
Hi everyone,
Thanks, chị Kiêm Yến and chi Kitty, for your work. Nothing to correct. I have here the original English version and chị Kiêm Yến’s version (with some words taken out), so that everyone may be familiar with the terminology in both languages.
English version
II. Causes of suffering: Craving causes suffering.
III. Extinction of Suffering: Because craving is the cause of suffering, to stop suffering we need “to stop, to denounce, to leave, to cut away craving.”
IV. The Path to Extinction of Suffering: This path has eight lanes and is called The Noble Eightfold Path.
1. Right view: The understanding of the Four Noble Truths, non-permanence, non-self, and nirvana.
2. Right thought: Thoughts about stopping craving, about no anger and no violence, about no harmful activities.
3. Right speech: No lying, no divisive speech, no abusive speech, no idle chatters.
4. Right action: No killing, no stealing, no wrongful sexual conduct.
5. Right livelihood: No engaging in trade or profession that, either directly or indirectly, results in harm to other living beings.
6. Right effort: Try to prevent wrongful thoughts and actions from arising; if they have already arisen, try to stop them. Try to bring up good thoughts and actions; if they have already come, try to continue them.
7. Right mindfulness: Observing our body, our feelings, our thoughts and dharmas (all things, all teachings) to conquer all cravings and distress.
8. Right concentration: This is about the practice of meditation.
.
Chị Kiêm Yến’s version (with the first 2 lines added)
Tứ diệu đế (bốn chân lý huyền diệu)
I. Khổ đế: Đời có khổ
II. Tập đế (Nguồn gốc đau khổ ): tham lam gây khổ.
III. Diệt đế (Sự chấm dứt khổ): vì tham lam là nguồn gốc đau khổ; chúng ta cần “ngưng, từ bỏ, lìa xa và cắt đứt tham lam” để ngừng đau khổ.
IV. Đạo đế (Con đường đưa đến việc chấm dứt khổ):
Đạo đế gồm 8 nhánh đường và được gọi là Bát Chánh Đạo.
1. Chánh kiến (nhìn đúng): thông hiểu về Tứ Diệu Đế, vô thường (không vĩnh hằng), vô ngã (không có cái tôi) và an lạc.
2. Chánh tư duy (suy nghĩ đúng): suy nghĩ về việc ngừng tham lam, không giận dữ và bạo động, không hãm hại người khác.
3. Chánh ngữ (nói lời đúng): không nói dối, không gây bất đồng, không lăng mạ, không nói xấu.
4. Chánh nghiệp (hành động đúng): không giết người, không trộm cắp, không tà dâm.
5. Chánh mạng (nghề đúng): không kinh doanh hoặc làm những nghề gây tổn hại đến sinh mạng của người khác, dù trực tiếp hay gián tiếp.
6. Chánh tinh tấn (nỗ lực đúng): cố gắng ngăn chặn khởi sinh suy nghĩ hay hành động sai lầm, nếu chúng đã khởi sinh rồi thì cố gắng chặn chúng lại. Cố gắng nuôi dưỡng suy nghĩ hay hành động tốt, nếu đã có chúng rồi thì cố gắng tiếp tục phát huy chúng.
7. Chánh niệm (quán sát đúng): Quán chiếu (quan sát) thân xác, cảm xúc, suy nghĩ và các Pháp (mọi điều, mọi thuyết) để chế ngự tham lam và phiền não.
8. Chánh định (tập trung đúng): là thực hành thiền định.
.
OK, for Kitty. The first path “Right View”. This is obviously the most important one, because if you have the wrong view (wrong vision) you will go to wrong places.
Right view here means to have a correct understanding of:
* The Four Noble Truths (Tứ diệu đế).
* “Impermanene” or “Non-permanence” (vô thường; không vĩnh cửu): Everything in life, everything in the universe (including us), is non-permanent, because they are born, grow and change, and disappear constantly. Nothing stays the same for long.
* “Non-self” (vô ngã) means our own self is non-permanent too. We are here only temporarily.
* “Nirvana” (Niết bàn) means the absolute tranquility of the mind, when you are in absolute peace and happiness. (Yến uses the term “an lạc”, which is very good).
Once we understand non-permanence and non-self, and live in accordance with that understanding (in The Noble Eight Fold Path–Bát chánh đạo), we will reach Nirvana, meaning, we will have inner peace and happiness.
The three concepts —non-permanence, non-self, Nirvana—are three “certifying” marks of Buddhist teachings (tam pháp ấn). If a teaching misses one of these three marks, it is not a Buddhist teaching.
To read more, please visit my writing A Brief Exposition on The Heart Sutra.
.
TODAY’S CHALLENGE
Below is some text in my article “Tư duy tích cực là gì ?”. Please REWRITE it in English.
Please note, “rewrite” means you just get the idea from the original writing, and rewrite it the way you want. You DON’T have to translate. (If you call it translation, then this is FREE translation. Write what you want.)
I just want you to feel comfortable writing whatever you want to write in English. I will NOT compare your writing with my original Vietnamese writing. My writing is here only to give you some idea on what to write.
Here it goes.
.
Tư duy tích cực là gì? Tư duy tích cực khác với một vài loại tư duy khác như thế nào? Tại sao ta lại cần tư duy tích cực?
“Tư duy” thường có nghĩa là suy nghĩ, và nói đến suy nghĩ là ta thường có ấn tượng rằng đó là một hoạt động của não bộ một lúc nào đó. Thực ra, từ “tư duy” ở đây rông rãi hơn, và có nghĩa là một thái độ sống, một cái nhìn về cuộc đời và sự sống, tương tự như tư duy trong cụm từ “thay đổi tư duy.” Tư duy tích cực chính là “sống tích cực” hay “thái độ tích cực.”
“Tích cực” có nghĩa là … không tiêu cực , là
(1) khi nhìn mọi sự, mọi vật, mọi vấn đề ta luôn luôn thấy cái hay, cái đẹp, cái tốt;
(2) nếu thấy cái xấu ta có khả năng biến cái xấu thành cái tốt; và
(3) luôn luôn hướng đến hành động để làm mọi sự tốt hơn.
Ví dụ: (1) Bạn A. của mình thật năng động và có lòng tốt với mọi người, (2) chỉ hơi keo kiệt một tí, nhưng như vậy thì, nếu bạn làm thủ quỹ cho nhóm mình, chắc chắn là quỹ chẳng bao giờ thiếu hụt, và (3) cứ làm từ thiện hoài thì chắc chắn là bạn sẽ từ từ biết cách “phung phí” tiền cho người nghèo khổ.
Đặc điểm của tư duy tích cực là
(1) tập trung cái nhìn và tư tưởng vào cái tốt, nếu thấy cái xấu cũng phải tìm cho ra cái tốt trong cái xấu để tập trung tư tưởng vào đó, và
(2) dùng cái tốt như là động lực thúc đẩy mình sống và làm việc, đi đến mục đích cuối cùng là làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Cuộc đời đây là cuộc đời của chính mình, và là cuộc đời của thế giới mình sống. Tức là, cái tốt vừa là động lực thúc đẩy mình sống, vừa là mục tiêu tối hậu của cuộc sống.
.
All right. Have fun, everyone.
Have a great day!
Hoanh




Một người đàn ông dừng lại ở một cửa hàng hoa để đặt một ít hoa gửi đến người mẹ sống cách đó 200 dặm.













“Serenade” (hay còn gọi là “Serenata”), nghĩa là khúc ban chiều – nhạc theo phong cách lãng mạn. Bản Serenade thường chơi vào buổi chiều tà, ở ngoài trời, và ngay dưới cửa sổ (chắc là dưới cửa sổ nhà người yêu 😀 :-D). Cho đến bây giờ, có hai bài viết theo thể Serenade nổi tiếng nhất mà chưa có bài nào vượt qua được hai bài bất hủ này. Đó là “Serenade” của Schubert và “Serenata” của Enrico Toselli.