Ta bắt được bài hát đó không? Ta nghe được nhiều hay ít?
Thiên nhiên nhẹ nhàng nhấc đi những ý nghĩ vẩn vơ của bạn khi bắt đầu đi dạo, kéo bạn hòa cùng tần số với thiên nhiên. Bỗng nhiên mọi ý tưởng tan biến, bạn mở to mắt ngạc nhiên và say mê ngắm nhìn vạt cỏ sống động, lọt thỏm vào âm thanh ríu rít của bầy chim, của gió. Về nhà, mẹ bạn hạnh phúc thấy cánh đồng, chim chóc và hoa ly ly trên khuôn mặt bạn.
Sâu thẳm trong sự ngạc nhiên đó, là một hóa chất kỳ diệu, nằm trong bản giao hưởng chung của vũ trụ, hòa vào trái tim con người. Con người, thấm trong đó, nhìn thấy vẻ đẹp diệu kỳ trong tất cả những gì con người có thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy. Con người ghi lại, thể hiện ra điều kỳ diệu tạo hóa đã tiết lộ, để chia sẻ với các anh chị em.
Hôm nay, chúng ta hãy cùng tìm hiểu cảm nhận sâu thẳm về thiên nhiên, nguồn cảm hứng sáng tạo vô cùng, của nhạc sĩ thiên tài Beethoven.
Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,
Hiển.
.
Ở đây, bao quanh bởi những tạo vật của Thiên Nhiên, tôi thường ngồi hàng giờ, trong khi giác quan của tôi hưởng thụ cảnh Thiên Nhiên. Ở đây, mặt trời lộng lẫy không bị che bởi bất kỳ mái nhà bẩn thỉu nào do con người tạo ra, ở đây, bầu trời xanh là trần nhà tuyệt vời của mình. Vào buổi tối, tôi ngắm bầu trời trong nỗi ngạc nhiên và những chùm thiên thể sáng liên tục quay quanh quỹ đạo của chúng, những mặt trời hay những trái đất, rồi linh hồn của mình vượt lên quá những chòm sao hàng triệu dặm xa, tới cội nguồn đầu tiên, từ nơi đó, tất cả các tạo vật trôi ra và từ nơi đó, những tạo vật mới sẽ tuôn ra mãi mãi.
Bây giờ và sau này, khi mình cố gắng diễn tả những cảm xúc âm nhạc sôi sục — ồ, khi đó mình thấy rằng mình đã bị đánh lừa kinh khủng; mình quăng đi mảnh giấy mới ghi vội, và cảm thấy chắc chắn rằng chưa bao giờ một ai sinh ra trên trái đất này có thể diễn tả bằng âm thanh, ngôn từ, mầu sắc hay đá cuội những hình ảnh thiên đường, lơ lửng trước sức tưởng thưởng phấn khích của anh ta, trong những giờ phút hạnh phúc nhất đó…
Đúng rồi, điều đó phải đến từ trên trời, điều đánh thẳng vào trái tim; nếu không nó sẽ chẳng là gì ngoài những nốt nhạc, phần xác thiếu đi phần hồn, có phải không? Cái gì là phần xác không có phần hồn? Đất hay bùn, phải không? Tinh thần phải bay thoát khỏi đất, nơi tia lửa huyền diệu bị giam cầm một thời gian, và cũng giống như cánh đồng, nơi người gieo cầy tin cậy gieo những hạt giống, hạt phải nở hoa và đơm trái, và sinh sản, vượt lên về phí cội nguồn, nơi hạt đã đến.
Vì, những tạo vật phải kinh trọng tạo hóa vô biên, với những lao lực kiên trì từ những khả năng được phú cho chúng.
Nhạc sĩ Beethoven
Nguyễn Minh Hiển dịch
.
Here, surrounded by the products of Nature, often I sit for hours, while my senses feast upon the spectacle of Nature. Here the majestic sun is not concealed by any dirty roof made by human hands, here the blue sky is my sublime roof. When in the evening I contemplate the sky in wonder and the host of luminous bodies continually revolving within their orbits, suns or earths by name, then my spirit rises beyond these constellations so many millions of miles away to the primeval source from which all creation flows and from which new creations shall flow eternally.
When, now and again, I endeavor to formulate my seething emotions in music— oh, then I find that I am terribly deceived; I throw my scrawled paper upon the ground and feel firmly convinced that never shall anyone born on this earth be able to express in sounds, words, colors or stone those heavenly images that hover before his excited imagination in his happiest hours…
Yes, it must come from above, that which strikes the heart; otherwise it’s nothing but notes, body without spirit, isn’t that so? What is body without spirit? Earth or muck, isn’t it? The spirit must rise from the earth, in which for a time the divine spark is confined, and much like the field to which the ploughman entrusts precious seed, it must flower and bear many fruits, and, thus multiplied, rise again towards the source from which it has flown. For only by persistent toil of the faculties granted to them do created things revere the creator of infinite Nature.
— Beethoven (1770-1827) conversation with Johann Stumpff
Hãy cho và bạn sẽ nhận
Give and you shall receive.
Hãy yêu đời rồi đời sẽ yêu bạn. Hãy yêu người và sẽ được người yêu
Love life and life will love you back. Love people and they will love you back.
( Arthur Rubinstein)
Chúng ta thường nghĩ rằng thành công của chúng ta phụ thuộc vào mức độ tập trung vào bản thân ta. Nhưng điều này không đúng.
Mọi người thành công đều biết rằng bạn thành công vì bạn đã cho đi bao nhiêu giá trị cho người khác.
Tuy nhiên, chúng ta thường quên điều này. Hạnh phúc của chúng ta cũng có được theo cách này. Khi tôi quá chú tâm vào mục tiêu của tôi, cảm xúc của tôi, và ước muốn của tôi, tôi bắt đầu cảm thấy buồn chán. Khi tôi chỉ tập trung vào mình, thật dễ nghĩ rằng mọi cái là về tôi, cái tôi che lấp tất cả. Nhưng sự việc không phải vậy. Và khi tôi quá chú tâm vào mình, tôi bắt đầu trở nên dễ bị tổn thương bởi những người khác. Tôi nghĩ rằng người ta làm những việc tôi không thích là vì tôi, trong khi họ thực sự đang làm những việc đó vì chính họ.
Hãy nghĩ xem cảm giác buồn chán phải chăng sẽ thường xảy ra và thật dễ dàng khi bạn cảm thấy mình quá quan trọng?
Đó cũng là cách khiến ta nên hướng sự chú ý sang người khác, và chú tâm đến việc cho, thay vì nhận. Bạn thường nghĩ rằng bạn cứ cho đi mãi mà không bao giờ được nhận. Nhưng điều ngược lại thì đúng hoàn toàn, vậy nên bạn nên cho nhiều đến mức bạn khơi dậy ước muốn nơi người khác muốn cho lại bạn .
Cho Thế Nào Có Tác Dụng?
+ Cách tốt nhất thú vị là hãy quan tâm đến người khác.
+ Bạn thu nhận nhiều năng lượng vật lý hơn bằng cách đốt năng lượng khi tập thể dục.
+ Cách để được yêu là biến mình thành đáng yêu
Khi bạn tìm hiểu người khác, những người khác có lẽ cũng muốn hiểu biết bạn .
Bằng cách bạn giúp người khác, những người khác có thể muốn giúp bạn.
Thực thú vị về việc làm thế nào theo trực giác chúng ta biết được những điều này, ý nghĩa của việc cho, nhưng bằng cách nào đó cái tôi của chúng ta cản trở việc thực hiện. Sự tự cho mình quan trọng khiến chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần nhận để chứng tỏ ý nghĩa của sự cho. Điều này chính ra là bạn đi tìm cái đúng sai hơn là hạnh phúc. Như thế có xứng đáng không?
Tôi cho rằng người cho trước có nhiều quyền lực hơn. Nếu không, sẽ mất bao lâu để người kia bắt đầu cho, nếu như muốn cho. Đợi những người khác cho giống như đợi ai đó cho cái mình muốn. Tại sao không thử hỏi và và tìm hiểu xem điều gì sẽ xảy ra.
Cho Đi Chính Mình
Khi bạn cho mà không mong chờ gì đáp lại, bạn đã thành bậc thầy của nghệ thuật cho. Phải chăng những người thành công nhất là những người trao tặng cho những người khác giá trị lớn nhất?
Quan niệm về Cho của Khalil Gilbran trong bài về Sự Cho thật tuyệt vời:
“Đem cho chính bản thân, ấy mới thực là cho” “Có những kẻ cho với niềm vui, và niềm vui ấy là phần thưởng của họ” “Cho khi được hỏi xin thì quý, nhưng tốt hơn nên cho chẳng đợi xin, cho qua cảm thông“
Vì thế câu hỏi là : Làm thế nào bạn có thể cho đi nhiều hơn chính bản thân mình.
Tôi tin rằng bạn sẽ thấy, như tôi đã thấy, rằng bạn là người thành công nhất khi bạn làm điều gì thực sự tốt đẹp, hay khi bạn đang làm điều đó một cách thích thú say mê ( và không phải rằng những thứ đó không quan trọng). Bạn thành công nhất khi bạn đang phụng sự người khác.
Sau đây là một vài đề nghị về những cách đơn giản mà hiệu quả bạn có thể cho những người quanh bạn hôm nay:
+ Bỏ đi những chuẩn mực bạn ấn định và dự kiến cho người yêu/ chồng / vợ và gia đình bạn. Thay vì mong chờ họ cư xử với bạn theo cách nào đó, nghĩ xem làm thế nào bạn có thể cho họ thấy họ thực sự có ý nghĩa biết bao với bạn.
+ Cho thái độ ứng xử của bạn:
Đây là một trong những cách thực sự ấn tượng bạn có thể “cho” người khác. Thái độ và năng lượng tích cực của bạn có sức mạnh và hiệu quả lạ thường với những người quanh bạn. Bóng tối, khi có ánh sáng đến, trở thành sáng rực. Cùng cách ấy, năng lượng yếu, tan hòa, khi năng lượng mạnh đến gần. Hãy giúp trung hòa nguồn năng lượng yếu của người khác bằng cách cho họ nguồn năng lượng tích cực mạnh hơn của bạn.
+ Cho sự quan tâm :
Bất cứ khi nào bạn gặp một ai đó, hãy nói một câu chúc lành thầm lặng hay gửi cho họ một thiện ý, một suy nghĩ tích cực, thay vì phê phán họ.
+ Thể hiện lòng biết ơn:
Viết một bức thư ngắn hay vài dòng ghi lại bày tỏ cho ai đó biết họ có ý nghĩa dường nào với bạn và những lý do bạn yêu họ.Kết quả của việc này sẽ có tác dụng thực đáng kinh ngạc với người nhận.
+ Ngỏ ý giúp đỡ:
Nếu không có thể làm gì đặc biệt cho một người khác, hãy để cho họ biết rằng nếu họ thấy có cách nào bạn có thể giúp đỡ, bạn muốn họ nói cho bạn biết.
Những thứ này dường như nhỏ bé, nhưng tôi nghĩ thế giới được thay đổi bởi số nhiều những ý tưởng nho nhỏ. Các cuộc cách mạng khởi đầu bằng những hành động nho nhỏ ấy.
Vì thế bây giờ những gì tôi muốn hỏi bạn là: Tôi có thể giúp bạn bằng cách nào? Xin hãy cho tôi biết nhé.
Hàng ngày ta đọc tư duy tích cực và cố cố cố để tư duy tích cực, và ta cảm thấy rất thường xuyên ta không tích cực được như ta muốn, và ta lại cố cố cố thêm, và vẫn cảm thấy mình yếu kém, và ta bắt đầu stress stress stress vì cái yếu kém của mình. Hóa ra khởi đầu để cho tích cực và hết stress, một lúc sau thì lại nhiều stress hơn nữa. Đúng là tẩu hỏa nhập ma.
Vấn đề ở chỗ này có vài điểm:
1. Ta cứ chối bỏ cái yếu kém của mình, không chấp nhận nó là một phần của mình, và ta bị stress vì nó vẫn còn đó. Nếu hai cánh tay của mình yếu không cử tạ 100 ky’ được, thì việc gì phải stress? Cứ thong thả tập thể thao đều đặn hàng ngày, hai cánh tay sẽ mạnh thêm từ từ, đến đâu hay đến đó. Điều quan trọng là ta vui thích khi tập hàng ngày, như là một môn giải trí, hơn là cố cố cố như là một loại công việc nhiều stress. Có cố thì chắc là cũng chẳng giúp mình đi nhanh được bao nhiêu, vì các bắp thịt chỉ có thể mạnh từ từ, mà lại có thể làm cho mình mất hứng thú và thêm stress. Mà thêm stress thì có nghĩa là mình đã đi lùi trong tư duy tích cực.
2. Cứ cố cho mạnh tức là to cứ nghĩ về cái yếu của mình, và tiêu tán tư tưởng và năng lực vào chổ yếu của mình, chứ không dồn được sức mạnh vào chỗ mạnh. Mà trong tâm ly’ con người, cứ chú tâm vào chỗ yếu là ta yếu thêm. Ví dụ: Nếu cứ mắng đứa bé “Mày dốt toán, mày dốt toán, cố cho giỏi lên” thì có khả năng cao là đứa bé sẽ dốt toán cả đời. Điều này các bố mẹ và thầy cô có kinh nghiệm đều thấy. Và trong môn tư duy tích cực, điều đó gọi là “luật hấp dẫn”, cứ nghĩ và nói đến cái xấu hoài thì cái xấu sẽ đến với mình, kể cả khi mình nói “Phải bỏ cái xấu này, phải bó cái xấu này.”
Điều này thì không phải ngày nay chúng ta mới biết, mà các đại gia về tâm y’ con người đã biết từ mấy ngàn năm trước. Thánh kinh có nói, Muốn vào được thiên đàng thì phải như trẻ em. Trẻ em sống rất hồn nhiên với chính mình, không xỉ vã cái yếu của mình và không ham hố chạy theo cái mạnh của mình. Trong Kinh Kim Cang có rất nhiều câu theo nghĩa, Bồ tát mà còn muốn giác ngộ thì không là Bồ tát, Bồ tát mà nghĩ là mình giác ngộ thì không phải là Bồ tát. Còn ham muốn là còn gánh nặng, thì không thể giải thoát để bay bỗng được. Cứ ung dung tự tại thì điều gì sẽ đến, sẽ đến, tự nhiên một lúc nào đó.
Thay vì chối bỏ cái yếu đuối của mình, thì cách hay nhất là chấp nhận con người của mình toàn diện, cả cái yếu lẫn cái mạnh. Dĩ nhiên là ta muốn làm mạnh cái yếu, nhưng muốn làm mạnh không có nghĩa là chối bỏ. Không ly’ do gì phải chối bỏ và không yêu thương cánh tay của mình chỉ vì nó không mạnh như mình muốn. Tức là, nếu ta lỡ nỗi nóng khi không đáng nỗi nóng, buồn khi sách nói không nên buồn, stress khi sách nói không nên stress, thì cứ ung dung chấp nhận nó như là một phần của mình. Và thay vì cứ chối bỏ là mình không buồn, không stress… thì cứ ung dung đối diện nỗi buồn của mình và ưu ái nhìn nó đang ở trong lòng mình.
Thiền sư Nhất Hạnh có viết trong Kinh Kim Cang Giảng Giải, hãy ôm ấp yêu thương nỗi buồn nỗi đau của mình vì nó là mình. Kinh nghiệm riêng của mình cũng cho thấy là khi buồn đau, nếu chối bỏ nỗi đau, cố tình gạt nó ra khỏi đầu óc, thì nó cứ nằm đó nhức nhối tháng này qua năm nọ. Nhưng nếu cứ nhìn nó yêu ái và chấp nhận, “Ừ mình đang đau nhức kinh khủng, và cơn đau đang xâu xé mình…” thì khả năng cho mình “lành” được cơn đau gia tăng rất nhiều, cứ như là cơn bão đã hiện rồi sẽ đi xa.
Chẳng có ai là siêu nhân ở đời cả. Và chẳng ai là không yếu chỗ này chỗ kia. Khi ta bị đụng vào điểm yếu, có khả năng cao là ta bị quỵ. Nhưng đó là chuyện tự nhiên. Chẳng có ly’ do gì phải stress khi ta bị ngã vì yếu. Điều quan trọng là biết rằng mình đã ngã, chấp nhận mình đã bị ngã, đứng dậy hăng hái đi tiếp, và hy vọng, nhờ kinh nghiệm, sau này ít ngã hơn.
Chúng ta không có y’ nói rằng đừng cố gắng làm gì hết, hay đừng làm cho mình hoàn thiện và mạnh mẽ hơn. Dĩ nhiên là ta phải tinh tấn cố gắng hoàn thiện chính mình mỗi ngày. Nhưng hoàn thiện cơ thể như người vui chơi trên sân bóng mỗi ngày thì khác với hoàn thiện của người cố của tạ, cử không nỗi thì xỉ vả chưởi rủa cánh tay của mình. Chẳng có phần nào trong cơ thể đáng được xỉ vả và thất vọng cả, cả phần mạnh lẫn phần yếu. Tất cả, mạnh lẫn yếu, làm nên cái yêu ái mà ta gọi là “tôi”.
Những lúc lắng lòng đối diện với mình, tôi thấy yêu lời tâm tư kia đến lạ. Mà nào phải là kia, mà chính là mình:
Cầm vàng mà lội xuống sông
Vàng thời không tiếc, tiếc công cầm vàng.
Lời ca đúng phẩm chất ca dao, tải nặng một cái tình, thăm thẳm. Như mở một nẻo chạy hút về phía cõi mình, cuối con đường hun hút ấy là vườn địa đàng đã vắng cõi trần, đã xanh cõi tâm.
Nhà thơ bình dân nào đã lặng vào vô danh, lặng luôn cả cái sự, để qua một nhọc nhằn mất mát chỉ còn lại bền bỉ nhất một ánh nhìn, một chép miệng thở dài, một suy tư.
Thử hình dung, thử nổ lực ráp nối , gia dĩ cũng thỏa được cái mạch lạc của một sự đời.
Có mở đầu là một hành động: Lội
Có sự kiện diễn biến: Đánh rơi cái gì quí giá.
Có kết thúc: Nỗi niềm tiếc nuối.
Song cái mạch lạc đã lặng đi ở đúng cái chỗ cần lặng nhất. Mấy cái diễn biến luộm thuộm bờm xờm vốn thường thấy ở cái đời nhiêu sự thì tiếc nuối gì mà giữ, mà nên cắt bỏ cho nhẹ cái người, cho thanh thản lời ca.
Cắt bỏ khẳng khái.
Mà thái độ cũng khẳng khái: Vàng thời không tiếc.
Dừng ở đây, lời ca có phẩm chất của một triết lí.
Từ khi linh hồn kết cuộc chung thân với cái chữ người thì đã bỏ hai chân mà lội cõi nhân gian, cái tài, cái tình, cái danh cứ bắt con người ta phải lội. Lộ trình đời người ấy lắm lúc lại cứ phải đánh rơi.
Khi mệt mỏi mà rơi.
Khi bỏ cuộc mà rơi.
Khi yếu tài kém thế mà rơi.
Khi dập giàm giăng bẫy mà hỏng.
Mà mỗi cuộc đánh rơi là mỗi một trận bão lòng!
Lúc ấy giá mà học được thái độ chấp nhận mà nhủ mình: Không tiếc.
Giá mà được làm thằng say một đời trong truyện của Nam Cao để mà khẳng khái: “ Chết cả đi rồi có ai gọi là cụ lớn mả”.
Giá mà nuốt trôi được, tiêu hóa được cái lời của một học giả: “ Không ai ăn một ngày quá ba bữa và ngủ một đêm trên hai cái giường”.
Chấp nhận được thế đời nhẹ lắm, thanh thản lắm. Mà cũng chẳng còn cái vị cái mùi gì nữa.
Vậy thì cứ buông đi phần xác, cứ giữ lại phần hồn:
Tiếc công cầm vàng.
Là tiếc cái vun đắp, tiếc cái hoài bão, tiếc cái thâm tình.
Cũng tại cõi đời vốn không nhẹ như nhiều nhà tư tưởng nghĩ.
Có cái qua đi rồi mà cứ níu lại phía sau.
Có cái đi dùng dằng chẳng đặng.
Nhất là những gì vốn thuộc về tâm hồn, thuộc về con tim.
Dòng xoáy nào cuốn trôi một bàn tay tình bạn.
Con sóng nào đánh bạt một tình yêu.
Ừ thì cho đến cái thân này còn có khi chẳng còn giữ nổi, hơi đâu mà tiếc cái vật vong thân, ai lại triết lí cuồng ngạo thế bao giờ. Lại cứ phải sụp xuống, chới với một bàn tay: Tiếc công cầm vàng.
Như người dân quê tôi những năm lửa đạn, cả quê di tản, từ khu định cư nhìn về chốn cũ chỉ thấy mờ mờ mịt mịt, thay cho những cánh cò chớp trắng là những cánh tàu bay với những chớp trắng là những cánh tàu bay với những chớp lửa đạn nhì nhằng, người dân thương hàng cau sau hè, cây thị trước ngõ, cánh đồng vụ tháng ba oằn oại ngoài đồng mà ngơ ngẩn vào ra.
Thương là thương cái giọt mồ hôi còn nằm lại.
Vàng thời không tiếc, tiếc công cầm vàng.
Như cái bận sau ngày giải phóng, tháng mười hai năm bảy lăm, ba tôi tổ chức lễ mừng Chúa giáng sinh tại gia, chính quyền bắt phạt vì tổ chức hội kín mà không xin phép, tội nghiệp mấy chú du kích vốn là học trò cũ, nhìn ba dẫy cỏ trước sân ủy ban như đứa học trò dốt bị kỉ luật mà không dám một tiếng chào thầy.
Ba chép miệng: Vàng thời không tiếc, tiếc công cầm vàng.
Tôi thương lời ca tình nghĩa ấy, không màu mè câu chữ mà nặng oằn gan ruột.
Tôi cũng đồ chừng rằng để có được lời ca vừa khẳng khái vừa rất đổi ân tình đó thì cái ý tưởng ban đầu cũng đã trôi nổi qua bao nhiêu cuộc riêng tư, rồi cứ như một thứ vàng luyện qua bao lửa đời để chắc tuổi mười đến thế.
Rồi cũng tự nhủ mình đâu phải lúc nào cũng lạnh băng ráo hoảnh mới là bản lĩnh, thôi thì cứ yên tâm mà bận bịu một chút tình.
Dòng sông cuộc đời chảy dọc, có mất mát mới là đời.
Dừng có té sấp té ngửa vì thiệt hơn mới là bản lĩnh.
Và, cần nhất, bận bịu một chút với ngày qua để thực là người, để xứng là người.
Nếu so sánh giữa người lãnh đạo một nhóm và các thành viên của nhóm, thì mọi người đều như nhau—đôi khi thành viên có thể giỏi hơn lãnh đạo về kỹ thuật và có thể làm được tất cả những gì lãnh đạo làm. Duy có một điều chỉ có lãnh đạo có quyền và có nghĩa vụ làm, đó là “ra quyết định.”
Người lãnh đạo bắt buộc phải chịu trách nhiệm về hoạt động của nhóm, và không thể bán cái theo kiểu, “Tại vì cả đám đòi vậy chứ đâu phải ý tui.” Và bởi vì phải có trách nhiệm, lãnh đạo phải có nhiệm vụ ra quyết định cho nhóm, để chỉ đạo công việc. Không thể bán đi nhiệm vụ này được.
Dĩ nhiên là các lãnh đạo có kinh nghiệm đều biết là nên bàn với cấp dưới một tí trước khi ra quyết định, vì quyết định như vậy sẽ tốt hơn, nhờ có sự thông thái của nhiều cái đầu họp lại, và cũng được mọi người hăng hái, nhờ quyết định có được các ý ưa chuộng của các thành viên.
Hoặc, trong những trường hợp “đằng nào cũng tốt,” lãnh đạo có thể cho phép các thành viên biểu quyết để lấy quyết định, nhưng đương nhiên lãnh đạo vẫn phải chịu trách nhiệm 100% về quyết định từ biểu quyết, vì đó chính là quyết định mình đã chọn.
Thỉnh thoảng, trong một tình huống khó khăn nào đó, lãnh đạo đối diện với nhu cầu phải làm những quyết định khó khăn. Những tình huống này chính là những bài thi, phân tách lãnh đạo tài ba khỏi các lãnh đạo bình thường.
Có 2 loại tình huống khó khăn:
1. Loại thứ nhất là khó khăn từ bên ngoài, và không ảnh hưởng đến nội bộ nhóm: Ví dụ: Thống kê mới cho biết công ty Số Một có thị phần 40% thị trường, công ty Số Hai 25% thị trường. Đó là một khó khăn cho công ty Số Hai. Nhưng khó khăn này thực ra không khó lắm để công ty Số Hai biến nó thành sức mạnh của mình. Giám đốc công ty Số Hai có thể nói với các cộng sự viên của mình: “Công ty Số Một có mặt đã 10 năm, được 40%. Mình mới có 2 năm đã được 25%. Xem ra mình rất khá. Các bạn nghĩ là mình có thể qua mặt họ được không? Trong bao lâu?” Từ đó mọi người sẽ hăng hái lên chương trình “Trở Thành Số Một” trong một thời gian nào đó.
Các loại “khó khăn” này rất dễ được các lãnh đạo giỏi biến thành sức mạnh.
2. Loại tình huống khó khăn thứ hai là khi khó khăn đó ảnh hưởng đến nội bộ của nhóm và có tiềm năng làm cho cả nhóm hay vài thành viên của nhóm không vui. Ví dụ: Kinh tế xuống, phải giảm 25% nhân lực của nhóm, tức là cho ¼ nhóm nghỉ việc. Hay, một người khá trong nhóm làm lỗi lầm gì đó nguy hại đến “sức khỏe” của cả nhóm đến nỗi phải cho nghỉ việc. Hay, người lãnh đạo có kinh nghiệm thấy được một nguy hại đang đến, trong khi đó các nhóm viên chẳng ai thấy được và cứ nhởn nhơ đường khác.
• Đây là những tình huống khó khăn, vì hầu như quyết định nào cũng có thể làm cho cả nhóm không vui và xuống tinh thần, đó là chưa kể tiềm năng chống đối lãnh đạo. Trong những tình huống khó khăn, “vốn liếng” có sẵn của lãnh đạo có thể giúp lãnh đạo vượt qua khó khăn đễ dàng hơn. Vốn liếng đó là “lòng tin” của các thành viên vào lãnh đạo.
Lòng tin này đến từ 2 điều. Điều thứ nhất là thâm tình–mỗi thành viên đều tin là lãnh đạo quan tâm lo lắng chăm sóc cho mình. Điều thứ hai là khả năng—mỗi thành viên đều tin là nếu mình không thấy điều gì mà lãnh đạo thấy thì tốt hơn là “cứ tin vào anh/chị ấy.”
Hai điều này tạo nên “lòng tin,” gọi là trust. Người Mỹ hay nói, “Trust has to be earned through time” (lòng tin phải được xây dựng qua thời gian). Tức là ta không thể nào có được lòng tin của các thành viên trong một ngày một giờ. Phải qua thời gian, các thành viên sẽ từ từ hiểu được tâm y’, tác phong, khả năng của lãnh đạo.
• Trong những tình huống khó khăn, người lãnh đạo nhờ vào (1) vốn liếng “lòng tin” và (2) kỹ năng lãnh đạo của mình để làm cho đa số, nếu không là tất cả, thành viên bớt bức xúc vì quyết định khó khăn của mình.
— Ví dụ 1: Kinh tế xuống, phải giảm 25% nhân lực của nhóm, tức là cho ¼ nhóm nghỉ việc:
a. Nếu lãnh đạo có công thức để chọn số 25% phải nghĩ việc này mà mọi người đều xem là công bình, thì mọi nguời, kể cả người bị nghỉ việc, sẽ bớt bất bình hơn. Ví dụ: Dùng thâm niên công vụ.
b. Nếu lãnh đạo (thực ra là công ty) có chính sách giúp đỡ người bị nghĩ việc, như là cho họ một số tiền, giúp họ được huấn luyện kỹ năng mới, giúp họ tìm việc mới… thì mọi người sẽ cảm kích với lãnh đạo hơn.
— Ví dụ 2: Một người khá trong nhóm làm lỗi lầm gì đó nguy hại đến “sức khỏe” của cả nhóm đến nỗi phải cho nghỉ việc. Thông thường nhất với người giỏi là người này có khuynh hướng “lập băng” riêng trong nhóm và có thể chẻ nhóm làm đôi. Điều này rất đáng buồn vì người giỏi mà có cái tôi cao và lòng trung thấp thì có thể làm thế. Một nhóm như thế là đang trong vòng nguy hiểm sống chết. Và cũng rất khó cho lãnh đạo trong tình huống này. Rất nhiều tổ chức lớn nhỏ trên thế giới gặp tình huống này.
a. Cách hay nhất, dĩ nhiên, là làm việc hòa bình, nói chuyện để anh chị em có thể sống chung hòa bình đoàn kết.
b. Nếu không xong, phải cho người đó nghỉ việc. Việc này rất khó cho lãnh đạo, đau đớn như là cắt đứt một cánh tay của mình, và cũng làm cho cả nhóm không vui. Vì vậy tốt hơn là đợi một tí để các thành viên đều hiểu là tình trạng chia đôi không thể được kéo dài, rất hại cho cả nhóm, và không còn cách giải quyết khác. Đây giống như là ly dị. Chẳng có ly dị nào mà không làm cho cả nhà trầm uất. Lãnh đạo chỉ có thể làm giảm cơn đau được tí nào hay tí nấy mà thôi. Đây là lúc “vốn liếng” lòng tin giúp người lãnh đạo rất nhiều. Nếu mọi người tin rằng lãnh đạo luôn vì mọi người và vì nhóm, thì họ sẽ cảm thấy bớt buồn hơn.
— Ví dụ 3: Người lãnh đạo có kinh nghiệm thấy được một nguy hại đang đến, trong khi các nhóm viên chẳng ai thấy được và cứ nhởn nhơ đường khác. Đây cũng là một trường hợp khó khăn vì chỉ có lãnh đạo thấy được tương lai. Dĩ nhiên là lãnh đạo sẽ cố gắng giải thích cho các thành viên điều mình thấy. Nhưng giải thích tương lai thì đối với người nghe cũng có thể như là thầy bói nói, họ không thấy tương lai được, dù là giải thích cách nào. Trong trường hợp này nếu lãnh đạo có được lòng tin của mọi người, thì thành chuyện dễ. Thường thường là mọi người sẵn sàng nghe theo lãnh đạo, dù chính họ không thấy vấn đề, nếu họ có lòng tin vào lãnh đạo.
Nhưng nếu lãnh đạo chưa có được lòng tin thì đôi khi tự mình quyết định sẽ gây ra nhiều chống đối, càng có hại cho nhóm. Đôi khi lãnh đạo phải để cho nguy hiểm tới và mọi thành viên đều thấy được cơ nguy, lúc đó mới chỉ cho mọi người cách vượt khỏi cơ nguy, thì mới có được ủng hộ của thành viên.
Các thí dụ trên đây cho ta vài khái niệm căn bản về các quyết định khó khăn. Nói chung, đã là khó khăn thì có thể gây ra đau đớn và khủng hoảng. Cái nền chính để giữ mọi sự được chắc chắn bền vững trong cơn khủng hoảng là lòng tin vào lãnh đạo. Và lòng tin này phải có từ trước khi khủng hoảng đến, phải được xây dựng và tích tụ nhiều năm trước. Nếu có lòng tin, chuyện lớn có thể thành nhỏ. Nếu không có lòng tin, chuyện bé xé ra to.
Sau đây là một lời khuyên của anh John Walsh cho lớp tốt nghiệp năm 2000 của trường Wheaton College năm 2000. Anh John Walsh là một nhà lịch sử nghệ thuật.
Điều này là mạo hiểm. Nói rõ ràng điều bạn nghĩ là mạo hiểm bị sai rõ ràng. Nói mù mờ – vẽ điều kiện, phức tạp hóa, nhồi cho cố – thường là một động thái phòng thủ. Đấy là một chiến lược để lấy điểm một phần: bạn biết rằng bạn có thể sai, nhưng ít ra bạn đã khéo léo, đã hùng biện tốt… và có thể sai cũng không nhiều.
Tôi làm việc trong lĩnh vực lịch sử nghệ thuật, lĩnh vực thật giàu có về tĩnh từ, nghèo nàn về những lời khẳng định có thể chứng minh được, đúng ngành cho ai đó muốn dấu đi sự rõ ràng đằng sau ngôn ngữ màu mè tiêu khiển. Liều thuốc tốt nhất cho người viết lách tôi từng nghe là của nhà lịch sử nghệ thuật Howard Hibbard. Ông nói với đám sinh viên chúng tôi điều cần làm khi đã viết xong một câu: “Tìm từ bạn yêu thích nhất và xóa nó đi.” Hibbard muốn nói là thường thì chúng ta đặt từ ngữ ở đó không phải cho sự rõ ràng, mà cho sự phù phiếm.
Vì bây giờ tôi dành hầu hết thời gian làm quản lý, tính rõ ràng đã trở thành thiết yếu, và là bạn tốt nhất của tôi. Sự rõ ràng tiết kiệm thời gian của tôi và của những người khác. Về chuyện rủi ro do rõ ràng mà tôi vừa mới nói, chuyện đó hầu hết là tưởng tượng thôi; rốt cuộc, tôi vẫn còn có việc mà.
(Nguyễn Minh Hiển dịch)
.
Make yourself clear
This is risky. To say clearly what you think is to risk being more clearly wrong. To fudge what you think – to qualify it, complicate it, overload it – is usually a defensive move. It’s a strategy for getting partial credit: you figure you may be wrong but at least you’re clever, you’re eloquent… and maybe not that far wrong.
I work in a field – art history – that is rich in adjectives, poor in provable statements, just right for somebody who hides from clarity behind vivid, entertaining language. The best antidote I ever heard prescribed to writers came from the art historian Howard Hibbard, who told us students what to do when we’d written a sentence: “Take your favorite word and strike it out.” Hibbard meant that often we put the word there not for clarity but for vanity.
Now that I’ve been spending most of my time as a manager, by the way, clarity has become a necessity, and my best friend. It saves my time and other people’s. As to the risk of clarity I mentioned just now, that’s mostly imaginary; after all, I do still have my job.
John Walsh – Author and art historian
Wheaton College
Norton, MA
2000
Chúng ta đang bị cuốn theo nhịp sống rất nhanh vội của thế kỷ 21, ngay cả ở thành phố núi nhỏ ở miền cao nguyên này. Mỗi ngày từ khi thức dậy chuẩn bị để bước ra khỏi nhà đi làm, hay đi công việc gì đó, có phải hấu hết chúng ta đều rất vội, rất nhanh?
Ta dù muốn hay không phải hòa vào dòng xe cộ giao thông, trên xe riêng, hay các phương tiện công cộng: vội vàng và hối hả. Tại nơi làm việc với đồng nghiệp và công việc: bận rộn, căng thẳng. Rồi lại lên xe tất bật giờ cao điểm. Khi trở về nhà: một mình hoặc bên những người thân yêu, trong gia đình và bên bạn hữu: cùng ăn một bữa cơm… Chính bạn sẽ có nhiều trải nghiệm, cảm nhận khác nhau trong từng vai trò và thời khắc trong ngày.
Bạn sẽ mong mỏi điều gì và bạn cần điều gì nhất cho mỗi ngày trong đời bạn? Các bạn có thể nghĩ đến những khái niệm như may mắn, hay hạnh phúc? Câu trả lời về hạnh phúc có lẽ không sai, nếu quan niệm về hạnh phúc không phải chỉ là sự thụ hưởng vật chất hay các giá trị vật chất. Bởi nếu là thế không lẽ người đang làm việc miệt mài không đang thụ hưởng các giá trị vật chất như ăn ngon, diện đẹp … không có hạnh phúc sao?
Khái niệm hạnh phúc ở đây được hiểu như sự đạt đến các giá trị và mục tiêu tinh thần ta đặt ra cho đời mình. Và như thế những từ thuộc nhóm từ tích cực được xem là các sắc thái của hạnh phúc như vui sướng, hoan hỉ, thanh thản, lạc quan, phấn khởi, yêu thương… đều có thể được các bạn chọn cho các vai trò của bạn trong từng thời khắc khác nhau.
Nhưng để có được hạnh phúc như một mục tiêu cuộc sống của tất cả chúng ta, và cho cả thế giới này, có một yếu tố quan trọng mà Obama trong bài diễn văn tại Cairo ngày 4/6/2009 đã nhấn mạnh và nhiều lần nhắc đến. Đó là An Bình ( Peace ) với tư tưởng “An Bình bắt đầu từ trong bạn và tôi. Nếu muốn có một thế giới hòa bình, chúng ta trước hết phải bắt đầu từ sự an bình nội tâm mỗi chúng ta”.
An bình nội tâm chỉ trạng thái an bình của tâm hồn – tinh thần, với đầy đủ hiểu biết để giữ cho mỗi người mạnh mẽ đối mặt với những bất ổn hay căng thẳng. An bình tâm hồn là sự lành mạnh về tâm hồn và đối lập với âu lo, căng thẳng. An bình tâm hồn gắn với hạnh phúc.
Chúng ta không thể có hạnh phúc trong từng ngày từng giờ hay cả từng phút giây của hiện tại nếu không có được sự an bình trong tâm trí này. Mỗi buổi sáng thức dậy, được nghe tiếng chim hót từ cây khế bên hiên nhà, nhìn lên bầu trời vừa ráng hồng, hay được ngắm một nụ hoa mới hé còn ướt đẫm sương đêm… và bước ra đường nghe một câu chào nhìn lên đón một nụ cười quen, tươi rạng. Liệu ta có cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống từ những thực thể đang tồn tại ấy không khi lòng ta rối bời nặng trĩu âu lo, hay đang bực dọc, tức giận?
Tác giả Babauta sẽ giúp chúng ta nhận thức sự quan trọng của an bình nội tâm, và chỉ cho ta một phương pháp hay để đạt đến trạng thái này
MỘT PHƯƠNG PHÁP HAY ĐỂ TÌM SỰ BÌNH AN TRONG TÂM HỒN Babauta
Đã bao nhiêu lần bạn tức giận bởi vì ai đó không làm việc của họ, vì con bạn không ngoan, vì người yêu hay người bạn không đạt được như mong muốn hay không làm theo thỏa thuận?
Đã bao nhiêu lần bạn bực bội khi ai đó không làm theo cách của bạn quen làm? Hay khi kế hoạch bạn hoạch định kỹ càng không thành như bạn đã hi vọng?
Kiểu tức giận và bực dọc này thường xảy ra với tất cả chúng ta- đó là một phần của trải nghiệm của con người.
Một chuyện làm tôi bực là người ta nói chuyện trong khi xem phim. Hay là cản đường tôi khi giao thông. Hoặc không rửa bát sau khi ăn. Thực sự, tôi có nhiều những nỗi bực dọc nho nhỏ này- chẳng phải mọi chúng ta đều thế sao?
Và không phải dễ dàng tìm thấy sự an bình khi bạn đang bực bội hay tức giận.
Để tôi tiết lộ một bí mật nho nhỏ tìm sự an bình cho tâm trí : chiếc ly đã vỡ .
“ Anh nhìn thấy chiếc ly có chân này chứ? Achaan cha, bậc thầy về thiền định người Thái hỏi. Đối với tôi chiếc ly này đã vỡ. Tôi ưa thích nó, tôi uống bằng ly này. Nó dùng đựng nước của tôi thực tuyệt, nhiều khi còn phản chiếu ánh mặt trời với nhiều họa tiết. Nếu tôi gõ vào thành ly, nó ngân rất hay.
Nhưng khi tôi để nó lên kệ, gió làm nó rớt khỏi vai tôi hoặc giả khuỷu tay tôi đụng phải nó rớt xuống sàn và vỡ nát. Tôi nói ” Phải, khi tôi hiểu rằng chiếc ly đã vỡ, mỗi giây phút với chiếc ly đều đáng quý.” – Mark Epstein
Bạn thấy đấy, nguyên nhân của sự căng thẳng, cơn giận và bực bội của chúng ta là do sự việc không diễn ra như ta muốn hay theo cách ta dự kiến. Hãy nghĩ xem điều này đúng với bạn bao nhiêu lần?
Và vì thế giải pháp cũng đơn giản: dự kiến sự việc sẽ trục trặc, sẽ khác với hi vọng hay hoạch định của ta, có sự bất ngờ sẽ đến. và chấp nhận nó
Một ví dụ dễ hiểu: trong một chuyến đi mới rồi của chúng tôi tới Nhật , tôi bảo các con sự việc có thể không như mình mong mỏi- chuyện thường xảy ra trong một cuộc du lịch. Tôi bảo các con: “ Cứ xem như đây là một phần của cuộc phiêu lưu.”
Và điều này rất hiệu quả. Khi chúng tôi bị nhầm tàu trên hệ thống xe điện ngầm chỉ dẫn bằng ngoại ngữ, hay khi trời mưa trên đường đến biển Disney, hay khi chúng tôi đón đến 3 chuyến tàu và đi bộ qua 10 khối nhà chỉ để thấy Cung Thiếu Nhi Quốc Gia đóng cửa vào thứ hai…. Bọn trẻ nói, “ Đây là một phần của cuộc phiêu lưu! Và cũng ổn thôi- chúng con không thấy buồn bực gì lắm.”
Vì thế khi chiếc ly đẹp bạn mua một hôm nào đó không tránh khỏi bị vỡ , bạn có thể buồn bực. Nhưng sẽ không thấy buồn nếu nhìn chiếc ly như thể nó vỡ rồi ngay từ lúc mua về. Bạn biết một ngày nào nó sẽ vỡ- vì thế từ lúc bắt đầu , hãy xem nó như đã vỡ. Hãy là người vượt thời gian, hay một người có cái nhìn vượt thời gian, và thấy tương lai của cái ly, từ giây phút này cho đến khi nó bị vỡ như một tất yếu.
Và khi nó vỡ, bạn sẽ không bực dọc hay buồn rầu. – vì nó đã bị vỡ rồi, từ cái ngày bạn có nó. Và bạn sẽ nhận ra rằng mỗi giây phút bạn có nó đều thực quí giá.
Nghĩ rằng con của bạn phạm lỗi – mọi trẻ con đều thế. Và đừng quá bực tức khi chúng sai sót, khi chúng không làm cái “phải” làm, vì chúng “phải” có sai sót.
Nghĩ rằng người yêu/ bạn đời của mình không hoàn hảo
Nghĩ rằng bạn của mình đôi khi không đến.
Nghĩ rằng sự việc không thành
Nghĩ rằng người ta đôi khi bất lịch sự
Nghĩ rằng đồng nghiệp đôi khi không hợp ý theo kế hoạch
Nghĩ rằng bạn cùng phòng đôi lúc không rửa bát hay thu dọn áo quần.
Nghĩ rằng ly sẽ bể
Và chấp nhận điều đó
Bạn sẽ có được sự bình an trong tâm hồn.
Và các bạn tôi ơi, điều đó là một sự ngạc nhiên thú vị.
Babauta ( A Beautiful Method To Find Peace of Mind)
Thân ái chúc các bạn một ngày an bình trong tâm hồn giữa dòng người xuôi ngược hay căng thẳng với bao áp lực công việc, dù bạn ở đâu và làm gì. 🙂
Bài này là để trả lời câu hỏi, Làm thế nào để viết giản dị và sâu sắc?
Giản dị và sâu sắc liên hệ rất mật thiết với nhau. Những gì sâu sắc thường rất giản dị. Ví dụ: Chàng nói với nàng, “Anh yêu em”—tất cả những bó hồng nhung của thế giới, tất cả thi ca của thế giới, tất cả âm nhạc của thế giới vẫn không làm đầy được ba chữ “Anh yêu em.”
Nhưng, sâu sắc và giản dị là hai kỹ năng khác nhau. Sâu sắc là suy tư. Giản dị là giải bày, hoặc bằng lời nói hoặc bằng lời viết. Trong phần sau đây, chúng ta sẽ nói đến sâu sắc trước, rồi sẽ nói đến viết giản dị sau.
I. Làm thế nào để suy tư sâu sắc?
Thực ra từ “sâu sắc” rất tương đối—sâu sắc với người này, vẫn có thể là nông cạn với người kia. Nhưng tại đây ta không cần quan tâm đến chuyện đó; chỉ cần biết là hôm nay ta sâu sắc hơn ta hôm qua là đủ rổi.
Muốn suy tư sâu sắc ta chỉ cần nắm vững 3 điều thôi: Suy tư 1. Càng suy nghĩ và kinh nghiệm về một việc gì, ta càng sâu sắc về việc ấy. Sâu sắc đến từ suy tư và kinh nghiệm. Nhưng, kinh nghiệm không phải là một cái gì nằm ngoài tiến trình suy tư, kinh nghiệm là 50% của suy tư, vận dụng não bộ để suy tư là 50% còn lại. Có những điều mình đọc năm 18 tuổi, đến 40 tuổi mới “ngộ” được nó, không phải là vì IQ của mình cao hơn ở 40, nhưng vì kinh nghiệm sống cao hơn.
Nhưng nói đến kinh nghiệm thì các bạn trẻ cảm thấy hơi thiệt thòi rồi. 😦 Nhưng không sao. Người lớn tuổi hơn thì đã phải “trả nợ đời” (pay their dues) nhiều lắm rồi, biết hơn một tí cũng là công bình thôi. Hơn nữa, mình trẻ hơn thì mình lại có sức mạnh khai phá của người tiền phong cầm rìu rựa phá rừng thành rẫy. Nếu mình làm việc với người lớn tuổi hơn, lấy kiến thức của họ về con đường cũ làm kiến thức tạm của mình, và mình dấn thân vào khai phá con đường mới, thì mình có thể nắm được cả quá khứ đến tương lai.
Dù sao đi nữa thì suy tư là suy tư và sống. Cho nên đọc sách, nghiên cứu, thảo luận là một chuyện; nhưng cũng cần phải “đi ra ngoài và làm gì đó” (Go out and do something!). 2. Phải vượt thoát các “công thức suy tư”
Chúng ta không tự nhiên mà biết suy tư. Từ bé ta đã được học hàng nghìn công thức suy tư cho hàng nghìn vấn đề. Ví dụ: Đi thưa về trình—không làm như thế là vô lễ. Con gái thì phải thùy mị, không chơi trò bắn súng đánh nhau. Chửi thề là quyền ưu tiên cho đám con trai. 😦 Đó là tiến trình “văn minh hóa” của một con người. Nếu không học được những công thức suy tư như thế thì chúng ta có lẽ là không khác gì chú khỉ trên rừng.
Nhưng những công thức suy tư cần thiết cho sự phát triển nhân cách, cũng có tiềm năng biến chúng ta thành những người máy robot khi lớn lên nếu chúng ta không biết cách “vượt lên tầng cao hơn” để suy tư thực sự tự do. “Vượt lên tầng cao hơn” không có nghĩa là phá bỏ mọi công thức, mà là biết khi nào dùng công thức, khi nào không, khi nào chính mình tạo ta công thức mới cho mình. Đó là mức sáng tạo của tất cả mọi loại nghệ thuật.
Ví dụ: Hoc vẽ thì lúc đầu là phải theo công thức màu gì trộn với màu gì ra màu gì, màu gì dùng để diễn tả tình cảm gì, cách nhìn và đo lường phối cảnh, luật quân bằng… Học viết thì văn phạm, chấm câu, bố cục… Học đàn thì ngồi thế nào, tay bấm thế nào, lúc nào mạnh yếu nhanh chậm ra sao… Học võ thì bước nào trước bước nào sau, một hai ba bốn thế nào… Một lúc nào đó người học trò đã thành thuộc các công thức và đã bắt đầu lên hàng thầy, thì hầu như là quên mất công thức, vì công thức đã vào máu mình rồi. Và bậc thầy thực sự là nguời có thể bỏ công thức và sáng tạo công thức mới khi thấy cần. Đây là mức sâu sắc của nghệ thuật.
Suy tư cũng thế thôi. Một lúc nào đó, ta cần có cái nhìn của một trẻ thơ để hỏi “tại sao?” trước những công thức suy tư đã giúp ta trưởng thành, để ta không bị ngục tù tư tuởng và có thể biến hóa sáng tạo. Ví dụ: Đi thưa về trình. Lúc còn nhỏ đó là công thức văn hóa. Nhưng bây giờ lớn một tí rồi thì “tại sao?” Lớn rồi có còn cần nó như hồi còn con nit hay không? À, có lẽ nó không còn mấy cần thiết như là một vấn đề lễ nghĩa, nhưng vẫn có thể cần đối với người trong nhà như là vấn đề an ninh. Thời đại này, đủ thứ bất an xảy ra ngoài đường, đi đâu nên nói cho ai đó trong nhà biết mình đang đi đâu và khi nào sẽ về, lỡ có chuyện gì người nhà còn biết đường mà mò. Về trễ thì gọi điện về báo tin để người nhà khỏi lo. Đó là suy tư sáng tạo. Hỏi “tại sao?” để thay đổi cái cũ thành cái mới, hoặc đôi khi xóa cái cũ nếu thấy nó thực sự chẳng cần thiết. (Các cô thư ký của mình luôn luôn biết mình ở đâu và khi nào về, kể cả khi mình đi restroom. Để nếu có thân chủ gọi đến, cô không phải trả lời: “Ông ấy ở đâu tôi cũng không biết và chẳng biết khi nào ông ấy về.” Thân chủ sẽ có cảm tưởng là văn phòng này chỉ lo du hí và chẳng ai biết “what is going on” hết).
Đừng bị đóng khung vào các công thức suy tư và ứng xử. Như vậy mới thực sự tự do sáng tạo. “Muốn vào nước thiên đàng thì hãy như trẻ thơ.” Muốn đến đỉnh cao thì hãy vượt khỏi khung công thức người lớn. Nhưng… nhưng… nhưng… một bậc thầy đã nhuần nhuyễn công thức nói là phải vuợt thoát công thức thì khác với một người học trò nhập môn chưa rành công thức nào. Chúng ta chỉ có thể vượt thoát công thức để sáng tạo khi đã nhuần nhuyễn công thức. Không học công thức nào và không rành công thức nào, mà đòi gạt bỏ công thức, thì chưa làm học trò được, đừng nói là sẽ thành thầy sáng tạo.
3. Chú tâm vào quả tim con người
Tất cả mọi vấn đề lớn nhỏ trên đời, ngoại trừ toán học và khoa học thiên nhiên, đều qui vào qủa tim con người và liên hệ giữa các con người—xã hội học, chính trị học, kinh tế học, thương mãi, nhân chủng học, khảo cổ học, đạo đức học, luận lý học, tôn giáo học, triết học v.v… Tất cả những sinh hoạt gì liên hệ đến con người đều có gốc rễ trong quả tim con người. Ví dụ: Chính trị cho người Việt. Nếu cứ lấy các thống kê và các công thức chính trị của Mỹ rồi giải thích chính trị Việt nam thì hỏng bét. Các thống kê đó phải được hiểu với hiểu biết tâm lý người Việt. Tượng tự như thế, các công thức mô hình chính trị các nước có thể là chẳng mấy liên hệ với khung cảnh và tâm lý người Việt. Kinh tế cũng thế, có thể có một tin chiến tranh ở đâu đó và giá vàng ở vài nơi trên thế giới xuống, nhưng giá vàng ở Việt Nam có thể lại lên, vì dân Việt có máu thích trữ vàng làm an ninh—cứ rục rịch là mua vàng.
Chú tâm vào quả tim con người là chú ý quan sát quả tim của chính mình thường xuyên. Nếu biết quả tim mình thì mình biết được 90% quả tim của mọi người trên thế giới, vì sự khác biệt thực sự giữa mọi người rất ít. Mà quan sát thì cần một tí tĩnh lặng và nhìn.
Ví dụ: Nhìn trời mưa và đang muốn làm thơ, tự động là một công thức suy tư nhảy ra: “Mưa rơi mang mang buồn.” Nếu viết công thức này xuống, thì bài thơ có thể nghe chán phèo vì mấy triệu người đã víết công thức này cả trăm năm rồi. Thay vì thế, quan sát tâm mình một tí, có thể là mình đang nhớ đến ngày mưa năm đó hẹn nàng ở quán Hoài, nhìn mưa đợi nàng, như thường lệ, trễ hẹn 😦 Vậy thì bắt đầu bằng, “Nước bay trước mặt quán Hoài, hàng xe lầm lũi bên ngoài phố mưa…” Hay hay dở thì chưa biết, nhưng chắc chắn là sáng tạo hơn công thức đã bị lạm dụng “Mưa rơi mang mang buồn.” Mà sáng tạo thì có tiềm năng sâu sắc. Ít ra là sâu sắc hơn công thức có sẵn.
Tất cả các vấn đề triết ly’ xã hội chính trị kinh tế cũng thế thôi. Dùng cái tâm mình làm thước đo trước, sau đó mang ra cho mọi người, không chính xác 100% vì người và ta khác nhau, nhưng ít ra cũng được 90%.
Tóm lại, muốn suy tư sâu sắc, ta nên chú trọng vào 3 điều: 1. Suy tư và sống. 2. Vượt thoát các công thức. và 3. Quán sát tâm mình.
II. Làm thế nào để viết giản dị
Trong các dịp huấn luyện các luật sư mới ra trường viết lách, mình luôn luôn nhắc đến 3 qui luật viết: 1. Giản dị. 2. Giản dị. Và 3. Giản dị.
Giản dị, vì viết là để chia sẻ với người khác, nếu không giản dị người đọc sẽ không hiểu mình viết gì, và như thế là mình đã thất bại trong việc chia sẻ. (Nếu viết chỉ để cho mình đọc, như là làm thơ chẳng hạn, thì không cần ai hiểu. Nhưng nếu đã đăng ra ngoài mà còn nói là tôi viết để chỉ cho tôi đọc, thì đó là không thành thật. Chỉ cho tôi đọc sao lại đăng ra ngoài?)
Nguyên tắc viết giản dị đòi hỏi ta chú tâm đến các điểm sau: 1. Biết người đọc mình nhắm đến là ai: Giản dị với các vị cử nhân thì khác với giản dị với các vị mới chỉ học xong lớp năm. Cho nên, nghĩ đến đọc giả mình nhắm đến, trong khi viết.
Nếu đọc giả có thể có đủ mọi trình độ, ví dụ từ lớp 10 đến tiến sĩ (như ĐCN chẳng hạn), thì ta phải viết đủ giản dị để người học lớp 10 cảm thấy mình hiểu hết bài viết, và người tiến sĩ cũng hiểu hết bài viết nhưng sâu hơn vài tầng. Điều này cũng không khó mấy, chỉ cần thêm vào bài cho người lớp 10 vài từ có vẻ vô thưởng vô phạt cho lớp 10, nhưng mang ly’ lẽ sâu xa cho người cấp tiến sĩ. Ví dụ: “Yêu người thì thường được người yêu lại.” Câu này thì lớp 10 hiểu được ngay, nhưng người mức tiến sĩ thì thấy sự quan trọng của chữ “thường”—À chị này nói thế có y’ là lâu lâu cũng có ngoại lệ, yêu người thì được nguời đâm sau lưng. 😦
Ngay cả khi viết cho người có trình độ cao, ta vẫn phải tưởng tượng là họ chẳng biết gì mấy, viết như viết cho người có trình độ thấp hơn một tí vì: (a) Người bận việc đọc rất nhanh và không muốn đọc lại. Viết càng giản dị càng giúp họ trong việc đọc. (b) Trong các việc ta đã suy nghĩ và nghiên cứu nhiều, người đọc không rành việc ấy bằng ta, cứ xem như là ta đang giải thích cho học trò là chắc ăn nhất. Ví dụ: Viết một về vụ án gửi lên thẩm phán, bạn đã tốn mấy tháng liền, mỗi ngày 12 tiếng, nghiên cứu vụ này. Trong vụ này bạn là thầy ông thẩm phán, ông ta chẳng biết ất giáp gì hết, vậy thì khi viết cho thẩm phán cứ viết thật giản dị như viết cho học trò của bạn.
2. “Nếu tôi viết, bạn đọc mà không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi.” Luật này là luật viết quan trọng số 1.
3. Chỉ viết về một điểm chính cho một bài. Hai điểm chính, như bài này–suy tư sâu sắc và viết giản dị–là đã hơi quá nhiều. Ba điểm là giới hạn tối đa. Bốn điểm là no-no.
4. Dùng từ giản dị. Đừng dùng từ phức tạp, trừu tượng và chuyên môn.
Từ giản dị là từ dùng thường ngày. Ví dụ: “Đừng xả rác ngoài đường” thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn là “Phải đề cao y’ thức y tế cộng đồng.” (Nói gì vậy??). “Anh yêu em” thì rõ ràng hơn là “Anh xúc cảm tràn dâng trong tâm tưởng với ảnh hình dấu ái tuyệt vời của em.” (What is that?? Muốn gì thì nói thẳng ra đi cha nội :-))
Từ cụ thể thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn từ trừu tượng. Ví dụ: “Hãy vun trồng nước non sông núi này; hãy tưới nước cho hoa nở trên mọi cánh đồng” thì mạnh mẽ và dễ hiểu hơn là “hãy nâng cao lòng ái quốc và tình yêu xứ sở.”
Từ chuyên môn chỉ nên dùng với người cùng ngành chuyên môn. Ví dụ, thay vì “Độc quyền kinh tế làm tăng giá, giảm cầu và giảm hiệu năng kinh tế quốc gia” thì nên viết “nhà độc quyền có quyền bán ít hàng để có thể tăng giá đến mức cắt cổ, làm người tiêu thụ rất bị thiệt thòi.”
5. Viết câu ngắn. Ví dụ:
“Ai cũng bảo xòe bàn tay ra, trong ấy có cả quá khứ vị lai. Tôi thì không tin rằng chỉ cần ngồi lẩm nhẩm với mình mà đọc được cái gì chưa đến. Còn quá khứ thì đâu chỉ nằm trong lòng bàn tay. Tôi vay ngân hàng ba mươi triệu, quá khứ của tôi nằm ở ngân hàng. Tôi vay của người hàng xóm đôi lời chì chiết. Quá khứ giờ đang nằm ở nhà hàng xóm. Tôi vay em một thời yêu thương. Chuyện này thì cầu mong quá khứ còn náu mình đâu đó nơi em.” Kể Chuyện Tôi, Tấn Ái.
6. Dùng các dấu chấm câu để giảm vận tốc đọc của người đọc. Ví dụ:
“Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: ‘Tôi thích chăn bò!’. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! Tôi rất thích nhìn vào đôi mắt to trong veo của con bò nhà tôi, đen láy và ướt át, chúng luôn khẽ khàng nấp dưới hàng mi dài cụp xuống. Trong đời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một đôi mắt nào buồn đến thế. Nó toát lên vẻ ẩn nhẫn, cam chịu, và hiền lành khiến cho tâm hồn trẻ thơ ngập tràn thương cảm. Một tình bạn thầm lặng bắt đầu từ đó!” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.
7. Dùng các từ nối kết—nhưng, và, vì thế, do đó, vậy thì, thế thì…– để nối kết những chuỗi lý luận với nhau. Ví dụ:
“Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. NHƯNG cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… VẬY THÌ tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?” Liên hệ giữa tư duy và hành động.
8. Đặt mỗi “đơn vị ý tưởng” (thought unit) trong một đoạn (paragraph) riêng. Nhưng nếu đoạn này quá dài thì cắt ra thành hai ba đoạn cho đỡ rậm mắt và nhức đầu người đọc.
Hoặc, nếu một câu nào đó mà ta muốn nhấn mạnh, thì tách câu đó ra thành một đoạn. Ví dụ:
“Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả ‘trông thấy’.
Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?
Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.” Tư duy tích cực là gì?
9. Nếu được thì nên đánh số 1,2,3, a,b,c như dàn bài cho các đơn vị ý tưởng (như bài này đây).
10. Bất kỳ bài nào, dù là viết kiểu gì, đều có 3 phần: Mờ đầu, thân bài và kết luận. Có khác nhau là chỉ về hình thức một tí thôi. Mở đầu là để giới thiệu mình muốn nói về việc gì. Thân bài là phân tích, lý luận, giải bày. Kết luận là để mình muốn đọc giả nghĩ gì, cảm xúc gì, làm gì, chia sẻ gì. Ví dụ:
Mở đầu: “Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: “Tôi thích chăn bò!”. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! …”
Kết luận: “Để bây giờ, rất nhiều khi thấy chán chường những con đường chen chúc người xe và khói bụi, mệt mỏi với cuộc sống vội vã đua tranh, tôi lại thèm quá những ngày huy hoàng cũ, khi tôi còn là một cô bé chăn bò. Bởi thế, nếu một ngày nào đó không tìm thấy tôi trong chốn đô thị bon chen, bạn hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng …” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.
11. Duyệt lại. Nếu bạn là chuyên gia về kinh tế viết một bài về kinh tế cho đọc giả không phải là dân kinh tế, thì sau khi viết xong, đưa bài cho một người bạn chưa biết đánh vần chữ “tiền” đọc lại. Nếu bạn này nói chỗ nào không hiểu thì viết lại chỗ đó, cho đến khi bạn đó nói là thực sự hiểu toàn bài.
Viết là một nghệ thuật. Càng viết nhiều thì nghệ thuật càng nâng cao và càng có nhiều kỹ năng để nghiên cứu thêm. Nhưng hy vọng các qui luật căn bản trên đây cũng có thể giúp các bạn đi được một đoạn khá dài.
Điều cuối cùng mình muốn nhấn mạnh trong liên hệ giữa suy tư sâu sắc và viết giản dị là: Chỉ khi bạn hiểu được một vấn đề rất sâu sắc bạn mới đủ khả năng để trình bày vấn đề đó rẩt giản dị. Nếu bị lúng túng quá trong việc giản dị hóa một vấn đề, có thể là bạn phải nghiên cứu và suy nghĩ thêm về vấn đề đó, cho đến lúc nắm vững đủ để trình bày đựợc cho cả các em bé tiểu học, nếu cần.
Chú bé thì thầm “Chúa, nói với con”
Và chú chiền chiện đồng đã hát.
Chú bé đã không nghe thấy.
Rồi chú bé hét “Chúa, nói với con!”
Và ngọn sấm lăn dọc tầng trời
Nhưng chú bé không lắng nghe
Chú bé nhìn quanh và nói,
“Chúa, cho con thấy ngài” và một ngôi sao lóe sáng
Nhưng chú bé đã không để ý.
Và chú bé la lớn,
”Chúa, cho con thấy một phép la!”
Và một sinh linh mới ra đời, nhưng chú bé không biết.
Vậy chú bé khóc lớn trong tuyệt vọng,
“Sờ vào con, Chúa ơi, và cho con biết Chúa ở đây!”
Lúc đó, Chúa với xuống
Và chạm vào chú bé.
Nhưng chú bé đuổi con bướm bay đi
Và bước đi mà chẳng biết gì.
(Nguyễn Minh Hiển dịch)
.
And A Meadow Lark Sang
The child whispered, ‘God, speak to me’
And a meadow lark sang.
The child did not hear.
So the child yelled, ‘God, speak to me!’
And the thunder rolled across the sky
But the child did not listen.
The child looked around and said,
‘God let me see you’ and a star shone brightly
But the child did not notice.
And the child shouted,
‘God show me a miracle!’
And a life was born but the child did not know.
So the child cried out in despair,
‘Touch me God, and let me know you are here!’
Whereupon God reached down
And touched the child.
But the child brushed the butterfly away
And walked away unknowingly.
(Ravindra Kumar Karnani
This poem was originally written in the Hindi language.)
Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. Nhưng cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… Vậy thì tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?
Một trong những điều làm mình suy nghĩ rất nhiều năm là trong tất cả mọi tôn giáo của thế giới, đạo Phật là hòa ái nhất. Điều này thì không cần phải nghiên cứu lịch sử tôn giáo; chỉ cần nhìn quanh thế giới hiện tại một vòng ta cũng thấy ra ngay. Nhưng mà cái nôi và kho tàng của võ học Trung quốc lại nằm trong Thiếu lâm tự. Tương tự như thế, đạo Lão là đạo rất vô vi và hòa ái, thì cũng có phái Võ Đang là đĩnh cao võ học về nhu quyền. Tại sao lại như vậy?
Dĩ nhiên là một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện. Nhưng cuốc đất cũng tráng kiện, không nhất thiết phải là cao thủ võ lâm. Và đã đi tu thì cũng chẳng cần phải phòng thân, vì như trong truyện đời Phật Thích Ca cũng như nhiều vị bồ tát khác, thí thân mình là chuyện thường tình. Chỉ còn cách ly’ giải duy nhất là võ học thì giúp được người cô thế nhiều hơn, nhất là ngày xưa khi vũ thuật tự chính nó là môn vũ khí lợi hại.
Nghĩa là, ngay trong gốc rễ của các truyền thống đạo học lấy tĩnh lặng làm gốc, thì vẫn xem cái động bên ngoài như là một phần chính của cuộc sống thế gian, vì thực tế cuộc đời đòi hỏi hành động khi thì nhún nhường khi thì dũng mãnh.
Điều này thì chẳng có gì mới mẻ hay khó hiểu cả. Nhưng câu hỏi vẫn là: Thế thì tâm ta thế nào? Nó có xung động theo hành động bên ngoài không? Làm sao một cái tâm tĩnh lặng, điều khiển một vị cao tăng xuất chiểu đấm đá? Làm sao để ly’ giải hiện tượng xem ra là xung khắc này?
Những câu hỏi này đưa mình đến một liên hệ thâm sâu và chặt chẻ nhất trong tất cả các liên hệ con người—liên hệ mẹ con. Mẹ thì thương con thâm sâu, vô điều kiện, vô giới hạn thời gian và không gian, vô giới hạn ly’ lẽ, vô giới hạn đạo đức đúng sai. Mẹ luôn thưong con. Đơn giản thế thôi.
Nhưng mẹ hành xử với con đủ kiểu—khi thì ôm ấp vỗ về, khi thì ngăn cấm, khi thì nghiêm phạt, khi thì dịu dàng, khi thì cứng rắn. Nhưng dù hành động thế nào đi nữa, thì trong từng giây phút đó mẹ vẫn thương con.
Thế thì giữa những gì xem ra là xung động của hành động bên ngoài và cái hòa ái của tĩnh lặng bên trong vẫn có hòa hợp và vẫn có thể ly’ giải được. Như cây cổ thụ đầu làng, lá cành luôn xôn xao dao động với bao ngọn gió, nhưng thân và rễ vẫn luôn chắc chắn tĩnh lặng.
Và phải chăng chính cái tĩnh lặng chắn chắn của gốc rễ cho phép lá cành được xôn xao mà cây không vì đó mà ngã nghiêng tróc gốc?
Thế thì, những tình huống khác nhau trong ngày đòi hỏi ta có những hành động khác nhau. Làm thế nào ta biết được nên hành động thế nào?
Rất dễ để cho chúng ta có những quy luật rõ ràng và chắc chắn, như là “Nếu kẻ thù tát má này thì đưa thêm má kia.” Điều này thì cũng không khó, nếu kẻ thù tát mình thì nhịn một tí cũng chẳng có gì là khó khăn mấy.
Nhưng nếu kẻ thù tát người khác và tạo ra bất công xã hội thì sao? Đây không phải là tát mình, mà là tát vào cả xã hội?
Những người trộm cắp hà hiếp người khác thì sao?
Chắc chắn đó là những tình huống đòi hỏi ta phải làm gì đó, với con tim yêu ái, yêu người và yêu đời.
Đây là khi con tim tĩnh lặng và hòa ái của ta giúp ta quyết định phải làm gì trong tình huống này khi tình huống này đang xảy ra. Đó là là quyết định ta không thể tính trước được mà chỉ có thể quyết định ngay khi nó xảy ra. Vào lúc một tình huống đang xảy ra với những sự kiện đặc thù của nó–ai đang làm gì với ai, tại chỗ nào, trong không khí nào, cái hại cái lợi của hành động của họ thế nào, những điều gì mình nên làm để can thiệp, những điều gì mình có thể làm, những gì mình không nên làm… hàng chục câu hỏi như thế vận hành có thể chỉ trong vài tích tắc, và computer trong đầu của ta phải duyệt qua tất cả thông tin lúc đó và quyết định ngay lập tức ta phải làm gì.
Những lúc đó ta không có thời giờ để triết lý. Nhưng nếu con tim ta đã có sẵn tĩnh lặng và hòa ái, thì dù chỉ trong vài giây suy nghĩ, năng lượng tĩnh lặng và hòa ái vẫn là năng lượng mạnh nhất ảnh hưởng vào quyết định của não bộ.
Và cuối cùng, dù ta quyết định thế nào đi nữa, ta cũng có thể an tâm là quyết định của ta đã được đặt trên nền móng của một con tim thật sự tĩnh lặng và hòa ái.
Và dù là sóng có thiên hình vạn trạng, nhanh hay chậm, dịu dàng hay bão tố vì những ngọn cuồng phong bên ngoài, ta vẫn biết được bản chất của nước là trong suốt và tĩnh lặng thế nào.
Sức mạnh của người đàn ông
không thấy nơi bề rộng
của đôi vai,
Mà nơi bề rộng
của vòng tay quanh bạn..
Sức mạnh của người đàn ông
không ở nơi âm trầm
của giọng nói,
Mà ở những lời dịu nhẹ anh thì thầm… Sức mạnh của người đàn ông
không phải là bao nhiêu bạn thân anh có,
Mà ở chỗ anh là người bạn tốt thế nào
Với những đứa con…
Sức mạnh của người đàn ông
không ở chỗ anh được kính trọng thế nào ở sở,
Mà ở chỗ
Anh được kính trọng thế nào ở nhà…
Sức mạnh của người đàn ông
không ở chỗ anh đánh mạnh đến đâu,
Mà ở chỗ
Anh vuốt ve nhẹ nhàng đến thế nào…
Sức mạnh của người đàn ông
không ở nơi đám lông trên ngực,
Mà ở Trái tim
Trong lồng ngực của anh …
Sức mạnh của người đàn ông
không ở chỗ anh đã yêu bao nhiêu phụ nữ,
Mà ở khả năng của anh
chung thủy với một người…
Sức mạnh của người đàn ông
không nằm ở quả tạ anh có thể nâng,
Mà ở những gánh nặng
Anh có thể gánh gồng…
. The Strength Of A Man
The strength of a man
isn’t seen in the width
of his shoulders.
It’s seen in the width
of his arms that circle you..
The strength of a man
isn’t in the deep tone
of his voice.
It’s in the gentle
words he whispers…
The strength of a man
isn’t how many buddies he has.
It’s how good a buddy
he is with his kids…
The strength of a man isn’t
in how respected he is at work.
It’s in how respected
he is at home…
The strength of a man
isn’t in how hard he hits.
It’s in how tender
he touches…
The strength of a man
isn’t in the hair on his chest.
It’s in his Heart,
that lies within his chest…
The strength of a man
isn’t how many women he’s loved.
It’s in can he be
true to one woman…
The strength of a man
isn’t in the weight he can lift.
It’s in the burdens
he can carry…
Bài viết này đã đăng vài năm trước trong báo Nhà Quản Lý. Hôm nay đăng lại đây để chia sẻ với các bạn. Hình như bản này là bản đã được Nhà Quản Lý biên tập, vì đọc nghe khô khan, không thân thiện theo kiểu của mình 😦
Mến,
Hoành
_________
Lãnh đạo ở mọi cấp quản trị thường mắc một số sai lầm chung làm suy yếu tập thể của họ. Thực tiễn hoạt động trong các tập đoàn đa quốc gia cũng như những doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy, các trưởng nhóm, các nhà quản lý thường mắc 6 lỗi phổ biến sau đây làm giảm hiệu quả hoạt động của nhóm và công ty 1. Chú tâm vào số lượng
Phần lớn các nhà quản lý thường mắc ảo tưởng rằng càng có nhiều nhân sự trong nhóm thì nhóm càng trở nên mạnh. Ảo tưởng này có mối liên hệ với cái tôi của nhà quản lý – dưới quyền tôi có nhiều người, chứng tỏ tôi quản lý tốt. Đây là một trong những sai lầm đầu tiên trong việc xây dựng và tổ chức hoạt động nhóm.
Chất lượng nên là yếu tố quan tâm hàng đầu. Trong công việc hàng ngày, tôi hay sử dụng “Nguyên tắc quản lý của The Beatles”. Có rất nhiều dàn nhạc giao hưởng với số lượng đông hàng trăm nghệ sĩ và đủ các loại dụng cụ âm nhạc. The Beatles chỉ có 4 thành viên. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng của họ trong thế giới âm nhạc lớn hơn bất kỳ dàn nhạc khổng lồ nào khác, thậm chí còn hơn tất cả các dàn nhạc này cộng lại. Điều này chứng tỏ là một nhóm nhỏ với các thành viên hạng nhất vẫn hiệu quả hơn so với một nhóm đông những người trung bình. Do vậy, chất lượng chứ không phải số lượng là điều quan trọng.
2. Đếm đầu người
Một vài nhà quản trị có xu hướng định giá khả năng của nhóm thông qua việc đếm đầu người một cách đơn giản. Họ thường nói: “Nhóm tôi có 12 nhân viên, 8 nguời trong số này tốt, 2 trung bình, và 2 tồi. Nhóm của tôi nhìn chung là tốt vì số lượng người tốt chiếm đa số”.
Tuy nhiên, chúng ta hãy xem xét đội hình của một đội bóng. Cần bao nhiêu cầu thủ tồi để có thể hủy hoại thành quả của cả đội? Một là quá đủ. Nếu một cầu thủ không chơi theo lối chơi của đội, không phối hợp tốt với các cầu thủ khác, chơi ẩu, ích kỷ, không chịu chuyền bóng cho đồng đội lúc cần thiết… cả đội sẽ thua. Thực chất, để có một đội hình mạnh, tất cả các thành viên đều phải chơi tốt và giữ vững kỷ luật. Đó là mô hình của Real, Juve, AC, hay Chelsea, là các câu lạc bộ hàng đầu hiện nay. Một điều đơn giản, một quả táo thối có thể làm hỏng cả giỏ táo, vì vậy quả táo thối phải bị loại bỏ ngay.
3. Sử dụng “dân chủ” không phù hợp
Nhiều người nghĩ rằng để nhóm mạnh thì phải có dân chủ, tức là mọi người đều có tiếng nói và sức mạnh ngang nhau và việc ra quyết định sẽ theo phương thức biểu quyết. Điều này là sai lầm.
Hiệu quả hoạt động của nhóm chủ yếu phụ thuộc vào người đứng đầu. Trưởng nhóm là người ra quyết định và chịu trách nhiệm trước cấp lãnh đạo cao hơn về hiệu quả hoạt động của nhóm. Trưởng nhóm có thể dẫn dắt nhóm thảo luận một cách dân chủ, song anh ta phải là người ra quyết định cuối cùng. Trưởng nhóm có thể sử dụng biếu quyết để quyết định một vấn đề thay vì tự mình ra quyết định, nhưng anh ta vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định đó. Một người lãnh đạo không ra được quyết định hoặc tránh trách nhiệm ra quyết định là lãnh đạo tồi và tập thể do anh ta lãnh đạo sẽ không thể mạnh được. 4. Không phải lúc nào cũng nhẹ nhàng và ngọt ngào
Như là huấn luyện viên một đội bóng, trưởng nhóm luôn hỗ trợ các thành viên, song tùy từng thời điểm, đôi khi phải cứng rắn, đặc biệt với một số loại thành viên. Nhà quản lý không phải lúc nào cũng ngọt ngào và dịu êm.
Làm trưởng nhóm đòi hỏi năng lực và sức mạnh để có thể chỉ ra được các điểm yếu, điểm mạnh, các sai lầm mà các thành viên mắc phải. Đây là công việc khó và cần cứng rắn trong hành động. Ra quyết định là nhiệm vụ của nhà quản lý và quyết định cần khắc nghiệt trong những giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, cứng rắn thế nào để mọi người vẫn yêu quý mình, đó là một nghệ thuật.
5. Ngần ngại trong đòi hỏi chất lượng
Nhiều nhà lãnh đạo thường e dè khi nói với nhân viên về hiệu quả hoạt động kém của họ. Việc này thường được giải thích với nhiều lý do: “Tôi không muốn làm mếch lòng nhân viên, hoặc “Chúng ta trả lương họ chưa xứng đáng, vì vậy chúng ta không thể đòi hỏi chất lượng cao hơn” v.v…
Bào chữa như vậy là không có cơ sở. Khi một nhà quản lý ngần ngại đòi hỏi chất lượng cao, nhóm của anh ta sẽ trở nên xoàng xĩnh, chí khí của nhóm sẽ suy giảm, và cuối cùng nhiều thành viên sẽ ra đi. Ngược lại, khi nhà quản lý yêu cầu chất lượng cao, các nhân viên sẽ cảm thấy công việc của họ là có giá trị. Họ thấy hãnh diện về nghề nghiệp của mình, tôn trọng người quản lý và trở nên trung thành hơn với tổ chức.
6. Lo sợ đặt mục tiêu cao
Nhiều nhà quản lý cũng lo sợ khi đặt mục tiêu cao cho nhóm. Họ e dè khi nói những câu: “chúng ta là những người tốt nhất” hay “chúng ta sẽ trở nên tốt nhất”. Có người nói đây là sự nghiêm tốn và nhún nhường cần thiết. Tôi thì cho rằng đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin.
Một nhà lãnh đạo tự tin sẽ nói với nhân viên để tiến lên vị trí số 1. Cách đặt mục tiêu này sẽ khuyến khích nhân viên luôn tự hoàn thiện mình, cảm thấy thử thách, vui vẻ, hãnh diện, và cảm thấy rằng họ là lực lượng để chiến thắng.
Trên đây là một số những sai lầm thường gặp ở những người lãnh đạo, với mục đích để phân biệt những nhà lãnh đạo xoàng xĩnh với những nhà lãnh đạo giỏi, những nhóm thành đạt với những nhóm thất bại… Hy vọng những kinh nghiệm này sẽ giúp ích phần nào cho các nhà quản lý của chúng ta trong công tác điều hành hiện nay.
Phải làm gì đây khi bị cô bạn gái mình đang để ý ngang nhiên “phán” rằng em là chàng trai “đã thành niên mà chưa trưởng thành”, trong khi cô ấy chào đời sau em tới…mười ba tháng?. Đau quá!
Ừ, tôi hiểu em. Đau lắm!
Đối với nam giới, được công nhận là “đã trưởng thành” chính là thành công đầu tiên cần phải đạt được, trước tất cả những thành công khác. Nghĩa là anh phải trở thành “một người đàn ông chân chính” trước khi trở thành bất cứ thứ gì khác trong đời.
Hoạ sĩ Nguyễn Đình Đăng, cũng là một nhà khoa học Việt sống tại Nhật đã viết về ngày trưởng thành của con trai mình như thế này:
Trong ngày trưởng thành, các bạn Nhật của con đeo cà vạt, vận kimono, tập trung tại toà thị chính,
nghe ông thị trưởng giảng đạo đức.
Sau đó chúng kéo nhau đi Shibuya và Harajuku
hát karaoke, rồi uống rượu say khướt.
Trong ngày trưởng thành, ký túc xá của con chìm trong đêm rét buốt,
tuyết dày một mét phủ ngoài sân.
Con ngồi trong phòng, trước laptop, thiết kế một toà nhà
dựng trên sa mạc Sahara.
Đối với người này, sự trưởng thành nghĩa là được phép uống rượu say khướt, còn với người khác nó nghĩa là bắt đầu hiện thực hoá một ước mơ.
Với em thì trưởng thành nghĩa là gì?
Thật tiếc là chúng ta không có một lễ trưởng thành như Nhật Bản và Hàn Quốc. Mười bốn tuổi, chúng ta có quyền làm chứng minh thư. Mười tám tuổi, được đi bầu cử và có đầy đủ quyền công dân. Mặc dù vậy, không có ai nghiễm nhiên được công nhận là đã trưởng thành vào tuổi mười tám. Cũng không ai làm lễ cho ngày nhận chứng minh thư hay lần đầu tiên đi bầu cả. Có phải vì không có dấu mốc rõ rệt nên chúng ta không có sự khao khát trưởng thành cũng như khao khát khẳng định sự trưởng thành của mình. Và vì thế mà có không ít thanh niên đến kỳ thi đại học vẫn không biết mình muốn học ngành gì. Tốt nghiệp xong vẫn không biết mình có ưa thích nghề này không. Bị công an giao thông phạt thì thưa rằng em không biết luật quy định như vậy. Và rất nhiều người khác dù đã vượt xa cái tuổi 18 mà vẫn hành xử như con trẻ.
Để chứng tỏ sự trưởng thành, em có thể học cách hành xử giống như những người trưởng thành. Tuy nhiên, sự trưởng thành không phải là để chứng tỏ. Thật ra, trưởng thành không phải là một thành tích có thể đạt được qua một đêm, mà là một quá trình diễn ra suốt cuộc đời. Chúng ta đạt đến sự trưởng thành ở từng khía cạnh khác nhau vào mỗi thời điểm khác nhau trong đời sống. Có thể em trưởng thành trong tiêu xài ở tuổi lên mười, khi đã biết trân trọng từng đồng bạc mẹ cho. Em có thể trưởng thành trong ứng xử ở tuổi mười lăm, khi biết bày tỏ thái độ tôn trọng người đối diện. Nhưng có thể đến năm ba mươi tuổi em vẫn chưa trưởng thành về tình cảm, nếu em còn tin rằng tình yêu không thể chỉ được cảm nhận mà luôn cần phải được chứng minh…
Dù sao thì việc bị gán cho cái mác “thành niên mà chưa trưởng thành” là thất bại đáng buồn đối với bất cứ ai. Tôi không biết vì sao cô bạn em khẳng định là em chưa trưởng thành và về phương diện nào. Nhưng nhìn từ một góc nào đó thì tôi cho rằng cô ấy đã nhận xét đúng. Có nhớ hôm kia em kể với tôi rằng từ miền Trung vào em “phải tự đi xe đò vào Sài Gòn, tự tìm nhà trọ, tự mua bản đồ và hỏi tìm đường đến điểm thi, không có ai đi theo cả”. Em kể với sự buồn bực không hề che giấu. Em trách cha mẹ mình đã không như hàng triệu người cha người mẹ khác, lặn lội đường xa để đưa con mình từ quê nhà ra thành phố dự kỳ thi đại học, theo xe ôm đưa con đến phòng thi, rồi ngồi vạ vật đợi con đến tận trưa ngoài cổng. Tôi lấy làm lạ. Đáng lẽ đó là điều em phải tự hào mới đúng, sao lại tủi thân? Mười tám tuổi và vẫn chưa muốn (hay chưa được phép?) tự đi thi một mình, lẽ nào em cũng là một trong những người trẻ đang tìm cách trì hoãn sự trưởng thành của mình?
Em có biết, cũng như tuổi già, trưởng thành là một quá trình không thể ngăn cản, trước hay sau, nhanh hay chậm chúng ta cũng buộc phải trưởng thành. Sự trưởng thành là kết quả của những biến cố, những vấp ngã, những va chạm, những kiến thức và những cảm nghiệm mà ta thu nhặt được trên đường đời. Nhưng cũng vì vậy mà sự trưởng thành có thể bị trì hoãn, cũng như có thể được thúc đẩy…một cách khách quan hay chủ quan.
Có người nói với tôi rằng con người chúng ta cũng như những cái cây, và có những người giống như cây bonsai vậy. Cây bonsai không phát triển về tầm vóc, nhưng nó vẫn trưởng thành.
Ở Mỹ, những trẻ vị thành niên trên 14 tuổi có thể trình Thỉnh nguyện thư lên Thẩm phán để xin hưởng Quyền trưởng thành. Người hưởng Quyền trưởng thành được hưởng một số quyền pháp lý của người lớn như ký hợp đồng, tự chọn nơi sinh sống, định đoạt tài sản riêng và tự ghi danh đi học…Tuy nhiên, người đó sẽ phải tự lo liệu tài chính cho bản thân, tự mua bảo hiểm y tế, nha khoa, xe cộ, tự trả các hóa đơn của mình.
Một người bạn của tôi tâm sự rằng, khi cha anh mất vào năm anh 13 tuổi, một phần con người anh đã chết theo ông, và phần còn lại trưởng thành gần như ngay lập tức, khi anh phải đối diện và xử lý tất cả những việc còn lại của gia đình, thay cha chăm sóc mẹ và hai cô em gái nhỏ. Không còn chọn lựa, vào năm 13 tuổi, anh buộc phải trưởng thành.
Em hỏi rằng làm sao để biết mình đã trưởng thành hay chưa ư? Tôi sẽ nói em nghe điều tôi nghĩ: em trưởng thành khi em đủ mạnh mẽ để trở thành một điểm tựa, dù là điểm tựa của bất cứ ai, kể cả chính bản thân mình.