang ma hay lúc đi từ nhà đến chợ. Hiện nay, họ có nhiều loại Kềnh với kích cỡ khác nhau (nhỏ, vừa và to). Theo truyền thống, nhạc cụ này do nam giới sử dụng, thường dùng để độc tấu hoặc đệm hát.

Dưới đây mình có các bài:

– Tiếng khèn vượt thời gian
– Nghiệp khèn
– Lưu giữ nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc H’Mông

Cùng với 3 clips tổng hợp nghệ thuật diễn tấu Kềnh/Khèn của người Việt/H’Mông để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Kềnh - linh hồn của miền đá xám.
Kềnh – linh hồn của miền đá xám.

Tiếng khèn vượt thời gian

(Dân Việt)

Người Mông ở xã Hố Quáng Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang từ ngàn xưa đã quan niệm rằng, cây khèn là nhịp nối giao tiếp linh thiêng giữa trần gian và cõi thần linh.

Tiếng khèn không chỉ được vang lên trong các dịp hành lễ, hội bản, mà còn trong cả cuộc sống thường nhật, bởi nó thể hiện tâm hồn, bản sắc dân tộc và ẩn chứa cả những thông điệp sâu xa, thầm kín của con người.

Để có được một cây khèn vang âm đúng điệu Mông, không phải ai muốn cũng làm được và cũng không có nơi nào dạy làm khèn chuyên nghiệp. Thường thì các gia đình nghệ nhân làm khèn sẽ tự đúc rút kinh nghiệm để “cha truyền con nối”.

Nghề làm khèn cũng thật công phu. Trước tiên là phải lựa được thân khèn bằng một loại gỗ họ thông, thớ gỗ thẳng, không mối mọt. Cây gỗ sau khi được chặt xuống, phải ngay lập tức cắt khúc dày từ 80 – 90cm, bổ đôi và khoét rỗng theo chiều dài thân cây, rồi áp hai thân cây lại như cũ, buộc chặt để nhựa tự kết dính.

Những đoạn gỗ tươi này được đem về để khô trên gác bếp, rồi mới tạo hình dáng bầu, khoét các lỗ trên thân để lồng các ống trúc vào. Ống làm khèn là những thân trúc trên 10 năm tuổi, thẳng đẹp, để khô mới tiện lỗ, lắp ráp lại với thân khèn.

Sở dĩ phải sấy khô cả thân và ống trúc để vừa chống mối mọt, vừa tạo ra có độ chính xác cao khi khoét gióng đưa vào thân khèn được khít, không lọt gió và khi gặp thời tiết thất thường ít bị co dãn, nứt nẻ. Cuốn quanh thân khèn là loại dây được tách từ vỏ cây đào rừng, vừa để giữ chặt bầu khèn, vừa mang tính trang trí.

“Nhìn cây khèn ai cũng nghĩ là đơn giản, nhưng nó đòi hỏi rất nhiều tâm huyết. Làm khèn không dùng thước mà đo bằng tay, tính bằng mắt…” – Nghệ nhân Mua Vạn Tủa chia sẻ.

Có thể nói, tiếng khèn đã đem vẻ đẹp dung dị, chân mộc của tâm hồn người Mông gửi vào đá núi, mây ngàn tạo nên một nét đẹp văn hóa có sức sống vượt thời gian.

Nghệ nhân Giàng A Su đang truyền dạy bí quyết làm khèn cho cha con Mùa A Lồng.
Nghệ nhân Giàng A Su đang truyền dạy bí quyết làm khèn cho cha con Mùa A Lồng.

Nghiệp Khèn

(Phạm Minh-YBĐT)

Tiếng khèn réo rắt đưa tôi về bản Mông Si, xã Bản Mù. Tiếng khèn lúc rộn ràng khúc xuân vui khi trầm buồn dìu dặt, vọng vào vách núi lay động ngàn xanh. Người đàn ông tấu lên khúc nhạc kì bí ấy là Mùa A Lồng – người có tiếng ở đất Bản Mù và cũng là một trong hai người Mông ở Trạm Tấu còn giữ được bí quyết làm khèn truyền đời của dòng tộc.

Cha – con kế nghiệp

Là cháu đời thứ 4 được giao trọng trách kế nghiệp tổ tiên gìn giữ bí quyết chế tác khèn bè, Mùa A Lồng tự hào lắm. Chẳng biết cây khèn bè chứa đựng điều thần bí gì mà khiến chàng trai người Mông ấy mê mẩn đến vậy. 13, 14 tuổi, A Lồng đã biết thổi khèn. Duyên nợ với cây khèn ngấm vào máu khiến tiếng khèn của chàng trai có đôi mắt tinh như con chim rừng ấy trở nên đầy ma lực, hút hồn trai làng, gái bản mỗi mùa hội xuân. Càng khẳng định mình là người con trai tài giỏi nhất vùng khi A Lồng học được cách làm khèn bè do chính người bác ruột – nghệ nhân Giàng A Su truyền dạy.

A Lồng tâm sự: “Làm được cây khèn bè rất khó nhưng làm được để thổi cho hay thì chẳng những khó mà còn phải mất rất nhiều công. Bản Mông mình con trai có nhiều nhưng người biết cách làm khèn không có mấy. Cây khèn là linh hồn sống của người Mông mình. Gia đình nào khi có việc cũng phải cần đến tiếng khèn để làm các nghi lễ tâm linh nên không thể thiếu nó. Người con trai được coi là tài giỏi bây giờ thì phải biết học được nhiều chữ để đi công tác xã hội giúp đỡ cho dân bản, còn ngày trước thì phải biết chơi khèn, chơi sáo, biết làm được các nhạc cụ của dân tộc mình. Dòng họ mình có người biết làm khèn nên tự hào lắm. Biết làm rồi thì phải làm cho giỏi để còn dạy cho con trai mình, cháu trai mình biết làm, thế mới không mất nghề của tổ tiên truyền lại”.

Hơn 20 năm gắn bó với trọng trách giữ nghề của dòng họ, A Lồng không thể nhớ mình đã làm ra được bao nhiều cây khèn. Nhìn người đàn ông tuổi ngoại tứ tuần ấy trầm tĩnh cẩn trọng, với những công đoạn thủ công hết sức thô sơ, đòi hỏi sự kiên trì nhẫn nại đến kinh ngạc khiến tôi cảm phục. Bàn tay thô ráp nhưng khéo léo của ông thoăn thoắt gọt đẽo, tôi luyện từ mẩu đồng phế liệu đến những ống tre, ống trúc trên rừng… trở thành thứ nhạc cụ dân tộc vô cùng độc đáo.

Nhạc cụ ấy trở nên huyền bí khi ông thổi cả hồn mình cùng bao đam mê và tâm huyết gửi gắm trong từng thanh trầm, âm bổng. Hỏi chuyện bí quyết làm khèn, A Lồng cười hiền: “Cây khèn đối với người Mông mình rất quý. Người con trai biết thổi khèn thì được nhiều người thích, được nhiều con gái theo. Ở Trạm Tấu này có nhiều người biết thổi khèn thổi sáo đấy nhưng không có nhiều người biết làm khèn, làm sáo đâu. Bác Su dạy cho mình cách làm khèn làm sáo, giờ mình lại dạy lại cho con trai làm. Nhiều người mua lắm, có người Mông Trạm Tấu, ở Mù Cang Chải mua, lại có người Mông ở Sơn La, Lạng Sơn, người Mông ở vùng khác cũng tìm sang mua. Bán được tiền nên cứ làm quanh năm thôi. Người Mông mình chuyện vui, chuyện buồn đều dùng đến chiếc khèn nên phải làm để giữ nó”.

Tài là nói được rất ít tiếng phổ thông và chưa từng biết đến cái chữ, nhưng mỗi chi tiết trên cây khèn đều được A Lồng tính toán đạt đến độ chính xác cao. Niềm đam mê chơi và chế tác khèn bè của ông đã ngấm vào tâm hồn phóng khoáng đầy chất nghệ sỹ của người con trai lớn Mùa A Vàng như thể duyên nghiệp và hồng phúc của dòng họ. A Vàng rất tự hào về người cha của mình, anh bộc bạch: “Người Mông các nơi thích mua khèn của bố mình làm ra. Bán được tiền lắm, có chiếc được một triệu, có chiếc được hai triệu đồng, làm được người ta đến mua hết ngay.”

Chế tác khèn đã trở thành nghề tay trái mưu sinh của hai cha con.
Chế tác khèn đã trở thành nghề tay trái mưu sinh của hai cha con.
A Vàng đã chế tác thành thục được cả 2 loại nhạc cụ dân tộc.
A Vàng đã chế tác thành thục được cả 2 loại nhạc cụ dân tộc.

Ngày mùa thì làm ruộng, làm nương, còn hết việc thì hai bố con lại làm khèn, làm sáo để bán…”. 32 tuổi, A Vàng chẳng những thổi sáo hay, chơi khèn giỏi mà đã kế nghiệp cha chế tác thành thục được cả hai loại nhạc cụ dân tộc ấy. Nghiệp khèn đã trở cái thành nghề mưu sinh của cha con người nghệ nhân tài hoa đất núi này.

Nặng lòng với nghề

Đã qua cái tuổi “xưa nay hiếm”, nghệ nhân Giàng A Su không nhớ rõ bí quyết làm khèn được truyền dạy trong dòng họ mình tự bao giờ. Chỉ biết rằng, từ đời cụ, đời bố ông rồi đến ông là đời thứ 3 nắm giữ bí quyết này. Cái tâm đau đáu giữ hồn dân tộc qua chiếc khèn bè, thứ nhạc cụ mang đậm màu sắc tâm linh là linh hồn sống của người Mông khiến ông luôn canh cánh trọng trách truyền nghề và giữ nghề.

Mùa A Lồng là người cháu được ông chọn gửi trách nhiệm ấy. Mỗi bí quyết làm nên linh hồn của cây khèn thiêng được ông truyền dạy tỉ mỉ. Đã có một thời gian gần năm, ông đưa hai cha con Mùa A Lồng xuống thị trấn mở lò rèn chế tác khèn, sáo Mông với mong muốn đưa nhạc cụ này trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo của địa phương. Thế nhưng, dường như cái linh thiêng của thứ nhạc cụ tâm linh sử dụng trong các nghi thức cúng tế của người Mông cần tới cái tâm chay tịnh của chủ nhân tạo nên nó. Vì vậy, giữa ồn ào phố xá, tiếng khèn như thiếu đi sự khoáng đạt của đại ngàn bất tận.

Nghệ nhân Giàng A Su tâm sự: “Ngày còn đang làm Bí thư Huyện ủy Trạm Tấu, tôi rất trăn trở khi thấy bản sắc dân tộc mình cứ dần bị mai một đi, từ trang phục bị lai tạp đến các lễ hội, nhạc cụ dân tộc càng ngày càng ít người biết. Tôi làm dự án xin mở lò rèn dưới chợ huyện cốt để gìn giữ nghề rèn, cũng là để có thêm nhiều người biết đến nghề chế tác dụng cụ sản xuất, đặc biệt là việc chế tác khèn Mông, sáo Mông. Nghĩ sâu hơn là quảng bá, giới thiệu sản phẩm nhạc cụ của dân tộc mình để nhiều người biết và mua. Nghề này phát triển bà con mình cũng có thêm thu nhập. Nhưng làm hai việc này cùng một nơi thì không hợp, vì nghề rèn lúc nào cũng inh inh đe búa, còn làm khèn, làm sáo lại cần không gian yên tĩnh nên dự án đã thất bại. Cha con nhà A Lồng thông minh, lại rất có khiếu nên truyền dạy được cho người cháu này mình cũng yên tâm”.

Linh thiêng thành kính trong các nghi lễ tâm linh được tấu lên cùng vòng đời sinh tử của một kiếp người; hay phóng túng, rộn ràng trong vũ điệu xuân vui, vũ điệu của tiếng lòng thổn thức yêu đương, cây khèn bè nghiễm nhiên mang trong nó những giá trị tinh thần bất tử mà không một loại nhạc cụ nào có thể thay thế. Hiểu được điều thần bí ấy bằng uy tín của mình, ông cứ âm thầm truyền dạy, san sẻ niềm đam mê, tâm huyết cho lớp trẻ.

A Vàng dạy thổi khèn cho các bạn trẻ ngay tại nhà mình mỗi buổi tối.
A Vàng dạy thổi khèn cho các bạn trẻ ngay tại nhà mình mỗi buổi tối.

Gặp đám cưới, hội nghị hay các cuộc hội họp đoàn thể, ông tỉ tê trò chuyện, động viên các con các cháu, nhất là học sinh các trường phải học để biết thổi khèn, làm khèn. Ông bảo: “Lớp trẻ không học, người già cứ thế mà già đi không còn nữa. Người Mông mình dù già hay trẻ, khi tắt thở cũng phải có cây khèn. Bài khèn ấy như là một bài điếu văn tóm tắt tiểu sử của một đời người, kết thúc một đời người, nên thiếu cây khèn thì không thể làm ma được. Rồi khi đã trở thành ma khô cũng phải dùng khèn vào tận nơi an nghỉ mời người quá cố về làm ma, cho nên nhất thiết phải biết và phải giữ cho bằng được nghề làm khèn”.

Có khi đến nhà người quen chơi, thấy có cái khèn ông lại lấy thổi một, hai bài. Mọi người hiểu ý ông muốn nói, muốn khuyên nhủ động viên con cháu mình cố gắng giữ gìn tiếng khèn, giữ gìn truyền thống bản sắc văn hóa của dân tộc. Hiểu được tâm nguyện ấy của ông, mấy năm nay, cha con Mùa A Lồng phối hợp với Đoàn thanh niên xã Bản Mù tập hợp được trên 30 đoàn viên thanh niên mở lớp dạy thổi khèn và chế tác nhạc cụ dân tộc.

Chia tay cha con Mùa A Lồng và người nghệ nhân một đời nặng lòng truyền giữ hồn khèn, tôi nhớ như in câu nói của ông S: “Mình muốn làm nhiều việc lắm. Ngày còn trẻ nghĩ được nhưng làm được chưa nhiều. Giờ mình già thế này rồi không biết liệu có còn đủ sức để thực hiện những điều đã định làm hay không, nhưng chỉ cần còn khỏe, tôi tin mình sẽ làm được”. Khẳng định chắc chắn ấy của nghệ nhân Giàng A Su và lửa nhiệt thành rực sáng trong đôi mắt cha con Mùa A Lồng, tôi không tin thời gian, tuổi tác và những bộn bề lo toan của cuộc sống thường nhật sẽ chiến thắng nhiệt huyết giữ gìn văn hóa dân tộc của những người trai trong dòng tộc mấy đời chuyên tâm truyền giữ hồn khèn cho mảnh đất vùng cao Trạm Tấu…

Người dân H'Mông thổi khèn đón Tết. (Ảnh: Thanh Hà/TTXVN)
Người dân H’Mông thổi khèn đón Tết. (Ảnh: Thanh Hà/TTXVN)

Lưu giữ nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc H’Mông

Đồng bào dân tộc H’Mông ở Sơn La đón Tết khi tiết trời vùng cao còn chìm trong sương mù, lạnh giá, buốt da, thấu thịt, sớm hơn Tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người H’Mông.

Đây cũng là dịp khởi đầu cho nam nữ thanh niên vui Xuân, thổi khèn gọi bạn, ném Pa Pao, đánh Tu Lu (đánh quay), chơi kéo co, trò chơi rồng ấp trứng.

Phụ nữ dân tộc H’Mông được dịp trổ tài chế biến các loại bánh bằng bột ngô, bột gạo, giã bánh dày, làm bánh mèn mén. Người già thì cùng nhau uống rượu ngô, thăm hỏi, chúc tụng nhau trong ngày đầu năm mới mọi sự tốt lành.

Nét văn hóa độc đáo

Người dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay chiếm 13% dân số của tỉnh (khoảng 130.000 người) sinh sống ở hầu khắp các huyện, nhưng tập trung đông nhất ở các huyện vùng cao Bắc Yên, Mộc Châu, Vân Hồ, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Sông Mã và Sốp Cộp.

Trang phục của họ rất sặc sỡ, đa dạng, hội tụ đầy đủ những nét tiêu biểu, đặc trưng của đồng bào dân tộc H’Mông.

Chị Giàng Khánh Ly, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ (Sơn La), giải thích nhìn vào trang phục của phụ nữ là người ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa các nhóm trong đồng bào dân tộc H’Mông.

Phụ nữ H’Mông Trắng với chiếc váy màu trắng đặc trưng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Họ thường cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Còn phụ nữ H’Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Họ để tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả (lông đuôi ngựa).

Phụ nữ dân tộc H’Mông Ðen mặc váy đen nhuộm chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Nếu là phụ nữ dân tộc H’Mông Xanh, khi đã có chồng thì cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng. Họ trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Còn trang phục nam giới, nổi bật là chiếc quần xanh sĩ lâm ống rất rộng, đũng trễ so với các tộc khác trong vùng, đầu thường chít khăn tổ ong màu trắng, áo cánh ngắn ngang thắt lưng, thân hẹp, ống tay hơi rộng.

Hành trang của người đàn ông dân tộc H’Mông bao giờ cũng có chiếc khèn, được chế tác từ sáu ống nứa ghép với nhau qua một chiếc bầu gỗ.

Chiếc khèn có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân tộc H’Mông. Trước đây, nó là công cụ “gọi hồn” để người chết biết tìm đường về với tổ tiên, họ hàng. Bây giờ chiếc khèn còn là thứ nhạc cụ để múa hát trong những ngày lễ hội, Tết cổ truyền và là phương tiện để tỏ tỉnh đối với chàng trai dân tộc H’Mông.

Anh Tráng A Chứ, ở xã Vân Hồ, nói vui: “Đồng bào dân tộc H’Mông coi chiếc khèn như người bạn tâm tình, đặc biệt là những ngày Tết. Thanh niên dân tộc H’Mông ai cũng biết thổi, nếu chưa biết thổi khèn thì coi như chưa phải là đàn ông dân tộc H’Mông đích thực.”

Rồi A Chứ lấy khèn ra thổi. Lúc đầu, tiếng khèn trầm bổng, ngập ngừng. Sau đó có Giàng Páo, A Nếnh, Bả Mua, những thằng bạn thân của Chứ cùng mang khèn ra cùng thổi. Họ vừa thổi vừa “Tha Kềnh” làm cuốn hút mọi người xem.

Theo tiếng H’Mông, “Tha” là nhảy, “Kềnh” là “Khèn”, “Tha Kềnh” nghĩa là “Nhảy Khèn”. Chiếc Khèn được coi như biểu tượng cho văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc H’Mông, được các nghệ nhân tài hoa chế tác một cách khéo léo, sắp xếp, có sự tính toán để âm thanh phát ra đủ cung bậc trầm bổng.

Chiếc Khèn gắn với “Tha Kềnh” như hai yếu tố không thể tách rời, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào H’Mông trên miền núi cao.

“Tha Kềnh” bắt nguồn từ việc làm đám ma tiễn đưa người đã khuất về cõi âm. Nhưng cũng có thể là “Múa Khèn” trong dịp đón Xuân.

Những lúc vui Tết như thế này, người thổi khèn sẽ thổi những bài nhạc có giai điệu tươi vui, kể về đời sống lao động, sản xuất, ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình bạn bè thắm thiết.

“Tha Kềnh” ngày càng cuốn hút, gọi mời nhiều người đến xem và tham gia tạo thành vòng trong, vòng ngoài. Họ nhảy quanh những người thổi khèn, từng bước nhún nhảy, xoay vòng theo nhịp khèn.

Các cô gái trong áo váy mới súng sính, điệu đà cầm chiếc khăn voan mỏng, chiếc ô nhỏ màu sắc hòa vào điệu nhảy, váy hoa bồng bềnh theo nhịp bước. Theo tiếng khèn, họ hát cho tâm hồn trẻ lại, cho trai gái tìm đôi:

“Gió thổi về lá cây bên khe
Nếu ta là hạt mưa sương
Ta xin tan trên bàn tay nàng
Gió thổi lá cây lật ngả nghiêng bên suối
Nếu ta là hạt mưa sương
Ta xin tan dưới bàn chân nàng.”

Người H’Mông say đắm dân ca dân tộc mình. Những bài dân ca không chỉ được truyền miệng từ đời này sang đời khác, mà cái chất thơ trong Tiếng hát tình yêu (Gầu Plềnh), Tiếng hát cưới xin (Gầu Xuồng), Tiếng hát làm dâu… vẫn được bảo tồn cùng thời gian.

Những ngày Tết, hội Xuân này không thể thiếu vắng những lời hát đó. Đặc biệt, hội Gầu Tào (đón năm mới), những bài hát dân ca này không chỉ dành cho người có tuổi hát, mà còn được nam thanh nữ tú, thiếu nhi người dân tộc H’Mông hát.

oOo

Đắm say điệu Kềnh/Khèn H’mông:

 

Kềnh/Khèn – Tiếng lòng của người H’mông:

 

Nhạc cụ của người H’Mông:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s