Giờ chết

Thiền sư Ikkyu rất thông minh lúc còn nhỏ. Thầy của Ikkyu có một tách trà quý, đồ cổ hiếm có. Ikkyu lỡ làm vỡ tách này và rất bối rối. Nghe tiếng chân thầy, Ikkyu dấu chiếc tách sau lưng. Khi thầy đến, Ikkyu hỏi: “Tại sao người ta phải chết?”

“Đó là tự nhiên,” vị thầy già giải thích. “Tất cả mọi thứ đều chết và chỉ có một thời gian để sống.”

Ikkyu, đưa cái tách vỡ ra, và thêm: “Giờ chết của cái tách của thầy đã đến.”
.

Bình

• Các quy luật tự nhiên thì ai cũng biết. Nhưng khi đụng chuyện thì ta quên mất. Ví dụ: Người đang stress thì hay nói bất bình thường. Tuy nhiên, khi nghe ta vẫn giận dỗi, mà quên mất là người đó đang stress. Rốt cuộc, stress chiến thắng được cả hai người—người nói và người nghe.

Vì vậy, khi đụng chuyện, ta cũng nên nghe lời nhắc nhở của người khác về các quy luật tự nhiên đang hoạt động trong cuộc sống của ta.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Time to Die

Ikkyu, the Zen master, was very clever even as a boy. His teacher had a precious teacup, a rare antique. Ikkyu happened to break this cup and was greatly perplexed. Hearing the footsteps of his teacher, he held the pieces of the cup behind him. When the master appeared, Ikkyu asked: “Why do people have to die?”

“This is natural,” explained the older man. “Everything has to die and has just so long to live.”

Ikkyu, producing the shattered cup, added: “It was time for your cup to die.”

# 85

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện chim trĩ trắng

Vào đời Chu Thành Vương (1), Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu chim trĩ trắng (2). Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải qua nhiều lần dịch mới hiểu được. Chu Công hỏi: “Tại sao dân Giao Chỉ cắt tóc ngắn, để đầu trần, xăm mình, đi chân đất như vậy là cớ sao?”. Sứ thần đáp rằng đáp: “Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng. Xăm mình để giống hình Long Quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Ău trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen”. Chu Công hỏi: “Tại sao tới đây?, người Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nên tới đây vậy”. Chu Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình, đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng Đế có nói rằng: “Giao Chỉ xa xôi ở cõi ngoài, không được xâm phạm đến”. Bèn ban thưởng cho phẩm vật, răn dạy rồi cho về. Người Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ xe, đều chế tạo cho hướng về phương Nam. Người Việt Thường nhận lấy mà đi theo hướng biển nước Phù Nam, Lâm Ấp (3), đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng để đi trước đưa đường. Về sau, Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi hoang vu, chưa có văn hiến, nên bỏ trống không chép (4).

Chú thích:
1) Chu Thành Vương, vua nhà Tây Chu, Trung Quốc, lên ngôi từ năm 1055 đến năm 1021 trước Công Nguyên.
2) Sách Việt Sử Lược chép rằng: “Đến đời Thành Vương nhà Chu, bộ lạc Việt Thường Thị (người Việt Thường) mới đem dâng chim trĩ trắng. Sách Xuân Thu gọi đất này là Khuyết Địa, sách Đái Ký gọi là Điêu Đề…”.
3) Phù Nam: Phù Nam là tên phiên âm Hán-Việt của một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Theo nhiều thư tịch cổ Trung Quốc, thì trong thời kỳ hưng thịnh, vương quốc này về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ (Việt Nam), về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Malaixia. Quốc gia này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp. Mãi đến thế kỷ 17 – thế kỷ 18, phần lãnh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay. Cư dân của Phù Nam chủ yếu là người Mã Lai – Đa Đảo [Wikipedia].
4) Bản A 2914 chép rằng: “Về sau, Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi chưa khai hóa, không có việc triều chính, không có chính cương, nên không chép vậy.

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

• Đây là sự gặp gỡ của hai nền văn hóa hoàn toàn khác nhau–Chu Thành Vương và sứ giả Việt Thường của Văn Lang ngôn ngữ bất đồng đến mức phải qua nhiều lần dịch mới hiểu được.

Và Chu thành Vương phải hỏi sứ giả Việt Thường về phong tục hàng ngày của người Việt (cắt tóc ngắn, để đầu trần, xâm mình, đi chân đất), tức là vua Chu chẳng biết tí gì về Việt.

Lại hỏi sứ giả “Tại sao tới đây?”, tức là giữa hai nước từ xưa đến nay chẳng có liên hệ giao hảo gì cả.

Chu Thành Vương còn nói: “Đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người”, tức là từ xưa nay nhà Chu chẳng có một tí ân đức nào với Văn Lang cả, nhấn mạnh thêm sự cách biệt giữa hai nước.

• Chim trĩ trắng là biểu tượng của nền văn hóa Việt Thường (Văn Lang). Xem trống đồng Ngọc Lữ thì nhận ra ngay chim là vật tổ của dân Việt cổ. Từ ngàn dặm xa mang chim đi tặng, tức là mang văn hóa của mình để giới thiệu với người phương Bắc. Đây cũng là một điểm chính để nói đến sự khác biệt của hai nền văn hóa.

• Và mang chim đi tặng là vì muốn đi tìm thánh nhân ở Trung Quốc, đó là đi tìm đạo để học, chứ không phải là thần dân đi triều cống.

Đây là trao đổi văn hóa–mang văn hóa của mình đi tặng, để tìm học văn hóa của người.

• Vì hai nước cách biệt nên Chu Công nói: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình… Còn nhớ Hoàng Đế nói rằng: ‘Giao Chỉ xa xôi ở cõi NGOÀI, không được xâm phạm đến.’”

• Tất cả những điều trên đây đều nhấn mạnh một điểm: Người Việt không thuộc Trung quốc. Người Việt là một quốc gia độc lập, ngoài Trung quốc, có văn hóa riêng ngang hàng với Trung quốc để có thể trao đổi văn hóa, Trung quốc không được xâm phạm nước của người Việt.

• Người Việt Thường quên đường về: Quên đây không có nghĩa là không biết đường về, vì đã đến được là về được. Quên đây có lẽ là biểu tượng của sự bám rễ của nền văn mình bạch trĩ của Việt Thường trên đất Bắc, và vua phương Bắc không thích thế, cho nên mới tìm cách mời về cho nhanh, bằng cách cho 5 chiếc xe với kim chỉ nam chạy thẳng về Nam.

(Thời Chu Thành Vương người Trung quốc chưa khám phá ra kim chỉ nam, có lẽ là cũng phải 600 năm đến 1000 năm sau đó kim chỉ nam mới được biết đến ở Trung quốc. Nhưng các sai lầm như thế này là chuyện rất thường xuyên trong các truyện cổ).

(Trần Đình Hoành bình)

Tin hay không thì tùy

Cả Tây Nguyên của tôi suốt tháng ba cờ hoa rợp trời. Nhiều sự kiện nên chắc chắn cũng nhiều vui buồn.Đã định bỏ qua không “nhàn đàm” gì những việc này, nhưng tình cờ gặp người bạn than thở: “Mấy người bạn em ở xa đi du lịch nhân tham dự lễ kỷ niệm của thành phố Buôn Ma Thuột, chê chương trình nghệ thuật chào mừng hôm 10/3 quá trời. Họ nói mấy ngày lễ ấy của riêng đất này giá trị cao quý lắm. Nào là 105 năm thành lập, nào 35 năm mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, nào là lên thành phố lớn của khu vực Tây Nguyên…vậy mà đêm biểu diễn cứ như xem văn nghệ ở quận 1 hay quận 5 thành phố HCM ấy. Mời chi nhiều ngôi sao thành phố lên hát với múa, chả vô nội dung nào. Chắc cao tiền lắm. Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng vài chục triệu là chắc. Chương trình dở thế làm sao thu hút được khách du lịch?…”…đành lại phải nói vài câu

Vào những dịp kỷ niệm lớn như thế, để chào mừng, ở địa phương nào người ta cũng thường tổ chức nhiều những hoạt động văn hoá thể thao, đặc biệt là một đêm biểu diễn nghệ thuật hoành tráng. Có điều lạ là nếu quay ngược về nhiều năm trước đây, đội ngũ cán bộ văn hoá nghệ thuật tại chỗ ( tạm gọi là ở các tỉnh lẻ đi), thường chưa đạt tới trình độ và năng lực đủ để đứng ra thực hiện một chương trình nghệ thuật có “tầm cỡ” lớn, nên chính quyền và ngành chủ quản địa phương thường phải thuê những tác giả, đạo diễn có tên tuổi ở Trung ương hoặc các thành phố lớn viết kịch bản hoặc làm Tổng đạo diễn, âu cũng là lẽ thường tình. Thế nhưng đất nước thống nhất đã 35 năm, đủ thời gian để đội ngũ cán bộ các ngành, các địa phương đã trở nên có kinh nghiệm hoạt động và am hiểu chuyên sâu về văn hoá truyền thống bản địa. Thậm chí đạt tới học vị cao trong ngành, một việc mà ngay cả năm 1975 ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng còn là của quý hiếm. Vậy mà những người có trách nhiệm tổ chức ở các địa phương vẫn thích việc mời những đơn vị và nghệ sỹ ngoài tỉnh, để thực hiện viết kịch bản & tổ chức các chương trình như đã nói ở trên. Ngoài việc họ nghĩ các vị ấy giỏi hơn “ gà nhà” , còn có gì nữa không, ai biết được ?

Vậy nên mới có chuyện dân tình ngán ngẩm vì Festival Quốc tế văn hoá cồng chiêng ( đạo diễn Hà Nội ), toàn là trang phục váy đầm dạ hội tràn xuống chính diện quảng trường trong nhịp điệu rokc, disco còn nghệ nhân 24 dân tộc lẫn các đoàn cồng chiêng quốc tế thì biểu diễn gần hết thời gian ở hai bên hông khán đài. …Hay Liên hoan văn hoá cồng chiêng mà hiện diện tới 2/3 thời lượng truyền hình trực tiếp là phần biểu diễn của các nhóm nghệ thuật nước ngoài và rock của thành phố HCM Còn các chủ nhân của “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại” thì kéo nhau chạy như bị rượt đuổi qua sân khấu ( đạo diễn thành phố HCM). Hoặc như khách của bạn tôi chê bai chương trình 10/3 nói trên.

Vậy nên sẽ xáy ra những trường hợp :

– Một là : khi duyệt kịch bản, thấy không thể nào chấp nhận được, vì sự thiếu hiểu biết dẫn đến méo mó cả hình ảnh văn hoá truyền thống địa phương; lãnh đạo đành lại phải quay về “ tắm ao ta”, phát huy nội lực sẵn có ( được thế đã là may cho cả người xem lẫn văn nghệ sỹ địa phương lắm) .

– Hai là chuyện ở phố núi của tôi 10/3 vừa rồi, Công ty tổ chức sự kiện ở thành phố HCM nhận được hợp đồng vài tỷ, đã quay lại thuê chính Trung tâm văn hoá tỉnh Đăk lăk thực hiện. Họ chỉ ghép thêm một số ngôi sao ca nhạc và các vũ đoàn thành phố vào phần sau . Chắc với ý định cho dân tỉnh lẻ được thưởng thức “ phần mới lạ” chăng ?.

Thế, có cần bình luận gì nữa không? Tin hay không thì tuỳ bạn

Linh Nga Niê Kdăm

Thứ sáu, 16 tháng 4 năm 2010

Bài hôm nay

Incy Wincy Spider, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, chị Quỳnh Linh.

Độ bật của thành công , Danh Ngôn, song ngữ, chị Ngọc Trâm.

Đến và đi tiếp , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hồng Hải.

Cải tiến và hoàn thiện , Danh Ngôn, song ngữ, anh Trần Thế Dũng.

Thì thầm lời yêu , Thơ, chị Minh Tâm.

Đuổi theo mặt trời , Thiền thi, anh Trần Đình Hoành.

Sức mạnh kỳ diệu , Trà Đàm, Teen Talk, song ngữ, chị Lê Phan Viên Hy.

Thành nhà Mạc – Đền vua Lê, Văn Hóa, Nước Việt Mến Yêu, anh Trần Huiền Ân.

Bạn thật , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Đóng dấu ấn Việt trên thế giới, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

Chia sẻ kinh nghiệm “How to win a Fulbright Interview?” on 2pm, Sunday, 18 April 2010.

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Incy Wincy Spider

Chào các bạn,

Hôm nay mình “giới thiệu” với các bạn một bài hát trẻ con mà có lẽ nhiều người đã rất quen và thuộc. 😀

Incy Wincy Spider

Incy Wincy spider climbed up the water spout.
Down came the rain, and washed poor Wincy out.
Out came the sun, and dried up all the rain,
and Incy Wincy spider climbed up the spout again.

.

Dịch lời:

Nhện Incy Wincy trèo lên ống nước
Mưa xuống và rửa trôi chú ra ngoài
Nắng lên và sấy khô từng giọt mưa
Và nhện Incy Wincy lại trèo lên ống nước.

.


.

Cuộc sống là một quá trình vận động không mệt mỏi. Cũng có lúc trời mưa, có khi trời nắng. Khi lên được, rồi lại khi bị tụt xuống, thậm chí có thể về lại vị trí ban đầu. Nhưng hết mưa rồi sẽ lại nắng. Tụt xuống thì lại trèo lên. Đó mới là cuộc sống, phải không các bạn?

Cuộc đời thật đơn giản và đẹp các bạn nhỉ!
Chúc cả nhà một ngày vui tươi và bền bỉ như chú nhện trong bài nhé.
.

Thân mến
.

Quỳnh Linh

Thì Thầm Lời Yêu

Chị ơi! Bên thành trì của chị, em đã cảm nhận được niềm yêu! Bài thơ này em tặng riêng chị cái tựa đề! Hì… Hãy tìm cái nửa của nhau vì ngoài kia nắng ấm đã một vầng thật đẹp!!!
.


.

Nửa vầng trăng khuyết chơi vơi
In soi chiếc lá nhẹ rơi đêm buồn
Nửa tình xưa cũ vấn vương
Dật dờ sóng vỗ nhớ thương bạc đầu

.

Hoa kia khép cánh phai mầu
Lá kia in dấu nỗi sầu đa đoan
Nửa chiều nhạt nắng vườn hoang
Con tằm một kiếp trái ngang cuộn mình

.

Nửa thương, nửa nhớ, nửa tình
Nửa trong hoang vắng lặng nhìn thinh không
Nửa còn in dấu trong lòng
Nửa theo con gió phiêu bồng lãng du

.

Tặng người nửa bản tình thu
Tặng ta nửa đoạn nhạc ru cung trầm
Lặng yên nghe gió thì thầm
Tình cây và đất ngàn năm vẫn hoài

.

Dẫu cành lá ép nhạt phai
Dẫu dòng nhật ký gửi ai lợt mầu
Tin rằng cái nửa của nhau
Nắng hồng rải lối mai sau một vầng

.

.

Minh Tâm

Sức Mạnh Kì Diệu

Một ông lão có ba cậu con trai. Một hôm, khi thấy các con mình đã đến tuổi trưởng thành, ông gọi họ lại và nói rằng giờ đây ông đã rất già yếu, không thể chu cấp cho ai được, kể cả chính bản thân mình. Vì vậy, ông bảo con mình hãy ra ngoài và đem thức ăn và quần áo về cho ông.

Ba người con bắt đầu lên đường, và sau một khoảng thời gian dài, họ đến một con sông rộng lớn. Vì đã cùng nhau đi cả một quãng đường dài, họ quyết định rằng một khi đã qua bên kia sông, mỗi người trong số họ sẽ chọn một hướng riêng. Người anh cả nói với người em út chọn con đường ở giữa, với người em thứ hai chọn con đường bên phải, còn anh ta sẽ rẽ trái. Sau một năm, họ sẽ trở lại điểm xuất phát ban đầu.

Và họ bắt đầu lên đường, và sau một năm, như đã hứa, ba người con trở lại bờ sông năm nào. Người con cả hỏi người con út anh ta đã tìm được những gì trong suốt chuyến đi của mình, và người con út trả lời: “Em không tìm thấy gì ngoài một chiếc gương, nhưng chiếc gương này có một sức mạnh thần kì. Khi nhìn vào nó, anh có thể nhìn thấy khắp tận cùng đất nước, dẫu cho nó có xa ngàn dặm đi chăng nữa”.

Đến lượt mình , người con thứ hai trả lời: “Chỉ một đôi giày nhưng nó cũng chứa đầy sức mạnh, nếu có ai đó mang vào anh ta có thể đi đến bất kì nơi nào, chỉ với một bước chân”.
Và cuối cùng là người con cả, anh nói: “Anh cũng đem về được một thứ, không nhiều, một ống thuốc, tất cả chỉ có thể. Nhưng giờ ta hãy nhìn vào gương và xem cha của mình sống ra sao rồi”

Người con út lấy gương ra, và cả ba người con đều nhìn và đó và thấy rằng cha của họ đã qua đời, và đám tang cũng đã kết thúc. Người con cả nói: “Hãy mau chóng trở về và xem chúng ta làm được những gì”. Vì vậy người con thứ ra đem đôi giày ra, và cả ba anh em đều đặt chân họ vào đó, ngay lập thức, họ đã đứng trước mặt mộ của cha mình. Sau đó người con cả lấy lọ thuốc ra khỏi cái giỏ của mình, và đổ lên ngôi mộ. Ngay lập tức, cha của họ tỉnh lại, như thể chưa hề có chuyện gì xảy ra với ông.

Vậy tóm lại, ai trong số ba người con này đã làm tốt nhất?”

Viên Hy dịch
.

WONDROUS POWERS

An old man had three children, all boys. When they had grown up to manhood, he called them together and told them that now he was very old and no longer able to provide, even for himself. He ordered them to go out and bring him food and clothing.

The three brothers set out, and after a very long while they came to a large river. As they had gone on together for such a time, they decided that once they got across they would separate. The eldest told the youngest to take the middle road, and the second to go to the right, while he himself would go to the left. Then, in a year’s time, they would come back to the same spot.

So they parted, and at the end of a year, as agreed, they found their way back to the riverside. The eldest asked the youngest what he had gotten during his travels, and the boy replied: “I have nothing but a mirror, but it has wonderful power. If you look into it, you can see all over the country, no matter how far away.”

When asked in turn what he had gotten, the second brother replied: “Only a pair of sandals that are so full of power, that if one puts them on one can walk at once to any place in the country in one step.”

Then the eldest himself, said: “I, too, have obtained but little, a small calabash of medicine, that is all. But let us look into the mirror and see how father fares.”

The youngest produced his mirror, and they all looked into it and saw that their father was already dead and that even the funeral custom was finished. Then the elder said: “Let us hasten home and see what we can do.” So the second brought out his sandals, and all three placed their feet inside them and, immediately, they were borne to their father’s grave. Then the eldest shook the medicine out of his bag, and poured it over the grave. At once their father arose, as if nothing had been the matter with him.

Now which of these three sons has performed the best?

.


by Roger D. Abrahams

Thành nhà Mạc – Đền vua Lê

Trong ca dao thời trước, xứ Lạng cũng là nơi đáng sợ. Người phụ nữ sợ cho mình không thích ứng với môi trường mới, bị tàn phai nhan sắc:

Cổng phía Tây thành nhà Mạc ở Tuyên Quang

    Ai lên xứ Lạng cùng anh
    Má hồng đổi lấy mặt xanh đem về

Còn sợ cho đức ông chồng, ý trung nhân thay lòng đổi dạ, vì ở đây chẳng những cảnh đẹp, còn có người đẹp:

    Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
    Ai lên xứ Lạng cùng anh
    Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em
    Tay cầm bầu rượu nắm nem
    Mảng vui quên hết lời em dặn dò…

Bây giờ thành phố Lạng Sơn là thủ phủ của tỉnh Lạng Sơn, Đồng Đăng là thị trấn. Chợ Kỳ Lừa ở giữa thành phố, người mua kẻ bán đông đảo tấp nập vì Lạng Sơn có các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu nội địa, còn các cặp chợ nữa. Cặp chợ là chợ biên giới, bên này chợ, bên kia cũng chợ. Nàng Tô Thị không còn, chỉ là bức tượng phục chế, chùa Tam Thanh trước động Tam Thanh cũng đổi mới nhiều quá! Vậy thì nên đi thăm thành nhà Mạc, tuy được gia cố, trùng tu, nhưng dầu sao vẫn giữ được dấu vết hoang phế điêu tàn, để khi đứng trong bóng tịch dương nhìn ngắm phong cảnh có một chút bâng khuâng nghĩ về lối xưa xe ngựa…

Năm 1592 nhà Mạc rút lên mạn ngược, đặt thủ phủ tại Cao Bằng, xây đắp nhiều thành lũy kiên cố, ở Cao Bằng, Tuyên Quang và Lạng Sơn. Phải chăng những thành lũy này đã góp phần không nhỏ trong việc phòng thủ, chống lại các cuộc tấn công của quân đội vua Lê chúa Trịnh để giữ được phần lãnh thổ Bắc triều tồn tại đến năm 1677?

Thành nhà Mạc ở Lạng Sơn

Thành ở Tuyên Quang ngay tại trung tâm thị xã, bên tả soi bóng xuống dòng sông Lô uốn lượn, bên hữu đối diện dãy núi Là hùng vĩ. Ngày xưa thành hình tứ diện, trổ ba cửa ở ba mặt, mặt bắc không có cửa, bên trong có quả đồi cao khoảng 40 thước, đặt kho chứa gạo, muốn lên phải qua 197 bậc đá và cua một đường vòng. Chung quanh thành là hào sâu 1,5m, phía bờ sông không có. Di tích hiện tại gồm hai cổng thành ở phía tây, phía nam và đoạn tường dài 140m. Gạch xây thành nung bằng thứ đất có quặng sắt rất cứng, trên mặt đổ đất.

Thành ở Lạng Sơn (nay thuộc phường Tam Thanh) số phận cũng không hơn. Hiện còn một cổng thành và hai đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn nằm giữa hai đỉnh đồi. Đoạn đường từ chân đồi lên cổng thành giờ là nhiều bậc cấp thẳng tắp, ngước trông cổng thành như xa hun hút, nhỏ bé lại. Lên đến nơi thấy khung cảnh thật thoáng đãng, hai đỉnh đồi bén nhọn trẻ trung, linh hoạt. Đứng bên trong nhìn ra càng nhận rõ thế đắc địa của cuộc đất, trước mặt là thung lũng ruộng lúa, rồi đến làng xóm sầm uất, tiếp đến là núi, quần sơn nối tiếp trùng trùng điệp điệp. Những đoạn thành đứt quãng không đều nhau, cao thấp không bằng nhau, mặt đá phủ rêu màu đen pha một chút xám. Đất bên dưới thì màu đỏ sậm lẫn một ít sạn sỏi nhỏ.

Di tích đền vua Lê trong thành nhà Mạc ở Cao Bằng

Thành ở Cao Bằng càng không may, vì nó là hoàng cung, nên phải mất tên từ lâu, nay gọi là đền vua Lê, có diện tích 37,5 ha, cách thị xã 11km về phía tây bắc, thuộc làng Đền xã Hoàng Tung huyện Hòa An.

Nguyên hồi năm 1038 Nông Tồn Phúc cát cứ vùng này, xưng đế hiệu, đặt tên nước là Trường Sinh. Năm sau, vua Lý Thái Tông thân chinh dẹp yên, nhưng đến năm 1041 con Nông Tồn Phúc là Nông Trí Cao lại dấy binh, đặt tên nước là Đại Lịch, vua Lý Thái Tông sai tướng lên đánh bắt được đem về Thăng Long, rồi dùng chính sách chiêu an tha cho về phong làm Quảng Nguyên mục, sau gia phong tước Thái Bảo. Năm 1048 Nông Trí Cao xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Nam, đem quân sang đánh nước Tàu, chiếm 8 châu ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhà Tống phải cử tướng Địch Thanh thảo phạt. Bị thất bại, Nông Trí Cao chạy trốn sang nước Đại Lý và bị bắt giết. Về sau rút lên đây, nhà Mạc lập cung điện tại Gò Long trong thành Nà Lữ của Nông Trí Cao. Vậy thành nhà Mạc Cao Bằng đã có từ thời Lý.

Khi nhà Lê dứt được họ Mạc, năm 1862 Trấn thủ Cao Bằng Lê Văn Hản đổi làm đền thờ vua Lê Thái Tổ. Ngày nay, dấu vết chỉ là hai con đường phía đông và nam cao hơn mặt đất một ít, vài ba phiến đá khối chữ nhật, dài khoảng 1m, rộng từ 50 đến 80 phân, dày 20 đến 30 phân. Chỗ như hào sâu là cổng thành, bên ngoài mỗi cổng có một ụ đất, có lẽ là điếm canh hay trạm quan sát để kịp thời báo động chăng?

Đền vua Lê cũng đổ nát hết rồi, bậc đá đi lên đầy cỏ rác, tường sập từng mảng, để lộ chỗ vá víu. Trong đền một lư hương lớn đặt trên bệ. Bên ngoài một cây ngọc lan cao, những cây đa cây si thấp hơn.

Tại Cao Bằng còn có đền Kỳ Sầm thờ Nông Trí Cao. Hội đền vào ngày mười tháng giêng. Câu đối ở cửa gian chính bên trong chứng tỏ người dân ở đây rất tôn sùng Nông Trí Cao, coi như vị vua có cao vọng nhưng chưa thực hiện được hoài bão:

    Đế nghiệp vị thành nhân dĩ lão
    Vương phong giáp tích quốc đồng hưu.

Các đền miếu ở Cao Bằng còn thờ Hưng Đạo đại vương, các vị nhân thần địa phương, các tướng lãnh nhà Lê bỏ mình nơi chiến địa, các công nương nhà Mạc bị thảm sát và Quan Công (Quan Vân Trường). Nói chung dân chúng kính trọng lòng dũng cảm, đức trung hậu và thương xót những thân phận không may. Trong đền Phúc Tăng ở Bản Nưa xã Hồng Việt huyện Hòa An đặt bốn bát hương, thờ hai vị lão nông họ Hoàng và họ Lê có công trị thủy giúp dân, cùng hai vị tướng đối lập nhau, một người là Hoàng Triều Hoa tướng nhà Lê lên dẹp nhà Mạc, một người là tướng nhà Mạc tử trận ở Lũng Pản. Sự kiện này do Tri phủ Hoàng Đức Mỹ (Cử nhân sung Hàn lâm viện biên tu) chủ trương từ đầu thế kỷ XX và được dân chúng tán đồng, nêu cao tinh thần hòa hợp dân tộc sau một thời gian chiến tranh huynh đệ tương tàn. Hội đền Phúc Tăng vào ngày mồng 2 tháng 3.

Ngày nay, những người vãn cảnh có ý thức không khỏi ngậm ngùi trước biến cuộc tang thương, sẽ lắng hồn tìm trong lịch sử biết bao bài học quý giá.

Trần Huiền Ân

Bạn thật

Ngày xưa lâu lắm rồi ở Trung quốc có hai người bạn, một người đàn hay và một người nghe hay.

Khi người đàn về núi cao, người nghe nói: “Tôi có thể thấy núi cao trước mặt ta.”

Khi người đàn về nước, người nghe nói: “Đây là dòng nước chảy!”

Nhưng người nghe gặp bạo bệnh mà chết. Người đàn cắt đứt dây đàn và không bao giờ đàn nữa. Từ đó trở đi, cắt đứt dây đàn là biểu tượng của tình bạn thắm thiết.
.

Bình:

• Đây là câu chuyện về Bá Nha Tử Kỳ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha, làm quan, là người đàn; Tử Kỳ, người nghe, là tiều phu. Gặp nhau và kết nghĩa anh em vì “tri âm” (hiểu được âm thanh), cho nên ngày nay ta có từ “bạn tri âm”.

Cây đàn mà Bá Nha dùng có lẽ là cây Cổ Cầm, mà ngày nay vẫn còn dùng. Cổ cầm còn là tiền thân của Thập Lục Huyền Cầm (hay Tam Thập Lục Huyền Cầm), tức là Đàn Tranh (16 dây hay 36 dây) ngày nay.

• Hiểu nhau không cần phải ở chung với nhau 20 năm. Chưa gặp nhau cũng đã có thể hiểu nhau ngay chỉ qua tiếng đàn.

• Hiểu nhau không cần nói nhiều.

• Nhưng hiểu nhau cần: (1) Người biết diễn đạt đúng điều mình muốn diễn đạt, và (2) người biết nghe điều người kia diễn đạt.

Điều quan trọng ở đây là: Người diễn đạt, không chỉ làm ra âm bằng tay, mà là hồn mình đang nói những lời lẽ sâu kín trong tâm. Và người nghe không chỉ nghe âm bằng tai, mà hồn mình đang trực nhận những thì thầm từ hồn người kia.

Vậy thì, để có tri âm, khi nói chuyện, ta có nói thành thật những sâu kín của hồn ta không, hay ta màu mè, bày vẻ, thiếu thành tâm? Nếu ta không thành tâm thì rất khó có bạn tri âm.

Và khi ta nghe, ta có dùng tâm hồn để nghe tâm hồn không, hay ta chỉ biết nghe âm bằng tai? Nếu không biết nghe thì làm sao “tri âm” ai được?

• Giữa đàn và nghe, điều nào khó hơn? Dĩ nhiên ở mức cao thì làm gì cũng khó. Nhưng có lẽ là nghe khó hơn đàn, vì đàn là đàn điều mình nghĩ, nghe là nghe điều người khác nghĩ. Mình biết mình nghĩ gì để diễn đạt, nhưng người nghe thì lại không biết người kia nghĩ gì, phải lấy âm thanh mà suy đoán.

Nói bao giờ cũng dễ hơn nghe. Vậy thì trong liên hệ con người, nói cẩn thận, nhưng phải nghe cực kỳ chăm chú.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

True Friends

A long time ago in China there were two friends, one who played the harp skillfully and one who listen skillfully.

When the one played or sang about a mountain, the other would say: “I can see the mountain before us.”

When the one played about water, the listener would exclaim: “Here is the running stream!”

But the listener fell sick and died. The first friend cut the strings of his harp and never played again. Since that time the cutting of harp strings has always been a sign of intimate friendship.

# 84

Đóng dấu ấn Việt trên thế giới

Chào các bạn,

Mình ở Washington nên thường có cơ hội gặp người từ mọi nơi trên thế giới. Nhưng mình lại tồi về địa lý, cho nên nhiều khi gặp bạn mới, mình rất ngớ ngẩn và thiếu ngoại giao.

“Hi, I am John Lawata. I’m from Fiji.
“I’m Hoanh Tran. Nice to meet you. Sorry I couldn’t catch where you’re from.”
“Fiji. Republic of Fiji Islands.”
“Uhm…”
“You know, Fiji Islands.”
“Yes… yes… Please forgive me for my ignorance. Where is that?”
“We’re in the Pacific. We’re close to Vanuatu to the west, New Caledonia to the southwest, New Zealand’s Kermadec to the southeast, Tonga to the east, Wallis and Futuna to the northeast and Tuvalu to the north.”
“Oh, great. A group of islands in the Pacific!”

Thực thì các tên này, đối với nhiều người chúng ta, nghe cũng giống như nơi nào đó trên mặt trăng, chứ chẳng biết là đó là những quốc gia hải đảo nằm giữa Thái Bình Dương, mà Việt Nam là một phần bờ Thái Bình Dương, láng giềng rất gần.

Rất may là nếu bạn đi khắp nơi trên thế giới, khi nói “Tôi đến từ Việt Nam” thì mọi người đều biết đến Việt Nam. Hai cuộc chiến thắng chống Pháp và Mỹ làm Việt Nam trở thành một quốc gia nổi danh và được thán phục trên thế giới.

Được cả thế giới biết đến tên là một vốn liếng kinh tế chính trị rất lớn. Cho dù Thái Lan có dùng hàng tỉ đô là mỗi năm quảng cáo trên TV thế giới hàng chục năm liền như vậy, thì thế giới vẫn ít người biết về Thái Lan như là Việt Nam, vì học sinh thế giới, nhất là học sinh Mỹ, đều phải học về hai cuộc chiến lớn mà Việt Nam đã thắng–về chiến lược, về qui ước chiến tranh, về sự thay đổi chính trị quốc tế, về chính sách ngoại giao của Mỹ trên thế giới… Khi người khác phải học về ta, thì đó là một vốn liếng kinh tế chính trị lớn ngoài sức tiền bạc có thể mua. Đừng quên vốn liếng vô giá này.

Ít ra là cũng không còn “vô danh”.

Nhưng có lẽ vẫn còn “tiểu tốt”. Vì chúng ta vẫn còn là một quốc gia nghèo kém.

Vây thì, nhiệm vụ của chúng ta vào thời đại này là mang Việt Nam ra khỏi vòng “tiểu tốt” lên đến hàng “đại gia.” Và cuộc “chiến” này sẽ dài hơn, gay go hơn, và đòi hỏi nhiều trí tuệ và quyết tâm hơn hai cuộc chiến trước—Chúng hắn không giỏi đấm đá, nhưng chúng hắn rất giỏi về phát triển.

“Thừa thắng xông lên” là dùng những chiến thắng cũ làm bàn đạp để tiến lên. Chúng ta cần tận dụng tiếng tăm có sẵn của chúng ta để tiếp tục để lại dấu ấn Việt Nam trên cánh đồng quốc tế.

Những vốn liếng truyền thống chúng ta đã có mà người khác chưa có thì cần phải triển để tiếp thị ra ngoài:

1. Văn hóa cổ truyền: Nhất là Phật giáo. Đây là một luồng tư tưởng hòa bình thâm sâu, mà chúng ta là một trong chỉ vài truyền nhân lâu đời. Phật học Việt Nam nên được khôi phục vững mạnh, các học giả Phật học cần được ủng hộ để học tập sâu sắc, với tầm mức có thể dạy lại cho thế giới. (Và ta đang nói chuyện tư tưởng, không phải chuyện xây chùa).

Văn hóa truyền thống của 55 dân tộc anh em cần được bảo vệ và phát triển, để làm mạnh bản chất tâm linh của mỗi dân tộc, và để dùng đó làm nền tảng cho kỹ nghệ du lịch, cho du khách thế giới học được chiều sâu của một quốc gia, hơn là chỉ tắm biển rồi về như là đi mọi nơi khác.

Ngay cả các truyền thống tâm linh và văn hóa mới, như Thiên chúa giáo, có thể tự làm giàu cho chính mình và cho quốc gia mình bằng cách hòa nhập với văn hóa Việt Nam để cho nó một dáng vẻ Việt Nam đặc sắn riêng (như công giáo Việt Nam, tin lành Việt Nam), thay vì nhìn và suy nghĩ rất Tây và rất đối chỏi với văn hóa truyền thống Việt.

2. Võ thuật, nhất là các môn võ Viêt Nam như Tây Sơn Bình Định hay Vovinam nên được khuyến khích xuất cảng.

3. Văn chương: Bao nhiêu năm chinh chiến đau thương với các đại cường mà chúng ta không có được những tác phẩm lớn trên thế giới, thì nhất định là mọi tội tình phải đổ lên đầu ông văn hóa (thay vì kết luận cả nước chúng ta toàn người dốt). Ông văn hóa thích chém đầu chém đuôi, gọt dũa chuyện có thật thành truyện nhi đồng giả tưởng… cho nên không có gì gọi là đáng giá.

Nhưng nguồn hứng khởi thì còn nguyên đó — lịch sử bi thảm và hào hùng, những hùng tráng cộng những lỗi lầm còn thấy đó… Nếu các nhà văn của ta được khuyến khích viết tự do, viết thật, không chỉ viết quàng cáo ba xu, thì nhất định là ta sẽ có những tác phẩm lớn trên thế giới. Điều này chắc chắn 100%. Một giải Nobel cho một nhà văn Viêt Nam cũng giúp kỹ nghệ du lịch nhiều lắm chứ không ít (dù rằng rất tiếc là nhà văn sẽ không được chia tí hoa hồng nào 🙂 ).

4. Thực phẩm (nhà hàng): Các món ăn Việt Nam đã có tiếng trên thế giới. Nếu ta chăm chút vào vệ sinh thực phẩm và nhà hàng, thì nhiều người trên thế giới sẽ muốn đến thăm Việt Nam chỉ để… ăn.

5. Hòa Bình: Thế giới hiện đang nằm trong nhiều cuộc chiến địa phương và quốc tế lớn lao. Dân ta đã biết mùi đau khổ của chiến tranh, văn hoá Việt Nam lại là văn hóa tổng hợp của nhiều văn hóa khác nhau, cho nên Việt Nam có đủ tư cách và khả năng để lãnh đạo các tổ chức và phong trào hòa bình trên thế giới. Chúng ta đủ tư cách làm trung gian điều hợp hòa bình cho nhiều cuộc chiến trên thế giới. Không phải chỉ là các cường quốc mới xây dựng hòa bình được. Thực ra các cường quốc thường là những tay gây chiến. Thế giới cần những tổ chức thứ ba, ngoài cuộc, không thiên vị, không mâu thuẫn quyền lợi, để giúp các bên lâm chiến hòa giải.

6. Made in Viet Nam: Chúng ta muốn thương hiệu “Made in Vietnam” có tiếng tăm trên thế giới, từ con người đến văn hóa đến vật chất. Con người Việt Nam chúng tôi hiền hậu, hiếu khách và dũng mãnh. Văn hóa chúng tôi phong phú, đa dạng và sâu sắc. Hàng hóa chúng tôi sáng tạo, bền rẻ đẹp.

Nói chung là các bạn đừng có ảo tưởng là chúng ta đang có thể thong thả ngủ ngày vì chiến tranh đã xong hơn 30 năm. Chúng ta hiện đang ở trong một vận hội mới với những tranh đấu mới và những cơ hội mới. Đây là một thời kỳ rất kích thích và thú vị. Đã hàng ngìn năm ông cha chúng ta chỉ là một cái bóng trong một góc đất nhỏ của thế giới, chẳng ai biết đến. Nhưng ngày nay, thế hệ đàn anh ngay trước ta đã giúp chúng ta trở thành nổi tiếng trên thế giới. Nhiệm vụ của chúng ta là tiếp tục tiến lên, biến Việt Nam trở thành hùng cường trên thế giới. Đây là một cuộc chạy đua rất thú vị, vì nếu chúng ta quyết tâm, tận lực, và đồng nhất như một, thì không về nhất, nhì, hay ba, chúng ta cũng về rất cao, chẳng thể thua được.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thứ năm, 15 tháng 4 năm 2010

Bài hôm nay

Giới thiệu bài hát Hallelujah, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, chi Hoàng Khánh Hòa.

Mùi vị , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Mang theo ánh nắng của chính mình , Danh Ngôn, song ngữ, chị Phạm Thanh Hằng.

Giàu thật sự , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Dừng chân bên đường , Thiền thi, anh Trần Đình Hoành.

Không thay đổi, Trà Đàm, song ngữ, anh Nguyễn Minh Hiển.

Không làm, không ăn , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Người trông cậy được, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Tư duy tích cực mỗi ngày