Category Archives: Kỹ năng lãnh đạo

Ba điều căn bản cho ta và cho đất nước

Chào các bạn,

Đề tài này là ba điều căn bản cho chính bản thân mỗi người chúng ta, và cũng cho đất nước của ta—cho ta và cho đất nước ta cùng một lúc. Sở dĩ thế vì thường là điều gì tốt cho ta thì cũng tốt cho đất nước–đất nước chỉ là các cá nhân chúng ta tụ lại mà thành.

Nhưng tại sao chúng ta muốn nói đến “ta” và “đất nước” như cặp bài trùng? Thưa, vì đó là một điều tương đối hiển nhiên nhất để sống với cái “ta” không vị kỷ. Ta mà chỉ là “tôi” thì rất vị kỷ. Ta cho “cô hàng xóm” bên cạnh, cũng rất vị kỷ. Ta cho “gia đình” của ta, thì ít vị kỷ một tí hơn “tôi”, nhưng vẫn còn rất vị kỷ.

Ra khỏi gia đình mới bắt đầu hết vị kỷ–làng xóm, thành phố, đất nước. Cho các tập thể ngoài gia đình, “dân tộc” hay “đất nước” thường được sử dụng nhiều nhất để nói đến cái tâm phục vụ, cái tâm vị tha của con người. Nếu ta nói “nhân loại” thì càng tốt hơn cả “đất nước.” Nhưng “nhân loại” thường quá rộng và quá trửu tượng cho những người trung bình để họ có thể nắm được ‎ý tưởng, trong khi “đất nước” thì rất rõ ràng cho đa số người trên thế giới, nên ở đây ta dùng “đất nước.”

Cho cả ta và đất nước, có ba điều cản bản mỗi chúng ta cần thành thục:

1. Tính sáng tạo: Nếu không sáng tạo thì năm nay đang ngủ trong hốc đá như người ở động đá (caveman), một ngàn năm nữa con cháu vẫn ngủ trong hốc đá.

Tính sáng tạo đòi hỏi ta đặt câu hỏi thường xuyên: Tại sao không ngủ ngoài trời? Tại sao không làm cách nào để ngủ gần bờ biển thay vì trên núi? Tại sao ta không ngủ bất cứ nơi nào ta đang đứng ban đêm? Làm sao để thực hiện được các ‎ ý định đó? Tại sao cha ông ta làm điều này? Tại sao ta nên làm theo? Tại sao ta nên làm khác đi?…

Phân tích (hỏi) và phê phán là điều kiện tiên quyết để sáng tạo. Không hỏi và phê phán—chỉ biết gọi dạ bảo vâng ăn ngủ–thì không thể có sáng tạo.

2. Tính hành động: Hỏi 100 năm cũng chẳng được gì nếu ta không hành động. Hành động là… hành động. Nếu khu xóm ta nhiều rác quá, ngưng xả rác và bắt đầu nhặt rác, ít nhất là quãng ngay trước nhà mình.

Việc này không cần suy tính, chiến lược chiến thuật, vận động tuyên truyền. Cứ làm đi, ngay lúc này, làm được việc gì có thể làm lúc này. Hành động làm cho thế giới thay đổi. Hành động là sáng tạo ra điều mới, là biến tư tưởng sáng tạo thành hiện thực sáng tạo.

3. Kỹ năng làm việc nhóm (teamwork)

Đây là kỹ năng yếu nhất của người Việt. Nếu bỏ tất cả mọi sự và kể đến chỉ một điểm yếu của người Việt mà ta cho là đầu mối của tất cả mọi nghèo đói của dân ta, thì ta có thể nói đến “teamwork.”

Và vấn đề teamwork chúng ta đã có cơ hội nghiên cứu nó 35 năm liền trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây là một môi trường lý tưởng để nghiên cứu vấn đề rất rộng lớn này. Ở trong nước thì xưa nay vẫn không được tự do ăn nói và tổ chức như ở nước ngoài, cho nên nghiên cứu về teamwork không được tốt.

Ở nước ngoài, người Việt chúng ta có tự do muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết, muốn thành lập hội hè bè nhóm gì đó thì tha hồ. Và hậu quả 35 năm liền cho thấy, chúng ta chưởi bới nhau, đì nhau, hạch sách nhau, sát phạt nhau… thường xuyên, hàng ngày, đủ mọi cách… dù cho mọi người than phiền chán nản, dù cho mọi cố gắng để “đoàn kết”, dù cho người “trí thức” hay “chân tu” nhúng tay vào … dù cho… dù cho… Nếu tụ 10 người Việt ngồi lại làm việc, rất có khả năng lớn là trong một thời gian rất ngắn, 10 người này sẽ chia thành ba nhóm thanh toán nhau… tìm cách đì nhau… Dù cho ai có giải thích khuyên lơn thế nào cũng vô ích. Câu chuyện “teamwork” của người Việt ngày nay vẫn còn nóng hổi với các spam mail mà các bạn nhận hàng ngày, và nếu các bạn đã từng bỏ vài giây liếc qua các spam mail là thấy ngay các đấu đá. Chẳng có gi đáng ngạc nhiên.

Điều quan trọng là, mọi người trong cuộc đều có l‎ý đo để tin rằng họ hành động kiểu trẻ con và bệnh hoạn như vậy là đúng—vì hắn gian đối, vì hắn tự kiêu, vì hắn không biết teamwork, vì hắn quá cực đoan, vì hắn quá bảo thủ, vì hắn chẳng hiểu gì, vì hắn… vì hắn…

Các “vì hắn…” này luôn luôn đúng, thế mới chết. Ít nhất là đúng với người nói ra từ “vì hắn.” Và nếu bạn nghĩ là người đó nói sai, thì bạn chẳng hiểu gì hết. Không thể giả thiết là mọi người nói sai hết như vậy.

Thông thường là, người nói “vì hắn…” có một vài căn bản nào đó trên thực tế để quyết đoán điều “vì hắn…” này. Và chính vì vậy mà người nói “vì hắn” thường nói đúng một phần nào đó, dù chưa chắc đúng 100%; ít ra là thế trong đầu họ. Và vì vậy, người đó thực sự có vấn đề “với hắn” và “với cả team.”

Và chính vì “vì hắn” thường có căn bản chủ quan “đúng” như thế, cho nên người Việt chúng ta có vấn đề teamwork rất lớn, không thể giải quyết được.

Nếu so sánh tác phong teamwork của người Việt và người Mỹ (là nhóm dân mình có kinh nghiệm quan sát rất kỹ), thì người Mỹ cũng có hàng triệu cái “vì hắn…” chẳng khác ta một tí nào. Điểm khác biệt duy nhất là ta dùng “vì hắn” để đập vỡ team, thì người Mỹ tự động gạt tất cả các “vì hắn…” ra khỏi đầu khi ngồi vào team.

Khi ngồi vào team người Mỹ có một thái độ duy nhất: Cả team phải làm việc với nhau thế nào để làm lủng lưới địch thủ. Tất cả mọi tư tưởng khác về đồng đội sẽ tự động bị gạt ra ngoài suy tưởng—tên này hay tranh công, tên này hay giữ bóng trong chân hắn, tên này hay ba hoa, tên này hay kiêu căng… Tất cả các định giá này vẫn có đó, nhưng không ai nghĩ đến nó khi làm việc cho team. Nếu cần thì nhắc một câu “Cậu đừng giữ bóng trong chân lâu quá” hay “cậu đừng ham tranh công nhiều thế, có hại”—nhưng dù là gì, thì tất cả đều không ảnh hưởng đến mục tiêu duy nhất trong các nhóm viên là “làm việc chung để thắng.”

Trong một nhóm chỉ có một tư tưởng là đúng: “Làm việc chung để thắng.” Tất cả các chuyện khác–vì hắn… vì mày… vì anh…–không bao giờ được cho phép ảnh hưởng gì cả trong một team Mỹ. Một người có thể mắng người kia việc gì đó—stupid, tham lam, v.v…–và những lời mắng như vậy, đù đúng hay sai, thường bị gạt ra ngoài đầu ngay lập tức. (Nếu ấm ức, thì thắng xong có thể ra ngoài uống cà phê hỏi lại cho rõ. Nhưng khi đang làm việc team thì chẳng ai thắc mắc. Nếu có người thắc mắc, họ sẽ nhận được những cái nhìn ngạc nhiên tròn xoe. “Sao lại nói chuyện đó lúc này?”).

Đây là văn hóa sống, văn hóa team, ta không thể nói “Tại sao họ không giải quyết xong các ‘vì hắn’ trước khi ngồi vào team?” Câu trả lời là “không thể”, vì ta luôn luôn có hàng chục “vì hắn” cho mỗi người—và “không cần”, vì ta đã gạt bỏ hết mọi “vì hắn” như là không quan trọng khi ta làm việc nhóm. Hắn có kiêu căng hay lười biếng hay thích tranh công cũng chẳng ai quan tâm, miễn hắn chuyền bóng tốt cho anh em là được.

Chúng ta đã may mắn có 35 năm kinh nghiệm và quan sát để biết được vấn đề teamwork của chúng ta nằm ở đâu, mạnh đến thế nào, và thế nào để giải quyết. Và chúng ta phải giải quyết nó, nếu ta muốn đất nước ta ra khỏi cái nghèo hèn truyền kiếp.

Và cách giải quyết rất giản dị: “Khi ngồi vào team chỉ có một qui luật là đúng: Làm việc chung để thắng.” Tất cả mọi “tại vì… vì hắn… vì anh…” đều phải đặt bên ngoài đầu, và đều phải xem là sai khi nó chúng còn ở trong đầu.

Qui luật giản dị. Nhưng việc quan sát teamwork của chúng ta trong 35 năm qua cho biết đây là vấn đề khó khăn hàng đầu cho người Việt, không gì khó hơn. Chỉ vì ta… không làm thế được.

Nhưng dù được hay không thì vấn đề vẫn rất giản dị: Tương lai của mỗi người chúng ta và của đất nước nằm trong tay teamwork này.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Làm việc nhóm: Bách chiến bách thắng, Teamwork: thăm lại.

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Suy nghĩ trong một khung cảnh cụ thể

Chào các bạn,

Suy nghĩ trong một khung cảnh cụ thể (thinking within a context) là một kỹ năng phân tích (analytical thinking) mà chỉ một ít người thuần thục, một số nhỏ khác thì làng nhàng, và rất đông có vẻ như không hề biết đến. Nhưng đây là kỹ năng quan trọng nhất cho suy tư chính xác và sắn bén. Suy tư trong một khung cảnh cụ thể không những giúp ta thấy vấn đề chính xác và rõ ràng, mà còn giữ tâm trí kỹ luật trong vấn đề đang được khảo sát, không bị “scattered brain” (bộ óc rời rã, chạy lung tung từ quả cam, đến bom nguyên tử, đến Thái Bình Dương, đến sa mạc Sahara… chẳng đâu vào đâu cả).

Dùng một tai nạn đụng xe giản dị làm thí dụ. Xe vận tải cán chết một nữ sinh đi xe đạp. Khách bàng quan thẩm bình:

1. “Mấy thằng tài xế xe vận tải chạy ẩu lắm.” Đây là “suy nghĩ theo nhãn hiệu” (labelism), chẳng ăn nhập gì tới khung cảnh cụ thể hiện tại. Đại đa số người trên thế giới suy nghĩ kiểu này. Đại đa số dân Việt, kể cả “trí thức” Việt, suy nghĩ kiểu này.

Cứ đọc các tài liệu có mùi chính trị do dân Việt ta, kể cả người “trí thức”, chuyển đến inbox của bạn hàng ngày thì biết ngay. Các thông tin mạ lị Trung quốc vừa vô lý vừa dốt, các thông tin chống nhà nước vừa giả vừa dốt… cứ được các “trí thức” chuyền tay nhau hàng ngày, không cả chớp mắt trước khi ấn nút forward. (Mình không nói về các thông tin chính xác và hợp l‎ý về các vấn đề này. Hiện tại ta đang nói đến thông tin rác mà thôi. Và lấy thí dụ liên hệ đến chính trị vì nó nhiều nhất và rõ nhất mỗi ngày, dễ thấy nhất. Thật ra ta có đủ loại rác, chứ không chỉ là rác chính trị.).

2. “Lái xe lớn tới chỗ đông người thì phải cẩn thận chớ!” Câu này bắt đầu sờ nhẹ đến khung cảnh một tí, nhưng chẳng ăn nhập gì vào chi tiết của vụ việc cả.

3. “Trời, con người ta còn nhỏ đẹp như vầy mà nó giết!” Chẳng ăn nhập đâu vào đâu hết.

4. “Tuần trước ở Ngã Bãy cũng một thằng tài xế vận tải y chang loại vận tải này cán chết một ông già đi xe ôm!” Chẳng ăn nhập gì tới chuyện này hết.

5. “Thằng tài xế có lỗi 100%. Tui thấy nó quỳ xuống bên cạnh con nhỏ lảm nhảm ‘Cho anh xin lỗi, cho anh xin lỗi.’”

Nói như vậy là “lấy câu này ra khỏi khung cảnh cụ thể” (taking the statement out of context). “Cho anh xin lỗi” chưa chắc vì người ta có lỗi, mà có thể chỉ vì người ta buồn.

Suy nghĩ trong khung cảnh cụ thể là phải biết xe vận tải đang đi thế nào, từ hướng nào về hướng nào, vận tốc bao nhiêu, có vượt đèn đỏ không, tài xế có say không… một lô câu hỏi tương tự cũng có cho người xe đạp… rồi hai xe làm sao mà va nhau, phản ứng của tài xế lúc đó thế nào… sau tai nạn anh ta làm gì, nói gì…. Tất cả những chi tiết của khung cảnh cụ thể phải được nắm vững, rồi các câu nói như câu xin lỗi của người tài xế, phải được hiểu trong khung cảnh đó, mới có thể đến kết luận cuối cùng là ai phải ai trái ra sao.

Vấn đề chỉ giản dị thế thôi, nhưng ít ra là 80 phần trăm số người trên thế giới không nắm được. Đọc các tranh luận trên Internet hay báo chí thì thấy, một người viết về một vấn đề, người kia tranh cãi bằng cách lấy một câu nói ra khỏi bài, để diễn giải nó “bên ngoài khung cảnh” (hoặc “bên ngoài ngữ cảnh” vì đây là từ ngữ), cho nên ông nói gà bà hiểu vịt, tất cả mọi bàn luận đều chết cứng và trở thành hỗn độn ngay lập tức. Và đương nhiên những người tranh luận thường xuyên trên Internet, đa số là “trí thức”.

Ta phải dùng từ “trí thức” trong ngoặc ở đây, không phải là châm biếm, mà là nhắc nhở rằng “Đã là trí thức thì ta cần học cách suy nghĩ nói năng chính xác một tí. Nếu các kỹ năng suy tư căn bản mà ta còn không nắm vững được, thì làm sao có thể là trí thức được? Võ sư mà không biết đấm, sao gọi là võ sư?”

Nếu chúng ta tập giữ kỹ luật suy nghĩ trong khung cảnh thực tế thì đương nhiên là ta sẽ:

1. Nhìn mỗi vấn đề rất rõ ràng (không bị thành kiến chi phối),

2. Không suy tư theo kiểu nhãn hiệu “Công giáo là tồi, Phật giáo là dốt, Trung quốc là tồi, Đảng ta là đúng, phản động là sai, Hàn thì tốt, Nhật thì kiêu….” Suy tư theo kiểu nhãn hiệu thì không cần phải đi học. Cứ lấy một câu như câu trong ngoặc kép trên, cho mấy đứa con nít học thuộc lòng, chúng nó sẽ áp dụng tư duy nhãn hiệu không thua gì các tiến sĩ mà tư duy kiểu nhãn hiệu. (Đó là tại sao trẻ em là thành phần chủ lực trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Mao Trạch Đông, và Cách Mạng Đỏ của Polpot và Khmer Rouge. Các đại đồ tể của thế giới thích mọi người tư duy theo kiểu nhãn hiệu).

3. Không có nhãn hiệu cho chính mình. Ví dụ: Hôm qua anh nói nhà nước quản lý thành công tốt, hôm nay anh chê nhà nước quản l‎ý tồi, vậy anh chống nhà nước hay ủng hộ nhà nước? Anh ba phải hay bốn phải?

À…à… hôm qua tôi nói chuyện nhà nước giữ được kinh tế phát triển với tỉ số cao liên tục trong hơn một thập niên, đó là quản l‎ý tốt. Hôm nay tôi nói nhà nước không làm giảm tham nhũng “một cách thấy được” trong hơn một thập niên, đó là quản l‎ý tồi. Tôi chẳng chống nhà nước, chẳng ủng hộ nhà nước. Tùy chuyện mà nói tốt hay xấu, đúng hay sai, mà thôi. Và như vậy thì chắc là “trăm nghìn phải” chứ chẳng là ba bốn phải.

Các bạn ạ, suy tư trong một khung cảnh cụ thể (thinking within the context) là một trong những kỹ năng quan trọng nhất, nếu không là kỹ năng duy nhất, của tư duy phân tích (analytical thinking). Và dân Annamít ta cực kỳ, cực kỳ, cực kỳ yếu môn này. Cũng chính vì đó mà kỹ năng phân tích của sinh viên và trí thức Việt rất yếu. Điều này hệ trọng đến tương lai đất nước. Trí thức mà yếu khả năng tư duy thì lấy ai hướng dẫn nước nhà?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,
Hoành

Bài liên hệ: Chủ nghĩa nhãn hiệu, “Thuộc về” nhóm nào?

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Dạy và Học

Chào các bạn,

Bài này nghe có vẻ như dành cho các bạn làm giáo chức, nhưng thực ra thì tất cả chúng ta ai cũng làm thầy và cũng làm trò. Dù ta là ai, ta cũng phải huấn luyện ai đó—con cái, em út, thuộc cấp, đồng nghiệp—và ta cũng phải học từ ai đó—cấp chỉ huy, huấn luyện viên chuyên môn, sư phụ, sư mẫu. Cả cuộc đời là dạy và học cùng một lúc, dù muốn dù không, dù ta có thấy điều đó hay không.

Học thế nào

Học thì dễ thấy hơn. Ai trong chúng ta cũng đã thấy “càng học càng thấy bể học càng mênh mông và cái biết của mình càng nhỏ”, cho nên chúng ta ham sách, ham Internet, ham thảo luận, ham học… Học không chỉ là vì đam mê có thêm kiến thức, mà còn là vì nỗi sướng vui khi khám phá ra điều mới, như người dọ dẫm trong cánh rừng rậm âm u thỉnh thoảng lại vớ được một hòm sắt nhỏ đầy châu báu của đám hải tặc nào đó đã chôn dấu hàng trăm năm trước.

Vấn đề của ta không phải là không ham học, mà là có quá nhiều thứ để học, mà thời gian thì có hạn, làm thế nào để học được nhiều nhất trong khoảng thời gian hạn hẹp của ta. Đây là một số trực nghiệm của mình:

1. Chọn thông tin.

Thông tin tồi, sách nói bậy rất nhiều, phải chọn thông tin mà đọc.

Thông tin trên Internet từ các nguồn rác thì đừng tốn thời giờ đọc. Nguồn rác là: Các nguồn spam thông tin tuyên truyền một chiều, quảng cáo lăng nhăng, các người quen có thói quen forward rác… Delete thì tốt hơn là tốn thời giờ mở mail xem họ nói gì. Dành thời gian cho chuyện khác.

Các thông tin giật gân về y tế, chính trị, xã hội, v.v… thường là thông tin rác. Delete. Nếu là thông tin tốt đương nhiên là bạn sẽ biết sau này.

Sách thì đọc qua các tóm tắt về quyển sách trước khi quyết định nên đọc quyển nào.

2. Tâm tĩnh lặng

Nếu tâm bạn tĩnh lặng, không choi choi, nó sẽ trong sáng, bạn sẽ thấy nhiều điều trong cái bạn đọc, kể cả các điều tác giả không cố tình viết, nhưng bạn vẫn thấy trong đó.

Nếu tâm bạn có nhiều thành kiến (mê Mỹ chê Tàu, mê công giáo chê phật giáo), ghen ghét (tên ca sĩ địch thủ của ta), thù hận (sách phản động versus sách quốc doanh), mê chuộng (tên Mỹ hay Tây), kiêu căng (chỉ các sách dân Harvard đọc)… thì bạn chỉ thấy được 1 hay 2 trong cả chục mặt của một vấn đề.

Đọc một thấy mười là nhờ “đầu óc mở rộng” đến từ “tâm tĩnh lặng”.

3. Tìm tinh túy của điều mình đọc

Một quyển sách thường chỉ có một tinh tuý có thể tóm tắt trong một câu. Ví dụ: Quyển The World Is Flat có thể tóm tắt là “Thế giới như một sân bóng bằng phẳng, và các nước đang lên cũng có thể cạnh tranh ngang hàng với các đại gia của thế giới trên sân bóng phẳng đó.”

Đôi khi đọc tóm tắt quyển sách, ta thấy được tinh túy quyển sách, và không cần phải đọc quyển sách, hoặc chỉ cần đọc một hai chương đầu là xong. Đa số sách ngày nay có cả mấy trăm trang, nhưng chỉ có một chương đầu là đáng đọc. (Người ta rất phí giấy và phí thời gian).

Đọc cả mấy trăm trang mà không nắm được tinh túy thì cũng vô ích.

Hoặc, quyển sách đầu đề “12 bí quyết thành công”, bạn có thể chỉ đọc mục lục xem 12 bí quyết đó là gì cũng đủ. Đa số các chi tiết chẳng có gì mới lạ. Nếu có thời giờ, có thể đọc chi tiết sau, nhưng biết được 12 bí quyết tên gì cũng tạm xong quyển sách lúc bận rộn.

Nếu một quyển sách, một bài viết, mà bạn không thể tóm tắt tinh túy trong một câu nói, thì hoặc là bạn chưa nắm được tinh túy, hoặc là tác giả viết chẳng có gì trong đó.

4. Khi tìm thấy điều gì mình muốn đọc nghiêm chỉnh, thì đọc nghiêm chỉnh, tức là đọc chậm rãi, vừa đọc vừa suy nghĩ. Đọc nghiêm chỉnh thì không thể đọc nhanh được.

Sách là để giúp mình suy nghĩ. Nếu đọc nghiêm chỉnh, tác giả viết một, ta có thể có thêm chín điều suy nghĩ của riêng mình, thành ra đọc một hấp thụ mười.

5. Ngoài thông tin sách vở, thế giới là cả một trường học.

Nếu mở mắt quan sát, như ra đường thì quan sát người ta ngoài đường, bạn có thể biết được dân vùng đó hiền hay dữ, tác phong văn minh đến mức nào, kinh tế đang lên hay xuống, đời sống đang dễ thở hay khó…

Các triết gia và thi nhân khám phá thế giới thường chỉ bằng nhìn trời trăng mây nước chim chóc cỏ cây…

6. Cũng như thế giới, tất cả mọi người đều có thể là thầy nếu bạn chú tâm đến từng câu nói của người đối diện mà không đối thoại một cách hời hợt cho có lệ. Ví dụ: Thái độ của bà bán hàng rong với bạn có thể cho bạn nhiều dấu hiệu về nền kinh tế đang thế nào đối với đời sống dân nghèo.

Dạy thế nào

Dạy ở đây là ý nói ta biết một điều gì đó và muốn chỉ lại cho người khác để họ cũng có được kiến thức và kinh nghiệm như ta.

Dạy trong trường, có kỹ luật của trường và thi cử giúp thầy cô, cho nên ta tạm gác môi trường trường học kỹ luật đó qua một bên, và chỉ nói đến truyền tải kiến thức chung chung cho đời. Bạn biết một điều, làm sao để truyền tải nó đến cho đời?

1. Chỉ lại điều mình thực sự biết là làm cho cuộc đời này giàu có sung túc thêm một tí nhờ kiến thức và kinh nghiệm của mình.

Ngược lại, không biết mà chỉ người khác, thì có thể làm cho thế giới tăng rác rến.

Cho nên cần định trước là mình đã biết đến đâu.

2. Cách dạy duy nhất là dạy điều mình biết bằng kinh nghiệm.

Đừng đọc sách xong rồi viết lại điều mình đọc trong sách để “dạy” người khác trong khi mình chưa có kinh nghiệm gì về việc đó cả.

Dĩ nhiên là bạn có thể chuyển tải thông tin bạn thích, như đọc một bài viết hay thì forward hay dịch bài đó để chia sẻ với bạn bè. Nhưng đó không phải là dạy. Dạy là chỉ lại điều bạn đã biết.

3. Biết đến đâu thì nói mình biết đến đó. Chỗ nào chưa biết thì nói là chưa biết.

Ví dụ: Môn này tôi đã tập được năm năm và đã có những kinh nghiệm này. Còn các chuyện ABC này thì thấy sách có nói nhưng tôi chưa được trực nghiệm nên không thể kiểm chứng đúng sai.

Không nên cho học trò nghĩ là mình đã thông hết môn đó 100% nếu mình biết là mình chưa đến mức đó. (Có một vị sư ở Việt Nam, xin tạm không nêu tên, thường xuyên nói với khách khứa đạo hữu là tôi có thể xuất thần đến nơi khác vài ngàn dặm trong vòng một tích tắc. Nam mô a di đà phật. Đạo pháp suy đồi!)

4. Dùng ngôn ngữ diễn tả giản dị nhất.

Nếu nói cho một đám đông, thì nói đến mức trình độ tiểu học cũng có thể hiểu được là hay nhất. Người tiến sĩ đứng đó cũng sẽ hiểu, và sẽ hiểu sâu hơn người tiểu học rất nhiều.

Nếu bạn nói mà người tiến sĩ cũng chẳng hiểu là bạn nói gì thì có thể là bạn cũng chẳng hiểu bạn đang nói gì.

5. Nói là việc của bạn, nghe hay không và nghe được đến đâu là việc của người khác.

Khi chia sẻ kiến thức kinh nghiệm, bạn chỉ có thể nói thôi, bạn không thể làm cho người khác hấp thụ được. Hấp thụ hay không là do trái tim, thái độ, và căn cơ của họ. Có người hấp thụ ít, có người hấp thụ nhiều, có người chẳng thèm nghe một chữ, có người hiểu sai hết ‎ý của bạn vì họ “suy diễn” lời bạn nói theo công thức trong tâm họ…

Nếu người muốn hiểu, hỏi, bạn có thể giải thích thêm, theo trình độ của họ. Nếu người không muốn hiểu, thích cãi nhau với bạn, đừng tranh luận, họ sẽ không hiểu. Nếu người muốn hiểu ngày hôm nay mà không chờ kinh nghiệm, bảo họ chờ kinh nghiệm đến, kiên nhẫn thực tập cho đến khi có được kinh nghiệm…

Mọi chuyện ở đời thường như học võ. Có những chuyển động của thầy rất nhẹ nhàng uyển chuyển và có uy lực kinh hồn, nhưng nhiều học trò thấy rất vô lý‎ vì họ tập theo lời thầy dạy thì thấy lọng cọng, không phù hợp với cơ thể tự nhiên của họ, và hầu như là uy lực không đủ để đập con kiến. Nhưng học trò tập được 3 năm thì bắt đầu thấy tự nhiên, 10 năm thì uy lực kinh khủng mà nhẹ nhàng như vũ điệu, ít người hiểu được.

6. Dạy chính là học

Dạy người khác chính là ôn lại bài của mình. Cho nên thầy luôn luôn dạy và học cùng một lúc.

7. Người thầy thực sự luôn luôn thầm mong học trò sẽ khá hơn mình.

8. Người thầy đã “giác ngộ” sẽ hiểu được thầy của mình sâu đến mức nào.

9. Người thầy thực sự biết rằng thực ra chẳng ai là thầy của ai cả. Mỗi người tự là thầy của mình. Mọi người khác chỉ giúp tí tí ‎ý kiến trên đường đi mà thôi.

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Tư duy của người trí thức

Chào các bạn,

Mỗi khi nói đến “trí thức” nhiều người chúng ta có khuynh hướng tìm vài định nghĩa trong tự điển hay trong vài quyển sách triết học hay xã hội học nào đó, rồi từ đó suy luận thêm. Chúng ta không cần làm việc tốn thời giờ đó ở đây, vì ai trong chúng ta cũng biết trí thức là gì, cũng như mọi chúng ta đều biết đẹp là gì. Mang tự điển ra để tranh luận về “đẹp” hay “trí thức” thường là việc không cần thiết. Mỗi người chúng ta tự biết mình có phải là người trí thức hay không. Nếu bạn nói rằng bạn là người trí thức, mình tin như thế là đúng. Nếu bạn nói bạn không thích xem bạn là người trí thức, mình cũng tôn trọng ‎ý của bạn.

Chuyện quan trọng của chúng ta hôm nay là bàn luận về vai trò của người trí thức trong xã hội chúng ra đang sống. Người trí thức là gì trong xã hội? Họ cần có thái độ thế nào để làm trọn vai trò đó?

Về vai trò thì rất rõ và rất dễ: Trí thức là chất xám của quốc gia, mỗi người trí thức là một tế bào chất xám của quốc gia. Trong cơ thể quốc gia, trí thức là não bộ.

Đây là một định đề hiển nhiên, chẳng cần phải chứng minh, và cũng chằng cần ai đồng ý, chấp thuận, hay cho phép. Bạn có cho phép hay không, thì cái đầu của bạn, chứ không phải cái tay hay cái chân, làm việc suy nghĩ. Người trí thức làm việc bằng cái đầu nhiều hơn bằng chân tay, cho nên họ là tế bào chất xám, họ là não bộ.

Và khi cái tay của bạn muốn sờ mó gì đó, thì toàn thể não bộ của bạn phải quyết định và chỉ huy hành động đó, không phải chỉ là vài tế bào não bộ kiểm soát các cơ tay. Trước khi quyết định bắt tay ai đó chẳng hạn, bạn có thể phải giải rất nhiều con toán: Ta nên chìa tay ra trước hay hay đợi người kia chìa tay ra trước, ta nên bắt một tay hay hai tay kiểu Á châu, ta nên đứng thẳng lưng hay hơi cúi đầu, ta nên mỉm cười hay trịnh trọng… Nói vậy để chúng ta thấy là các hoạt động của não bộ, dù là có chuyên môn hóa phần nào, nhưng nói chung là rất tổng hợp trong tư duy.

Có nghĩa là, trong cơ thể quốc gia, người trí thức không thế gói mình trong một vai trò chuyên môn rất nhỏ. Chất xám không làm việc như thế.

Nhưng, nền giáo dục thế giới ngày nay chỉ đào tạo chuyên viên với chuyên môn rất nhỏ. Ở Mỹ chẳng hạn, bạn học xong tiến sĩ nha khoa để làm bác sĩ răng. “Răng” là chuyên môn nhỏ lắm rồi; nhưng vẫn chưa. Một lúc nào đó nhức răng đi bác sĩ nha khoa khám, bạn mới khám phá ra là ông nha sĩ của bạn đưa cho bạn thêm 3 tờ giấy đi khám với 3 ông nha sĩ khác: Một ông chuyên về lợi răng, một ông chuyên giải phẩu miệng (để lấy răng hư ra) và một ông chuyên làm răng giả. Nếu nặng hơn chút đỉnh, biết đâu lại lòi ra vài loại chuyên gia răng miệng nữa.

Cho nên đa số trí thức ngày nay, sau khi xong tiến sĩ, thì cũng chỉ là một loại chuyên viên với kiến thức và thái độ của một chuyên viên trong một ngành cực kỳ hạn hẹp, chỉ như là người sửa máy xe, hạng máy xe cao cấp. không hơn không kém.

Tiến sĩ gì thì cũng vậy—kinh tế, luật, toán, computer…

Chính vì vậy mà nhiều tiến sĩ thời nay, bước ra khỏi công việc kiếm cơm hàng ngày của họ, họ chẳng hơn một học sinh đã tốt nghiệp trung học bao nhiêu về các chuyện khác. Lớ nga lớ ngớ. Không chấp nhận được.

Và đây là điều đáng tiếc cho nền giáo dục thế giới, vì PhD có nghĩa là Doctorate of Philosophy, Tiến sĩ Triết. PhD về tâm lý là tiến sĩ triết về tâm l‎ý. PhD về computer là tiến sĩ triết về computer. Tức là, tiến sĩ là cấp triết gia, cấp nhìn rộng rãi, tổng hợp, từ trên đỉnh núi nhìn xuống, và các tiến sĩ của mọi ngành đều gặp nhau tại đỉnh núi như là triết gia. Nhưng đó là lý tưởng khi xưa. PhD ngày nay còn lọ mọ dưới chân núi, chưa lên đến được sườn, nói chi là đỉnh.

Đó là cái đi xuống của giáo dục thế giới ngày nay. Nhưng đó cũng là vấn đề lớn của quốc gia chúng ta. Nếu người trí thức chỉ biết làm công việc kỹ thuật nhỏ xíu của mình, thì họ không quan tâm và không hiểu được những vấn đề của đất nước đòi kiến thức tổng hợp, như là: Các hiện tượng suy thoái văn hóa, các hiện tượng bất quân bình xã hội, các hiên tượng liên hệ đến nhân quyền, các hiện tượng liên hệ đến phát triển dân chủ, các hiện tượng liên hệ đến công pháp quốc tế… Và họ có khuynh hướng phe lờ mọi chuyện và để cho… nhà nước lo (cứ y như nhà nước biết lo hết mọi sự!).

Đó là thái độ rất tai hại cho đất nước, vì nếu các tế bào não không hoạt động thì não bộ bị tê liệt.

(Dĩ nhiên, là một số vị nào đó trong nhà nước có thể thích thái độ ngủ quên của giới trí thức, để họ tự tung tự tác muốn làm gì thì làm, chẳng ai nói gì cả, nhất là trong các lãnh vực họ mới dán lên cái nhãn “chính trị”— Định nghĩa: Chính trị là cái tôi không thích anh rớ vào. Chuyện gì tôi không muốn anh nói đến, nhắc đến, sờ đến thì đó là “chuyện chính trị.” Anh hiểu chưa?)

Người trí thức, trí thức thật sự, chỉ làm đúng vai trò “trí thức” của mình khi mình quan tâm vào MỌI vấn đề của đất nước, cũng như bộ não phải quan tâm đến toàn cơ thể. Quan tâm cách nào là chuyện riêng của bạn, nhưng bạn không có quyền nói “Tôi không quan tâm về vấn đề đó.” Câu này không thể có trong tự điển của người trí thức chân thật.

Chính vì vậy mà, dù là bạn học nghề chuyên môn nào, bạn cũng cần nhiều kiến thức tổng quát về con người và xã hội: Tâm lý học, triết học, đạo đức học, xã hội học, tôn giáo, văn hóa, kinh tế, luật…

Bạn không cần phải đọc nhiều, mỗi môn chỉ cần đọc KỸ quyển “nhập môn” là đủ, vì các quyển nhập môn thường là căn bản cho TOÀN môn đó, viết một cách tóm tắt. Và nếu bạn còn trong trường, chỉ cần ghi danh lấy một cua nhập môn của môn mà bạn muốn biết.

Đó là chuẩn bị kiến thức nhập môn. Vững kiến thức nhập môn thì, nếu muốn, bạn có thể thành chuyên gia, hay ít ra là bán chuyên gia, không mấy hồi. Chỉ cần nghiên cứu thêm nghiêm chỉnh thôi.

Rồi, thái độ “trí thức” phải là thường xuyên quan tâm đến các vấn đề của đất nước.

Nếu bạn thấy không đủ sức viết hay nói cho người khác hiểu, thì ít ra bạn có thể đọc và nghe người khác, và hỏi nếu không hiểu.

Điều quan trọng là đừng nói “Đó không phải là việc của tôi”. Không có việc gì của cơ thể mà lại không phải là việc của các tế nào não bộ.

Quan tâm là đủ. Còn quan tâm rồi làm gì, bạn sẽ tự biết cho chính bạn.

Hãy nhớ rằng não bộ tê liệt khi các tế bào chất xám không hoạt động như tế bào chất xám.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Suy nghĩ “ra ngoài cái hộp”

Chào các bạn,

Tiếng Anh có thành ngữ “thinking outside the box” hay “thinking out of the box”, tạm dịch là “suy nghĩ ra ngoài cái hộp”, tức là suy nghĩ tự do, suy nghĩ sáng tạo. Đây là cụm từ nghe rất thường xuyên trong quản l‎ý và thương mãi, và các công ty quảng cáo cũng thường tìm trăm phương nghìn cách để dùng cụm từ trong các quảng cáo thương mãi hàng ngày.

Nhưng suy nghĩ trong hộp là gì? Thưa, đó là suy nghĩ chật hẹp, tù túng, ngạt thở như… nằm trong hộp.

Và khi mọi người thúc nhau “suy nghĩ ra ngoài cái hộp”, điều đó có nghĩa là chúng ta thường suy nghĩ trong hộp, cũng như khi ta nghe thấy báo chí và diễn văn hay nói đến “đổi mới tư duy”, điều đó có nghĩa là tư duy ta đang già hơn trái đất.

Vậy thì, điều gì là cái hộp tư duy của ta?

Mỗi cái hộp có 6 mặt, vậy ta thử xét qua 6 mặt đó là gì.

1. Thói quen: Đây là cung cách mỗi người chúng ta suy nghĩ hàng ngày theo thói quen như: dân da đen thì lười, dân Thái thì dốt, dân Lào thì khờ, Á châu thì đạo đức, Mỹ châu thì đồi trụy, dân Tàu thì xấu, dân Thụy Điển thì tốt, anh chàng A thì xạo, cô B thì kiêu, bà C thì tham lam…

Đây là những hàng viết kết thành lập trình cho cái đầu của ta. Ta có thể gọi là thói quen, hay thành kiến, đều như nhau. Đây là đáy hộp, nặng nề nhất, cứng rắn nhất, khó chọc thủng nhất.

2. Phe nhóm:

Đảng phái, nhà thờ, nhà chùa, sở làm… Cứ là đảng viên một đảng phái thì phải nói theo đảng, dù là đảng dốt vì các cấp lãnh đạo dốt. Tương tự như thế, hội viên của các giáo hội, nhà thờ, nhà chùa, hay một cơ quan/công ty… thì cứ nhắm mắt nói theo kiểu của tổ chức của mình mà không cần biết đúng sai.

Gia đình: Sinh ra trong gia đình từ bé, ta quen lề lối suy nghĩ của mọi người trong gia đình.

Bè bạn: Chơi chung với bạn thì lây cách suy nghĩ của bạn, và đôi khi mất luôn cả suy nghĩ độc lập, cứ suy nghĩ và ừ theo các bạn để “hòa đồng.”

3. Tham lam: Tham tiền, tham tiếng, tham chức tước thì cứ gật gật dạ dạ cười cười với những người có thể mang tiền bạc, chức tước, danh vọng cho mình, mà không cần biết đúng sai.

4. Thù hận: Ghét ai đó thì hắn nói trắng đương nhiên là mình nói đen; hắn nói đỏ đương nhiên là mình nói xanh, khỏi cần suy nghĩ mất công.

5. Dốt: Chẳng khi nào biết đúng sai gì cả. Thấy đông người nói gì tôi nói theo cho chắc ăn.

6. Sợ: Đây là nắp hộp. Đây không hẳn là người dốt mà là người thiếu dũng khí. Biết đúng sai nhưng không dám tỏ lộ tư tưởng của mình, mà chỉ nói theo người khác, vì sợ mất công việc, mất sở làm, mất an ninh, sợ bị chụp mũ là phản động, phản đạo, phản quốc…, sợ bị khai trừ, sợ mất bạn, sợ mất đồng minh, sợ bị chống đối truy tố, sợ bị nhạo báng chê cười…

Nếu bạn nhìn kỹ một tí thì nhận ra ngay là sáu mặt hộp này không phải bằng giấy, mà là bê tông cốt sắt, hay là thép ròng… không phải dễ dàng.

Đại đa số người, ít nhất là 90% dân số thế giới, suy nghĩ trong hộp. Số người suy nghĩ ra ngoài hộp luôn luôn là một thiểu số rất nhỏ. Dù họ là ai, có ai biết đến họ hay không,thì họ vẫn đương nhiên nằm trong nhóm rất nhỏ đưa thế giới về phía trước. Phân còn lại của thế giới là chỉ đi theo họ.

Và bạn đừng nghĩ là những người có bằng cấp cao, đi học nhiều là những người suy nghĩ ra ngoài hộp. Chẳng có gì bảo đảm điều này cả. Suy nghĩ sáng tạo hay không là do nơi cái tâm của một người, chẳng liên hệ gì đến bằng cấp cả. Bạn có thấy ai đang làm lớn với rất nhiều bằng cấp, lảm nhảm toàn những chuyện hoàn toàn không nghĩa lý gì cả, hàng ngày?

Tuy là 6 mặt hộp mặt nào cững cứng chắc, bạn không cần phải nằm trong hộp và cố phải đục thủng từng mặt mà ra. Chỉ cần đừng đậy nắp là bạn có thể thong thả ở ngoài hộp thường xuyên.

Ta đã nói nắp hộp là “sợ”, thì đừng đậy nắp là “không sợ.” Nếu bạn có dũng khí, có can đảm, bạn sẽ không ngại nói lên điều bạn nghĩ dù là bạn phải đi một mình (không bạn bè, không thân nhân, không bè đảng, không tổ chức), và những lời nói đó có thể đưa đến khó khăn cho bạn đôi khi.

Không sợ là đương nhiên dám nói, dám suy nghĩ. Đây là điểm khởi đầu. Từ đó tâm thức không bị trói buộc hoàn toàn của bạn sẽ đưa bạn đến những phương trời mới.

Chỉ cần lưu ‎ý thêm, đừng để tham lam, sân hận, và ngu dốt làm cho mình mờ mắt, là bạn có thể suy nghĩ độc lập và tự do.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Điều kiện cần thiết cho sáng tạo

Chào các bạn,

Nếu chúng ta quan sát đời sống con người, ta có thể nhận ra ngay điều kiện cần thiết cho sáng tạo là “đối chọi” hay “đối phó.” Con người ở trong vùng bị lụt hàng năm chẳng hạn, sẽ phát minh ra nhiều cách để đối phó với lũ lụt, từ đê điều, đến hệ thống kinh rạch thoát nước, đến hệ thống thuyền bè di tản. Người ở vùng sa mạc, thì đương nhiên là sẽ biết cách tìm nước từ trong gốc cây kẻ đá, nơi mà không ai khác có thể biết, hoặc là cách nào chỉ uống một ngụm nước nhỏ mà đi cả chục cây số.

Đối phó với thử thách tạo ra phát minh mới, qui luật này ai cũng biết. Vì vậy, trong quản lý người ta tạo ra các tình huống đối chọi để tìm phát minh hàng ngày. Ví dụ, brainstorming, động não, dùng hầu như hàng ngày để tìm sáng kiến, là hình thức một nhóm người thảo luận vô giới hạn về tư tưởng. Hoặc cạnh tranh thi đua giữa các nhóm sẽ thúc đẩy các nhóm phát minh ra phương cách để chiến thắng. Hoặc devil’s advocate (biện hộ cho chúa quỷ) khi các nhóm viên chia thành hai phe tranh luận nhau để tìm ‎ý mới.

Không có đối chọi, đối phó, thì rất khó để ‎ý tưởng sáng tạo ra đời.

Bởi vì vậy, các nền kinh tế chính trị mạnh nhất thế giới ngày nay đều là các quốc gia rất trân trọng tranh luận trên mọi lãnh vực. Và chính nhờ sự trân trọng tranh luận này mà khối Âu Mỹ trở thành nền văn minh mạnh nhất thế giới ngày nay, vượt qua hẳn những nền văn minh lớn thời cổ đại nhưng không mở rộng thảo luận—như Trung quốc, Ấn Độ, Ai Cập.

Đây cũng là vấn đề đã kéo dài cả bao thế kỷ, và ngày nay vẫn còn tiếp diễn với dân Việt. Chúng ta chú trọng đến gọi dạ bảo vâng, cho nên óc sáng tạo của người Việt nói chung thì rất là khiêm tốn. Và các hệ thống quyền lực chính trị của Việt Nam, từ thời quân chủ cho đến ngày nay, cũng là nạn nhân của truyền thống đó—thích quản lý bằng gọi dạ bảo vâng hơn là tạo điều kiện để nhân dân tranh luận.

Và vì không quen tranh luận, nên mỗi khi tranh luận ta có khuynh hướng đánh nhau hơn là tranh luận.

Và “đánh nhau” lại là l‎ý do để các hệ thống quyền lực hạn chế hay cấm tranh luận.

Nói chung là ta nằm trong vòng lẩn quẩn ngàn năm, không bước ra được, chung qui cũng chỉ vì văn hóa chống tranh luận, gọi dạ bảo vâng.

Đây là việc các nước tiền tiến trên thế giới đều đang làm để khuyến khích tranh luận:

1. Thầy cô khuyến khích các em phát biểu ‎ kiến riêng từ hồi mới vào vườn trẻ.

2. Năng lực đóng góp của một em vào thảo luận nhóm luôn luôn là điểm quan tâm số một của các giáo chức, cũng như của cha mẹ. Nếu các em có vấn đề ở trường là bố mẹ được thông báo ngay.

3. Bố mẹ dạy các em nói ra điều mình muốn từ lúc 2, 3 tuổi, chứ không tập các em chỉ vâng dạ điều bố mẹ muốn cho các em (Dĩ nhiên, là bên cạnh đó các em cũng được dạy vâng lời trong một số việc).

4. Trong học đường các em được dạy phân tích và thảo luận mọi vấn đề và tìm kết luận riêng cho mình thay vì chỉ nuốt các phân tích và kết luận có sẵn của thầy cô.

Và hệ thống xã hội thì:

1. Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền hiến định cao cả nhất. Từ đó đưa đến tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình (trật tự) để phát biểu ý ‎ kiến với chính phủ…

2. Nhà nước áp dụng luật để bảo đảm sân chơi tự do cho nhân dân được tự do ngôn luận.

3. Nhà nước không rớ vào và xía vào tranh luận của nhân dân. Nhà nước chỉ hành xử luật khi có người phạm luật.

4. Các đại học có quy chế đại học tự trị và tự do nghiên cứu cũng như phát hành ấn phẩm.

Nói chung, toàn hệ thống xã hội, từ gia đình đến trường học đến guồng máy công quyền được tổ chức để khuyến khích và nâng cao khả năng mỗi cá nhân nói lên ý tưởng của mình, và tìm ý tưởng mới qua tranh luận thảo luận tự do.

Xã hội của ta thì ngược lại. Từ gia đình đến học đường đến guồng máy công quyền đặt trọng tâm vào gọi dạ bảo vâng.

Nếu chúng ta không tìm cách thoát ra khỏi vòng kim cô của cách sống thiếu sáng tạo này thì chúng ta sẽ tiếp tục nghèo đói vài ngàn năm nữa. Đây không phải là chuyện nhỏ.

Có ai quan tâm không vậy?

Mà ngay cả khi không quan tâm đến tổ quốc, thì có ai lo cho cái đầu của chính mình và của con cháu trong nhà mình không vậy?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Văn hóa sáng tạo

Chào các bạn,

Chúng ta thường nói đến sáng tạo như là một kỹ năng: 30 quy luật để sáng tạo, kỹ‎ thuật động não, k‎ỹ thuật đặt câu hỏi, v.v… Dĩ nhiên là sống ở đời chuyện gì cũng có một số kỹ năng và kỹ thuật liên hệ. Nhưng sáng tạo không phải là kỹ năng. Sáng tạo là bản tính của một người, cũng như là lễ độ, chẳng hạn. Lễ độ không phải là các kỹ năng lễ độ, mà là bản tính của một người. Một người lễ độ không phải vì người ấy biết các kỹ năng lễ độ, mà vì người ấy có bản tính lễ độ và sống lễ độ với mọi người.

Sáng tạo cũng vậy. Người sáng tạo là người luôn luôn sáng tạo, đi đâu cũng sáng tạo, làm gì cũng sáng tạo, sáng tạo một ngày 24 tiếng (có thể sáng tạo ngay trong khi ngủ). Sáng tạo là bản tính của anh ta, là máu chảy trong người, lâ từng hơi thở, từng nhịp đập.

Bởi vì vậy, chúng ta không thể nghiên cứu và giải quyết vấn đề thiếu sáng tạo như là một vấn đề kỹ thuật (hay kỹ năng) thuần túy, và ta phải xem đó như là một vấn đề văn hóa của một người—tức là về cách sống, về môi trường sống, về mọi người chung quanh anh ta.

Môi trường sống thường tạo ra con người—môi trường cướp bóc thường tạo ra người cướp bóc, môi trường từ thiện thường tạo ra người từ thiện, môi trường thiếu sáng tạo thường sinh ra người thiếu sáng tạo.

Muốn sáng tạo chúng ta phải thiết lập một môi trường sống sáng tạo.

Có nhiều điều tạo ra môi trường. Nhưng giản dị hóa đến tận cùng thì môi trường sống của chúng ta gồm có chính ta và những người chung quanh ta. Ta và vòng người quanh ta tạo thành môi trường sống của ta.

Hãy tưởng tượng một người đứng giữa vòng muốn làm cái gì đó mới lạ, và đa số hay tất cả những người đứng ở mấy trăm vòng tròn quanh anh ta, biển người quanh anh ta, nói “không”, thì liệu anh ta có sáng tạo được không?

Có thể là một trong triệu người vẫn sáng tạo được, nhưng đại đa số chắc là không.

Nhận xét này đưa đến suy luận sau đây: Nếu chính ta muốn sáng tạo mà mọi người chung quanh ta chống sáng tạo thì rất khó sáng tạo.

Tuy vậy, khi nói đến “khoa học” sáng tạo, chúng ta thường chỉ chú tâm đến người đứng giữa vòng tròn: “Làm thế nào để tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo?” Nhưng, nếu tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo mà mọi người chung quanh tôi chống sáng tạo, thì có lẽ là tôi cũng bỏ cuộc sớm thôi.

Quảng cáo tuyên truyền của Sở Nước Denver

Vì vậy, chúng ta phải đặt vấn đề ngược lại: Làm thế nào để những người chung quanh tôi khuyến khích và ủng hộ tôi sáng tạo?

Đổi góc nhìn: Tôi đứng ở vòng bên ngoài, nhìn vào người đứng giữa vòng, câu hỏi sẽ là “Làm thế nào để tôi khuyến khích anh ta sáng tạo?”

Đây chính là mấu chốt căn bản nhất của vấn đế: Làm thế nào để chúng ta khuyến khích những người khác trong xã hội của ta sáng tạo?

Tập trung của ta không nên nhắm vào “Làm thế nào để tôi sáng tạo?” Câu này mang xuống ưu tiên hai.

Ưu tiên đầu nên là: Làm thế nào để tôi khuyến khích người khác sáng tạo?

Và khi ta hỏi như thế thì ta sẽ được cả hai, vì nếu cả ngày ta khuyến khích ngưởi khác sáng tạo thì đương nhiên ta sẽ trở thành sáng tạo.

Như thế, muốn tạo một môi trường sáng tạo, cho mình và cho tất cả mọi người, mỗi chúng ta phải tích cực khuyến khích người khác sáng tạo luôn luôn trong cuộc sống.

• Bạn bè khuyến khích nhau.
• Anh chị em khuyến khích nhau.
• Bố mẹ khuyến khích con cái.
• Thầy cô khuyến khích học trò.
• Chỉ huy khuyến khích thuộc hạ.
• Nhà nước khuyến khích nhân dân.

Nhưng, khuyến khích sáng tạo cách nào?

• Luôn luôn kêu gọi mọi người có ‎ ý tưởng mới, phương cách mới, tư duy mới…

Tập tự động khen cái mới về tính mới của nó (Ô, mới lạ nhỉ!) Đúng hay không, để đó tính sau. Đã là mới thì khó biết đúng sai. Nhưng mới thì ít ra cũng hay về “tính sáng tạo” (creativity).

• Tính sáng tạo (creativity) luôn luôn nên là một phần điểm trong tổng số điểm.

• Thấy ‎ý tưởng mới hay phương cách mới chói tai mình, thì cũng đừng chống đối. Vẫn nên khen, “Đây là một ý tưởng mới. Hay đấy. Cho tôi ít thời gian để suy gẫm thêm.”

• Đừng ép người khác, nhất là người thấp hơn mình, đồng ‎ý với mình luôn luôn. Khuyến khích họ có lập trường của họ. Nếu không đồng ý được thì “ta đồng ‎ý là ta bất đồng ý.”

• Khuyến khích người thấp hơn mình khám phá mọi sự, thay vì cứ nhồi họ vào cái khuôn của mình.

Có bố mẹ nào nói với con, “Nhà mình công giáo (hay phật giáo). Nhưng có nhiều đạo khác ngoài kia, con đã lớn rồi, nên nghiên cứu và khám phá. Rồi mai mốt con có thể tự quyết định nên giữ đạo mình hay theo đạo khác”?

• Điều càng mới, nghe càng điên rồ. Cho nên ta cần ủng hộ và khuyến khích người có ‎ ý tưởng “điên rồ”. Thành hay bại là chuyện của họ. Ủng hộ họ là chuyện của mình.

(Sáng tạo để cái mới vào khuôn cái cũ thì cũng như không! “Em sáng tạo cho anh môt cái bánh tráng mới giống y hệt cái bánh tráng truyền thống mình đang ăn”. Em nghiêng người, lấy một cái bánh tráng có sẵn trên bàn: “Đây anh, em đã sáng tạo được cái giống hệt cái bánh truyền thống cho anh đây”).

Nói chung là tâm ta phải yêu sáng tạo, yêu thay đổi, yêu cái mới, đến mức mà đi đâu ta cũng muốn mọi người có cái mới, ý tưởng mới, phương pháp mới thường xuyên.

Dĩ nhiên ta muốn nâng cao giá trị truyền thống, nhưng truyền thống là nền để ta đứng trên đó sáng tạo cái mới. Truyền thống không phải là cái khuôn làm bánh in, 100 năm cũng chỉ ra một kiểu bánh.

Trên ĐCN, chúng ta nói đến những truyền thống rất lâu đời của ta—từ Phật pháp, đến Thánh kinh, đến Lĩnh Nam Chích Quái, ngay cả thơ cổ như Thiền thi và Đường Thi, để làm nền cho chúng ta sáng tạo tư tưởng mới cho đời sống mới, không phải để ta láp nháp toàn những điều xưa cũ như vẹt, mà không suy nghĩ biến hóa gì.

Nếu ta thực tâm yêu sáng tạo mãnh liệt, thì tự nhiên ta biết làm thế nào để khuyến khích tất cả mọi người quanh ta sáng tạo. Cho nên nơi cuối cùng, và cũng là khởi điểm đầu tiên, vẫn là tâm ta. Nếu ta chỉ nghĩ đến sáng tạo như là một kỹ năng công việc, mà chưa yêu nó say mê như yêu phở, yêu bánh cuốn, thì ta có vấn đề rất lớn. Hãy để ý tâm mình, và hãy suy tư về sáng tạo cho đến lúc mình bị tiếng sét ái tình với nó.

Đây là chuyện trăm năm, nghìn năm, của đất nước. Mong các bạn cẩn trọng.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Vượt qua nỗi sợ hãi khi nói trước đám đông

Nói chuyện trước đám đông/công chúng (public speaking) là một trong những nỗi sợ hãi của nhiều người. Chúng ta thường cố gắng tránh, nhưng rất khó vì dù là làm việc một mình hay làm với một nhóm người, cuối cùng thì chúng ta cũng phải nói trước đám đông để có thể hoàn thành công việc của mình. Mặt khác, nếu như chúng ta muốn trở thành những nhà lãnh đạo hoặc đạt được những điều ý nghĩa trong cuộc sống, chúng ta sẽ cần thường xuyên nói trước một nhóm, dù lớn dù nhỏ, để có thể thành công.

Tuy vậy, bản chất của nói chuyện trước công chúng là bạn không cần thiết phải cảm thấy căng thẳng. Nếu bạn hiểu đúng những nguyên nhân ẩn dấu của sự căng thẳng khi nói chuyện trước công chúng là gì, và nếu bạn ghi nhớ một vài nguyên tắc cốt lõi, việc nói trước đám đông sẽ nhanh chóng trở thành một kinh nghiệm rất tuyệt vời của bạn.

Nguyên tắc 1: Nói chuyện trước công chúng bản thân nó không hề gây căng thẳng

Phần lớn trong chúng ta tin rằng cuộc sống bản chất của nó là dễ gây căng thẳng và phần lớn chúng ta được dạy để tin rằng cuộc sống nói chung là như vậy. Để có thể giải quyết với căng thẳng một cách hiệu quả, điều đầu tiên là bạn cần hiểu được bản chất của cuộc sống, trong đó có cả kĩ năng nói chuyện trước công chúng, là không gây ra căng thẳng.

Bạn có thể thấy nhiều người tự tin khi đứng phát biểu trước đám đông. Nếu họ làm được, thì bạn cũng có thể như vậy. Điều cơ bạn bạn chỉ cần tiếp cận đúng bản chất vấn đề và điều đó hoàn hoàn không hề khó.

Nguyên tắc 2: Bạn không cần thiết phải là người xuất sắc hay hoàn hảo để có thể thành công được

Nhiều người trong chúng ta đã quan sát các diễn giả và nghĩ rằng “Ôi, tôi sẽ chẳng thể nào thông minh, điềm tĩnh, sắc sảo, vui vẻ, bóng bẩy….hay bất cứ cái gì”. Nhưng tôi muốn nói với bạn rằng bạn không cần thiết phải như thế. Bạn có thể chỉ có năng lực trung bình, hoặc thấp hơn cả trung bình. Bạn có thể sai, nói ngọng cả lưỡi, hay quên toàn bộ bài nói của mình. Bạn thậm chí không hài hước mà vẫn thành công.

Tất cả tùy thuộc vào cách bạn và khán giả của bạn định nghĩa thế nào là “thành công”. Tin tôi đi, các khán giả của bạn không kì vọng sự hoàn hảo. Tôi đã từng nghĩ phần lớn khán giả ai cũng nghĩ thế, nhưng điều đó là sai. Tôi làm việc nhiều ngày để chuẩn bị cho bài nói, tôi thức khuya lo lắng rằng mình sẽ bị nhầm lẫn cái gì đó. Rồi dành hàng giờ để tuốt đi tuốt lại bài nói. Nhưng thực tế là gì, khi bạn càng cố trở nên hoàn hảo thì bạn càng làm tồi đi.

Điều căn bản của nói chuyện trước công chúng đó là: đem đến cho khán giả của bạn một cái gì đó có giá trị. Nếu khán giả đi về với một điều gì đó mà họ cho là có giá trị, thì họ sẽ xem bạn là một thành công. Nếu họ ra về với một cảm xúc tốt hơn về bản thân, về điều gì đó họ phải làm, họ sẽ xem bạn là một thành công. Nếu họ ra về mà cảm thấy vui và thoải mái, họ sẽ xem thời gian họ lắng nghe bạn là đáng giá.

Thậm chí bạn có ngất xỉu, ngọng lưỡi, hay nói cái gì đó ngu ngốc…họ sẽ không quan tâm. Miễn sao họ nhận được điều gì đó giá trị, họ sẽ cảm ơn bạn.

Nguyên tắc 3: Tất cả những điều bạn cần là hai hoặc ba ý chính

Bạn không cần thiết phải đưa ra một núi thông tin để đem đến cho khán giả của mình cái họ thực sự cần. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng con người nhớ rất ít các dữ kiện hoặc thông tin mà diễn giả truyền đạt. Khi bạn chọn các dữ liệu và thông tin, bạn chỉ cần đưa ra hai đến ba ý chính để có được bài phát biểu thành công. Thậm chí bạn có thể chỉ cần một ý chính trong bài nói của mình nếu bạn muốn.

Hãy nhớ là điều mà khán giả của bạn mong muốn đó là đi về với một hoặc hai điểm chính mà tạo nên sự khác biệt đối với họ. Nếu bạn kết cấu bài nói của mình nhằm truyền tải kết quả này, bạn sẽ tránh được rất nhiều những phức tạp không cần thiết. Điều này cũng khiến cho công việc trở thành người diễn thuyết của bạn dễ dàng và vui hơn.

Nguyên tắc 4: Bạn cũng cần một mục đích phù hợp

Nguyên tắc này rất quan trọng nên hãy lắng nghe. Một sai lầm lớn mà mọi người mắc phải khi họ nói trước công chúng đó là họ có những mục tiêu sai trong đầu. Thông thường, họ không có một mục tiêu gì cụ thể, nhưng nếu có thì mục tiêu trong đầu họ lại vô thức gây ra toàn bộ những căng thẳng không cần thiết.

Đây là một ví dụ chính mà tôi gọi là một “nguyên nhân tiềm ẩn” của sự căng thẳng khi diễn thuyết trước công chúng. Lần đầu tiên khi tôi bắt đầu nói trước đám đông, tôi nghĩ rằng mục đích của tôi là có được sự công nhận của tất cả mọi người về mình. Tôi đã không biết đến một cách có ý thức về mục đích này, và cũng không biết nó ngu ngốc đến thế nào.

Chính vì mục đích tiềm ẩn này, tôi đã nghĩ là tôi cần phải cực kỳ hoàn hảo và sáng chói để có được sự công nhận của khán giả. Nếu chỉ một người trong đám khán giả kia không công nhận, tôi sẽ buồn lắm. Nếu có một người rời khỏi khán phòng sớm, nếu ai đó ngủ gật, nếu ai đó chẳng quan tâm đến những gì tôi đang nói…tôi đã bị đánh bại!

Sau đó, tôi trở nên hiểu được mục đích gây ra stress này, tôi đã có thể nhìn vào nó một cách trung thực và nhận ra nó ngu ngốc đến thế nào. Có bao nhiêu diễn giả có được 100% sự công nhận từ khán giả của họ? Câu trả lời là số 0.

Chắc chắn là trong một nhóm lớn,, sẽ luôn có những quan điểm, đánh giá và phản ứng khác nhau. Có người tích cực, có người tiêu cực. Hãy nhớ là, điều quan trọng của nói chuyện trước công chúng là đem đến cho khán giả của bạn cái gì đó có giá trị. Cho chứ không phải Nhận. Mục đích của nói chuyện trước đám đông không phải là để nhận điều gì đó (sự công nhận, danh tiếng, tôn trọng, doanh số, khách hàng vv…) từ khán giả mà đó là đem đến điều gì đó hữu ích cho khán giả.

Tất nhiên nếu bạn làm tốt thì bạn sẽ có sự nổi tiếng, tôn trọng, doanh số và khách hàng mới. Nhưng đừng để đó là mục đích của bạn. Thể hiện mình, cho mình đi thì hầu như chẳng bao giờ gây stress và lo lắng. Khi tôi nói chuyện trước một nhóm người, tôi tưởng tượng mình đang đưa cho họ 1,000$. Tôi cố gắng đem đến cho họ ít nhất là bằng giá trị đó. Nếu một vài cá nhân trong nhóm “từ chối” món quà này, tôi cũng chẳng lấy đó làm ngạc nhiên.

Nguyên tắc 5: Cách tốt nhất để thành công là không coi mình là diễn giả

Nhiều người trong số chúng ta đã làm méo mó và nói quá về những gì các nhà diễn giả trước công chúng làm. Họ thường giả định rằng để thành công thì chúng ta phải cố gắng rất nhiều để đưa ra những tố chất tuyệt vời nào đó mà chúng ta thiếu. Vì thế mà chúng ta lại học bằng cách bắt chước những diễn giả nổi tiếng. Trong khi sự thật là phần lớn những diễn giả nổi tiếng thành công là nhờ làm ngược lại. Họ không cố gắng trở thành một ai đó khác. Họ chỉ cố gắng thể hiện chính mình trước đám đông.

Khi bạn đã trở nên giỏi trong việc thể hiện mình trước những người khác, bạn thậm chí có thể đứng trước một nhóm người mà không có ý tưởng cụ thể bạn sẽ nêu ra 2, 3 điểm như thế nào. Trong nhiều trường hợp, tôi nói những điều mà trước đây chưa từng nói bao giờ. Chúng cứ tự nhiên xuất hiện một cách bất ngờ khi tôi hòa mình với khán giả. Và bạn biết không? Mọi người thường đến gặp tôi sau đó và nói “Bạn thật tuyệt, tôi ước giá như tôi có can đảm để nói trước đám đông như bạn”. Đó thực sự là một cách nghĩ sai. Đừng cố gắng đưa ra những bài nói theo cách mà tôi làm, hoặc cách mà ai đó làm. Hãy đi tới đó với một chút kiến thức và vài ý chính, và hãy là chính bạn.

Nguyên tắc 6: Sự khiêm tốn và hài hước có thể giúp bạn tiến xa

Khi bạn đã có được phong cách nói chuyện của riêng mình thì có một số kĩ thuật có thể giúp bài nói của bạn hay hơn, đó là sự khiêm tốn và hài hước.

Hài hước giúp bạn thấy thoải mái, và nếu như nó phù hợp với hoàn cảnh của bạn lúc nói, đừng chần chừ gì nữa.

Với sự khiêm tốn, bạn không nên ngần ngại nói ra những điểm yếu của mình, những sai lầm. Chúng ta ai cũng có điểm yếu, và khi bạn đứng trước mọi người và không lo sợ phải thừa nhận những điểm yếu của bạn, bạn tạo ra một không khí an toàn, tình cảm nơi mà mọi người có thể thừa những những yếu điểm của họ.

Khiêm tốn giúp bạn trở nên đáng tin hơn, và được tôn trọng hơn. Cả khiêm tốn lẫn hài hước có thể đi cùng nhau rất hiệu quả. Ví dụ nếu bạn thấy lo lắng khi đứng trước một đám đông, hoặc nếu như bạn thấy lo lắng giữa bài nói, bạn đừng che giấu điều này với khán giả của mình. Hãy thật và khiêm tốn bằng cách thừa nhận nỗi sợ hãi của bạn một cách công khai và trung thực.

Nguyên tắc 7: Khi bạn nói chuyện trước công chúng, không có gì tồi tệ có thể xảy ra

Một điều gây ra nỗi sợ hãi khi nói chuyện trước công chúng là mọi người thường lo lắng điều gì đó khủng khiếp sẽ xảy ra với họ như là trạng thái hồi hộp, quên một điểm nào đó, bị khán giả ghét vv…Tất nhiên, những điều này sẽ là đáng xấu hổ nếu chúng xảy ra. Nhưng trong thực tế phần lớn chúng không xảy ra.

Thậm chí nếu chúng xảy ra thì cần có một chiến lược để biến chúng trở nên hoàn hảo.

Tôi phát hiện ra rằng phần lớn những thứ “tiêu cực” khi tôi nói có thể kiểm soát được bằng cách giữ chúng trở thành nhưng nguyên tắc thật đơn giản, nhưng hiệu quả: mọi thứ xảy ra có thể được sử dụng là điểm lợi thế của tôi.

Ví dụ khi tôi đang nói thì một số người bỏ về. Tôi có thể hỏi họ lí do vì sao họ lại đi? Có điều gì trong cách tôi truyền đạt, hay nội dung khiến họ thấy bị xúc phạm chăng? Nếu như họ thậm chí không đưa ra câu trả lời, tôi cũng có cách để tận dụng điều này. Ví dụ, tôi có thể dùng nó như là lời mở đầu cho bài giới thiệu tiếp theo “Các bạn biết đấy, tôi đã nói về bài này ngày hôm trước và mọi người trong phòng đi ra trong vòng 10 phút đầu. Đó là thành tích hiện tại của tôi, cho nên tôi nghĩ là chúng ta cần phải xem điều gì sẽ xảy ra ngày hôm nay”.

Nguyên tắc 8: Bạn không phải kiểm soát thái độ của khán giả

Mà ngược lại, điều bạn cần kiểm soát đó là suy nghĩ của bạn, sự chuẩn bị, các thiết bị hỗ trợ nghe nhìn, căn phòng được bài trí thế nào. Hãy đừng để ý nếu như khán giả của bạn có ngồi đọc báo và tỏ ra không chú ý đến bài nói của bạn. Suy nghĩ cần phải thay đổi hoặc kiểm soát những người khác là nguyên nhân tiềm ẩn của stress trong mọi mặt của cuộc sống. Nó không chỉ đúng trong một nhóm mà còn đúng cho bạn bè, vợ chồng, con cái và những người quen của bạn.

Nguyên tắc 9: Nói chung, bạn càng chuẩn bị nhiều thì bạn làm càng tệ

Chuẩn bị kĩ là rất tốt khi xuất hiện trước đám đông. Tuy vậy, bạn chuẩn bị thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho nó là chuyện hoàn toàn khác. Điều quan trọng là nếu bạn hiểu rõ vấn đề mình định nói hoặc đã nói nhiều lần trước đó rồi, thì bạn chỉ cần vài phút để chuẩn bị thôi. Việc chuẩn bị quá kĩ lưỡng thường có nghĩa là bạn không hiểu rõ vấn đề hoặc nếu bạn hiểu rõ vấn đề, nhưng bạn lại không cảm thấy tự tin về khả năng nói ra trước đám đông. Đối với trường hợp đầu, bạn cần phải nghiên cứu thêm. Đối với trường hợp thứ hai, bạn cần phát triển niềm tin vào khả năng nói thành công của bản thân. Bạn có thể rèn luyện bằng cách tận dụng mọi cơ hội để nói trước một nhóm người nào đó.

Nguyên tắc 10: Khán giả của bạn thực sự muốn bạn thành công

Thực tế là nhiều người cũng có nỗi sợ hãi nói trước công chúng nên họ rất hiểu hoàn cảnh của bạn. Họ sẽ sẵn sàng tha thứ cho bạn nếu như bạn có mắc lỗi. Và họ ngưỡng mộ sự dũng cảm của bạn, họ sẽ luôn ủng hộ bạn dù có điều gì xảy ra đi nữa. Đôi khi một lỗi xảy ra bạn nghĩ rằng nó lớn nhưng khán giả không đánh giá như vậy. Vì thế hãy luôn nhắc nhở mình điều này khi bạn nghĩ là bạn đã làm rất tệ.

~ Hoàng Khánh Hòa, lược dịch

Theo How To Conquer Public Speaking Fear, Morton C. Orman

Đầu năm mở bút: Đặt nền móng cường thịnh

Chào các bạn,

Tết nhà ta có tục đầu năm khai bút, mình gọi là đầu năm mở bút, tưởng tượng đến bút máy mực (fountain pen) có nắp đậy, phải mở nắp mới viết được. Nếu là bút nguyên tử (ballpoint pen), thì phải là đầu năm bấm bút. Nếu nói theo người miền nam, thì phải là đầu năm mở viết hay đầu năm bấm viết. Và vào thời @ thì lại là đầu năm mở computer, hay đầu năm mở máy. Nói thế để phong phú hóa tiếng Việt, thêm vài từ mới cho một chuyện cũ. 🙂

Nhưng, dù viết là chuyện cũ, thì điều gì viết đầu năm cũng thường là chuyện mới. 🙂  Nhân dịp đầu năm mình muốn chia sẻ với các bạn một điều có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy và hành xử của mình trong nhiều năm nay. Đó là: Chúng ta phải đặt nền móng để Việt Nam trở thành cường quốc trên thế giới.

Tại sao phải thành cường quốc? Continue reading Đầu năm mở bút: Đặt nền móng cường thịnh

Thấy đường trong cơn bão

Chào các bạn,

Tiếng Anh có câu “Mind over matter” tạm dịch là “tâm trí chỉ huy vậy chất”, tức là tâm trí của ta có sức mạnh chuyển hóa thế giới vật chất quanh ta. Điều này thì mọi người chúng ta đều đã có kinh nghiệm không ít thì nhiều. Ta đã thấy có những người đi đến đâu thì nơi đó có an bình, có người đi đến đâu thì nơi đó có sức mạnh, có người đi đến đâu thì nơi đó có tiếng cười… Thái độ của một người luôn luôn ảnh hưởng và chuyển hóa môi trường chung quanh người đó. Mà nói đến “thái độ” là nói đến “tâm” ta, vì thái độ đi từ trong tâm biểu hiện ta ngoài.

Một anh bạn mục sư thâm niên đã có lần nói với mình: “Thật là lạ thường khi ta cầu nguyện. Khi có vấn đề ta cầu nguyện, nó chẳng ăn nhập gì đến vấn đề. Mọi sự vẫn y như là trước khi ta cầu nguyện. Nhưng sự cầu nguyện ảnh hưởng đến cái nhìn của ta, sau khi cầu nguyện xong, ta nhìn vấn đề một cách hoàn toàn khác, và vấn đề đó trở thành dễ giải quyết hơn rất nhiều.” Nói được như vậy là người đã có rất nhiều kinh nghiệm với cầu nguyện thật sự.

Thiền thì cũng tương tự. Nếu một người đang bị khủng hoảng, thiền định để định tâm bình tĩnh trở lại, thì cơn bão đang đi qua đời anh ta vài phút trước đây có thể bỗng nhiên trở thành cơn gió thoảng mùa xuân.

Đây là điều quan trọng trong khoa học lãnh đạo. Vì nếu lãnh đạo có được đức bình tĩnh mọi nơi mọi lúc, thì các khó khăn lớn cũng thành nhỏ. Lãnh đạo lính qu‎ýnh thì chuyện nhỏ thành lớn.

Người ta hay dùng từ bão tố để nói đến những khủng hoảng của con người—cá nhân hay xã hội. Sở dĩ thế vì bão tố làm cho mọi chuyện đổ vỡ, mất trật tự, hỗn loạn, đầu óc mù mờ chẳng biết điều gì đang xảy ra và sắp xảy ra, hiểm nguy rình rập… Nói chung là bão tố thì nhiều nguy hiểm và nhiều cái ta không biết được…—tức là ta đối diện với “cái sợ” và cái “u mê” của ta trong cơn bão.

Sợ và u mê làm ta không thấy đường. Cách duy nhất là ta phải hết sợ (không sợ) và có khả năng nhìn xuyên mọi hỗn loạn để thấy con đường.

Tĩnh lặng tâm trí để thấy đường trong những hỗn loạn hàng ngày, để không hề sợ hãi, đó là mind over matter.

Đa số các khóa học gọi là “giáo dục lãnh đạo” ngày nay, thật ra chỉ là các kỹ năng quản l‎ý, như nói chuyện trước đám đông, lập chương trình làm việc v.v…‎ Đó là quản lý.

Và các rất nhiều lãnh đạo thời nay cũng chỉ là các nhân viên cao cấp với các kỹ năng nhân viên cao cấp. Gần đây chúng ta đã nghe tin bao nhiêu “lãnh đạo” lớn, ngay cả cựu tổng thống, tổng giám đốc công ty xuyên quốc gia… gặp khủng hoảng là… tự tử. Trời! Các “ông lớn” không biểu hiện được một tí tính anh hùng vả khả năng chịu khó nào cả. Có khả năng làm tổng thống, làm tổng giám đốc, thì có khả năng chịu khó khăn, chịu nghèo đói, chịu nhục nhã, chịu chưởi bới, chịu ở tù… Làm gì mà…!

Người tĩnh lặng không biết sợ, không biết nhục, không biết hèn… người tĩnh lặng có thể chỉ nói “Vậy à” trong tất cả mọi tình huống.

Lãnh đạo là dẫn đường. Dẫn đường thì phải thấy đường.

Trong một thế giới nhiều hỗn loạn hàng ngày bởi các biến động kinh tế và chính trị thế giới, bởi các trào lưu tư tưởng xã hội đối chọi nhau tạo thành những cơn bão tư tưởng thường xuyên, bởi các vấn đề gai góc về giáo dục, tôn giáo, chủng tộc… gia tăng với vận tốc Internet, người lãnh đạo cần đủ khả năng nhìn xuyên bão mỗi ngày.

Ngày nay chúng ta không có xa xỉ phẩm dùng lãnh đạo chỉ có kỹ năng quản lý. Ngày nay chúng ta phải dùng quản lý có khả năng lãnh đạo.

Và thế hệ trẻ, thế hệ sinh viên và chuyên gia trẻ, không thể chỉ lo chúi đầu học kỹ thuật mà không chăm lo rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo. Các đại học cũng như các lớp tu nghiệp cho chuyên gia chẳng dạy các bạn các điều này. Nếu có thì cũng chỉ là gãi ngoài da, chẳng thấm bén gì hết. Cho nên mỗi người chúng ta phải tự tìm thầy, tự tìm sách, tự luyện tập.

Và có lẽ là việc luyện tập cũng không khó mấy nếu chúng ta bắt đầu tập “Vậy à” trong mọi tình huống (ngoại trừ khi dạy hoc trò hay cấp dưới—thầy phải nói điều thầy phải nói).

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Vô Tâm

Chào các bạn,

Vô tâm là đích điểm của Thiền tập. Vô tâm, hay “tâm không”, là một tâm trí không vướng mắc, hoàn toàn tự do. Một ví dụ rất nổi tiếng về vô tâm là chuyện thiền sư Tanzan ẳm cô gái đẹp qua vũng bùn mà lòng chẳng một ly vướng bận trước, trong khi, và sau khi ẳm.

Vô tâm cũng là tâm điểm của võ thuật và các môn nghệ thuật khác. Và là cách sống mà hàng triệu thiền sinh hiện nay, dù là ở chùa hay ở nhà, vẫn cố gắng mỗi ngày để đạt.

Nhưng vô tâm nói thì dễ, làm thì cực kỳ khó khăn.

Mỗi tâm trí chúng ta là một máy computer, với hàng trăm ngàn thước “dây” thần kinh nối lại trong một guồng máy cực kỳ phức tạp. Guồng máy đó là cốt tủy của tâm ta. Bây giờ đổi nó thành “tâm không” thì cũng như là vứt bỏ tất cả các dây thần kinh đó hết để tâm thành “không”, vậy thì còn gì là bộ máy nữa? Nói thế để chúng ta hiểu được khó khăn của vấn đề.

Đây là vấn đề quan trọng, bởi vi nếu mỗi người chúng ta không giải phóng được tư tưởng của mình, cứ bị cầm tù mãi trong giàn máy tư duy của mình, thì đất nước sẽ không bao giờ cất cánh.

Hãy xem xét câu này: “Anh chàng Sơn nói câu này thiếu luận lý quá. Dốt chịu không được.”

Câu “Anh chàng Sơn nói câu này thiếu luân lý quá” chính là “thấy sự việc như nó là” (seeing thing as it is) (nếu thực sự là anh Sơn thiếu khoa học luận lý).

Câu “dốt không chịu được” là “có tâm”, tức là đưa phán đoán của mình vào.

“Có tâm” thường làm cho mình bị mù mờ tâm trí, vì cái nhìn của mình bị sai lạc và thường chết yểu, không đi sâu được vào sự thật. Chẳng hạn, câu nói thiếu luận lý mình vừa nghe có thể là không dốt tí nào, mà có thể là một sự thật sâu thẳm vượt cao hơn luận lý đến mấy tầng.

Ví dụ câu “Thượng đế là tình yêu.” Câu này thì chẳng luận lý một tí nào cả, nhưng nếu bạn tin vào một “người” có tên là Thượng đế thì câu này là một câu thần học đúng. Nếu bạn là một triết gia dùng từ “Thượng đế” như là một sức mạnh tuyệt đối đến từ tình yêu của con người, có thể nối kết tất cả con người lại với nhau và giúp con người cùng đi lên trong thế giới này, thì nó cũng đúng. Hoặc nếu bạn là một thi sĩ, nhìn “Thượng đế” như là nguồn cảm xúc vô tận của trái tim con người, thì câu đó cũng đúng. Cho nên cái nhìn “có tâm”, bị cản trở bởi thành kiến và giới hạn nhỏ bé của kiến thức có sẵn của ta, thường là nguồn gốc của si mê và dốt nát.

Cái nhìn “thấy sự việc như nó là” là cái nhìn “vô tâm”. Đó là cái nhìn giải phóng, của một tâm trí tự do, không bị tù ngục trong những thói quen phán đoán, suy luận, suy diễn, hay kết luận của ta.

Cho nên người “vô tâm” nhìn một chuyện xảy ra trước mắt, có thể thấy sâu hơn người khác “có tâm” đến mấy tầng, trong kinh tế, trong chính trị, trong quản lý, trong giáo dục…

Tuy nhiên, từ “vô tâm” thường làm cho người thiếu căn cơ không hiểu được, vì “tôi chẳng có cách nào để làm tâm tôi thành ‘tâm không’ như thầy nói được cả.” Vậy thì chúng ta sẽ dùng một từ khác dễ hiểu hơn và dễ thực hành hơn.

Nếu trở lại chuyện của thiền sư Tanzan ẳm cô gái qua đường—lúc ẳm cô gái thiền sư chẳng có “tâm” gì cả, ngọai trừ phải chú tâm vào một chuyện—ẳm và đi cách nào cho tốt nhất. Chú tâm hòan tòan vào một việc duy nhất mình đang làm, gọi là “chánh niệm”. Và đó cũng là “vô tâm”, vì tâm trí chỉ tập trung vào một việc phải làm mà không bị vướng bận vào những tư duy vụn vặt tù túng khác.

Ví dụ: Ta thấy một tư tưởng hay, muốn viết một bài gởi đăng trên ĐCN để chia sẻ với các bạn. Thì tập trung tư tưởng vào việc “viết bài để chia sẻ với các bạn”, và không để các “tâm” sau đây chi phối:

– Các bạn sẽ cho rằng mình thông thái không?
– Hay là chê mình dốt?
– Hay là nói mình khoe tài?
– Hay là nói mình có mưu đồ chính trị?
– Hay là nói mình giảng đạo?
– Hay là nói mình đạo đức giả?
– Hay là nói mình cổ hủ?

Và vài chục cái tâm “hay là” như thế nữa.

Ví dụ viết là ví dụ khó, vì thực ra khi viết mình vẫn phải để ý đến các “hay là” bên trên, vì viết cho đám đông thì mình cần cố gắng để mọi người khỏi hiểu lầm ý mình. Nhưng tất cả các “hay là” đó chỉ là những điều nên để ý trong “kỹ thuật viết” để trình bày thế nào cho độc giả hiểu đúng ý mình càng nhiều càng tốt, chứ không có một cái “hay là” nào là động lực để mình viết (hay để bỏ cuộc không viết).

Khi “viết để chia sẻ” là chỉ tập trung tâm trí vào việc “viết để chia sẻ”, mà không bị các ham muốn hay lo sợ nào chi phối. Đó là “viết chánh niệm”, là một thực hành của vô tâm.

Ăn thì tập trung vào việc nhai và thưởng thức từng vị ngon của bữa ăn (mà đừng nghĩ đến ông chồng mình đang đi với ai 🙂 ).

Khiêu vũ thì tập trung vào việc thường thức nhịp nhạc và bước đi của mình (và không cần phải lo là ai chê mình nhảy dở hay khen mình là vũ sư).

Làm việc nhóm thì tập trung vào làm việc của mình và quan sát các người khác trong nhóm để cùng di chuyển đồng điệu mà không phải nói nhiều hay hiểu lầm nhau (và không làm “chính trị văn phòng”—office politics—tức là cạnh tranh ganh tị lặt vặt ta thường thấy trong các nhóm).

Cho một người hành khất vài đồng, thì cho (và đừng quan tâm là ông này có đang giả vờ để quỵt mình không. Nếu lo bị quỵt thì đừng cho, đã cho thì không lo).

Thấy chuyện sai cần phải nói cho người khác biết, thì nói (và đừng lo hậu quả. Nếu lo thì đừng nói).

Và khi đã xong thì xong: Tranh luận xong, đừng ấm ức; tập trung tâm trí vào việc khác. Người đã làm sai với mình, xong chuyện là xong; không để tâm phán đóan. Vợ chồng cãi nhau, xong là xong, tập trung tâm trí thưởng thức bửa ăn tối với nhau. Mỗi lúc làm chỉ một chuyện. Xong là xong.

Tập cho guồng máy tâm trí của mình “chỉ tập trung vào làm một chuyện một lúc” mà không có tư tưởng lắt nhắt nào xía vào, đó là “chánh niệm”, và người sống chánh niệm thì đương nhiên là vô tâm, vì nếu ăn chánh niệm, ngủ chánh niệm, làm việc chánh niệm, đi chánh niệm… cả ngày như thế thì lấy đâu còn tâm trí để cho các tư duy lăng nhăng khác xía vào.

Nếu ta tập được khả năng “thấy mọi sự như nó là” (seeing everything as it is), không bị các tâm lăng nhăng xía vào, ta có thể hiểu được mình và những người chung quanh sâu hơn người bình thường mấy tầng, và thấy được các hiện tượng kinh tế, chính trị, giáo dục, xã hội của quốc gia sâu hơn những người khác mấy tầng.

Đó là đưa mình và đưa đất nước đi lên.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tự do đầu tiên và cuối cùng, Tâm trí tự do.

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Teamwork – Thăm lại

Chào các bạn,

Chúng ta đã nói đến teamwork trước đây. Hôm nay, nhân dịp vừa nói về tự ái vặt, chúng ta viếng thăm lại vấn đề teamwork là vấn đề liên hệ trực tiếp đến tự ái vặt. Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng cho đất nước. Mọi người Việt Nam chúng ta đều nói câu, “Một người Việt thì hơn 3 người Nhật, nhưng 3 người Việt thì thua 3 người Nhật.” So với các nước tiền tiến, teamwork của ta dở đến mức sốc.

Ta phải hỏi tại sao đã mấy ngàn năm văn hiến, chúng ta vẫn lẹt đẹt dưới đáy thế giới. Câu trả lời rất giản dị–Vì chúng ta không biết làm việc cùng nhau để đưa nhau lên.

Nếu chúng ta có học đến 100 lớp quản trị về làm việc nhóm, ta cũng chẳng giải guyết được gì cả, vì vấn đề teamwork nằm trong cách sống và suy nghĩ hàng ngày của ta, chứ không phải là một vấn đề kỹ thuật. Teamwork không là kỹ năng, mà là thái độ. Một team căn bản nhất ta thường thấy là team vợ chồng. Vợ chồng sống chung với nhau là thái độ, kỹ năng là chuyện nhỏ. Thái độ đúng sinh ra kỹ năng đúng.

Và vấn đề teamwork của Việt Nam sẽ không giải quyết được, cho đến khi ta học loại bỏ những hư danh hão huyền mà ta gọi là sĩ diện, hay cái tôi. Giản dị thế thôi.

Quan sát một team người Việt thông thường, ta thấy có đến hàng nghìn vấn đề chứ đừng nói là hàng trăm. Không thể kể hết được. Cho nên kể vấn đề ra để tìm cách giải quyết cũng vô ích. Các vấn đề đó xảy ra thường xuyên, hàng ngày, dưới vô lượng hình thức, từ thái độ tiêu cực của chúng ta. Chỉ có cách sống tích cực mới chấm dứt được vấn đề.

Đây là một vài ví dụ trong trăm ngàn thí dụ về lý do trong đầu của một nhóm viên để chàng/nàng có thể phàn nàn:

. Team leader không nghe theo lời mình.
. Team leader không hỏi ‎ kiến mình trước khi quyết định.
. Team leader nghe theo ý kiến người khác trong team.
. Team leader hay team mate chỉnh mình.
. Team leader nói năng không lễ độ với mình.
. Team leader kiêu căng.
. Họp trước cả nhóm thì chàng/nàng không nói gì; về nhà kêu điện thoại nói chuyện lẻ để đàm tiếu sau lưng.
. Không đồng ý ‎ với quyết định của leader hoặc của cả nhóm.
. Team leader hay team mate nói một câu gì đó, chàng/nàng liền diễn giải theo cách của mình (dù là câu nói của người kia rất rõ).
. Team leader ngồi mát ăn bát vàng.
. Mình làm gần chết nhưng chẳng có công cán gì cả.
. Hướng mình hay hơn, nên vận động mọi người âm thầm để nhóm đi theo hướng mình.
. Trong nhóm này mình không phát huy được gì hết.
. Làm âm thầm không cho ai biết mình đang làm gì, vậy tự do hơn.
. Không thích copy (cc) team leader các email mình gởi đi.
. Thích tranh cãi.

Và còn cả trăm vấn đề khác nữa. Nếu các bạn cho rằng ta nên nghiên cứu danh sách trên, nghiên cứu mỗi vấn đề, và tìm ra giải pháp cho từng vấn đề một, thì các bạn chưa hiểu gì về vấn đề teamwork của Viêt Nam.

Chúng ta không có một hai vấn đề kỹ thuật để giải quyết. Chúng ta có vấn đề thái độ khi làm việc chung với nhau, và vấn đề căn bản đó đẻ ra vô lượng vô biên vấn đề kỹ thuật, không thể giải qu‎yết được nếu ta không giải quyết vấn đề thái độ.

Vấn đề teamwork rất đơn giản: Mỗi người trong team làm việc của mình. Và không suy đoán lăng nhăng hay tự ái lăng nhăng. Leader làm quyết định. Và cái tôi không có chỗ đứng trong nhóm.

Làm việc trong một team người Mỹ chẳng hạn, rất giản dị. Ví dụ: Một leader mời môt người khác vào team để giúp mình trong một công việc nào đó, nếu người kia đồng ý thì câu trả lời thường là: “OK, I’ll work with you. Tell me what to do. When I cannot do it, I will let you know.” (Được rồi, tôi sẽ làm việc với anh. Cứ bảo tôi việc gì phải làm. Việc gì làm không được, tôi sẽ cho anh biết”).

Và đó là quy luật căn bản nhất và hầu như là duy nhất cho team. Mọi phương cách làm việc là trách nhiệm của leader. Và hầu như chẳng mấy khi ta nghe các việc tự ái vặt xảy ra. Vấn đề nhóm ở Mỹ thường là communication, khi người nói ‎thì nói ý này nhưng người nghe thì nghe ý khác. Hàng trăm vấn đề tự ái vặt và cái tôi của người Việt hầu như cực kỳ ít xảy ra trong một nhóm người Mỹ.

Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài ta cũng thấy những chuyện cãi nhau như con nít và rất tức cười hàng ngày.

Nếu chúng ta không thấy các điều này, và không học làm việc nhóm như là một đội bóng chỉ biết đá bóng và chuyền bóng vào gôn, mà không có thời giờ đế suy đoán, tự ái, và gây gổ lăng nhăng, thì ta còn ở dưới đáy thế giới nhiều niên đại nữa.

Các bạn sinh viên du học có lẽ hiểu và thấm rất rõ từng chữ mình viết trong bài này. Mong các bạn quan tâm đặc biệt đến việc tạo ra một cách mạng trong tư duy và thái độ làm việc nhóm của người Việt ta, bằng cách thực hành khả năng làm việc nhóm superb các bạn học được ở nước ngoài để mọi người cùng thấy và học theo. Ta không thể ngồi nói 100 năm nữa mà vấn đề biến mất.

Mình nhắc lại điều căn bản này: Trong một team của Việt Nam bạn có thể thấy hàng trăm vấn đề khó chịu. 99.99% các vấn đề này không có thật mà chỉ đẻ ra từ tư duy của bạn. Bạn có thể thông thái đủ để thấy căn nguyên của 99.99% vấn đề đó không? Và đủ can đảm để xóa sổ hết 99.99% đó trong tư duy của bạn không. Đó sẽ là cuộc cách mạnh ảnh hưởng cực kỳ lớn đến tương lai đất nước, đến nỗi bạn cũng không mường tượng được nó lớn đến mực nào.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Làm việc nhóm: Bách chiến bách thắng

Chào các bạn,

Có lẽ đến giờ này các bạn đã nghe nhiều lần, không cách này thì cách khác, rằng người Việt chúng ta rất yếu về làm việc nhóm (teamwork). Hồi nhỏ mình học nhu đạo tại trường Nhu Đạo Quang Trung, khu Đa Kao, Sài Gòn, do thượng tọa Thích Tâm Giác sáng lập. Thượng tọa đã học nhu đạo từ bên Nhật về. Có một lần thượng tọa nói với các võ sinh: “Một người Việt thì thông minh hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt thì không bằng ba người Nhật.” Theo mình nhận xét, câu nói này đúng khi so sánh chúng ta với nhiều dân tộc khác trên thế giới.

Hôm nay chúng ta sẽ bàn về làm việc nhóm vậy.

1. Thái độ tư duy

Điều nền tảng nhất trong làm việc nhóm là tư duy của mỗi người về nhóm. Tư duy đúng, ta làm việc tốt; tư duy sai, ta làm việc tồi.

“Nhóm” không phải chỉ là vài người tụ lại. Đặt bốn người đứng sát nhau, họ không thể thành nhóm, cho đến khi họ quyết định là “chúng ta là một nhóm.” Ngay khi phút giây quyết định đó được làm, một người thứ năm ra đời, đó là “nhóm.”

Nhóm là một thực thể, một con người biệt lập, và mỗi thành viên chỉ là một bộ phận—một cánh tay, một cái chân—của nhóm.

Và tay với chân thì không cãi nhau, không tranh công nhau, không ghen tị nhau, không tranh dành chức vị nhau… Ngược lại tay chân luôn luôn gần gũi và làm việc nhịp nhàng với nhau. Đây chính là thái độ tư duy về làm việc nhóm.

Nghĩa là, khi nghĩ đến nhóm, “cái tôi”, “cái cá nhân” của mỗi chúng ta phải biến mất. Ta không nói chuyện với nhau như những cái tôi biệt lập, mà chỉ như là những cơ phận của nhóm. Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Và cũng chính điều này quyết định ta có được một nhóm tốt hay không.

Đây là vấn đề lập trình cái đầu của mình—đến cửa nhóm là “cái tôi” bị tắt và “bộ phận nhóm” được mở. Nếu chúng ta không được lập trình tốt trong đầu như thế, ta có vấn đề lớn.

Chúng ta hãy quan sát một đội bóng trên sân bóng: Mỗi vận động viên không nghĩ đến mình, chỉ nghĩ đến đội, mục đích chiến thắng của đội, chiến lược của đội, và làm thế nào để phối hợp với các vận động viên khác để đưa đến chiến thắng. “Cái tôi” không có chỗ đứng trên sân cỏ.

Tóm lại, khả năng triệt tiêu “cái tôi” khi làm việc nhóm là khả năng nền tảng nhất để một người có thể có được thái độ tư duy đúng về làm việc nhóm và có thể làm việc nhóm giỏi.

II. Phối hợp và trật tự nhóm

Sau khi có được tư duy đúng về làm việc nhóm, chúng ta có thể nói đến một số kỹ năng căn bản đề nhóm có thể hoạt động tốt. Ở đây chúng ta nói đến “phối hợp và trật tự” vì hai ý‎ niệm này không thể tách rời nhau.

Hãy quan sát một nghệ sĩ piano, tay trái đi dòng bass và một hai dòng nhạc thấp, tay phải đi một hai dòng nhạc cao, chân thì đạp pedal. Tay, chân, tai, và mắt phải phối hợp rất nhịp nhàng. Để phối hợp được thế ta phải có một trật tự làm việc—tay nào làm gì trước, tay nào làm gì sau… không thể tự động muốn làm gì thì làm.

Để phối hợp và trật tự tốt, chúng ta cần tuân thủ các quy tắc sau:

1. Lãnh đạo nhóm: Mỗi người phải có một cái đầu, và chỉ một cái đầu. Mỗi nhóm phải có một người lãnh đạo, và chỉ một người lãnh đạo. Người lãnh đạo có thể trở thành lãnh đạo bằng nhiều cách: Các thành viên bầu lên, được cấp trên bổ nhiệm, hay tự động làm lãnh đạo (thường thấy trong các tổ chức thiện nguyện khi một người khởi xướng và các người khác ủng hộ giúp một tay). Dù là thành lãnh đạo qua cách nào, người lãnh đạo phải:

Có trách nhiệm và quyền hành để làm các quyết định cho nhóm: Tức là, không được “bán cái”. Nếu người lãnh đạo gọi các thành viên biểu quyết về một vấn đề để làm quyết định theo số đông, thì đó vẫn là quyết định của người lãnh đạo và anh ta phải chịu trách nhiệm về quyết định đó, và không thể nói “Ê, đây là quyết định của mọi người, sao lại phàn nàn với tôi?”

Chịu trách nhiệm về hậu quả của các quyết định cho nhóm.

2. Quyền hạn và trách nhiệm đóng góp ‎ý kiến sáng tạo của mọi nhóm viên: Mỗi nhóm viên có nhiệm vụ đóng góp ý kiến sáng tạo vào nhóm, dù có được hỏi hay không. Trách nhiệm đóng góp là trách nhiệm tự nhiên, không cần phải đợi hỏi. Cho nên nếu một nhóm viên thấy vấn đế gì đó cần giải quyết, hoặc một phương thức làm việc có thể tốt hơn… thì phải cho các nhóm viên khác, nhất là lãnh đạo nhóm, biết.

Nhưng, đóng góp ‎ý kiến là quyền và nhiệm vụ của nhóm viên, còn quyết định là quyền và nhiệm vụ của trưởng nhóm. Mình cứ làm việc đóng góp của mình, và để trưởng nhóm làm nhiệm vụ quyết định của anh ta. Nếu anh ta quyết định không sử dụng ‎ý kiến của mình thì đừng tự ái vặt và chê bai anh ta là người dốt—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

3. Tuân thủ hết lòng mục tiêu và quyết định của nhóm. Khi trưởng nhóm đã quyết định, dù đó là quyết định ngược với ý‎ kiến của mình, thì vẫn hăng hái vui vẻ thi hành các quyết định đó như là quyết định của chính mình vậy—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

Nếu bạn khuyến cáo là nhà sẽ cháy, nhưng trưởng nhóm không nghe lời bạn, thì đừng về nhà cầu nguyện hàng đêm để điều mình tiên đoán thành sự thật. 🙂 Và cũng cứ chuẩn bị sẵn tinh thần, nếu nhà có cháy thật thì bạn sẽ tiếp cứu. Đừng hành động lổ mãng theo kiểu “Tui đã nói trước rồi, không nghe tui, bây giờ cháy nhà tui ngồi xem cho sướng mắt”—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

4. Thông tin tốt: Tiếng Anh có từ “communication” rất hay. Communicate là nói chuyện, trao đổi, thư từ, họp hành…. nói chung là tất cả mọi cách để mọi người đều có nhiều thông tin, đều am hiểu mọi vấn đề, và đều hiểu nhau.

Căn bản của thông tin là hai chiều: Nói cho mọi người nghe, và nghe mọi người nói.

Về thực hành thì điều này có nghĩa là, người trong nhóm nên nói chuyện thường xuyên với nhau, qua họp hành, email chung gởi đến mọi người, uống cà phê, tán gẫu ngoài hành lang… Thông tin đa chiều càng nhiều, nhóm càng làm việc giỏi…

Đừng làm việc gì gây ra “ngạc nhiên”, tức là làm xong rồi, trưởng nhóm hay các người khác trong nhóm phải hỏi, “Ủa, sao anh làm vậy?”

Đừng bắt nhóm đứng trước việc đã rồi, tức là cứ lẳng lặng quyết định làm một mình, làm trước báo cáo sau. Chúng ta không ở trên chiến trường sống chết trong giây phút để phải quyết định tức thì. Nếu có thời gian thì bàn qua với mọi người, nhất là lãnh đạo nhóm, một tí.—Không có ngạc nhiên.

5. Làm việc nhóm luôn luôn chậm hơn làm một mình: Vì ta không thể quyết định một mình và cần bàn lại với mọi người. Con voi thì nhất định phải chậm hơn con khỉ. Nhưng voi thì mạnh hơn. Kiên nhẫn một tí cho sức mạnh.

6. Trung thành: Nếu cả nhóm bị phàn nàn và chống đối, đừng nói: “Tui đã nói trước rồi. Mấy người đó, không ai thèm nghe.”

Kẻ sĩ đứng cùng chiến hữu trong chiến thắng lẫn trong thất bại.

Bây giờ, suy lại câu nói lúc đầu, “Một người Việt thì hay hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt thì không bằng ba người Nhật.” Câu này chỉ đúng trong thời bình. Trong thời chiến tranh, người Việt rất giỏi teamwork, đánh đâu thắng đó.

Tại sao?

Tại vì trong chiến tranh ta cận kề cái chết, chỉ phải lo sống hoặc chết, và quốc gia thắng hay thua, “cái tôi” chẳng hiện diện một tí nào trong suy tư của ta cả.

Cho nên nói rằng người Việt chúng ta làm việc nhóm tồi, thì chỉ đúng một nửa. Hãy mang khả năng làm việc nhóm bách chiến bách thắng trong chiến tranh của ta vào thời bình—dẹp cái tôi, chỉ vì sự nghiệp của nhóm, của thành phố, của quốc gia, của dân tộc…

Dân Việt ta có khả năng bách chiến bách thắng—thời chiến cũng như thời bình. Ta đừng bao giờ quên điều đó.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Lệ thuộc hỗ tương

Chào các bạn,

Dù chúng ta có bao giờ nghĩ đến hay nói đến cụm từ “lệ thuộc hỗ tương” (interdependence) thì chúng ta vẫn đang sống trong một thế giới lệ thuộc hỗ tương, tức là mọi người, mọi quốc gia lệ thuộc lẫn nhau.

Trên phương diện kinh tế chính trị quốc tế, chúng ta đã quen với từ “toàn cầu hóa”. Người ở Mỹ, dùng chén bát từ Trung Quốc, máy chụp ảnh của Nhật, computers chỉ với Intel chip may ra là của Mỹ còn tất cả các cơ phận khác đều sản xuất từ Á Châu… Cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu vừa qua cho thấy khủng hoảng bắt đầu từ Mỹ đã lập tức lan ra khắp thế giới. Nói chung là vận mệnh các quốc gia ngày nay lệ thuộc vào nhau rất nhiều. Mô hình một hai quốc gia lớn đi chinh phục và thôn tính các nước nhỏ khắp nơi của ngày xưa, ngày nay không còn đứng vững nữa.

Bên cạnh thương mại và kinh tế xuyên quốc gia, AIDS, cúm gia cầm, cúm lợn, và có lẽ là tất cả mọi loại bệnh hay lây khác, cũng là vấn đề xuyên quốc gia. Khủng bố cũng là vấn đề xuyên quốc gia. Nguy cơ chiến tranh nguyên tử là vấn đề xuyên quốc gia. Sự tăng địa nhiệt và thay đổi khí hậu là vấn đề xuyên quốc gia.

Ngày nay, chẳng có vấn đề gì của một quốc gia mà lại không ảnh hưởng đến các quốc iga khác không ít thì nhiều. Vì vậy, “lệ thuộc hỗ tương” trở thành khái niệm quản lý căn bản trong chính trị cũng như kinh tế.

Và, trong đời sống của mỗi cá nhân.

Cách đây không lâu lắm, trong thập niên 60, 70 và 80, người ta chỉ nói đến “độc lập” và “tôi”– “Tôi, của tôi, và cho tôi” là trung tâm của vũ trụ. Ngày nay, sau 3 thập niên “tôi”, người ta khám phá ra rằng đó là cách sống ích kỷ, không thực tế, và không hiệu lực. Thế hệ “tôi” hippy của thập niên 60, ngày nay đã lớn tuổi và học được rất nhanh là họ không thể sống một mình mà phải lệ thuộc vào con cháu, viện dưỡng lão, hay ai đó. Và thế hệ “tôi” thay đổi tư tưởng thành thế hệ “lệ thuộc hỗ tương.”

Nhưng đây không phải là điều gì mới lạ. Người đông phương, cho đến ngày nay vẫn sống lệ thuộc hỗ tương giữa các thành viên trong gia đình, và văn hóa “tôi” chưa bao giờ thực sự mạnh ở đông phương. Trong vòng mấy ngàn năm nay, lệ thuộc hỗ tương là một phần đương nhiên của văn hóa Phật giáo, trong đó tất cả mọi loài mọi thứ mọi điều trong vũ trụ là Một, liên hệ cực kỳ chặt chẻ với nhau—một tiếng gảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.

Điều này, trên phương diện luận ‎lý, chẳng có gì là khó hiểu. Trong một hồ nước vĩ đại, một con cá chết đầu này hồ có thể ảnh hưởng đến mọi con cá khác trong hồ, cho đến tận đầu kia của hồ, nếu con cá vừa chết đã chết vì một bệnh dịch nào đó. Trong Thái dương hệ, nếu một hành tinh nào đó, Mars chẳng hạn, nổ tung thì đương nhiên là mọi hành tinh khác đều bị hỗn loạn đường bay, có khi văng luôn ra khỏi Thái dương hệ không biết chừng. Một thiên hà nào đó gần Ngân Hà nổ tung, chắc là Ngân Hà và trái đất sẽ bị hỗn loạn cực kỳ, nổ tung theo không biết chừng…

“Lệ thuộc hỗ tương” là lẽ tất nhiên của vũ trụ và đời sống. Nhưng trong đời sống của chúng ta, chúng ta có hiểu rõ lý lẽ này, và có dùng nó như là nguyên lý sống hay không?

• Lệ thuộc hỗ tương có nghĩa là cho người khác lệ thuộc ta, cộng tác với người khác, giúp đở người khác, lo lắng và săn sóc người khác, quan tâm đến an nguy và thành công của người khác, đưa vai cho người mệt mỏi tựa vào mình…

• Nhưng quan trọng hơn nữa, lệ thuộc hỗ tương là nhận sự cộng tác, sự giúp đở, của người khác. Gõ cửa người khác nhờ giúp sức khi cần. Khiêm tốn nhờ người khác giúp đở. Hỏi sự giúp đở của người khác là một hành động khiêm tốn. Người nhiều kiêu hãnh và tự ái vặt sẽ nói, “Tôi giúp người khác thì được, nhưng tôi không muốn nhận sự giúp đở của người khác.” Sự thật thì, đối với đa số chúng ta, giúp đở người khác dễ hơn nhờ người khác giúp đở mình, vì… cái tôi luôn luôn đứng đó cản đường.

• Lệ thuộc hỗ tương còn có nghĩa là teamwork, làm việc nhóm. Lệ thuộc hỗ tương là biết hỗ trợ người khác trong team và lệ thuộc vào người khác trong team. Trong các kỹ năng làm việc, thì teamwork có lẽ là kỹ năng yếu nhất của người Việt. Rất nhiều chuyên gia Việt khi làm việc chỉ thích cắm đầu cắm cổ làm một mình, không thích bàn luận thường xuyên với người khác, sợ người ta cho là mình dốt cần vay mượn ý của họ. Khi làm việc, họ không muốn cho thủ lĩnh hay các bạn trong team biết mình đang làm gì, sợ người khác xía vào ‎ý của mình. Các vị đó, không biết rằng người giỏi teamwork thường cầu mong người khác “xía” thêm ý‎ kiến vào việc của mình. Muốn được thêm ý‎ kiến thì khó, chứ khư khư bịt tai không muốn nghe ai là chuyện rất dễ.

Người ta thường nói làm việc nhóm là một kỹ năng. Đúng thế. Nhưng trước khi là một kỹ năng, nó phải là một thái độ–thái độ khiêm tốn, luôn luôn muốn chia sẻ suy nghĩ và kế hoạch của mình với mọi người, luôn luôn muốn được có thêm ‎ý kiến của mọi người để làm giàu cho tư duy của mình, luôn luôn muốn biết các người khác trong nhóm đang làm gì, và muốn cả nhóm biết mình đang làm gì… Đó là thái độ của một cầu thủ trên sân bóng, chỉ thấy đội, đội và đội–không còn thấy cái tôi biệt lập của mình nữa, mà chỉ thấy mình cùng đồng đội hoạt động cực kỳ ăn ý cho chiến thắng.

Chúc các bạn môt ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Da dày — Thick skinned

Chào các bạn,

“Thick-skinned” là da dày. Nếu da chúng ta dày một tí thì đụng chạm nhau ít đau. Da mỏng quá thì hơi một tí là bị trầy xước nhức nhối.
hippo
Nguời có da mỏng là người hay có tự ái vặt, chưa trưởng thành. Ai phê phán nhẹ một câu là giận một đời. Không ai dám phê phán những người da mỏng. Nói chuyện với người da mỏng thì phải để ‎ý từng từ. Khen họ thì được, nhưng phê phán, dù là phê phán kiểu xây dựng, thì cũng phải cực kỳ cẩn thận, cứ như là đi trên vỏ trứng. Nói chung là phải nâng họ như nâng trứng, hứng như hứng hoa.

Đây là lọai người không bao giờ khá được, không thể sống tích cực trong đời sống, không thể hòa mình cũng xã hội, không thể lãnh đạo ai. Sống tích cực với xã hội hay lãnh đạo là phải gặp nhiều phê phán thường xuyên, mà các quí vị da mỏng thì không chịu được phê phán.

Trong thế giới năng động ngày nay, mọi người, mọi tập thể đều cạnh tranh, từ cấp làng xã, đến thành phố, đến quốc gia, đến quốc tế. Ngòai cạnh tranh kinh tế về mua bán, đầu tư, tìm việc làm, ngay cả nói năng cũng là cạnh tranh. Một câu nói trên Internet có thể được nhiều người khen, nhưng khối kẻ chê.

Mà trong cạnh tranh, đụng chạm là phải đau. Không cách nào để các cầu thủ trên sân bóng tránh đụng chạm. Mỗi đụng chạm nhẹ đều có thể làm cầu thủ lăn quay ra sân nín thở 1 hay 2 phút. Và đụng chạm bạn mình cũng gây thương tích, chứ không hẳn chỉ là chạm “địch.”

Phải có da dày, phải chịu được những đụng chạm, chế giễu, châm chọc, mạ lị thì ta mới có thể vào cuộc cạnh tranh của đời sống ngày nay. Thời làm nông chỉ biết vui với con trâu cái cày qua rồi. Áp lực cạnh tranh ngày nay đi đến mọi ngõ ngách trên thế giới, ép buộc mọi người vào cuộc chơi, và phải dày da một tí.

Từ “thick-skinned” là từ nói đến hàng ngày khi người ta nói đến teamwork (cách làm việc nhóm) và đức điềm tĩnh, để nhận phê phán từ bạn mình cũng như tấn công từ kẻ địch. Vì nó thuộc hàng tiếng lóng cho nên người ta ít viết nó ra, nhưng thỉnh thoảng ta cũng thấy “thick-skinned” là một tiêu chuẩn đòi hỏi kể ra trong một quảng cáo tìm nhân viên.

Dù viết ra hay không viết ra, “da dày” vẫn đương nhiên là yếu tố hàng đầu khi tìm người làm việc. Không ai dám tuyển nhân viên mà mình không dám phê bình–loại nhân viên mà nói nhẹ một câu là chị chàng (hay anh chàng) đã xem như là động đất tận thế đến nơi. Tât cả mọi người quản lý đều mơ ước có một nhân viên mà mình có thể nói rất giản dị, “Em nói chuyện cách đó không được, nhiều khách hàng sẽ rất bực mình mặc dù họ không nói gì”, và người nhân viên sẽ đương nhiên trả lời, “Ồ vậy hả anh, em không biết. Cám ơn anh nha.”
thickskinned
Đến cấp cao một tí, thì kỹ năng lãnh đạo đòi hỏi người ta phải có da dày để nếu đang đọc diễn văn mà bị một vị khán giả la ó ném trứng thối thì có thể giễu một câu nào đó như là “Wow, đang đói bụng mà có trứng ốp la thế này thực là tốt” trong khi an ninh đưa vị khán giả điên đó ra ngoài. Tức là khả năng cười khi bị người ta làm nhục. Đó là công lực lãnh đạo của mình–đức điềm tĩnh của người đã lớn.

Trong văn hóa Việt Nam có câu “Mặt dày mày dạn” hay “Mặt trơ, trán bóng, mũi mạ kền”. Đây đều là các thành ngữ ám chỉ người xấu, tính xấu. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà người Việt ta cũng là chúa tự ái vặt. Chưa bị đụng thì đã “thà chết còn hơn chịu nhục.” Coi bộ bạo động và cái chết còn nhỏ hơn là vài ba chữ đụng chạm ông/bà trời!

Ồ, nhưng là chưa chắc chỉ người Việt. Ngày xưa, các Samurai của Nhật cũng được huấn luyện quan trọng hóa cái tôi vĩ đại đến mức huyền thọai, đến mức ai mà chạm “DANH dự” của Samurai chỉ vì một câu nói như là “Đồ mất trí”, thì phải tỉ thí với Samurai đến chết. Nếu Samurai lại đánh thua không rửa nhục được, mà người kia lại nhân hậu quá không cho một dao ân huệ để về chầu chúa, thì Samurai cũng tự Harakiri mổ bụng để rửa danh. Ôi, một chữ DANH mà nhà Phật gọi là hư ảo! Ôi, truyền thống đó không đáng gọi là tự ái vặt của trẻ con sao?

Cả Chúa lẫn Phật đều đã chịu nhục và đều đã dạy người ta bỏ cái tôi, biết nhẫn nhục, biết chịu đựng mạ lị và xỉ nhục. Cả Chúa và Phật đều đã thắng thế gian bằng khiêm cung nhẫn nhục. Đám hậu sinh chúng ta ngày nay có hiểu được điều đó không?

Vậy thì nếu ta có thể bỏ đi cái danh, cái tôi vĩ đại, cái tự ái vặt, cái lớp da mỏng dính trên mặt, mà dày da một tí, và cái tôi không biết đau một tí, thì có lẽ là ta sẽ đến gần các bậc thánh nhân một bậc, và thế giới trong tâm ta, cũng như thế giới của gia đình ta, xí nghiệp ta, và tổ quốc ta sẽ hòa bình vui vẻ hơn một bậc.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use