Con người chỉ hấp dẫn khi anh ta liên hệ với chính bản thân mình. Tôi đã học được rằng bạn phải tin tưởng vào chính bạn, là chính bạn, và làm cái mà bạn nên làm theo cách bạn nên làm. Bạn phải khám phá chính mình, cái mà bạn làm, và tin tưởng vào điều đó.
Nguyễn Hoàng Long dịch
.
A human being is only interesting if he’s in contact with himself. I learned you have to trust yourself, be what you are, and do what you ought to do the way you should do it. You have got to discover you, what you do, and trust it.
Những đệ tử có đầy những câu hỏi về Thượng đế.
Thầy nói: “Thượng để là Không biết, Không khả tri. Mọi phát biểu về Ngài, mọi câu trả lời cho những câu hỏi của các trò, là một biến dạng của Sự thật.” Continue reading Bài ca của con chim→
Hôm nay (Chúa nhật, 9.5.2010), nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ, mình đăng lại bài này, viết vào Ngày Của Mẹ năm 1994, đã phát thanh lúc đó trên Đài Tiếng Nói Việt Nam (Sài Gòn) và báo Phụ Nữ TPHCM.
“Ngược Dòng Quê Ngoại” được hai nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy và Lý Phương Liên chọn đăng trong tuyển tập “Thơ Bạn Thơ” do NXB Văn Học phát hành năm 2012.
Nắng chiều phủ vàng hong lá mạ
Ông nhìn tôi thẫn thờ
Phút chốc
Thở dài
Ông bảo
Bà đó ông đây bao năm tháng
Ông vẫn ngờ như mới hôm qua
Tình bà
Ông đong không hết
Tình ông
Chẳng thể nhạt nhòa Continue reading Ngược dòng quê ngoại→
Help! là một bài hát của ban the Beatles được dùng làm bản nhạc chính cho phim Help! năm 1965 và album Help! cho nhạc của phim này. Bản nhạc cũng được phát hành trên đĩa đơn, và thành bản số 1 trong 3 tuần liền ở Anh và Mỹ.
Help! có tên tác giả là Lennon-McCarthy. John Lennon người viết chính, nhưng sau đó bản nhạc được phát triển thêm khi John Lennon làm việc chung với Paul McCartney. Trong một lần interview với báo Playboy năm 1980, John Lennon kể lại: “Toàn bộ câu chuyện the Beatles nằm ngoài sức tưởng tượng. Tôi đã khóc gọi ‘Giúp tôi!’ trong vô thức.”
Báo Rolling Stone xếp bản nhạc hạn 29 trong 500 Bài hát hay nhất mọi thời đại.
Giúp tôi!
Giúp tôi, tôi cần một người
Giúp tôi, không phải bất kì ai
Giúp tôi, tôi cần một người, hãy giúp tôi.
Khi tôi còn trẻ, trẻ hơn bây giờ rất nhiều,
Tôi chẳng bao giờ cần ai giúp bất kì chuyện gì.
Nhưng bây giờ thời đó đã qua, tôi không còn nhiều tự tin,
Bây giờ tôi thấy tôi đã thay đổi suy nghĩ và đã mở cửa.
Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi không?
Và bây giờ đời tôi đã thay đổi, ôi, nhiều chuyện,
Tính độc lập của tôi hình như tan biến trong trời mờ.
Nhưng thỉnh thoảng tôi cảm thấy rất bất ổn,
Tôi biết rằng tôi phải cần bạn như chưa bao giờ thế.
Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi không?
Khi tôi còn trẻ, trẻ hơn bây giờ rất nhiều,
Tôi chẳng bao giờ cần ai giúp bất kì chuyện gì.
Nhưng bây giờ thời đó đã qua, tôi không còn nhiều tự tin,
Bây giờ tôi thấy tôi đã thay đổi suy nghĩ và đã mở cửa.
Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi, giúp tôi không? Ôi!
(TĐH dịch)
Help! The Beatles
Help, I need somebody,
Help, not just anybody,
Help, you know I need someone, help.
When I was younger, so much younger than today,
I never needed anybody’s help in any way.
But now these days are gone, I’m not so self assured,
Now I find I’ve changed my mind and opened up the doors.
Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me?
And now my life has changed in oh so many ways,
My independence seems to vanish in the haze.
But every now and then I feel so insecure,
I know that I just need you like I’ve never done before.
Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me.
When I was younger, so much younger than today,
I never needed anybody’s help in any way.
But now these days are gone, I’m not so self assured,
Now I find I’ve changed my mind and opened up the doors.
Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me, help me, help me, oh.
Bến xa. Gánh nặng. Xế chiều. Bóng người hiu quạnh đổ xiêu đường dài. Sương khói mênh mông bao trùm vũ trụ. Vũ trụ thinh lặng ngậm ngùi, nhìn thế giới hư ảo, tan hợp, hợp tan. Nỗi buồn chất ngất giữa tầng mây xám, rơi xuống muôn hoa, khiến ngàn sắc màu héo úa. Nỗi buồn thấm nhập vào đáy sâu nội ngã của rừng thiêng, khiến hồn cổ thụ đau đớn, lặng nghe nước mắt chảy ngược vào lòng. Giữa hoàng hôn xưa, người phụ nữ âm thầm đi. Bà là ai, dáng bi thương? Nghiêng soi chiếc bóng mờ sương mặt người.
Có bà mẹ đi tìm con trên đỉnh đồi lan trắng
Có bà mẹ đi tìm con trong động hang lan vàng
Có bà mẹ đi tìm con bên bờ sông lam tím
Có bà mẹ đi tìm con trong thung lũng cỏ hoa. (*)
Bà là ai, cõi người ta không tìm ra danh tánh. Cõi người ta chỉ biết: Có bà mẹ đi tìm con, trên đỉnh đồi lan trắng. Có bà mẹ đi tìm con, trong động hang lan vàng. Nên bà được gọi là mẹ. Con lưu lạc phương nào, để mẹ phải lên đồi, ra sông, xuống thung lũng kiếm tìm. Mẹ đứng trên đỉnh đồi lan trắng. Thấy con ảo hoá giữa động hang lan vàng. Mẹ ra bờ sông in bóng trời lam tím, ngóng đợi. Tưởng như con ẩn hiện trong thung lũng sâu, đầy cỏ hoa. Mẹ ngơ ngác! Mẹ bàng hoàng! Mẹ đau khổ!
Xuân đến, mẹ trải lòng ra yêu thương rừng cây hoa lá. Vì rừng cây hoa lá, là hình ảnh vui tươi hạnh phúc của con. Hạvề, mẹ nghe ve sầu buồn thiu hát tự tình khúc. Tưởng như đang cảm nhận lời con, u uẩn rối bời tâm sự. Thu sang, mẹ ẩn mình giữa cỏ cây, vô cùng nhớ mây trời xanh ngát. Bởi không gian thanh trong như có giây tơ ấy, gợi nhớ thuở con còn thư sinh tay trắng mộng đầy . Mẹ cúi xuống, nâng niu ôm ấp đàn chim mồ côi. Như nâng niu ôm ấp núm ruột của mình, lúc tuyết trắng phủ đầy những ngày đông chí. Nước mắt mẹ tuôn thành giòng. Khi hình dung ra con tiều tụy, ho hen, gầy ốm trong rét mướt.
Trên đỉnh mùa xuân, mẹ ta thương cả rừng hoa lá
Trong mùa hạ, bên bờ lau, mẹ yêu tiếng ve rầu rầu
Thu về nằm trong bụi cây, nhớ mây trời xanh ngát
Nuôi một đàn chim mồ côi, khi đông tuyết lạnh rơi. (*)
Con đi đâu? Con ở đâu? Sao nỡ để mẹ băng qua núi đồi hoang vu, đến bến bờ hiu quạnh kiếm tìm! Con đi đâu? Con ở đâu? Sao nỡ để màn mây che mờ đôi mắt, đã cạn lệ của mẹ! Con đi đâu? Con ở đâu? Sao nỡ để trái tim nhân từ của mẹ, phải nát tan thành muôn vạn mảnh! Thời gian là ngõ hẹp của tâm tư, là ngõ rộng của cuộc đời, là chiều thứ tư của vũ trụ. Trong ngõ hẹp tâm tư, trong ngõ rộng cuộc đời, trong chiều thứ tư của vũ trụ ấy, người mẹ thanh tú cao qúy, thơm như nhành ngọc lan đầy hương sắc của con, bỗng trở thành bà lão. Lão bà đau yếu tóc bạc trắng, sờ soạng lần mò đi trong tăm tối, khản giọng tìm con, khi trăng rụng bên cầu không biết đã bao mùa.
Bốn mùa hoa đua nở, bốn mùa Mẹ lang thang
Tìm con, lòa đôi mắt, gọi con, lời đã khan
Khóc con, lệ đã cạn, thương con, lòng vắng hoang
Nhớ con, sầu đã ngất, đợi con, hồn đã tan
Tay Mẹ đang quờ quạng, như một cành khô khan
Nhớ con tìm khắp chốn, rời rã cả thời gian
Khi còn là thiếu phụ, thơm như nhành ngọc lan
Đến nay già tóc trắng, tìm con đã mấy trăng. (*)
Tiếng chuông gọi hồn, bất ngờ âm vang khắp cùng trời cuối đất. Khi mẹ là tro bụi tịnh dương. Xuôi miền vĩnh phúc ngàn thương mẹ về. Chiều hoang phế chợt tỉnh mê. Thời gian vuốt mắt vỗ về xác thân. Mẹ trầm hương khói đưa chân. Trùng dương sóng động triều dâng lệ hoà. Ơi người ơi! Mẹ đi xa! Ngàn năm nhật nguyệt không nhòa nghĩa ân. Cung trời sương gió sầu ngân. Bốn phương mây trắng cõi trần đại tang!
Thế rồi một hôm Mẹ chết, hơi Mẹ trong trời chưa hết
Ôm cả trần gian đầy vơi, nhân loại đeo tang người
Tim Mẹ thành ra trùng dương, máu Mẹ thành sông thành nước
Ôi đời trầm luân Mẹ thương, chiếu ánh sáng từ quang. (*)
Thái âm nguyệt tận điêu tàn. Đời rơi nước mắt bàng hoàng mồ côi. Ơi người ơi! Mẹ đi rồi! Còn đâu tiếng hát biển trời ru con! Hoàng hôn dạ khúc hao mòn. Cung si giáng nửa mất còn mẹ xưa. Sinh ly tử biệt đau thừa. Tịch dương xác mẹ đò đưa lên đường. Thương đoàn con dại tha phương. Hoá thân bồ tát thiện tường Quán Âm. Mẹ là Chú Đại Bi tâm. Diệu kinh thánh ái độ trầm luân xa.
Bây giờ Mẹ đã thành mơ, hơi Mẹ hoá thành hơi gió
Bốn mùa ngồi nghe mọi nơi, tiếng Mẹ ru bồi hồi
Xưa là Mẹ đi tìm con, tiếng Mẹ ru buồn khắp chốn
Nay thành hiện thân Mẹ chung, tiếng Mẹ hát ru dịu dàng. (*)
Mẹ không ra đi. Mẹ ở lại với đoàn con đau khổ. Mẹ là Quán Thế Âm, thị hiện giữa cõi đời nhiều hệ lụy. Tiếng mẹ hát ru dịu dàng, giúp con vượt thoát trùng trùng khổ ải của ngũ uẩn: Sắc-Thọ-Tưởng-Hành-Thức, do tiền oan nghiệp chướng tạo thành. Để trăng vàng ảo vương bóng. Mặt hồ khói sóng hong. Liễu rủ ngàn sương đọng. Tìm thanh an cho lòng.
Vivian Hoàng Nhất Phương
**********
(*) Đạo Ca 4: Quán Thế Âm
Thơ: Phạm Thiên Thư
Nhạc: Phạm Duy
Hãy biến con thành một lực Thiện.
Lấy ra khỏi nhận thức của con những suy nghĩ khiến con bị bó buộc ở đây.
Mọi mục tiêu, con dâng lên Người.
Mọi lịch trình, con dâng lên Người.
Tất cả những gì con có và tất cả những gì con là, con trao cho Người.
Con chỉ cầu xin được ôm ấp trong vòng tay của Người để con có thể biết được niềm vui của hiến dâng trọn vẹn.
Mong con không bị cám dỗ để nghĩ về những điều vô nghĩa để quan tâm tới chúng và đau khổ sau đó.
Hãy gửi thánh linh của Người đến nâng con lên, vượt qua đau khổ và sự rối loạn của thế giới này.
Hãy cho con tuổi trẻ mới, và một tinh thần tự do và an lạc.
Chỉ cho con hạnh phúc của sự tha thứ trọn vẹn.
Bất kì người nào con không tha thứ, thưa Chúa, hãy chỉ cho con làm sao để tha thứ, vì con cầu được thoát khỏi tội lỗi của thế giới này.
Chúa ơi,
Hãy làm con hạnh phúc.
Con đã sẵn sàng để thoát ra khỏi nỗi đau con trẻ.
Amen.
(Hoàng Khánh Hòa dịch)
Dear God,
Please make me a force for Good.
Remove from my awareness all thoughts that keep me bound here.
Every goal I surrender to You.
All agendas I surrender to You.
All I have and all I am I give to You.
I ask only to be carried in Your arms that I might know the joy of full surrender.
May I not be tempted to think about meaningless things and give them weight and suffer thereby.
Please send Your spirit to lift me up, above the pain and turmoil of this world.
Please give me new youth, and a free and joyful spirit.
Show me the happiness of full forgiveness.
Whomever I do not forgive, dear Lord, please show me how, for I wish to be free of the guilt of this world.
Dear God,
Please make me happy.
I am ready to outgrow my childish pain.
Amen.
Bassui viết lá thơ sau đây cho một đệ tử sắp chết”
“Thể tính của tâm của con không hề được sinh ra, nên nó không bao giờ chết. Nó không phải là hiện hữu–hiện hữu có thế hư mất. Nó không phải là hư không—hư không chỉ là một khoảng trống. Nó không có sắc màu và hình thái. Nó không hưởng thụ khoái lạc và không đau đớn với khổ nạn.
“Thầy biết con bệnh nặng. Là một thiền sinh sinh giỏi, con đang đối diện bệnh tật thẳng mặt. Con không biết chính xác là ai đang đau khổ, nhưng hãy tự hỏi mình: Cái gì là thế tính của tâm này? Quán chiếu điều này thôi. Con chẳng cần gì hơn nữa. Đừng ham muốn gì. Tận cùng của con là vô tận, là một hoa tuyết tan trong không khí trong lành.”
.
Bình:
“Tôi từ đâu đến, và sau khi chết thì tôi đi đâu?” Đây là câu hỏi cốt yếu nhất, câu hỏi khởi đầu và là câu hỏi cuối cùng, của tất cả mọi truyền thống triết lý hay tâm linh.
Một câu hỏi khác, cùng nghĩa như câu trên nhưng chỉ khác từ, là: “Cái tinh yếu của tôi là gì? Thể tính của tôi là gì?”
Phật gia trả lời:
Hoa tuyết tan trong không khí, vì hoa tuyết từ không khí mà đến—hơi nước trong không khí gặp lạnh đông thành hoa tuyết, tuyết tan thành nước lại bốc hơi vào không khí. Hoa tuyết là không khí tạm xuất hiện khi gặp lạnh, biến mất vào không khí khi hết lạnh.
Ta là Không, tạm xuất hiện là người khi gặp đủ điều kiện thành người, và biến mất vào Không khi gặp đủ điều kiện để tan rã.
Thể tính của tâm ta, cũng như thể tính của tất cả mọi thứ trong vũ trụ là “Không”.
“Không” bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm—“Không” chẳng sinh chẳng diệt chẳng dơ chẳng sạch chẳng tăng chẳng giảm (Bát Nhã Tâm Kinh), chẳng là có, cũng chẳng là không có…
“Không” là tuyệt đối.
Tất cả mọi “tính cách” mà ta gán cho một vật –sáng, dài, tối, lớn, nhỏ, đẹp, xấu, hiện hữu, chẳng hiện hữu, màu sắc, hình thế, hưởng thụ khoái lạc, đau đớn với khổ nạn, có giới hạn, có tuổi tác…–đều không dùng được với “Không”, vì “tính cách” là tương đối, mà “Không” là tuyệt đối.
“Không” vượt ra ngoài mọi giới hạn của tính cách, nên ta không thể mô tả “Không” cách nào cho đúng, ngoài cách gọi “Không” là “Không”, và chẳng nói thêm gì cả.
Từ “Không” mọi sự sinh ra, kể cả tâm ta và thân ta. “Không” là thể tính của tâm ta và thân ta.
Nếu ta biết là ta từ “Không” mà đến và lại trở về “Không” thì ta biết rằng ta chẳng có khởi đầu, chẳng có kết thúc, chẳng có sinh chẳng có tử, chỉ thỉnh thoảng hiện ra trong thân thể này hay hình thể khác, như những con sóng lên xuống của đại dương, thế thôi. Sóng không có sinh và tử, vì thực ra sóng là đại dương, luôn ở đó.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
A Letter to a Dying Man
Bassui wrote the following letter to one of his disciples who was about to die:
“The essence of your mind is not born, so it will never die. It is not an existence, which is perishable. It is not an emptiness, which is a mere void. It has neither color nor form. It enjoys no pleasures and suffers no pains.
“I know you are very ill. Like a good Zen student, you are facing that sickness squarely. You may not know exactly who is suffering, but question yourself: What is the essence of this mind? Think only of this. You will need no more. Covet nothing. Your end which is endless is as a snowflake dissolving in the pure air.”
Đừng làm tôi thất vọng, đừng làm tôi thất vọng.
Đừng làm tôi thất vọng, đừng làm tôi thất vọng.
Không ai yêu tôi như nàng
Ô như nàng, vâng như nàng
Và nếu có ai yêu tôi như nàng yêu tôi
Ô như nàng yêu tôi, như nàng yêu tôi Continue reading Đừng làm tôi thất vọng→
Nhà thơ Hoàng Cầm vừa tạ thế hồi 9:30 sáng ngày thứ năm, 6 tháng 5, 2010, tại Bệnh Viện Hữu Nghị, Hà Nội, thọ 89 tuổi.
Mình gặp bác Hoàng Cầm hơn 10 năm về trước ở Hà Nội. Lúc đó bác còn rất khỏe mạnh. Đó là một người rất dễ tính, vui vẻ, yêu đời và thoải mái với mọi sự. Mính vẫn mong gặp lại bác, nhưng rất tiếc là mấy lần sau nầy về Hà Nội đều không có dịp. Rất tiếc, rất tiếc. Thời gian không đợi ai. Muốn làm gì cho người đó thì phải tìm cách làm ngay khi người còn sinh tiền.
Hoàng Cầm sinh năm 1922. Ở tuổi xấp xỉ 90, vì một cú ngã dẫn đến bại chân, nhiều năm qua, ông hoàng thơ tình Việt Nam chỉ còn quanh quẩn nằm ngồi trong căn phòng nhỏ trên con phố Lý Quốc Sư. Tối 2/5, bệnh trở nặng, ông được đưa vào Bệnh viện Hữu Nghị (Hà Nội) cấp cứu. Hơn 3 ngày sau, tác giả Bên kia sông Đuống qua đời, hưởng thọ 89 tuổi.
Nhà thơ Hoàng Cầm. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho biết, hôm 3/5, ông cùng Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh và một số bạn văn nữa vào viện thăm Hoàng Cầm. “Lúc này, nhà thơ không nói được nữa, tuy ánh mắt vẫn còn tỏ vẻ nhận ra mọi người. Tay ông dường như đã lạnh”.
“Tôi đã lường trước được chuyến đi cuối cùng của Hoàng Cầm. Nhưng khi nghe tin ông mất, tôi vẫn không tránh khỏi cảm giác bàng hoàng, đau xót. Đối với tôi, Hoàng Cầm là một nhà thơ lớn với những tác phẩm mang đậm dấu ấn truyền thống, nhưng lại có đóng góp rất quan trọng trong công cuộc cách tân thơ ca Việt Nam. Thơ ông ảnh hưởng đến nhiều thế hệ thi sĩ Việt Nam”, Nguyễn Trọng Tạo chia sẻ.
Hiện tại, thi hài nhà thơ đang được quàn tại phòng lạnh Bệnh viện 108. Nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết: “Hội và gia đình nhà thơ đang bàn bạc về ngày giờ và địa điểm tổ chức tang lễ cho Hoàng Cầm. Tang lễ của ông sẽ được tổ chức với nghi thức cao nhất của Hội Nhà văn. Ông không chỉ là tác giả đoạt giải thưởng Nhà nước mà còn là một tên tuổi lớn trên văn đàn Việt Nam hiện đại”.
Nhà thơ Hoàng Cầm và nhà văn Kim Lân năm 2003. Cả hai giờ đều đã là “người của muôn năm cũ”. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.
Hoàng Cầm, tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ra tại làng Lạc Thổ, nay là xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, trong một gia đình nhà Nho nghèo sống bằng nghề làm thuốc Đông y. Ông làm thơ từ năm lên tám, chín tuổi, bắt đầu được in từ những năm 1936 – 1937. Bút danh Hoàng Cầm xuất phát từ tên của một vị thuốc quý.
Những năm kháng chiến, Hoàng Cầm gia nhập quân đội, chuyên hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Năm 1957, ông là một trong số những hội viên tham gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Sau đó, ông tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm và thôi công tác tại Hội Nhà văn.
Hoàng Cầm được biết đến trong nhiều lĩnh vực, nhưng nổi tiếng nhất là thơ ca. Những tác phẩm chính trong sự nghiệp sáng tác của ông gồm: Trương Chi (xuất bản năm 1993), Bên kia sông Đuống (thơ, 1948), Kinh Bắc (thơ, 1959), Men đá vàng (truyện thơ, 1973), Mưa Thuận Thành (thơ, 1959), Lá Diêu Bông (thơ, 1993), Đến từ hư không (thơ, 2000)…
Năm 2007, Hoàng Cầm được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học Nghệ thuật.
Hà Linh – VnExpress
Mời các bạn đọc ba bài thơ của Hoàng Cầm để tưởng niệm một thi sĩ tài hoa:
Lá Diêu Bông
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi tìm thấy lá
Chị chau mày:
Đâu phải Lá Diêu Bông.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãn bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời…
ới Diêu Bông!
(Hoàng Cầm)
Mong mỏi
Em về chia hết trầu cau
Anh đi chia nửa câu đầu cho ai
Là câu thưa với đất trời
Nhờ ơn bác mẹ thành đôi từ ngày
Em về bác mẹ vui ngay
Anh đi làng xóm nhớ ngây dạ buồn
Em về trải rạ êm đường
Anh đi manh áo phố phường bụi pha
Em về én thức canh ba
Anh đi lưới nhện nhập nhoà theo đi
Em về chữ phận yên vì
Chữ duyên anh xé chữ nghì em vương
Ước sao dàu nát đoạn đường
Anh đi bão táp phải nhường heo may
Thoảng hơi sương lạnh má gầy
Duyên em quyết tái sinh ngày… còn không…
(Hoàng Cầm)
Bên kia sông Đuống
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm đồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu ?
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng
mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em xột xoạt quần nâu
Bây giờ đi đâu ? Về đâu ?
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Tràm chỉ người dăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu ? Về đâu ?
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu ?
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn
Đêm buông xuống dòng sông Đuống
Con là ai ? Con ở đâu về ?
Hé một cánh liếp
– Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao loé giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu buổi trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
‘À ơi… cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù’
Tiếng em cắt cỏ hôm xưa
Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay
‘Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu…’
Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau
Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh
Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía nam sông Bình Giang (nay là sông Thiên Đức). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật là chùa Phúc Nghiêm, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo. Chùa Dâu (Chùa Pháp Vân), Bắc Ninh
Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương, cha mẹ đều đã mất, nghèo khổ vô cùng, cũng tới đó dốc lòng theo học Phật. Vì có tật nói lắp, không thể cùng chúng tụng kinh, thường ở dưới bếp, vo gạo, nhặt rau, nấu nướng cho các vị tăng trong chùa và khách tứ phương.
Giữa tháng năm, đêm ngắn, Man Nương nấu cháo đã chín mà tăng chúng tụng kinh chưa xong, chưa tới ăn cháo được. Man Nương ngồi đợi bên cửa bếp, không ngờ ngủ quên đi mất. Tăng chúng tụng kinh xong đều về phòng riêng. Man Nương ngủ ở giữa cửa bếp, sư Già Lê bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai. Có thai được ba bốn tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về. Sư Già Lê cũng thẹn mà bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngã ba sông thì ở lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già Lê mà trả. Đêm đến, bế đứa bé gái ấy tới gốc cây bên ngã ba đường nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”. Sư Già Lê và Man Nương từ giã nhau ra về, Già Lê cho Man Nương một cây trượng và bảo: “Ta cho nàng vật này. Nàng về nhà, nếu gặp năm hạn hán thì lấy trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh, về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được vì thế được nhờ.
Khi Man Nương ngoài tám mươi tuổi, gặp lúc cây ấy bị đổ, trôi dạt đến bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng đều bị gãy, bèn cho hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. Gặp lúc Man Nương xuống bến rửa tay, thử kéo chơi thì cây chuyển động. Mọi người đều kinh ngạc, bảo nhờ Man Nương kéo lên bờ, sai thợ tạc bốn pho tượng Phật. Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả. Họ liền vất tảng đá xuống vực sông, một tia sáng chói lên, hồi lâu đá mới chìm xuống nước. Bọn thợ đều chết cả. Dân bèn mời Man Nương đến bái lễ, nhờ dân chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào trong chùa, thếp vàng cúng bái. Sư Già Lê đặt hiệu cho bốn tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện (1). Thiện nam tín nữ ở khắp nơi đều thường tụ họp về chùa vui chơi ca múa, người đời gọi là hội Tắm Phật, ngày nay vẫn còn.
Chú thích:
1) Bản VHV 1473 chép thêm rằng: “Gọi Man Nương là Phật mẫu. Ngày mồng 8 tháng 4, Man Nương không bệnh mà chết, chôn ở trong chùa. Người đời lấy ngày này làm ngày lễ Phật đản.
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.
Bình:
Tượng Pháp Vân chùa Dâu, phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật
• Truyện này nói về việc phối hợp giữa văn hóa Việt thời cổ đại và văn hóa Phật giáo.
Văn hóa Phật giáo biểu tượng bằng sư Già La Đồ Lê với cái tên rất ngoại quốc (Có bản nói là sư Khâu Đà La. Dù là tên gì thì cũng nghe rất ngoại quốc). Già La Đồ Lê có phép đứng một chân: Đây là ý nói về nhất nguyên luận của Phật giáo–tất cả mọi sự đều là Một, và Một đó là Không. (Nhất thiết pháp giai Không–tất cả mọi thứ đều là Không).
Văn hóa Việt biểu tượng bằng Man Nương. Man là man di, man dã, tức là ngu si dốt nát. Nương là nàng.
Già La Đồ Lê bước ngang Man Nương là biểu tượng của sự phối hợp giữa hai nền văn hóa, 5 người con là kết quả của phối hợp văn hóa này.
• Việc dùng man nương làm biểu tượng văn hóa Việt có thể hiểu ở nhiều cấp độ và góc cạnh khác nhau:
1. Đây là chú tâm về văn hóa mẫu hệ, văn hóa mẹ, lấy mẹ làm chính. Bố chỉ là vai phụ trong truyện. Có 5 con thì 4 con là nữ, và một tảng đá. Chẳng có nam.
2. Nói rằng phụ nữ ngu dốt (Man Nương) có thể thành Phật là một cách mạng văn hóa về bình đẳng nam nữ trong Phật giáo. Trong truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa) ở Ấn Độ phụ nữ không được đi tu, và không thể thành Phật.
3. Man nương ngu dốt còn là biểu tượng của vô minh (si mê), gặp Phật pháp từ Già La Đồ Lê, mà giác ngộ thành Phật.
• Man nương và Già La Đồ Lê phối hợp tạo nên một người con đầu tiên là con gái. Đây là một nhấn mạnh về truyền thống văn hóa mẫu hệ cổ truyền.
• Đứa con gái này được Man Nương giao lại cho Già La Đồ Lê là biểu tượng cho sự nuôi dưỡng khôn lớn trong tinh thần Phật giáo.
• Mang con bỏ vào trong hốc cây và được cây nuôi dưỡng gợi lại hình ảnh Phật Thích Ca thiền định dưới cội Bồ Đề và giác ngộ.
Cây lại đứng ngay ngã ba, nơi ba đường chụm lại. Đây xem ra là biểu tượng của tam thừa chỉ là một. Trong phẩm Thí Dụ của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật có nói Phật dạy 3 thừa—thanh văn thừa, duyên giác thừa, Bồ tát thừa—thật ra cũng chỉ là một Phật thừa. Ba con đường cũng đều là đường đưa đến giác ngộ.
• Tuy nhiên, cây cổ thụ ở đây còn có thể là tàn tính của tín ngưỡng đa thần xưa cũ. Vào thời cổ xưa phần đông các bộ tộc của loài người đều theo đa thần, trong đó cây cối, mưa, gió, núi, sông… đều là thần, hoặc đều có thần ngự trị. Man Nương nói với cây cổ thụ “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”, tức là cư xử với cây này như một vị thần cây.
• Cây còn là biểu tượng của tổ quốc. Đất, đá, nước, cây đều là biểu tượng của non sông gấm vóc. Con của Man Nương được nuôi dưỡng trong Phật pháp và tinh khí núi sông.
• Cây gãy, trôi theo dòng nước đến cửa chùa. Đây là văn hóa nước, văn hóa quê hương tổ quốc—nước của nguồn gốc dân tộc, Động Đình Hồ. Nước là tổ quốc. Chúng ta đã nói đến việc quan trọng của văn hóa nước trong Truyện Hồng Bàng và Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Pháp vân (2 ảnh trái), Pháp Vũ (2 ảnh phải)
• Từ cây này tạo thành năm Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật (Phật Đá Sáng, hiện nay vẫn còn được tôn thờ trong Chùa Pháp Vân ở Bắc Ninh).
Đây khá rõ là việc biến các thần cũ của thời đa thần thành Phật của nền văn hóa mới. Pháp là Phật pháp, vân là mây, vũ là mưa, lôi là sấm, điện là chớp, thạch là đá. Các thần mây, thần mưa, thần sấm, thần điện, thần đá (hay thần núi) của thời sơ khai nay được tôn thành Phật trong nền văn hóa mới.
• Ngoại trừ đá Thạch Quang Phật không rõ giới tính, bốn Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đều là phụ nữ, không có Phật nam. Một lần nữa nhấn rất mạnh văn hóa mẫu hệ xưa cũ.
• Thạch Quang Phật, được xem là em út, không có hình dáng người, nhưng là đá, khác với các tượng Phật của các chị khắc từ cây. Đá thì chắc chắn bền vững hơn cây. Đá là núi là đất, là quê hương. Đá Thạch Quang Phật nổi trên mặt nước lâu rồi mới chìm là nhấn mạnh đến Núi(đá) Sông.
“Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả”. Nghĩa là, đá Thạch Quang Phật là người con quan trọng nhất, là linh khí của bé gái. Phật Đá Sáng, Phật Đất Nước Núi Sông, do đó, là quan trọng nhất và bền vững chắc chắn hơn tất cả các Phật.
Ở đây ta thấy tinh thần Phật giáo và tinh thần dân tộc quyện vào nhau thật chặt chẻ. Phật giáo, dù là từ Ấn Độ sang, khi đến Việt Nam nó quyện vào văn hóa dân tộc Việt rất khắng khít, để giúp văn hoá Việt phát triển mạnh mẽ và tự nhiên. Xem ra không có xung đột giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt cổ xưa. Và tinh thần dân tộc là một yếu tính tự nhiên của Phật giáo Việt Nam.
• 5 Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật: Từ góc độ triết lý Phật giáo, Phật pháp hiện diện trong tất cả mọi thứ, kể cả mây, mưa, sấm, chớp và đá.
• Tại sao lại một Phật mẹ và năm Phật con, chúng ta không rõ. Nhưng cũng có thể đây là biểu tượng của văn hóa âm dương ngũ hành đã có trong văn hóa Việt Nam từ trước. Mẹ cha là âm dương và 5 con là ngũ hành – kim mộc thủy hỏa thổ.
• Cây trượng sư Già La Đồ Lê tặng Man Nương là biểu tượng của Phật pháp, tương tự như cây gậy của Chử Đồng Tử, của thiền tổ Bồ Đề Đạt Ma, và của Phật Di Lặc và mà ta đã nói đến trong Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử.
• Chùa Pháp Vân, còn gọi là Chùa Dâu, Diên Ứng Tự, hay Cổ Châu Tự, hiện nay vẫn còn ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam.
Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dàn thờ Pháp Điện, và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần. Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy, nên tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu.