All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Giọng nói của hạnh phúc


Sau khi thiền sư Bankei qua đời, một người mù sống gần chùa của thiền sư nói với một người bạn: “Bởi vì tôi mù, tôi không thể quan sát sắc mặt người ta, nên tôi phải xét tư cách của họ qua giọng nói. Thường thì khi tôi nghe một người chúc mừng người khác về chuyện vui hay thành công nào đó, tôi cũng nghe một âm bí mật của ganh tị. Khi chia buồn với người khác về mất mát của họ, tôi cũng nghe thích thú và thỏa mãn, cứ như là người chia buồn thật sự vui vì có cái gì đó để lại cho họ hưởng trong thế giới riêng của họ.

“Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi thì giọng nói của Bankei luôn luôn thành thật. Khi thiền sư bày tỏ hạnh phúc, tôi chẳng nghe gì khác ngoài hạnh phúc, và khi thiền sư bày tỏ buồn rầu, tôi chẳng nghe gì khác ngoài buồn rầu.”

Bình:

Bankei yōtaku (eitaku), Bàn Khuê Vĩnh Trác (盤珪永琢), 1622 – 1693, cũng được gọi là Bàn Khuê Quốc sư (zh. 盤珪國師, ja. bankei kokushi), là một Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Diệu Tâm tự (妙心寺, ja. myōshin-ji). Sư là một trong những Thiền sư danh tiếng nhất trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản với tư cách là người đã phổ biến thiền học đến lớp quần chúng.

Chúng ta đã có bài Vâng Lời về Bankei trước đây.

• Ý nghĩa của truyện này rất rõ. Không phải chỉ là người mù, nhưng người sáng mắt, dù tai không thính như vậy, cũng cảm nhận được suy tư của một người khi họ nói chuyện với mình. Cho nên quy luật số một của truyền thông hiệu quả là: Thành thật.

Nếu khen thì khen thành thật, đừng khen dối. Nếu một người bạn cho xem một bài văn rối ren đọc không hiểu gì, nhưng ít ra cũng là cố gắng lớn của bạn, thì đừng khen “Bài này hay quá.” Nói thế là “nói láo tận răng” (lying to the teeth). Thay vì vậy thì khen thật tình, “Chị bận thế mà cố gắng bỏ công sức viết bài này thật là quý.” Hoặc là thêm nếu cần, “Em cần đọc lại vài lần nữa để hiểu hết ý bài viết.”

Khen dối, người bị hại đầu tiên là mình. Nó làm mình coi thường chính nhân cách của mình. Sau đó là hại bạn, vì nó cho bạn ăn bánh vẽ.

• Ngày nay chúng ta cần để ý đến lời mình viết trên email và Internet. Rất nhiều khi đọc một câu khen trên Internet diễn đàn ta thấy rõ ràng là câu khen đó không thành thật. Kỹ thuật viết là một chuyện, nhưng là chuyện nhỏ. Chuyện lớn hơn là tâm ta khi viết.

• Có lẽ vấn đề ta thấy thường xuyên nhất và tràn ngập nhất trong mỗi cá nhân chúng ta, trong gia đình, trong nhà nước, trong quốc gia… là thiếu thành thật.

Lời nói là bạc, im lặng là vàng, lời nói thành thật là kim cương xanh.

• Sống thế nào để lời nói ra ngoài và suy tư bên trong cùa mình là một–đó là thiền.

Dĩ nhiên là nếu tâm ta đang có suy tư tối tăm, thì không thể giả vờ sáng sủa bên ngoài để “trong ngoài là một” được. Cho nên, cốt yếu là tâm phải trong sáng như giọt thủy tinh.

• Không phải chỉ có người mù mới nghe được sự thành thật hay giả dối trong giọng nói của người khác. Ai trong chúng ta cũng có khả năng này, chỉ cao thấp khác nhau mà thôi. Thường thì chúng ta có thể biết được một người nói thật lòng không, hay chỉ nói cho có lệ, hay là nói dối. Cho nên người hời hợt hay dối trá trong đối thoại rất ít khi giấu được ai.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Voice of Happiness

After Bankei had passed away, a blind man who lived near the master’s temple told a friend: “Since I am blind, I cannot watch a person’s face, so I must judge his character by the sound of his voice. Ordinarily when I hear someone congratulate another upon his happiness or success, I also hear a secret tone of envy. When condolence is expressed for the misfortune of another, I hear pleasure and satisfaction, as if the one condoling was really glad there was something left to gain in his own world.

“In all my experience, however, Bankei’s voice was always sincere. Whenever he expressed happiness, I heard nothing but happiness, and whenever he expressed sorrow, sorrow was all I heard.”

# 27

Phát triển con người, phát triển đất nước

Chào các bạn,

Trong câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội tuần này chúng ta hỏi “Điều gì bạn cho là lợi thế kinh tế số một của Việt Nam?” và ta có các câu trả lời khác nhau: dầu hỏa, vị thế địa lý, con người, chính sách. Thực ra, thì mỗi thứ đóng góp một tí.

Nhưng, đi đến tận cùng gốc rễ của vấn đề, câu trả lời đúng luôn luôn là “con người”.

Bé hỏi mẹ: Mẹ ngày sau con sẽ sướng hay khổ?
Mẹ trả lời: Cái đó tùy con.

Tương lai thế giới này tốt hay xấu?
Tùy chúng ta trên thế giới sống với nhau thế nào.

Tương lai nước Mỹ (Pháp, Đức…) sẽ ra sao?
Tùy dân Mỹ (Pháp, Đức…) sống thế nào.

Trong tất cả các câu hỏi trên, chẳng bao giờ ai trả lời yếu tố gì ngoài yếu tố con người. Vì, trong trường kỳ, con người quyết định tất cả.

Tài nguyên thiên nhiên–rừng núi, hầm mỏ, dầu hỏa, sông ngòi, bờ biển—được sử dụng thế nào, tốt hay xấu cho chúng ta, là do con người chúng ta quyết định.

Sử dụng vị thế địa l‎ý khôn ngoan đề xây dựng, hay ngu dốt để cứ đánh nhau với láng giềng năm này qua năm nọ, là do con người quyết định.

Chính sách tốt hay tồi là do con người quyết định.

Con người là yếu tố đầu tiên và yếu tố cuối cùng của xã hội.

Thế thì, muốn phát triển xã hội ta cần phải phát triển con người.

Nhưng, làm thế nào để phát triển con người?

Cái gì là gốc?

Bằng cấp? Kiến thức IT? Kiến thức y khoa? Kiến thức luật?…

Hay là thành thật, khiêm tốn, yêu người, yêu xã hội của mình…

Bạn nói tài và đức đều cần như nhau. Dĩ nhiên cả hai đều cần. Nhưng cái gì là gốc, cái gì là ngọn?

Nếu bạn nói “cả hai đều cần như nhau”, thì e rằng bạn nói chuyện kiểu nửa nạc nửa mỡ, thiếu quyết đoán.

Học cái gì khó hơn? Học luật hay học tử tế? Bạn đã thấy bao nhiêu luật gia, thẩm phán, công tố viên… tham nhũng trong những đường dây chạy án? Thế thì học luật khó hơn, hay học thành thật và thanh liêm khó hơn?

Tất cả những kiến thức kỹ thuật –y, dược, luật, hành chánh, IT—đều dễ học. Ai học cũng được. Đừng có ảo tưởng là chỉ người siêu thông minh mới học được các môn này. Chỉ là học nhanh hay chậm, với năng khiếu của mình mà thôi.

Nhưng đạo đức—thành thật, khiêm tốn, yêu người, can đảm—không phải ai cũng học được, không phải ai cũng chịu học.

Ai cũng học bắn súng được. Nhưng có người dùng súng để giữ an ninh cho dân, có người dùng súng để cướp của giết người. Và người ác, đôi khi không học đức hạnh được, vì họ không chịu học. Đôi khi đứng dựa cọc tử hình mà vẫn chưa vén được màn vô minh của mình được tí nào.

Cho nên ta phải lấy cái tâm làm gốc, lấy đạo đức làm gốc.

Tạo con người tử tế, rồi người tử tế đi học kỹ thuật.

Còn hơn là tạo ra một mớ người kỹ thuật mà tâm địa tối tăm, phá nhiều hơn xây.

Mấy ngàn năm mà ta cứ lẹt đẹt dưới đáy thế giới. Chúng ta không thể tiếp tục tiến trình đổ thừa dài mấy ngàn năm—Tàu nó đốt sách ta, nó làm ta ngu; Tây nó làm ta ngu; ta không có tài nguyên thiên nhiên làm ta giàu…

Kinh nghiệm sống dạy cho chúng ta biết người đổ thừa vào hoàn cảnh, vào bố mẹ, vào người khác… là người thua cuộc. Người chiến thắng chỉ dựa vào một chỗ–thắng hay bại là do tôi.

Vậy thì, như một dân tộc, chúng ta phải tự dựa vào mình—vào dân tộc mình và vào mỗi người mình. Đi học, chỉ bị đứng chót lớp một hai tháng là thấy khó chịu rồi. Ở đây nước ta có bốn ngàn năm văn hiến mà vẫn lẹt đẹt dưới đáy thế giới. Lâu lâu lại có người ngoài xâm lăng áp bức, vì ta nghèo và yếu. Ta không thấy khó chịu hay sao?

Chúng ta không thể tiếp tục truyền thống đứng chót mấy ngàn năm mãi. Phải quyết định là, ta có 4 ngàn năm văn hiến, ta phải khá hơn mấy nước mới có 200 năm văn hiến. Và phải quyết tâm đưa đất nước đi lên mức đó, bắt đầu từ chính con người của mình, rồi con người của những người chung quanh mình.

Hãy nhìn vào viễn ảnh đất nước ít nhất là 100 năm nữa. Rồi bước bước đầu tiên. Hôm nay.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Đổi tranh luận lấy chỗ ngủ

Bất kỳ vị sư hành hương nào có thể thắng một tranh luận về Phật pháp với các sư sống trong một ngôi chùa đều có quyền ngủ lại trong chùa. Nếu thua, vị sư sẽ phải đi tiếp.

Trong một ngôi chùa ở vùng bắc nước Nhật có hai vị sư anh em đang sống với nhau. Người anh học rộng, nhưng người em thì dốt và chỉ có một mắt.

Một vị sư hành hương đến và xin ngủ nhờ, xin được tranh luận về giáo pháp cao thâm. Sư anh đã mệt vì phải học cả ngày hôm ấy, bảo sư em ra đấu thế. Sư anh cẩn thận dặn dò: “Đi ra và yêu cầu một cuộc đối thoại thầm lặng.”

Sư em và sư khách vào chánh điện và ngồi xuống.

Một lúc sau vị sư hành hương đứng dậy, vào gặp sư anh và nói: “Em của thầy quá hay. Đã thắng tôi.”

“Kể lại cho tôi nghe cuộc đối thoại,” sư anh hỏi.

“Vâng,” vị sư hành hương nói, “trước hết tôi giơ một ngón tay, biểu hiện Phật, người giác ngộ. Em thầy giơ lên 2 ngón, nói về Phật và Phật pháp. Tôi giơ ba ngón tay, biểu hiện Phật, Pháp và Tăng, sống an hòa với nhau. Rồi em thầy đưa nắm đấm vào mặt tôi, ‎ ý nói cả ba đều là một. Cho nên anh ấy thắng và tôi không có quyền ngủ lại đây.” Nói vậy rồi, sư hành hương ra đi.

“Anh chàng đó đâu rồi?” sư em chạy vào hỏi anh.

“Anh nghe là em thắng cuộc tranh luận rồi.”

“Thắng cái gì! Em phải đập cho hắn một trận.”

“Nói cho anh nghe đề tài tranh luận thế nào,” sư anh hỏi.

“Sao, mới thấy em hắn đã giơ lên một ngón tay, sỉ nhục em, ý nói là em chỉ có một mắt. Vì hắn là người lạ, em nghĩ là em nên lịch sự với hắn một tí nên em giơ hai ngón tay, chúc mừng hắn có hai mắt. Nhưng anh chàng bất lịch sự lại giơ ba ngón tay, ‎ ý nói cả hai người chúng ta chỉ có 3 con mắt. Vì vậy em nổi nóng và bắt đầu đấm hắn, nhưng hắn bỏ chạy cho nên hết đối thoại!”

Bình:

• Theo truyền thống Nhật các vị sư thường đi hành hương khắp nơi, thăm các chùa chiền cũng như các vị thầy lớn. Nếu là sư trẻ, thì thầy ra lệnh hành hương như là một loại tu tập. Nếu là sư thầy thì tự ‎ đi hành hương để học hỏi thêm và hành đạo trên đường đi. Tương truyền, các chùa ở Nhật có truyền thống đấu pháp đổi chỗ ngủ như trong truyện này.

• Ta chỉ nghe và thấy những gì tâm ta nghe và thấy. Một sự việc trước mắt, mỗi người chúng ta vẫn thấy và nghe khác nhau vì tâm ta khác nhau.

Đây cũng cùng ý với câu nói của triết gia hiện sinh Frederick Neitzche: “Không có sự thật nào cả, chỉ có sự diễn giải của sự thật đó mà thôi.”

Và đây cũng là một trong những quan điểm lý luận mà Phật gia dùng để kết luận “Đời là mộng huyễn bào ảnh” (mộng ảo bọt bóng – Kinh Kim Cang), tức là cuộc đời như ta thấy chỉ là cái nhìn riêng của cái tâm riêng của ta với những chấp trước, thành kiến, méo mó của nó, chứ đó không phải “sự thật như nó là” (the truth as it is).

• Vì vậy, đừng chấp vào điều ta hiểu, vào cái ta nghe thấy, để mà tranh cãi nhau, vì đó chỉ là ông nói gà bà hiểu vịt. Phật gia gọi là đừng chấp vào “danh sắc”.

• Tâm của ta thường thấy điều gì ta say mê hay bị ám ảnh nhiều nhất. Vị sư chột mắt bị ám ảnh bởi chột mắt nên diễn giải mọi sự là chuyện chột mắt. Vị sư hành hương thì say mê Phật pháp nên nói gì cũng thấy Phật pháp.

• Phật pháp trong các con số ở đây rất rõ, như vị sư hành hương nói:

1 = Phật (Buddha)

2 = Phật và Pháp (Buddha and Dharma, phật và giáo pháp của Phật)

3 = Phật, Pháp, Tăng – Tam bảo (Buddha, Dharma, Sangha – Three Jewels). “Tăng” ở
đây không có nghĩa là sư, mà là sangha, ngày trước có nghĩa là tăng đoàn của các sư và ni, ngày nay là toàn thể các Phật tử, các người tu học Phật.

1 = Phât, Pháp, Tăng là một. Câu này có thể hiểu nhiều cách hơi khác nhau tùy cấp độ. Mức thấp, Phật Pháp Tăng, tuy ba nhưng là một con đường tu tập đến giác ngộ. Ở mức cao, Phật Pháp Tăng là Một, là Giác Ngộ, là Niết Bàn, là Phật, là Không.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Trading Dialogue For Lodging

Provided he makes and wins an argument about Buddhism with those who live there, any wandering monk can remain in a Zen temple. If he is defeated, he has to move on.

In a temple in the northern part of Japan two brother monks were dwelling together. The elder one was learned, but the younger one was stupid and had but one eye.

A wandering monk came and asked for lodging, properly challenging them to a debate about the sublime teaching. The elder brother, tired that day from much studying, told the younger one to take his place. “Go and request the dialogue in silence,” he cautioned.

So the young monk and the stranger went to the shrine and sat down.

Shortly afterwards the traveler rose and went in to the elder brother and said: “Your young brother is a wonderful fellow. He defeated me.”

“Relate the dialogue to me,” said the elder one.

“Well,” explained the traveler, “first I held up one finger, representing Buddha, the enlightened one. So he held up two fingers, signifying Buddha and his teaching. I held up three fingers, representing Buddha, his teaching, and his followers, living the harmonious life. Then he shook his clenched fist in my face, indicating that all three come from one realization. Thus he won and so I have no right to remain here.” With this, the traveler left.

“Where is that fellow?” asked the younger one, running in to his elder brother.

“I understand you won the debate.”

“Won nothing. I’m going to beat him up.”

“Tell me the subject of the debate,” asked the elder one.

“Why, the minute he saw me he held up one finger, insulting me by insinuating that I have only one eye. Since he was a stranger I thought I would be polite to him, so I held up two fingers, congratulating him that he has two eyes. Then the impolite wretch held up three fingers, suggesting that between us we only have three eyes. So I got mad and started to punch him, but he ran out and that ended it!”

# 26

Phản ứng lập trình hay hành động tự do?

Chào các bạn,

Chúng ta vừa nói qua hai cách giản dị để tự đo lường công phu tư duy tích cực của mình hàng ngày—đo tự ái vặt, và đo cách mình cư xử với người chung quanh. Hôm nay ta nói đến một cách giản dị thứ ba. Ba cách này dùng chỉ một cũng được, cả ba cũng được, tùy mình.

Cách thứ ba là cách xem xét chúng ta có phản ứng máy móc một khi có điều gì đó xảy đến hay không, hay phản ứng của ta là một hành động tự do của tâm trí, đã được suy xét kỹ.

Mỗi người chúng ta là một bộ máy computer được lập trình qua di truyền và các yếu tố sinh học, giáo dục, hoàn cảnh, văn hóa và kinh nghiệm, tạo thành “tôi” với một tâm tính đặc biệt của tôi. Cái “tâm tính” của tôi chính là tiếng gọi tắt cho toàn bộ hệ thống lập trình trong tôi, và hệ thống đó cứ như vậy mà làm việc.

Cho nên, chê tôi ngu thì không sao, nhưng chê tôi xấu là có chuyện với tôi; gặp người Thái thì tôi thích người Nhật thì tôi ghét; đàn bà con gái mà hút thuốc xài không vô; tôi tận diệt ai tranh giành quyền hành với tôi; nói xấu tôi sau lưng là có chuyện với tôi… Cứ như thế, mỗi người chúng ta có hàng triệu phản ứng lập trình có sẵn. Cứ input này vào—nói xấu tôi sau lưng—thì output kia tự động chạy ra—tôi nổi điên và sẽ cho ngay một trận.

Lối “phản ứng lập trình” như thế chính là điều mà các đạo gia và triết gia gọi là “tù ngục của chính mình.” Ta tưởng là ta tự do, nhưng ta chẳng tự do tí nào—tòan bộ suy tư và hành động của ta chỉ là hệ quả bộ máy computer trong ta chạy tự động. Có thể là phức tạp hơn Windows Vista một tí nhưng vẫn chỉ là một bộ máy lập trình không hơn không kém.

Mức cao độ của tư duy tích cực là có thể bắt bộ máy mình ngừng chạy kiểu tự động, không phản ứng kiểu máy móc. Tức là, có thể bắt tâm “tĩnh lặng” không choi choi nổi giận, ghen tức hay sợ hãi… khi có input, và tâm có thể bình tĩnh tự do suy tư cách phản ứng của chính nó. Không còn phản ứng “tự động” kiểu lập trình nữa, mà tâm phản ứng tự do, có suy nghĩ kỹ lưởng, trước khi quyết định. Đây là tự do đầu tiên và cuối cùng của tâm thức—có tự do này mới là tự do, và có tự do này thì không còn tự do nào nữa để tìm.

Thế thì một cách đo lường tư duy tích cực hàng ngày của chúng ta là xem thử ta đã ngưng được bao nhiêu phản ứng tự động kiểu lập trình:

* Có người nói xấu ta, ta có nổi điên không?

* Nói đến nhà nước Trung quốc ta còn tự động chưởi bới không, hay là bình tĩnh suy xét nhẹ nhàng?

* Thấy nàng đi chơi với chàng khác có tự động nổi điên lên không? Hay muốn về nhà uống thuốc chuột không? Hay, dù buồn, vẫn đủ bĩnh tĩnh để tôn trọng và chấp nhận tự do lựa chọn của nàng?

* Ta xưa nay không ưa Hồi giáo, nay ta có thể không đưa kết luận ngay về một việc liên hệ đến Pakistan không?

* Có ai đó viết một bài báo sát phạt ta về vấn đề gì đó, ta có nổi điên lên và thề là phải cho hắn một bài học ngay không?

* Một vị đại sư khả ái mới nói ra một vài câu Phật pháp, ta có suýt xoa cho là chân l‎ý ngay không?

Nói chung, cách ta phản ứng bình thường trước đây, hiện nay ta có ngừng, không phản ứng như vậy, và tâm trí vẫn ở trong trạng thái thong thả (tức là không căng thẳng hậm hực) để suy nghĩ từ từ không?

Khả năng ngăn chặn phản ứng tự nhiên kiểu lập trình của mình trong mọi vấn đề, và cho mình thời gian cần thiết để suy nghĩ từ từ kỹ lưởng, là bằng chứng của công phu tư duy tích cực. Ta cần dùng nó hàng ngày để đo lường, hầu biết được ta đã tiến đến mức nào. Đây là mức độ cao cấp của tư duy tích cực.

Các sự đo lường thường xuyên sẽ giúp chúng ta tinh tấn. Đọc tư duy tích cực hay giáo pháp cả đời cũng chẳng nghĩ lý gì nếu ta không cố công tinh tấn trong việc thực hành các điều mình đọc.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,
Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Bài liên hệ: Tự do đầu tiên và cuối cùng, Tâm trí tự do

Cư xử thế nào với người chung quanh?

Chào các bạn,

Khi nói về tư duy tích cực, ta thường tập trung rất mạnh vào chính mình. Lúc mới đầu ta nói đến tự tin, quyết tâm, kiên trì. Đến mức cao hơn ta nói đến biết mình, quản lý‎ tâm mình, làm cho tâm mình tĩnh lặng—không sân hận, không chao đảo, không sợ hãi… Và vì thế, chúng ta rất dễ quên là tư duy tích cực chính là để ta sống với đời và sống với người.

Nếu ta ở trên rừng một mình, thực tế thì ta có tích cực hay tiêu cực chắc cũng không khác xa nhau lắm—ngày ngày kiếm đủ thức ăn, tối về ngủ đóng cửa đề phòng dã thú. Ngoài ra có yêu đời hay càm ràm về đủ mọi loại chim chóc thì có thể là khác nhau nơi tuổi thọ của mình, nhưng chẳng ai trên thế giới quan tâm đến việc đó cả.

Tuy nhiên khi ở chung với mọi người giữa phố thì người hay càu nhàu phàn nàn sẽ hoàn toàn khác với người vui vẻ yêu đời—một bên là thất bại và bị đa số người không ưa, một bên là thành công và đi đâu cũng nhiều người ưa thích.

Cho nên tư duy tích cực, dù là tập trung nhiều vào chính mình, thực ra ảnh hưởng rất lớn đến mọi người quanh mình.

Sở dĩ phải tập trung vào chính mình là vì: (1) Tập trung ra ngoài thì có vô số vô lượng điều để tập trung, tức là không thể tập trung được. Tập trung vào chính tâm ta thì chỉ có một điểm—cái tâm—để tập trung. (2) Tâm ta điều khiển tư duy và hành động của ta, từ đó mới ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài.

Nhưng đừng quên hậu quả tất yếu của luyện tâm ta là ảnh hưởng của ta vào thế giới bên ngoài. Chính vì vậy mà ta thường nghe nói đến yêu người, vui với người, rộng lượng với người…. thường xuyên trong tư duy tích cực.

Và đó là một loại thước đo ta có thể dùng để đo lường công phu tư duy tích cực của chính mình, như là:

• Hàng ngày, ta có phân biệt (kỳ thị) người khác vì màu da chủng tộc (vd: Người Tàu không tin được), hay tôn giáo (vd: công giáo không tin được), hay chính trị (vd: không chơi với mấy tên phản động, hay mấy tên việt cộng), hay tiếng tăm (vd: Tên này có tiếng xấu, tránh xa hắn ra….)?

Tình yêu vô điều kiện của tư duy tích cực đòi hỏi ta chứng tỏ được yêu ái với tất cả mọi người.

• Bao nhiều lần ta nổi nóng (nhất là chưởi thề vì nóng) trong ngày? Như khi gặp mấy anh lái xe ẩu trong ngày? Mấy người làm việc lớ ngớ trong sở?…

Khả năng tĩnh lặng khi gặp chuyện bất bình là công phu tư duy tích cực.


• Bao nhiêu lần ta mỉm cười trong ngày?

• Bao nhiêu lần ta cám ơn trong ngày?

• Bao nhiều lần ta đứng lên—lên tiếng nói hoặc làm gì đó trong khả năng mình—để bảo vệ người cô thế, người bị áp bức, mẹ góa con côi, người nghèo khổ trong một ngày?

• Bao nhiêu lần ta hùa theo bất công chỉ vì chạy theo các thế lực có sức mạnh trong ngày?

• Bao nhiều lần ta hùa theo bạn bè chỉ vì peer pressure, mà không dám nói thẳng là bạn sai?

• Bao nhiều lần ta bị người chê cười và vẫn cười vui với người, kể cả khi ta không đồng ý phê phán của họ?

• Đã bao nhiều lần ta không dám nhận một người bạn cũ là bạn vì hắn hiện đang đứng “phe bên kia”, hay hắn đang bị báo chí phanh phui là “đại gian hùng”, hay mới bị kết án tù vì tội gì đó?

• Bao nhiêu lần ta nói dối trong ngày, kể cả khi ta nghĩ là nói dối như vậy là tốt?

Ta càng vui vẻ, hòa đồng, yêu người, thành thật, trung thành, và ít kỳ thi và bất công với người, thì công phu tư duy tích cực ta càng cao. Ta càng phê phán, kỳ thị, chống đối, chưởi bới người, công phu ta càng thấp.

Công phu tư duy tích cực của chúng ta chỉ phát triển được nếu chúng ta đo lường thái độ và tư duy của mình thường xuyên, hàng ngày.

Nếu không thì chúng ta sẽ có ảo tưởng là ta tích cực cao sau khi đã đọc một mớ sách về tư duy tích cực, trong khi thực tế thì ta chưa di chuyển được 1mm.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Eshun ra đi

Khi Thiền cô Eshun đã quá 60 và sắp sửa rời khỏi thế giới này, cô bảo vài vị sư sắp một đống củi giữa sân.

Ngồi ngay ngắn giữa đài hỏa táng, cô bảo họ đốt lửa chung quanh.

“Cô ơi!” một vị sư la lớn, “nóng không cô?”

“Chuyện đó chỉ có mấy người ngu như cậu mới quan tâm,” Eshun trả lời.

Ngọn lửa bốc cao, và ni cô qua đời.

Bình:

• Làm chủ sự ra đi của mình được xem như là một sức mạnh của Phật giáo. Ta không làm chủ được được sinh, nhưng ít ra cũng làm chủ được tử.

Điều này khác với văn minh tây phương cấm tự tử—sự sống là do thượng đế ban cho con người và chỉ thượng đế mới có quyền lấy đi. Đa số các quốc gia Tây phương có luật cấm tự tử–người tự tử thất bại sẽ bị đưa ra tòa và phạt. Tuy nhiên, một số quốc gia ngày nay đã bãi bỏ luật cấm tự tử. Rất nhiều nơi luật cấm tự tử vẫn còn đó, nhưng người ta không còn dùng tới.

Một vấn đề nóng bỏng hơn hiện đang gây nhiều tranh cãi ở Âu Mỹ là luật cấm (hoặc cho phép) việc giúp người khác tự tử (assisted suicide, như các sư giúp Eshun ra đi trong chuyện này).

• Eshun là ni cô xinh đẹp trong bài “Nếu yêu, hãy yêu công khai” trước đây.

• “Cô ơi, nóng không cô?” Đây là câu nói đáng được ghi vào sách kỷ lục thế giới về độ ngu! “Nóng gì em, mát như máy lạnh đây!”

• Sự điềm tĩnh của một người đi vào cõi chết. Đó là mức tĩnh lặng cuối cùng chúng ta có thể đạt được.

Sao nhiều người chúng ta sợ chết thế nhỉ? Có gì mà phải sợ? Ai cũng phải đi một lần, không lúc này thì lúc kia thôi.

Nhưng nếu vì lý do gì đó ta tìm cái chết để chạy trốn cuộc đời thì cũng là một cái hèn, phải không? Nhất là khi làm sai, bị đưa ra tòa, chẳng hạn. Có gan làm thì có gan vào tù trả nợ. Việc gì phải chạy trốn bằng cái chết?

Cho nên, điểm quan trọng không nằm trong sống hay chết, mà nằm trong can đảm và tĩnh lặng của ta khi chọn đường nào.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Eshun’s Departure

When Eshun, the Zen nun, was past sixty and about to leave this world, she asked some monks to pile up wood in the yard.

Seating herself firmly in the center of the funeral pyre, she had it set fire around the edges.

“O nun!” shouted one monk, “is it hot in there?”

“Such a matter would concern only a stupid person like yourself,” answered Eshun.

The flames arose, and she passed away.

# 23

Teamwork – Thăm lại

Chào các bạn,

Chúng ta đã nói đến teamwork trước đây. Hôm nay, nhân dịp vừa nói về tự ái vặt, chúng ta viếng thăm lại vấn đề teamwork là vấn đề liên hệ trực tiếp đến tự ái vặt. Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng cho đất nước. Mọi người Việt Nam chúng ta đều nói câu, “Một người Việt thì hơn 3 người Nhật, nhưng 3 người Việt thì thua 3 người Nhật.” So với các nước tiền tiến, teamwork của ta dở đến mức sốc.

Ta phải hỏi tại sao đã mấy ngàn năm văn hiến, chúng ta vẫn lẹt đẹt dưới đáy thế giới. Câu trả lời rất giản dị–Vì chúng ta không biết làm việc cùng nhau để đưa nhau lên.

Nếu chúng ta có học đến 100 lớp quản trị về làm việc nhóm, ta cũng chẳng giải guyết được gì cả, vì vấn đề teamwork nằm trong cách sống và suy nghĩ hàng ngày của ta, chứ không phải là một vấn đề kỹ thuật. Teamwork không là kỹ năng, mà là thái độ. Một team căn bản nhất ta thường thấy là team vợ chồng. Vợ chồng sống chung với nhau là thái độ, kỹ năng là chuyện nhỏ. Thái độ đúng sinh ra kỹ năng đúng.

Và vấn đề teamwork của Việt Nam sẽ không giải quyết được, cho đến khi ta học loại bỏ những hư danh hão huyền mà ta gọi là sĩ diện, hay cái tôi. Giản dị thế thôi.

Quan sát một team người Việt thông thường, ta thấy có đến hàng nghìn vấn đề chứ đừng nói là hàng trăm. Không thể kể hết được. Cho nên kể vấn đề ra để tìm cách giải quyết cũng vô ích. Các vấn đề đó xảy ra thường xuyên, hàng ngày, dưới vô lượng hình thức, từ thái độ tiêu cực của chúng ta. Chỉ có cách sống tích cực mới chấm dứt được vấn đề.

Đây là một vài ví dụ trong trăm ngàn thí dụ về lý do trong đầu của một nhóm viên để chàng/nàng có thể phàn nàn:

. Team leader không nghe theo lời mình.
. Team leader không hỏi ‎ kiến mình trước khi quyết định.
. Team leader nghe theo ý kiến người khác trong team.
. Team leader hay team mate chỉnh mình.
. Team leader nói năng không lễ độ với mình.
. Team leader kiêu căng.
. Họp trước cả nhóm thì chàng/nàng không nói gì; về nhà kêu điện thoại nói chuyện lẻ để đàm tiếu sau lưng.
. Không đồng ý ‎ với quyết định của leader hoặc của cả nhóm.
. Team leader hay team mate nói một câu gì đó, chàng/nàng liền diễn giải theo cách của mình (dù là câu nói của người kia rất rõ).
. Team leader ngồi mát ăn bát vàng.
. Mình làm gần chết nhưng chẳng có công cán gì cả.
. Hướng mình hay hơn, nên vận động mọi người âm thầm để nhóm đi theo hướng mình.
. Trong nhóm này mình không phát huy được gì hết.
. Làm âm thầm không cho ai biết mình đang làm gì, vậy tự do hơn.
. Không thích copy (cc) team leader các email mình gởi đi.
. Thích tranh cãi.

Và còn cả trăm vấn đề khác nữa. Nếu các bạn cho rằng ta nên nghiên cứu danh sách trên, nghiên cứu mỗi vấn đề, và tìm ra giải pháp cho từng vấn đề một, thì các bạn chưa hiểu gì về vấn đề teamwork của Viêt Nam.

Chúng ta không có một hai vấn đề kỹ thuật để giải quyết. Chúng ta có vấn đề thái độ khi làm việc chung với nhau, và vấn đề căn bản đó đẻ ra vô lượng vô biên vấn đề kỹ thuật, không thể giải qu‎yết được nếu ta không giải quyết vấn đề thái độ.

Vấn đề teamwork rất đơn giản: Mỗi người trong team làm việc của mình. Và không suy đoán lăng nhăng hay tự ái lăng nhăng. Leader làm quyết định. Và cái tôi không có chỗ đứng trong nhóm.

Làm việc trong một team người Mỹ chẳng hạn, rất giản dị. Ví dụ: Một leader mời môt người khác vào team để giúp mình trong một công việc nào đó, nếu người kia đồng ý thì câu trả lời thường là: “OK, I’ll work with you. Tell me what to do. When I cannot do it, I will let you know.” (Được rồi, tôi sẽ làm việc với anh. Cứ bảo tôi việc gì phải làm. Việc gì làm không được, tôi sẽ cho anh biết”).

Và đó là quy luật căn bản nhất và hầu như là duy nhất cho team. Mọi phương cách làm việc là trách nhiệm của leader. Và hầu như chẳng mấy khi ta nghe các việc tự ái vặt xảy ra. Vấn đề nhóm ở Mỹ thường là communication, khi người nói ‎thì nói ý này nhưng người nghe thì nghe ý khác. Hàng trăm vấn đề tự ái vặt và cái tôi của người Việt hầu như cực kỳ ít xảy ra trong một nhóm người Mỹ.

Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài ta cũng thấy những chuyện cãi nhau như con nít và rất tức cười hàng ngày.

Nếu chúng ta không thấy các điều này, và không học làm việc nhóm như là một đội bóng chỉ biết đá bóng và chuyền bóng vào gôn, mà không có thời giờ đế suy đoán, tự ái, và gây gổ lăng nhăng, thì ta còn ở dưới đáy thế giới nhiều niên đại nữa.

Các bạn sinh viên du học có lẽ hiểu và thấm rất rõ từng chữ mình viết trong bài này. Mong các bạn quan tâm đặc biệt đến việc tạo ra một cách mạng trong tư duy và thái độ làm việc nhóm của người Việt ta, bằng cách thực hành khả năng làm việc nhóm superb các bạn học được ở nước ngoài để mọi người cùng thấy và học theo. Ta không thể ngồi nói 100 năm nữa mà vấn đề biến mất.

Mình nhắc lại điều căn bản này: Trong một team của Việt Nam bạn có thể thấy hàng trăm vấn đề khó chịu. 99.99% các vấn đề này không có thật mà chỉ đẻ ra từ tư duy của bạn. Bạn có thể thông thái đủ để thấy căn nguyên của 99.99% vấn đề đó không? Và đủ can đảm để xóa sổ hết 99.99% đó trong tư duy của bạn không. Đó sẽ là cuộc cách mạnh ảnh hưởng cực kỳ lớn đến tương lai đất nước, đến nỗi bạn cũng không mường tượng được nó lớn đến mực nào.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Greenfields – Đồng Xanh

Đồng xanh

Thuở trước có đồng xanh, mặt trời ve vuốt
Thuở trước có thung lũng, với những dòng sông
Thuở trước có trời xanh, với những tàn mây trắng
Thuở trước tất cả dự phần vào cuộc tình vĩnh cửu.
Chúng mình là kẻ đang yêu lang thang trên đồng xanh

Đồng xanh nay đã mất, mặt trời đốt
Đã biến khỏi thung lũng nơi từng có những dòng sông
Đã mất theo làn gió lạnh thổi vào tim anh
Đã mất theo những người yêu để giấc mơ vuột mất
Còn đâu đồng xanh ta thường vui chạy?

Anh không bao giờ biết điều gì đã khiến em ra đi
Làm sao anh tìm được, khi mây đen che tối cả ngày
Anh chỉ biết chẳng còn gì ở đây cho anh cả
Chẳng còn gì trên thế gian để anh nhìn ngắm

Nhưng anh vẫn đợi ngày em trở lại
Anh vẫn đợi ngày em học được
Em không thể hạnh phúc, khi con tim em lang thang
Em khổng thể hạnh phúc cho đến khi em mang con tim về nhà
Nhà nơi cánh đồng xanh, và nơi anh lần nữa.

(TĐH dịch)
.

Greenfields
Brother Four
Music & Lyrics : Terry Gilkyson – Rich Dehr – Frank Miller

Once there were green fields, kissed by the sun.
Once there were valleys, where rivers used to run.
Once there were blue skies, with white clouds high above.
Once they were part of an everlasting love.
We were the lovers who strolled through green fields.

Green fields are gone now, parched by the sun.
Gone from the valleys, where rivers used to run.
Gone with the cold wind, that swept into my heart.
Gone with the lovers, who let their dreams depart.
Where are the green fields, that we used to roam ?

I’ll never know what, made you run away.
How can I keep searching when dark clouds hide the day.
I only know there’s, nothing here for me.
Nothing in this wide world, left for me to see.

Still I’ll keep on waiting, until you return.
I’ll keep on waiting, until the day you learn.
You can’t be happy, while your heart’s on the roam,
You can’t be happy until you bring it home.
Home to the green fields, and me once again.

The Brothers Four viết và hát nhạc dân ca, thành lập năm 1957 ở Seattle, tiểu bang Washington. Bob Flick, John Paine, Mike Kirkland, và Dick Foley gặp nhau ở University of Washington, nơi cả bốn người là hội viên của nhóm Huynh Đệ Phi Gamma Delta năm 1956. Vì thế, sau này họ dùng chữ “Brothers” (huynh đệ) trong tên The Brothers Four.

Greenfields, phát hành tháng 1.1960, lên đến hạng 2 trong các danh sách nhạc pop lúc đó. Vào cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, đây là bạn thịnh hành ở miền nam Việt Nam.  Ngày nay nó là một trong nhũng bản nhạc kinh điển trong kho tàng âm nhạc nước Mỹ.

Mời các bạn nghe The Brother Four năm 1960 và mới đây, thập niên 2000.

Greenfields – The Brother Four (1960, from Mitch Miller’s 1960 TV series “Sing Along with Mitch”)

Greenfields – The Brothers Four (2011)

Tự ái vặt

Chào các bạn,

Một trong những cách rất dễ để đo lường công phu tư duy tích cực của ta đã đến đâu, và xã hội ta đã có thể dân chủ được đến đâu, là đo lường mức độ tự ái vặt của ta. Còn ở mức thấp, thì tự ái vặt cùng mình; mức thượng thừa thì không còn tự ái vặt; đại đa số người nằm giữa hai thái cực.

Tự ái vặt thì khi bị chê, chỉ trích, hay phê phán, sẽ lấy làm tức tối, hoặc khó chịu, chán nản, buồn rầu, giận dữ, nổi điên… Nói chung là phản ứng tiêu cực (từ trong suy tưởng hoặc trong cả hành động) khi nhận một điểm thấp từ ai đó.

Ta có thể đo lường ta từ mức tư duy tích cực thấp nhất đến mức cao nhất, với các tình huống sau đây:

• Có người nói hay làm điều gì đó (1) trong vòng “riêng tư” bè bạn, (2) không rõ nghĩa 100%, (3) nhưng ta diễn giải là phê phán ta. Ví dụ: Một người bạn nói “Chà hôm nay làm gì coi lịch sự quá vậy?” Ta nghĩ, “À, vậy là hắn muốn nói hàng ngày mình không lịch sự.”

• Tương tự như trên, nhưng “công cộng” hơn, chẳng hạn như một câu viết trong một diễn đàn công cộng.

• Có người phê phán ta trong vòng riêng tư bè bạn.

• Có người phê phán ta một cách công cộng.

• Có người phê phán ta “sai” (tức là phê phán một cách bất công) trong vòng riêng tư.

• Có người phê phán ta “sai” nơi công cộng.

Trong mỗi tình huống đó phản ứng ta thế nào? Nhói tí xíu, như kim châm nhè nhẹ, rồi cười vui như không? Hay buồn rầu chán nản? Hay còn phản ứng tiêu cực (kém vui tươi) trong cách cư xử? Hay trả đũa bằng cách nào đó?

(Ta nói “nhói tí xíu như kim châm nhè nhẹ” mà không nói là “chẳng cảm thấy gì.” Người bị phê phán mà cứ trơ như gỗ đá, không cảm thấy gì cả, thì đã thành chai đá, không biết cảm xúc, và không thể tiếp nhận được ích lợi từ các phê phán).

Đây là một thước đo rất tiện nghi cho mỗi người chúng ta sử dụng hàng ngày, để biết được mình đã tiến đến đâu trên đường luyện tâm.

Từ cá nhân đến xã hội

Vấn đề tự ái vặt không chỉ là vấn đề riêng của mỗi người, mà là một vấn để xã hội lớn. Nếu chúng ta tự ái vặt nhiều quá, không dám phê phán nhau, thì đối thoại, trao đổi, sáng tạo và dân chủ không thể phát triển trong xã hội ta.

Bố mẹ hay tự ái vặt thì sẽ không cho con cái hạch hỏi phê phán. Thầy cô tự ái vặt thì không cho học trò đối thoại tự do. Quan chức tự ái vặt thì bịt miệng dân và trừng phạt nhân dân khi bị phê phán.

Một quốc gia dân chủ là quốc gia trong đó một người dân có quyền nói với thủ tướng hay chủ tịch nhà nước nơi công cộng, “Ngu như bò” và ngài lãnh đạo cười trả lời, “Ừ, mẹ tôi cũng hay mắng tôi vậy đó,” và chẳng ai trừng phạt người đó cả (ngoại trừ có thể mời đi nơi khác để lãnh đạo có thể làm việc). Và dân có thể viết báo chê lãnh đạo dốt, mà lãnh đạo vẫn vui cười để nhân dân xả xú bắp hàng ngày.

Chỉ có người tự tin mới không tự ái vặt. Chỉ nhà nước tự tin mới không tự ái vặt. Chỉ quốc gia tự tin mới không tự ái vặt.

Sáng tạo, đối thoại, tự do, dân chủ không rơi từ trên trời xuống, hay đến với mấy tờ văn bản luật, mà đến từ thái độ sống thoải mái thong thả bình thản của chúng ta đối với nhau trong xã hội.

Mỗi chúng ta cần tập cho da mình dày thêm một tí, và biết vui đùa với phê phán. Đừng như teen hơi một tí là mặt như cái thúng, và đòi mọi người chung quanh cư xử với mình như là bước trên vỏ trứng.

Muốn phát triển xã hội tự do dân chủ sáng tạo, mỗi người chúng ta cần dày da một tí. Và cười thường hơn.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Gotan Project – Nuevo Tango

Gotan Project là tên của một ban nhạc ở Paris,gồm Philippe Cohen Solal (Pháp), Eduardo Makaroff (Argentina), và Christoph H. Müller (Thụy Sĩ).

Gotan Project được thành lập năm 1999. Đĩa phát hành đầu tiên là “Vuelvo Al Sur/El Capitalismo Foraneo” năm 2000, theo sau với album La Revancha del Tango năm 2001.

Nhạc của gotan Project là nhạc Tango, nhưng nhanh hơn tango cổ điển, nghe như soft rock, dùng nhiều nhạc cụ điện tử, và nhịp điệu cũng sôi động hơn tango cổ điển nhờ dùng nhiều nhịp gõ, như trống conga và bongo, chập chả… Loại tango này còn gọi là Nuevo Tangpo, tức là Tango Mới, hay Eleoctrotango (tango diện tử).

Loại Tango Mới này làm tango trở thành sống động với thế hệ @ và đã đưa tango trở về vị thế nhạc khiêu vũ dòng chính cho thê hệ trẻ.

Tên Gotan Project là từ Tango Project năm 1982 của một số nhạc sĩ cổ điển Mỹ, họp lại để làm một tango album tên la Tango Project, gồm nhạc của Carlos Gardel và Alfredo Le Pera, và đã được dùng trong các phim khá nỗi tiếng như Scent of a Woman (tài tử Al Pacino) và True Lies (tài tử Arnold Schwarzenegger).

Vì mức thành công của Tango Project, nhớm 3 người Solal, Makaroff và Muller (1999) quyết định dùng một cái tên để tỏ lòng kinh trọng Tango Project, và họ đổi chữ Tango thành Gotan.

Sau đây mời các ban nghe 2barn của Gotan Project: Diferente, Mi Confession, Una musica brutal

.

Gotan Project – Diferente

.

Gotan Project – Mi Confesion

.

Una musica brutal – Gotan Project

Tụng kinh

Một nông dân nhờ một vị sư Thiên Thai tụng kinh cho vợ đã qua đời. Sau khi tụng xong, người nông dân hỏi: “Thầy nghĩ là vợ tôi có được phúc đức nhờ tụng kinh không?”

“Không những chỉ là vợ anh, mà tất cả sinh linh đều hưởng lợi nhờ tụng kinh,” sư trả lời.

“Nếu thầy nói tất cả mọi sinh linh đều có lợi,” người nông dân nói, “vợ tôi rất yếu và những người khác sẽ ăn hiếp cô ấy, lấy đi phước đức của cô ấy. Vậy thầy làm ơn tụng kinh chỉ cho cô ấy thôi.”

Vị sư giải thích là người Phật tử muốn dâng cúng và cầu phước đức đến mọi sinh linh.

“Đó là lời dạy rất hay,” người nông dân kết thúc, “nhưng làm ơn cho một ngọai lệ. Tôi có anh chàng láng giềng thô lổ và dữ dằn với tôi. Làm ơn dẹp hắn ra ngoài mọi sinh linh khác.”

Bình:

• Trong một cọng cỏ có toàn thể vũ trụ. Tất cả mọi thứ đều liên hệ chặt chẻ với nhau như các lọn sóng của một đại dương. Nên ta không thể làm tốt cho một người hay một thứ mà không tốt cho tất cả. Hoặc ngược lại, không thể làm xấu cho một người hay một thứ mà không làm xấu cho tất cả. Không thể chỉ dành riêng cho người ta yêu, cũng như không thể gạt bỏ người ta ghét.

• Hãy nghĩ đến khái niệm này trong cuộc sống hàng ngày – ảnh hưởng của bất kỳ hành động lớn nhỏ nào của ta, dù tốt hay xấu, đến những người gần ta, đến môi trường ngay nơi ta ngồi, rồi lan thành phố của ta, rồi quốc gia của ta, rồi thế giới của ta.

Không thể nói rằng: “Tôi quá nhỏ bé, việc tôi làm chẳng ăn nhập gì đến ai cả.”

Một tiếng gảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Reciting Sutras

A farmer requested a Tendai priest to recite sutras for his wife, who had died. After the recitation was over the farmer asked: “Do you think my wife will gain merit from this?”

“Not only your wife, but all sentient beings will benefit from the recitation of sutras,” answered the priest.

“If you say all sentient beings will benefit,” said the farmer, “my wife may be very weak and others will take advantage of her, getting the benefit she should have. So please recite sutras just for her.”

The priest explained that it was the desire of a Buddhist to offer blessings and wish merit for every living being.

“That is a fine teaching,” concluded the farmer, “but please make one exception. I have a neighbor who is rough and mean to me. Just exclude him from all those sentient beings.”

# 24

Tạo tôi diệt tôi

Chào các bạn,

Nếu chúng ta đã thực hành tư duy tích cực một thời gian dài, chúng ta có thể thấy hai giai đoạn lớn trong tiến trình phát triển của chính mình, gói trọn trong bốn chữ “Tạo tôi, diệt tôi.” “Tạo tôi” là giai đoạn đầu, “Diệt tôi” là giai đoạn cuối.

Lúc ban đầu, ta chẳng có tự tin tí nào, lúc nào cũng tin là tôi ngu, tôi dốt, tôi bất tài, tôi không được trời thương, tôi không có điều kiên tốt, tôi không đủ ô dù thanh thế gia đình… Nói chung, đây là lúc tất cả mọi suy tư tiêu cực làm cho chúng ta thấy mình chẳng nghĩa lý‎ gì, chẳng có kí lô nào, cuộc đời đã chẳng đến đâu và sẽ chẳng đến đâu. Đó là lúc ta thiếu tự trọng, thiếu hiểu biết về chính mình và những tiềm năng của mình, chưa thấy được con người thật của mình.

Đó là lúc ta phải “tạo tôi”, tức là xây dựng cái nhìn chân thật về mình, xây dựng tự trọng cho chính mình. Đây là lúc ta phải nhận biết con người mình, cũng như tất cả con người khác, đều là con của Thượng đế. Mình được yêu thương như tất cả mọi người khác, có những sức mạnh ngang những người khác, có những cơ hội ngang những người khác, có thể thành công ngang những người khác, dù là mới nhìn thoáng qua thì mình xem cứ như là đã sinh ra dưới một ngôi sao xấu, với một số phận rất tàn tệ.

“Tạo tôi” tức là mình phải tự tin vào vốn liếng sẵn có của mình, tự tin vào chiến thắng và thành công cuối cùng đến từ quyết tâm và kiên trì của mình, tự tin rằng nếu mình tập trung tư tưởng vào một mục tiêu tốt và không bỏ cuộc nửa chừng, thì mình sẽ đến đích. Đó là “nhân định thắng thiên”, là “số phận của mình nằm trong hai bàn tay của mình, do chính mình định đoạt.”

Khi đã đạt được mức “tạo tôi” rồi, khi ta đã có đủ tự tin rồi, ta phải bắt đầu bước cao hơn –“diệt tôi”, tức là bắt đầu nhận thấy “tôi” không còn là trọng tâm của suy tưởng của mình, không còn là trọng tâm của vũ trụ riêng mình nữa. Tôi là một người đứng trong 80 triệu người trong nước, môt người trong 7 tỉ người của thế giới, một sinh linh trong vô lượng sinh linh của thế giới, một sinh linh trong vô vô lượng sinh linh của vô vô lượng thế giới mà khoa học ngày nay vẫn chưa thấy tới…

Đó là lúc ta nhận thấy mình chỉ là một lọn sóng của đại dương, mình và thế giới chung quanh là một. Sức mạnh của mình đến từ thế giới chung quanh, như sóng lấy sức mạnh từ đại dương. Và mọi sự mình làm, tốt hay xấu, đều liên hệ và ảnh hưởng đến mọi người mọi vật chung quanh. Mình không là chính mình nữa, mà là một phần của xã hội quanh mình, của cuộc đời quanh mình.

Dù mình có là trọng tâm của sinh hoạt của mình, thì “tôi” lúc này vẫn là “tôi của thế giới”, và tập trung lo lắng cho “tôi” chính là lo lắng cho một phần tử của thế giới, là cho lắng cho sức mạnh và hạnh phúc của thế giới.

Cái nhìn của chúng ta lúc này vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của chính mình, để phóng tư tưởng, ước muốn, lo lắng của mình ra ngoài thế giới.

Bằng cách gạt bỏ cái tôi, chúng ta cho “tôi” đôi cánh cuối cùng, để thoát khỏi tù ngục của chính nó, cất cánh bay cao, trở thành một phần của đại dương sự thật, bay trên những làn sóng của biển đời mênh mông.

Đây là lúc mà nhà Phật gọi là trở về với bản lai diện mục – mặt mũi nguyên sơ – của mình, cũng chính là bản lai diện mục của vũ trụ–mình với đời là một, như bản tính nguyên sơ.

“Người nào có cuộc đời của họ, sẽ mất đi. Người nào mất cuộc đời của họ, sẽ tìm đươc nó.”

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Một vị Phật

Ở Tokyo vào thời Minh Trị Thiên Hoàng, có hai vị thầy với tính cách hoàn toàn khác nhau. Unsho là vị thầy Chân Ngôn Tông, giữ mọi lề luật của nhà Phật rất kỹ lưỡng. Ông không bao giờ uống rượu, và không bao giờ ăn gì sau 11 giờ sáng. Vị thầy kia là Tanzan, một giáo sư triết tại Đại Học Hoàng Gia, chẳng bao giờ giữ lề luật gì. Khi muốn ăn là ăn, khi muốn ngủ ngày là ngủ.

Ngày nọ Unsho đến thăm Tanzan lúc Tanzan đang uống rượu. Phật tử không được cho ngay cả một giọt rượu chạm lưỡi mình.

“Ê, anh ơi, uống một ly nhé.”

“Tôi không bao giờ uống rượu!” Unsho nhấn mạnh nghiêm trọng.

“Người không uống thì không phải là người,” Tanzan nói.

“Anh nói tôi không là người chỉ vì tôi không mê uống rượu!” Unsho nói giận dữ. “Nếu tôi không là người thì tôi là gì?”

“Một vị Phật,” Tanzan trả lời.

Bình:

• Mục đích tối hậu của Phật pháp là đưa đến Giác ngộ, tức là tỉnh thức. Người Giác Ngộ đến Niết Bàn, tức là “lửa đã tắt”—Tâm Tĩnh Lặng.

Tất cả những kinh điển, những chùa chiền, những tăng đoàn, những qui luật được dựng ra chỉ để giúp người ta đạt được mục tiêu tối hậu–Tâm Tĩnh Lặng. Chúng chỉ là dụng cụ, là phương tiện. Có những thứ phương tiện này thì tốt, nhưng nếu không có thì cũng không hề gì, nếu người ta vẫn có thể giác ngộ mà không cần chúng. Phương tiện nào dùng cũng được và không dùng cũng được. Người ta có thể đi bộ, đi xe đạp, đi xe máy, đi xe hơi, đi máy bay để đến một nơi nào đó. Chẳng cách đi nào là bắt buộc cả.

• Uống rượu mà có tâm Phật, tức là nhìn người khác là Phật, như Tanzan, thì có uống cũng chẳng hề hấn gì.

Ngược lại, giữ mọi lề luật gắt gao mà tâm sân rất nhậy như Unsho, thì cũng chẳng được gì.

• Trên đường tu tập, ta phải biết điều gì là mục tiêu, điều gì chỉ là phương tiện. Rất tiếc là nhiều người thích chấp vào hình thức mà quên nội dung, chấp vào phương tiện mà bỏ rơi mục đích.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Buddha

In Tokyo in the Meiji era there lived two prominent teachers of opposite characteristics. One, Unsho, an instructor in Shingon, kept Buddha’s precepts scrupulously. He never drank intoxicants, nor did he eat after eleven o’clock in the morning. The other teacher, Tanzan, a professor of philosophy at the Imperial University, never observed the precepts. When he felt like eating, he ate, and when he felt like sleeping in the daytime, he slept.

One day Unsho visited Tanzan, who was drinking wine at the time, not even a drop of which is supposed to touch the tongue of a Buddhist.

“Hello, brother,” Tanzan greeted him. “Won’t you have a drink?”

“I never drink!” exclaimed Unsho solemnly.

“One who does not drink is not even human,” said Tanzan.

“Do you mean to call me inhuman just because I do not indulge in intoxicating liquids!” exclaimed Unsho in anger. “Then if I am not human, what am I?”

“A Buddha,” answered Tanzan.

#13