Giấc mơ Mỹ là gì?
The American Dream – Giấc mơ Mỹ là khái niệm lần đầu tiên được sử dụng bởi James Truslow Adams trong cuốn sách The Epic of America của ông viết năm 1931.
Giấc mơ Mỹ là “giấc mơ về một mảnh đất trong đó cuộc sống nên tốt hơn và giàu có hơn và đầy đủ hơn với tất cả mọi người, với cơ hội cho mỗi người tùy theo khả năng hoặc thành tích. Nó là một giấc mơ khó khăn đối với tầng lớp thượng lưu châu Âu để hiểu được một cách tương đối, và cũng nhiều người trong chúng ta tự cảm thấy mệt mỏi và nghi ngờ nó. Nó là không chỉ là một giấc mơ về chiếc ô tô và mức lương cao, mà là một giấc mơ về trật tự xã hội trong đó mỗi người đàn ông và phụ nữ có thể giành được vị trí cao nhất tùy theo khả năng bẩm sinh của họ, và được công nhận bởi những người khác vì chính con người họ, mặc cho hoàn cảnh ngẫu nhiên về mặt sinh trưởng hay vị trí.
Cội rễ của tư tưởng này không đâu khác là từ bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, trong đó có câu:
…tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng họ được Tạo hóa ban cho những quyền bất di bất dịch, trong số đó là Sinh sống, Tự do và mưu cầu Hạnh phúc.
Tuy vậy theo thời gian khái niệm Giấc mơ Mỹ cũng đã có nhiều biến đổi cùng với lịch sử của nước Mỹ. Trong giai đoạn công nghiệp hóa thế kỉ 19 và 20, từ những ý nghĩa lớn lao ban đầu, Giấc mơ Mỹ đã dần dần biến đổi thành một thứ triết lý “get rich quick”, làm giàu nhanh . Với đa số người dân Mỹ, Giấc mơ Mỹ một sự theo đuổi giàu có về vật chất: có nhà, có xe và có việc. Người Mỹ ngày càng bị cuốn vào vòng xoáy: làm việc nhiều giờ hơn để có những chiếc ô-tô lớn hơn, những ngôi nhà đẹp hơn, mua sắm nhiều hơn. Có điều là họ ngày có ít thời gian hơn để hưởng thụ chính sự thịnh vượng mà mình tạo ra.
Một Giấc mơ Mỹ ngày càng xa vời
Nếu hiểu Giấc mơ Mỹ theo nghĩa hẹp là sự theo đuổi vật chất như trên thì các con số thống kê gần đây cho thấy Giấc mơ Mỹ đang ngày càng kém lung linh và xa vời hơn trong mắt người dân Mỹ.
Một nghiên cứu cho thấy mức độ bất bình đẳng giữa mức lương của CEO và công nhân Mỹ đang ngày càng tăng theo cấp số nhân.
Mức lương của một CEO ở Mỹ trong năm 1980 gấp 40 lần mức lương trung bình của một nhân viên cùng công ty, trong khi ngày nay con số đó là 500 lần.
Trong suốt 20 năm từ năm 1979 đến năm 2000, mức lương trung bình của một công nhân Mỹ chỉ tăng có 11.5 cents một giờ mỗi năm (tính theo giá $ năm 2001). Số nhân công không có bằng cấp lên tới 100 triệu, chiếm 72.1% lực lượng lao động và mức lương trung bình của những công nhân này vào cuối năm 2000 còn thấp hơn cả so với năm 1979.
Trái lại, mức lương và thưởng của các CEO Mỹ đang không ngừng tăng nhanh chóng. Từ năm 1989 đến năm 2000, lương tăng 79%. Trong khi nếu tính cả thưởng bao gồm các khoản như thưởng quản lý, bán cổ phiếu, thưởng cổ phiếu mới, thưởng đặc biệt vv..thì con số này là 342%. Tính theo giá trị thực thì mức lương thưởng trả cho một CEO Mỹ trung bình là 2.4 triệu $ năm 1989 và 10.7 triệu $ năm 2000.
Một vấn đề nữa là lương cơ bản giảm, tức là khoảng 10 triệu người dân Mỹ đang phải chịu mức lương này và phần lớn trong số đó là những bà mẹ nuôi con một mình hoặc đàn ông là trụ cột gia đình. Năm 1979 mức lương cơ bản là 6.55$, và năm 2003 chỉ còn 4.94$ một giờ, giảm 21.4%.
Lương cơ bản giảm là nguyên nhân khiến cho nhiều người phải làm hai việc hay làm nhiều giờ hơn để đảm bảo nuôi sống gia đình. Trong khi số giờ làm việc ở các nước châu Âu như Đức giảm từ 1764 giờ xuống 1562 giờ từ năm 1979 đến năm 1998, thì ở Mỹ con số này tăng từ 1905 lên 1966. Nhiều gia đình người chồng phải đi làm hai việc còn vợ cũng phải đi làm thêm bán thời gian, thậm chí hai việc khác nhau, để có đủ tiền trang trải chi phí.
Một cuộc trưng cầu dân ý của đại học Xavier đã cho thấy rằng giấc mơ Mỹ dường như đang ngày càng vượt quá tầm tay của đại đa số dân chúng Mỹ, và họ ngày càng mất niềm tin đạt được nó.
– 68% cho rằng thế hệ con cái họ sẽ khó khăn hơn để đạt được giấc mơ Mỹ. Trừ những người dân Mỹ da đen thì lại cho rằng thế hệ họ và con cháu họ thấy dễ dàng hơn.
– 58% nghĩ rằng giấc mơ Mỹ đang trên đà đi xuống
– Những người hiểu giấc mơ Mỹ theo nghĩa là sự đảm bảo về tài chính có xu hướng tiêu cực hơn là những người nhìn nhận giấc mơ Mỹ là cơ hội, tự do và gia đình.
Nhiều người Mỹ đã nhận ra mặt trái của sự theo đuổi một Giấc mơ Mỹ về vật chất. Họ mệt mỏi vì làm việc quá nhiều, rồi mua sắm quá nhiều, rồi lại tiếp tục phải đi làm nhiều hơn để trả các hóa đơn đang ngày càng chồng chất. Rõ ràng là xét về mặt bảo đảm về vật chất, nhiều người dân Mỹ đã không có được giấc mơ của mình mà thậm chí còn là nạn nhân của chính sự theo đuổi Giấc mơ đó. Khi đặt những mục tiêu vật chất làm trọng, họ cũng đã không có được hạnh phúc hay tự do như những ý nghĩa cao đẹp nhất mà Adams đã khởi xướng.
Đồng cảm với ông, Marianne Williamson đã nhấn mạnh lại điều cốt lõi nhất của Giấc mơ Mỹ:
Giấc mơ Mỹ, khi được hiểu đúng nhất, không phải là một thứ vật chất. Hơn thế, đó là một thực tế rằng chúng ta có quyền để mơ mọi thứ. Đó là quyền để kì vọng rằng những tài năng và khả năng và sự tận tụy của chúng ta – chứ không phải là thành kiến của người khác – sẽ quyết định bản chất cuộc sống mà chúng ta sống.
Nhìn lại Giấc mơ Mỹ để thấy rằng những giá trị nhân bản sẽ luôn trường tồn với thời gian. Ngược lại sự theo đuổi vật chất không phải là con đường đi tới hạnh phúc như nhiều người trong chúng ta vẫn tưởng. Một đất nước mạnh và giàu có như nước Mỹ không có nghĩa là người dân nước đó hạnh phúc và xã hội đó phát triển bền vững.
Một giấc mơ quốc gia – Giấc mơ Việt Nam
Không chỉ có Mỹ mới có một Giấc mơ quốc gia, một giấc mơ của đại đa số dân chúng, mà còn có Giấc mơ Châu Âu, Giấc mơ Úc, Giấc mơ Canada… Mỗi một dân tộc, dựa trên hoàn cảnh lịch sử và văn hóa của mình, đều có thể có một giấc mơ chung.
Còn bạn, bạn nghĩ thế nào về một Giấc mơ Việt Nam?
Liệu rằng khi chúng ta cùng chia sẻ những suy nghĩ về giấc mơ của cá nhân mình, chúng ta có thể có được một giấc mơ chung cho toàn dân tộc?
Hoàng Khánh Hòa
Tham khảo:
http://memory.loc.gov/learn/lessons/97/dream/thedream.html
http://www.americansc.org.uk/Online/American_Dream.htm
http://www.kyklosproductions.com/articles/wages.html
http://swampland.blogs.time.com/2010/03/15/the-american-dream-not-doing-so-well/





Thank You for my safety and the safety of my loved ones.











Ví dụ, khi đang ở giữa thời kì suy thoái kinh tế, một công ty thể nói rằng mọi công ty đều nghĩ họ sẽ bị ảnh hưởng tương tự nhau không? Nhưng thế còn những công ty thành đạt thì sao? Điều gì tạo nên sự khác biệt này? Sự khác biệt nằm ở cách mọi người phản ứng lại hoàn cảnh. Hãy lấy một nhà phân phối ô tô sang trọng đã kinh doanh rất tốt trong thời kì suy thoái kinh tế vào đầu những năm 90 làm ví dụ. Bằng cách nào họ đã làm được điều đó? Họ đã tập hợp những nhân viên của mình lại, động não và thử nghiệm những giải pháp đặc biệt với những vấn đề đang phải đối mặt – không có ai mua những chiếc xe ô tô sang trọng của họ. Một giải pháp đã hiệu quả? Họ đã mang những chiếc xe ô tô của mình xuống những câu lạc bộ cho giới thượng lưu địa phương và đưa ra những cơ hội lái thử xe. Doanh số bán hàng của họ đã tăng lên rất cao.
* “What if this were happening FOR me?”



Có lẽ khi chúng ta nói viết khó là muốn ám chỉ tới lối viết chuyên nghiệp hoặc có tính học thuật nhưng không phải ai khi mới bắt đầu cầm cây bút viết cũng đều nhằm mục đích đó. Bạn có thể viết vì nhiều lí do: viết nhật kí để tự nói chuyện với mình, viết thư để chia sẻ với người thân, viết văn để biểu lộ cảm xúc, viết bình luận trên forum vv…


