Nguyễn Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com
Bính âm (pinyin) hay Hán Ngữ Bính âm 漢語拼音/汉语拼音 (theo thứ tự phồn thể/giản thể) là một cụm danh từ mới xuất hiện từ thập niên 1950 – chính phủ TQ (Trung Quốc, Trung Hoa Lục Địa) cải tiến nhiều lần và gần đây cũng được Đài Loan chấp nhận (2009) tuy đã có hệ thống pinyin riêng (Thông Dụng Bính âm – xem thêm phần Phụ chú). Bính âm là một (trong nhiều cách) ghi âm tiếng TQ (giọng Bắc Kinh/BK) bằng hệ thống chữ La Tinh cũng như tiếng Việt hiện nay. Trong lịch sử ký âm tiếng Hán, các phương pháp chú âm đã từng hiện diện để giúp người đọc chữ Hán thêm phần chính xác như trực âm (直音, ghi một âm gần đúng bằng chữ Hán khác), cổ độc (古讀) – thanh huấn (聲 訓) – độc nhược A (讀若 A, đọc giống như là âm đọc chữ A) – độc vi 讀為, phiên thiết (phản thiết 反切), đồng A (同 A) hay âm A (như X 音 A là X-âm-A/X-đồng-A có nghĩa là X đọc như A)…
Continue reading Tản mạn từ Hán Việt (phần 4) – Bính âm/Phanh âm/Phiên âm hay pīnyīn?













