All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Hối cải thực sự

Ryokan tận hiến cả đời mình để tu học Thiền. Ngày nọ thiền sư nghe là người cháu trai đang tiêu tiền cho một cô ca kỹ. Vì người cháu đã thay thế Ryokan để quản lý tài sản gia đình và gia tài này đang có nguy cơ bị tiêu tán, người nhà phải nhờ Ryoken nhúng tay vào.

Ryokan phải đi một quãng đường rất xa để thăm người cháu thiền sư đã nhiều năm không gặp. Người cháu có vẻ rất vui được gặp lại chú và mời chú ở lại qua đêm.

Cả đêm Ryokan ngồi thiền định. Vào lúc ra đi buổi sáng, thiền sư nói với người cháu: “Chú chắc là già rồi, tay chú run lắm. Cháu có thể giúp chú buộc dây giày của chú được không?”

Người cháu hăng hái giúp. “Cám ơn cháu,” Ryokan kết thúc, “cháu thấy không, người ta mỗi ngày mỗi già và yếu đi. Hãy tự chăm sóc cháu tử tế.” Rồi Ryokan ra đi, chẳng hề nói một lời đến các phàn nàn của người nhà. Nhưng, từ buổi sáng hôm đó, sự hoang phí của người cháu chấm dứt.
.

Bình:

• Việc chú của mình phải đi rất xa để gặp mình sau nhiều năm không gặp, đủ để nói với người cháu sự nghiêm trọng của vấn đề.

Cho nên, câu nhắn nhủ ngắn của chú trước lúc ra đi, mang trọn tính cách nghiêm trọng đó.

Người cháu đương nhiên là biết chú về để giáo huấn mình, mà có lẽ đã phập phồng cả đêm không biết mình sẽ bị sỉ vả cách nào đây.

Nhưng rốt cuộc cậu ta nhận một giáo huấn rất nghiêm trọng, một cách rất nhẹ nhàng. Cho nên ảnh hưởng rất mạnh.

• Nhưng cũng có thể vì một lý do khác nữa. Đó là việc Ryokan nhúng tay vào vấn đề. Người cháu có thể nghĩ: “Chú mình sẵn sàng nhúng tay vào chuyện thì không ổn rồi. Giả sử chú rút lại quyền của mình, tự tay quản lý tài sản gia đình, hay giao quyền cho ai đó khác thì sao?”

Câu hỏi: Ngưởi tu trì có nên cho “người đời” biết là mình sẵn sàng nhúng tay vào các việc sai trái ở đời khi cần không?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

True Reformation

Ryokan devoted his life to the study of Zen. One day he heard that his nephew, despite the admonitions of relatives, was spending his money on a courtesan. Inasmuch as the nephew had taken Ryokan’s place in managing the family estate and the property was in danger of being dissipated, the relatives asked Ryoken to do something about it.

Ryokan had to travel a long way to visit his nephew, whom he had not seen for many years. The nephew seemed pleased to meet his uncle again and invited him to remain overnight.

All night Ryokan sat in meditation. As he was departing in the morning he said to the young man: “I must be getting old, my hand shakes so. Will you help me tie the string of my straw sandal?”

The nephew helped him willingly. “Thank you,” finished Ryokan, “you see, a man becomes older and feebler day by day. Take good care of yourself.” Then Ryokan left, never mentioning a word about the courtesan or the complaints of the relatives. But, from that morning on, the dissipations of the nephew ended.

# 74

Vòng Đời – Circle of Life – Phil Collins

Vòng Đời

Từ ngày ta đến với hành tinh này
Nheo mắt, bước vào ánh sáng mặt trời
Có nhiều điều để thấy hơn ta có thể thấy
Nhiều điều để làm hơn ta có thể làm

Vài người nói ăn hay bị ăn
Vài người nói sống và cho sống
Nhưng tất cả đều đồng ý khi họ nhập vào dòng chạy
Là bạn không bao giờ nên lấy nhiều hơn cho

Trong vòng đời
Đó là bánh xe vận mệnh
Đó là cú nhảy vọt của niềm tin
Đó là dải hy vọng
Cho đến khi ta tìm ra vị trí mình
Trên con đưòng khai mở
Trong vòng, vòng đời

Vài người trong chúng ta ngã bên đường
Vài người lên đến các vì sao
Và vài người chèo qua khó khăn
Và vài người phải sống với sần sẹo

Quá nhiều điều để thấu hiểu ở đây
Nhiều điều để tìm hơn ta bao giờ có thể tìm ra
Nhưng mặt trời lăn cao qua bầu trời thẫm xanh
Giữ lớn và nhỏ trong vòng quay bất tận

(TĐH dịch)

Circle of Life

Music by Elton John, lyrics by Tim Rice
Performed by Elton John

From the day we arrive on the planet
And blinking, step into the sun
There’s more to be seen than can ever be seen
More to do than can ever be done

Some say eat or be eaten
Some say live and let live
But all are agreed as they join the stampede
You should never take more than you give

In the circle of life
It’s the wheel of fortune
It’s the leap of faith
It’s the band of hope
Till we find our place
On the path unwinding
In the circle, the circle of life

Some of us fall by the wayside
And some of us soar to the stars
And some of us sail through our troubles
And some have to live with the scars

There’s far too much to take in here
More to find than can ever be found
But the sun rolling high through the sapphire sky
Keeps great and small on the endless round

Chào mừng Lễ Phục Sinh 2010

easteraroundtheworld
Chào các bạn,

Chúa nhật này,4.4.2009, là lễ Phục Sinh (Easter), ngày lễ quan trọng nhất trong Thiên Chúa Giáo (Công giáo—Catholicism, Chính thống giáo–Orthodox, và các giáo phái Tin lành—Protestantism).

Dù là người ta không mừng lễ Phục Sinh lớn và vui như Lễ Giáng Sinh (Christmas, 25 tháng 12), trên phương diện thần học, lễ Phục Sinh quan trọng hơn lễ Giáng Sinh, vì Thiên Chúa Giáo được xây dựng nên một điểm cực kỳ quan trọng—Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá và chết, và ba ngày sau người sống lại. Phục sinh là sống lại. Lễ Phục sinh là lễ kỷ niệm sự sống lại của chúa Giêsu. Nếu không có sự sống lại, không có lễ Phục Sinh, không có Thiên Chúa Giáo.

Lễ Phục Sinh không có ngày nhất định trên lịch hàng năm. Nó là ngày chúa nhật thứ nhất từ 14 ngày sau ngày xuân phân, tức là ngày chính thức của mùa xuân ở Âu Mỹ. Ngày xuân phân năm nay là thứ bảy, 20 tháng 3, 2010. “Chúa nhật đầu tiên sau 14 ngày kể từ thứ bảy 20/3” là 4 tháng 4, 2010. Xem ra có sự cố tình định ngày lễ Phục Sinh cùng lúc với sự sống lại của mùa xuân.

eastereggs

Trước lễ Phục Sinh 40 ngày là Mùa Chay hay Mùa Thương Khó (Lent), bắt đầu bằng thứ tư lễ Tro (Ash Wednesday); ngày đó các linh mục (thầy tế lễ) rắc một tí tro trên đầu, hay bôi một tí tro lên trán, giáo dân, như là nhắc nhở đến sự chết—Ta là bụi đất và sẽ trở về cùng bụi đất. Mùa chay là mùa của ăn chay, cầu nguyện, sám hối, bố thí và hãm mình.

Tuần trước Phục Sinh là Tuần Thánh (Holy Week), bắt đầu bằng chúa nhật lễ Lá (Palm Sunday, 28 tháng 3), kỷ niệm ngày chúa Giêsu đi vào thành Jerusalem và được hàng nghìn dân Do thái tiếp đón bằng cách lót lá trên đường chúa đi và phất lá trên tay.

Ngày thứ năm trước Phục Sinh (1 tháng 4), là lễ Vượt Qua (Passover), tức là lễ kỷ niêm ngày dân Do thái được thoát ách nô lệ ở Ai Cập, có lẽ ngày nay là biểu tượng của dân chúa thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi nhờ sự chết của chúa Giêsu.

Ngày thứ sáu (2 tháng 4, 2010) là ngày Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday), tức là ngày chúa chết.

Và chúa nhật (4 tháng 4, 2010) là Phục Sinh.

easterbunnies

Sau lễ Phục Sinh 40 ngày là mùa Phục Sinh (Easter Season). Ngày xưa, mùa Phục Sinh chỉ có 40 ngày, từ Phục Sinh đến ngày Lễ Thăng Thiên, tức là ngày chúa Giêsu về trời.

Nhưng ngày nay Mùa Phục Sinh kéo dài 50 ngày, chấm dứt bằng ngày Pentacost (ngày thứ 50), tức là ngày Chúa Thánh Thần (Thánh Linh) đến với các đệ tử của chúa Giêsu. Ngày Pentacost (ngày lễ Chúa Thánh Thần, hay lễ Ngũ Tuần) là ngày chúa nhật 7 tuần sau Phục Sinh (7 X 7 =49, xem như 50).

Ở Âu Mỹ, người ta có truyền thống tô điểm trứng (gà, vịt, v.v..) với nhiều màu sắc sặc sở rất đẹp để trang trí cho lễ Phục Sinh, gọi là trứng Phục sinh (Easter eggs). Trò chơi Easter Egg Hunt (săn tìm trứng Phục sinh) thường được các nhà thờ tổ chức trong ngày Phục Sinh, trong đó người tổ chức đem trứng Phục sinh dấu quanh sân để mọi người săn tìm. Chúng ta có thể nhận thấy trứng là biểu tượng của tái sinh.

Thỏ Phục sinh (Easter Bunny) là thỏ với đủ mầu sắc sặc sở cũng là một biểu tượng của Phục Sinh. Có lẽ vì thỏ nổi tiếng là đẻ nhiều.

Nếu các bạn quá nhức đầu vì đủ thứ ngày nói trên, hãy đánh một giấc ngủ dài, rồi sẽ phục sinh hôm sau 🙂 Biểu tượng của Phục sinh là sự tái sinh thường xuyên trong ta, con người cũ chết đi và con người mới ra đời, ta luôn luôn trưởng thành, đổi mới, hay hơn, và tốt hơn. Đó cũng là sát-na vô thường, thay đổi không ngừng, của nhà Phật.

Chúc các bạn một mùa Phục Sinh an bình.

Hoành

(Viết lại từ bài đã đăng vào Lễ Phục Sinh 2009).

Sau đây mời các bạn nghe vài bản thánh ca Phục Sinh truyền thống.

Byzantine music The Christ is risen – “Chúa Đã Sống Lại” do ca đoàn của chủng viện Vatopaidi, Hy Lạp, Chính Thống Giáo Hy Lạp


.

He Is Risen! – Easter Sunday – Pipe Organ


.

Christ the Lord is Risen Today by Mormon Tabernacle Choir


.

Mười Truyền Nhân

Thiền sinh có lời tuyên thệ là nếu họ bị chết dưới tay thầy họ vẫn qu‎yết tâm học Thiền. Thường là họ cắt ngón tay và dùng máu để thề. Theo thời gian, lời thề này trở thành hình thức mà thôi, và chính vì l‎ý do đó mà người học trò chết dưới tay Ekido đã được xem như là tử vì đạo.

Ekido đã trở thành một người thầy nghiêm khắc. Học trò rất sợ. Một học trò đang làm nhiệm vụ đánh chiêng để báo giờ, bị trật nhịp khi mắt của anh ta bị lôi cuốn theo một cô gái đẹp đang đi qua trước cổng chùa.

Vào ngay lúc đó Ekido đang đứng sau lưng người học trò, dùng roi đánh người học trò và sự chấn động bất ngờ giết chết anh học trò.

Người giám hộ của người học trò, nghe tin, đến gặp Ekido. Biết là thiền sư không có lỗi, người giám hộ ca ngợi thiền sư về giáo dục nghiêm khắc. Ekido vẫn giữ thái độ như là người học trò vẫn còn sống.

Sau khi chuyện này xảy ra, Ekido đã đào tạo được hơn 10 truyền nhân giác ngộ, một con số bất thường.
.

Bình:

• Ngày xưa thầy lỡ tay đánh chết học trò thì không sao, ngày nay như vậy là có thể vi phạm luật pháp quốc gia.

• Điểm chính là giáo dục nghiêm khắc. Hầu như tất cả các truyện thiền đều nhấn mạnh đến giáo dục nghiêm khắc của thầy, và quyết tâm tăng tiến mạnh mẽ của trò. Đó đương nhiên là yếu tố thành công cho những môn học và nghệ thuật khó khăn.

• Ngày nay thì chúng ta đi ngược lại, mang Thiền đến cho mọi người. Dĩ nhiên là nhiều người được một chút lợi ích, nhưng Thiền cũng bị hiểu sai rất nhiều…

Thế thì làm thế nào để có hệ thống giáo dục Thiền để thiền sinh vẫn có thể đi đúng đường, hiểu đúng đường, đến được điểm đến đúng, nếu thiền sinh đó tiếp tục học lên?

Hay, hỏi một cách khác: Làm thế nào để đào tạo các thiền sư không lạc đường?

Làm thế nào để phổ thông hóa Thiền ở cấp thấp, nhưng vẫn giữ được tinh túy Thiền ở đỉnh cao?

Trần Đình Hoành dịch và bình
.

Ten Successors

Zen pupils take a vow that even if they are killed by their teacher, they intend to learn Zen. Usually they cut a finger and seal their resolution with blood. In time the vow has become a mere formality, and for this reason the pupil who died by the hand of Ekido was made to appear a martyr.

Ekido had become a severe teacher. His pupils feared him. One of them on duty, striking the gong to tell the time of day, missed his beats when his eye was attracted by a beautiful girl passing the temple gate.

At that moment Ekido, who was directly behind him, hit him with a stick and the shock happened to kill him.

The pupil’s guardian, hearing of the accident, went directly to Ekido. Knowing that he was not to blame he praised the master for his severe teaching. Ekido’s attitude was just the same as if the pupil were still alive.

After this took place, he was able to produce under his guidance more than ten enlightened successors, a very unusual number.

# 73

Chúng ta là một – Lion King 2

Chúng Ta Là Một

SIMBA:
Khi đi trong đời con sẽ thấy
Có nhiều điều
Ta không hiểu

Và điều duy nhất ta biết
Là mọi thứ không luôn luôn đi
Theo hướng ta hoạch định

Nhưng con sẽ thấy mỗi ngày
Là chúng ta không bao giờ quay lưng đi
Khi mọi giấc mơ hình như đổ vỡ

Chúng ta sẽ đứng bên con
Đầy hy vọng và hãnh diện
Chúng ta lớn hơn là chúng ta
Chúng ta là một

KIARA:
Nếu con phải là đủ thứ
Vậy con có thể chỉ là con
Như là chính con?

Con có thể tin vào chính quả tim con
Hay con chỉ là một phần
Của một quy hoạch lớn hơn nào đó?

SIMBA:
Cả những người đã khuất
Vẫn còn với ta khi ta tiếp tục
Cuộc hành trình của con chỉ mới bắt đầu

Nước mắt khổ đau, nước mắt sướng vui
Một điều không có gì phá hủy được
Là danh dự của ta, sâu thẳm trong lòng
Chúng ta là một

Chúng ta là một, con và cha
Chúng ta như đất và trời
Một gia đình dưới ánh mặt trời
Tất cả khôn ngoan để lãnh đạo
Tất cả cam đảm mà con cần
Con sẽ tìm được khi con thấy
Chúng ta là một

(TĐH dịch)

Phần lời Anh theo sau video

We Are One

SIMBA:
As you go through life you’ll see
There is so much that we
Don’t understand

And the only thing we know
Is things don’t always go
The way we planned

But you’ll see every day
That we’ll never turn away
When it seems all your dreams come undone

We will stand by your side
Filled with hope and filled with pride
We are more than we are
We are one

KIARA:
If there’s so much I must be
Can I still just be me
The way I am?

Can I trust in my own heart
Or am I just one part
Of some big plan?

SIMBA:
Even those who are gone
Are with us as we go on
Your journey has only begun

Tears of pain, tears of joy
One thing nothing can destroy
Is our pride, deep inside
We are one

We are one, you and I
We are like the earth and sky
One family under the sun

All the wisdom to lead
All the courage that you need
You will find when you see
We are one

Good Friday – Thứ sáu tuần thánh

Chào các bạn,

Hôm nay là Good Friday, thứ sáu tuần thánh, ngày chúa Giêsu bị xử tử. Chúa nhật này là Lễ Phục Sinh. Từ thứ sáu này đến chúa nhật Phục Sinh là 3 ngày quan trọng nhất của Tân Ước, đỉnh điểm là ngày chúa nhật.

Năm 2004 Mel Gibson đạo diễn “Passion of the Christ” (tạm dịch: Tình yêu của Chúa Cứu Thế), nói về 3 ngày cuối này của chúa Giêsu. Cuốn phim được đánh giá cao về nghệ thuật cũng như đi rất sát với Tân Ước. Phê phán hầu như mọi người đều có về cuốn phim là nó có quá nhiều máu me hãi hùng từ đầu đến cuối.

Cuốn phim nói tiếng Aramic, tức là tiếng Do Thái cổ vào thời đó, nên có vẻ rất là thực. Có phụ đề Anh ngữ.

Nhân ngày Good Friday, mời các bạn không sợ máu me xem ba videos cho đoạn kết của phim–đóng đinh và chết. (Các bạn sợ máu me không nên xem).

Trên Youtube có đến 12 video clips cho phim này. Các bạn muốn xem trọn cuốn phim có thể đến youtube để xem.

Chúc các bạn một Good Friday good 🙂

Hoành

Lãnh chúa đầu đặc

Hai thiền sư, Daigu và Gudo, được mời đến thăm một lãnh chúa. Đến nơi, Gudo nói với lãnh chúa: “Chúa quân bản tính rất thông thái và có một năng kiếu bẩm sinh để học Thiền.”

“Nhảm nhí,” Daigu nói. “Tại sao anh nịnh anh chàng đầu đặc này? Anh này có thể là lãnh chúa, nhưng chẳng biết tí gì về Thiền cả.”

Vậy, thay vì xây một ngôi chùa cho Gudo, vị lãnh chúa xây chùa cho Daigu và học Thiền với Daigu.
.

Bình:

• Xây chủa và làm đệ tử kẻ chê mình dốt, người có trí tuệ mới làm được thế. Vì vậy, lãnh chúa có thể xây chùa và làm đệ tử của Daigu, nhưng Gudo vẫn đúng là lãnh chúa rất thông thái và có năng khiếu bấm sinh để học Thiền.

• Có lẽ lãnh chúa này có máu nhà binh nên thích những người ăn nói bộc trực.

• Mỗi thiền sư thường có một cá tính rất mạnh, rất rõ, có thể rất khác xa các thiền sư khác. Tâm thì tĩnh lặng như sau, nhưng cách sống bên ngoài rất khác nhau.

Đừng nhầm tâm với tay, chân, hay miệng.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Blockhead Lord

Two Zen teachers, Daigu and Gudo, were invited to visit a lord. Upon arriving, Gudo said to the lord: “You are wise by nature and have an inborn ability to learn Zen.”

“Nonsense,” said Daigu. “Why do you flatter this blockhead? He may be a lord, but he doesn’t know anything of Zen.”

So, instead of building a temple for Gudo, the lord built it for Daigu and studied Zen with him.

# 72

Tĩnh lặng vô điều kiện

Chào các bạn,

Một trong những lầm lỗi mà một số các vị thầy về tư duy tích cực hay thầy về tĩnh lặng (ngay cả một vài thiền sư) gặp thường nhất là tĩnh lặng đúng, buồn đúng, nổi nóng đúng… Nói chung là làm gì đúng thì không sao, sai mới là vấn đề. Ví du, mình ăn nói hồ đồ, có người phê phán đúng, vậy mình không nên nổi giận với người phê phán đúng. Nhưng mình không ăn trộm, tự nhiên có người nói là mình dùng tiền của chùa đi mua xe hơi riêng, nếu mình nổi giận với người này và đưa họ ra tòa, thì đó là chuyện tự nhiên hợp lý.

Đúng là bạn có quyền nổi giận và đưa người đó ra tòa trong trường hợp đó, và đa số mọi người trên thế giới đều sẽ làm thế, và đồng ý ‎ rằng làm thế là đúng.

Dĩ nhiên là đúng.

Nhưng, đó không phải là công phu tu duy tích cực, đó không phải là nội lực tĩnh lặng.

Nếu đa số mọi người trên thế giới làm thế, và bạn cũng làm thế, thì quá dễ. Việc gì bạn phải đọc và thực tập tĩnh lặng hàng ngày để làm gì? Nếu ta “học” lâu năm mà vẫn làm việc như đa số người trên thế giới chẳng học tí nào, thì tại sao phải tốn công học làm gì?

“Công phu” là làm điều mà đa số không làm được, không làm nổi. Sư phụ là vậy đó.

Công phu tĩnh lặng là tĩnh lặng vô điều kiện.

Hắn chửi mình có lý, mình tĩnh lặng. Hắn chửi mình vô lý, mình tĩnh lặng. Hắn chửi mình công bình, mình tĩnh lặng. Hắn chửi mình bất công, mình tĩnh lặng.

Luôn luôn tĩnh lặng trong tất cả mọi trường hợp, mọi tình huống, đó mới là công phu tĩnh lặng.

Tĩnh lặng vô điều kiện.

Điều này chúng ta cần nắm thật vững, vì chỉ cần quan sát các vị thầy một tí–từ các vị thầy chuyên về tư duy tích cực đến các thầy tu của các tôn giáo—là ta có thể thấy ngay là nhiều vị thầy tập luyện nhiều năm vẫn có thể hiểu sai điểm này. Xin đọc lại Vậy À của Hakuin để ta hiểu tĩnh lặng vô điều kiện là gì.

Cho nên khi bạn có một người mạ lỵ bạn bất công, chẳng hạn, đừng nổi nóng và nghĩ cách đối phó ngay. Việc đầu tiên là nói với chính mình câu này: “Mạ lỵ đúng hay sai là việc của hắn. Việc của tôi là tĩnh lặng dù hắn mạ lỵ đúng hay sai.”

Sau khi bạn đã thật sự tĩnh lặng, tức là thấy trong lòng mình không buồn, không giận, không tức tối, và lại thấy thương anh chàng mạ lỵ mình vì “tội nghiệp, hắn còn ngập lặn trong bể u minh”, thì lúc đó bạn mới nên nghĩ đến việc phải làm gì với anh chàng. Có thể là chẳng phải làm gì cả, cứ lặng yên như chẳng gì xảy ra; nhưng cũng có thể vì công ích xã hội nên đưa hắn ra tòa, để mai mốt hắn không làm hại xã hội nữa.

Cứ làm điều gi mình nghĩ là cần làm. Nhưng trước đó, phải biết chắc là tâm mình tĩnh lặng.

Nhưng làm sao ta biết tâm ta tĩnh lặng?

Thưa rất dễ. Nếu có người mạ lỵ mình, chẳng hạn, mà (1) mình không giận, không ghét… ngược lại (2) cảm thấy rất thương và tội nghiệp người đó đang đắm chìm trong u minh như vậy, hai điều này chính là dấu hiệu rõ ràng của một con tim tĩnh lặng.

Sự vắng bóng của hởn giận và sự có mặt của lòng nhân ái là bằng chứng duy nhất của tâm tĩnh lặng. Chưa cảm được lòng nhân ái đó trong tâm bạn (không phải trong miệng bạn) thì tâm bạn vẫn chưa tĩnh lặng.

Nhịn nhưng trong lòng ấm ức, giận dỗi, là im lặng, nhưng chưa tĩnh lặng. Nhịn mà ấm ức có thể có hại cho sức khỏe của bạn vì stress và trầm cảm. Nhưng tĩnh lặng là chẳng có xung động, tức tối, ấm ức gì cả. Con tim vẫn tỉnh thức, an lạc.

Kiêu căng, hờn giận, ghen ghét, dối trá, nghi kỵ… tất cả đều là xung động, không tĩnh lặng.

(Một lúc nào đó ta có thể mất tĩnh lặng, và phạm chính điều cấm kỵ của riêng mình. Đó là vì con người yếu đuối. Lâu lâu trượt chân. Nhưng ít ra là trong tiêu chuẩn sống, ta phải hiểu rõ chuẩn của ta là gì).

Tĩnh lặng vô điều kiện.

Từ đó ta có tình yêu vô điều kiện.

Nhưng tĩnh lặng vô điều kiện để làm gì? Yêu vô điều kiện để làm gì? Sao không sống như mọi người khác?

Ờ, vậy sao? Thế học võ để làm gì, sao không sống như mọi người khác?

Nếu bạn đọc ĐCN mà không thực tập, như người đọc sách võ mà không tập võ, thì sao lại phải tốn thì giờ đọc làm gì?

Vấn đề lớn của rất nhiều người trên thế giới là đọc rất nhiều, “kiến thức” một đầu, nhưng không thực tập gì cả. Như người đọc sách đánh tennis, rồi bàn chuyện tennis, mà chẳng tập tennis bao giờ!

Tại sao?

Đọt Chuối Non không phải là phòng đọc, mà là phòng tập đó. 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nguồn gốc ngày Cá Tháng Tư

jester_reading

April Fools’ Day – ngày nói dối – ngày 1 tháng 4 – là một trong những ngày vui nhộn nhất trong năm trên thế giới. Ở Việt nam ta hay gọi là ngày Cá Tháng 4. Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn gốc của ngày này không rõ ràng. Một số người cho rằng ngày 1/4 là ngày đánh dấu sự chuyển mùa từ Đông sang Xuân tại các quốc gia Âu Mỹ. Còn một số khác lại tin rằng ngày này xuất phát từ việc chấp nhận Công lịch mới.

Thay đổi ngày tân niên

Vào thời xưa, người ta đón mừng tân niên vào ngày 1/4, sau ngày Xuân Phân (20/3 hoặc 21/3). Đến thời trung cổ, nhiều quốc gia Châu Âu tổ chức Lễ Truyền Tin vào ngày 25/3 và xem nó như ngày tân niên. Lễ Truyền Tin là lễ trong Công giáo La Mã (Roman Catholic) và Chính thống giáo (Eastern Orthodox), nhắc lại truyền kỳ Thiên thần Gabriel báo tin cho Maria là bà sẽ thụ thai và sinh con.

pig

Vào năm 1582, Giáo hoàng Gregory 13 ban hành công lịch mới (gọi là lịch Gregory) thay thế lịch cũ Julius. Theo công lịch này, ngày tân niên được chọn là ngày 1/1. Nước Pháp đã đón nhận lịch này và thay đổi ngày đầu năm thành ngày 1/1. Vào thời điểm này, có nhiều người không chấp nhận ngày tân niên 1/1, hoặc cũng có thể họ không biết sự thay đổi đó, nên vẫn tiếp tục chào đón tân niên vào ngày 1/4. Kết quả là họ bị những người khác cười chế nhạo, và phong tục này đã lan rộng khắp Châu Âu.

Tuy nhiên, giả thuyết này cũng chưa xác đáng vì hai lý do:

1) Chưa giải thích được sự lan rộng của ngày nói dối đến các nước Châu Âu khác: Trước năm 1752, lịch Gregory vẫn chưa được chấp nhận ở Anh quốc. Trong khi đó, ngày nói dối hầu như đã hiện diện ở Anh vào thời điểm này.

2) Chưa có bằng chứng lịch sử cụ thể chứng minh cho giả thuyết này. Đó chỉ là phỏng đoán, và sự phỏng đoán này chỉ mới xuất hiện gần đây.

aprilsfoolsday
Câu chuyện giữa Hoàng Đế Constantine và anh hề Kugel

Joseph Boskin, giáo sư Sử học trường Đại học Boston (Mỹ) cũng cung cấp một giả thuyết khác về nguồn gốc của ngày nói dối. Theo ông, ngày này xuất hiện vào thời Constantine Đại Đế, khi một nhóm các chú hề của triều đình nói với hoàng đế La Mã rằng: họ có thể điều hành đất nước tốt hơn ông ấy. Hoàng Đế Constantine lấy làm thích thú về việc này và cho phép một chú hề tên là Kugel làm vua một ngày. Vào ngày đó, anh hề Kugel thông qua sắc lệnh cho sự hài hước này, và từ đó, tục lệ này đã trở thành sự kiện hàng năm.

Giả thuyết này được đăng trên nhiều bài báo của Associated Press (AP – thông tấn xã Hoa kỳ, lớn nhất thế giới) vào năm 1983 và gây được nhiều chú ý trong công chúng. Thật ra, đó chỉ là trò đùa bịa đặt của giáo sư Boskin. Hai tuần sau, thông tấn xã AP mới nhận ra họ chính là nạn nhân của trò đùa của vị giáo sư kia.

Sốt đầu xuân

Đáng chú ý là có nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới đều có những ngày vui nhộn vào đầu tháng 4, và kéo dài vài tuần. Những người theo giáo hội La Mã có lễ hội Hilaria vào ngày 25/3 – ngày lễ phục sinh của thần Attis (một vị thần trong thần thoại Hy Lạp). Lịch Ấn giáo thì có ngày Holi và lịch Do Thái có ngày Purim. Nhìn chung, vào thời điểm giao mùa từ Đông sang Xuân, người ta tổ chức những lễ hội vui nhộn để chào đón mùa xuân.

april01
Lễ hội khắp nơi trên thế giới

Ngày nói dối được tổ chức ở khắp các nước phương Tây. Vào dịp này, người ta có thể gửi cho nhau những món quà nghịch ngợm, chơi khăm nhau và cố làm cho mọi người tin vào những điều ngớ ngẩn.

Người Pháp gọi ngày nói dối là ngày Cá tháng 4. Vào ngày này, thỉnh thoảng trẻ em Pháp lại dán hình con cá lên lưng bạn học, và la lên “Cá tháng 4” khi trò chơi khăm bị phát hiện.

Nếu các bạn muốn đọc về 100 câu chuyện Cá Tháng tư trong lịch sử, bằng tiếng Anh, thì nhấn chuột vào đây.

Dưới đây là 3 chuyện hấp dẫn trong số 100 chuyện đó, đã dịch ra tiếng Việt. Và một bức ảnh Cá tháng tư năm 2001 ở Đan Mạch.

Chúc các bạn một ngày Cá tháng tư cười bể bụng! 🙂

Mến,
Hoành 🙂

(PS: Phần chính của bài này đă đăng vào ngày Cá tháng tư 2009)
.

#1. Vụ mùa nuôi Thụy Sĩ
1957: Trên kênh truyền hình đáng tin BBC, chương trình tin tức Panorama thông tin rằng nhờ mùa đông không quá lạnh và việc ngăn ngừa được các con họ hung nuôi, nông dân Thụy Sĩ đang hưởng thêm được một vụ mùa nuôi (spaghetti) từ các cây nuôi. Rất nhiều thính giả tin thông tin này. Nhiều người gọi BBC hỏi cách trồng cây nuôi. Nhân viên BBC trả lời rất ngoại giao: “Lấy một mớ nuôi, trộn với một hộp sốt cà chua, và hy vọng chuyện tốt sẽ xảy ra.”

# 2. TV màu “ăn liền”
1962:
Vào năm 1962 chỉ có một kênh TV ở Thụy Sĩ (và Việt Nam chưa có TV), và đó là kênh đen trắng. Chuyên viên của kênh TV này, Kjell Stensson, xuất hiện trên chương trình tin tức và thông báo rằng, nhờ một phát minh mới, khán giả có thể đổi TV đen trắng của họ thành TV màu. Chỉ cần lấy vớ nylon mỏng của phụ nữ bọc lên màn ảnh là xong. Rồi Stensson làm thử cho mọi người thấy. Hàng nghìn khán giả làm theo. (Phải đến 8 năm sau, Ngày 1 tháng tư, 1970, Thụy Sĩ mới có TV màu).

#3: Tiểu bang Alabama đổi giá trị của số Pi
1998:
Số báo tháng tư 1998 của báo Người Mê-hi-cô Mới Cho Khoa Học và Lẽ Phải có một bài báo nói về quốc hội của tiểu bang Alabama (Mỹ) đã thông qua đạo luật thay đổi số Pi từ 3,14159 thành 3,0 như trong Thánh Kinh. Bài báo liên được tải lên Internet, và chuyển đi vòng thế giới qua email. Quốc hội Alabama nhận được hàng trăm cú điện thoại chống đối đạo luật. Bài báo đó, thật ra do nhà vật lý Mark NBoslough viết, dùng giọng văn của của quốc hội.

Cá tháng tư 1/4/2001 ở Đan Mạch về hệ thống xe điện ngầm mới toanh

Học im lặng

Học trò tông Thiên Thai từng học tĩnh tâm trước khi Thiền du nhập vào Nhật. Bốn cậu học trò Thiên Thai, là bạn thân với nhau, cùng hứa là sẽ giữ bảy ngày lặng im.

Ngày đầu tiên mọi người đều im lặng. Cuộc tĩnh tâm khởi sự tốt, nhưng đến đêm các cây đèn dầu bắt đầu yếu dần, một cậu không chịu nổi bèn gọi người giúp việc: “Chỉnh mấy cây đèn lại.”

Cậu thứ nhì ngạc nhiên nghe cậu kia nói. “Chúng ta không được nói tiếng nào,” cậu ta nói.

“Hai cậu ngu quá đỗi. Tại sao các cậu nói?” câu thứ ba hỏi.

“Tớ là người duy nhất không nói,” cậu thứ tư kết luận.
.

Bình:

• Bình thường ta tưởng ta tĩnh lặng, nhưng giữ được tâm tĩnh lặng khi đụng chuyện mới là tĩnh lặng.

Tâm chưa tĩnh lặng thì khi có một tí tí chuyện là quên mất tĩnh lặng.

Cho nên lúc phải chú tâm giữ tĩnh lặng nhất là lúc có chuyện.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Learning to Be Silent

The pupils of the Tendai school used to study meditation before Zen entered Japan. Four of them who were intimate friends promised one another to observe seven days of silence.

On the first day all were silent. Their meditation had begun auspiciously, but when night came and the oil lamps were growing dim one of the pupils could not help exclaiming to a servant: “Fix those lamps.”

The second pupil was surprised to hear the first one talk. “We are not supposed to say a word,” he remarked.

“You two are stupid. Why did you talk?” asked the third.

“I am the only one who has not talked,” concluded the fourth pupil.

# 71

Chat với Tuổi 20

Chào các bạn,

20 là tuổi lưng chừng ở đại học. Hình như người ta hay dùng từ tuổi 20 như là một cách nói tắt để chỉ tuổi đại học.

Tuổi 20 thực sự là tuổi đẹp nhất trong đời người, có lẽ vì nó là tuổi bắt đầu khai phá cuộc đời với con mắt và trí óc của chính mình.

Trước đó thì cái nhìn của chúng ta là qua cách nhìn của cha mẹ thầy cô dạy lại. Nhưng tại đại học, chúng ta được khuyến khích có cái nhìn độc lập và khai phá hơn. Và cuộc đời như một thế giới mới trải dài trải rộng trước mắt ta, một bình nguyên vĩ đại mà hầu như chạy đường nào, rẽ ngã nào, khung cảnh cũng mới lạ và đẹp đẽ.

Và chúng ta có năng lực để chạy hoài mà không cần nghĩ.

Tuổi 20 không cần thầy như là thời tiểu học và trung học. Tuổi 20 cần bạn và anh chị. Nếu giáo sư đại học có thể xử với sinh viên như anh chị thì có lẽ là sinh viên sẽ tấn tới hơn. Tuổi 20 muốn tự mình khai phá, chỉ với một tí hướng dẫn chỗ này chỗ kia của các anh chị.

Tuổi 20 muốn trực nghiệm thế giới. Người ta không thể trao kinh nghiệm của họ lại cho tuôi 20 với huấn lệnh: “Cầm lấy mà dùng. Tôi đã tốn xương máu để mua kinh nghiệm đó.” Ồ, kinh nghiệm dù là mua bằng gì thì cũng chẳng giá trị bao nhiêu với người khác, nhất là với những người ở thế hệ khác, vì “thời đó nó vậy, thời này khác.” Làm sao em biết yêu là khổ cho đến khi chính em bị khổ vì yêu? Khổ này hơn nhức răng, cộng sốt rét ngã nước, cộng đau bao tử, cộng đạp phải đinh, cộng vài thứ nhức nhối khác nữa mà em đã biết xưa nay. Khổ này em đã nghe nói nhiều rồi, nhưng làm sao mường tượng được, cho đến khi em bị… chia tay. Cho nên em lao vào thế giới với tất cả đắm say của người phiêu lưu vào giữa rừng già, sẵn sàng gặp cọp beo rắn rít.

Tuổi 20 l‎ý tưởng, nhìn cuộc đời với con mắt của những người sẽ mang lại vinh quang cho quả đất. Tuổi 20 yêu mình, yêu người và yêu đời. Và cuộc đời là những vầng thái dương tỏa sáng trên những thảo nguyên lộng gió. Người 20 là những du mục sãi ngựa ngày đêm trên những thảo nguyên, đo địa cầu bằng những nhịp ngựa không bao giờ nghỉ.

Tuổi 20 muốn xây dựng một thế giới mới, trong sáng hơn, sạch sẽ hơn, công bằng hơn, yêu ái hơn.

Tuổi 20 yêu ánh sáng. Tuổi 20 là ánh sáng. Thế giới này thực là sẽ tối tăm hơn nhiều nếu không có những vầng sáng 20 đi lại ngày đêm.

Thế giới là một vườn hoa, và tuổi 20 là những ngưởi làm vườn đầy nhựa sống.

Trên mảnh đất này, em muốn xây dựng một quê hương ngời sáng, những xóm làng đầy ắp tiếng cười.

Em là đại dương. Em là những đợt sóng chập chùng trên những bờ đá quê hương, vuốt ve những bãi cát dài nam bắc trên bờ Thái Bình Dương.

Em là những cánh chim trời vượt Trường Sơn, qua bên kia núi.

Em là những cơn gió hy vọng thổi khắp quê hương.

Em là hôm nay. Em là ngày mai.

Em là ánh mắt vượt đại dương đến những chân trời mới.

Anh có gì chỉ cho em không?

Ồ, anh chỉ có ba điều thôi.

Thứ nhất, em là thế giới, thế giới là em. Hãy đi và khai phá thế giới, rồi em sẽ tìm được con người sâu thẳm của em.

Thứ hai, trên đường khai phá, các từ đánh vần khác nhau thường có nghĩa khác nhau, đừng lầm lộn. Vi dụ: “Yêu” đánh vần khác “sở hữu”, “công lý” đánh vần khác “áp bức”. Đừng nhầm chữ này qua chữ nọ.

Và thứ ba, quả tim em trong sáng. Hãy giữ nó vậy. Làm bẩn thì dễ, giữ sạch thì khó.

Chỉ có vậy thôi.

Hãy đi, khai phá, và dựng xây thế giới.

A. Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

A Whole New World – nhạc phim Aladdin – Walt Disney

Cả Một Thế Giới Mới

Anh có thể cho em thấy thế giới
Rực sáng, lấp lánh, huy hoàng
Công chúa, nói cho anh biết khi nào
Em đã để quả tim em quyết định?

Anh có thể mở mắt em
Đưa em đi từ diệu kỳ này đến diệu kỳ khác
Bên trên, hai bên, phía dưới
Trên tấm thảm bay này

Cả một thế giới mới
Một cái nhìn mới lạ thường
Chẳng ai cản ta
Hay bảo ta phải đi đâu
Hay nói là chúng ta chỉ đang mơ mộng

Cả một thế giới mới
Một nơi chói sáng em chưa từng biết
Nhưng khi ở trên này
Em thấy rất rõ
Là em hiện đang ở trong một thế giới mới với anh

Cảnh sắc không tưởng tượng được
Cảm giác không thể tả được
Bay lên, loạng choạng, lượn tự do
Giữa bầu trời kim cương vô tận

Cả một thế giới mới
Đừng dại dột nhắm mắt
Cả trăm ngàn thứ để nhìn
Nín thở – Sẽ còn hay hơn
Anh/em như là một sao băng
Anh/em đã đi rất xa
Anh/em không thể trở lại chốn cũ

Cả một thế giới mới
Mỗi khúc quanh là một ngạc nhiên
Với những chân trời mới để khám phá
Mỗi phút giây đều đáng nhớ
Anh/Em sẽ đuổi theo chúng bất kỳ nơi đâu
Ta có thời gian
Hãy để anh chia sẻ với em cả thế giới mới này

Cả một thế giới mới
Đó là nơi ta sẽ ở
Một cuộc đuổi bắt hấp dẫn
Một nơi diệu kỳ
Cho anh và em

(TĐH dịch)

Chào các bạn,

A Whole New Wolrd, do Peabo Bryson & Regina Belle hát, trong phim Aladdin, tức là Alibaba và Chiếc Đèn Thần, của Walt Disney, được xem là bản nhạc hay nhất, hay ít ra là một trong những bản nhạc hay nhất trong các phim Walt Disney. Bài hát này là đoạn Aladdin (Alibaba) đưa công chúa Badroulbadour cùng bay trên thảm bay lần đầu.

Cả một thế giới mới lung linh huyền diệu ngoài kia. Nếu chúng ta có thể nhìn toàn cảnh, từ góc độ cao. 🙂

Mời các bạn nghe Peabo Bryson và Regina Belle hát.

Lời tiếng Anh theo sau video.

Chúc các bạn một ngày lung linh mới!

Mến,
Hoành

Aladdin & Jasmine – A Whole New World

A Whole New World

I can show you the world
Shining, shimmering, splendid
Tell me, princess, now when did
You last let your heart decide?

I can open your eyes
Take you wonder by wonder
Over, sideways and under
On a magic carpet ride

A whole new world
A new fantastic point of view
No one to tell us no
Or where to go
Or say we’re only dreaming

A whole new world
A dazzling place I never knew
But when I’m way up here
It’s crystal clear
That now I’m in a whole new world with you
Now I’m in a whole new world with you

Unbelievable sights
Indescribable feeling
Soaring, tumbling, freewheeling
Through an endless diamond sky

A whole new world
Don’t you dare close your eyes
A hundred thousand things to see
Hold your breath – it gets better
I’m like a shooting star
I’ve come so far
I can’t go back to where I used to be

A whole new world
Every turn a surprise
With new horizons to pursue
Every moment red-letter
I’ll chase them anywhere
There’s time to spare
Let me share this whole new world with you

A whole new world
That’s where we’ll be
A thrilling chase
A wondrous place
For you and me

Cái quí giá nhất trên thế giới

Sozan, một thiền sư Trung quốc, được một người học trò hỏi: “Cái gì qu‎í giá nhất trên thế giới?”

Thiền sư trả lời: “Đầu của con mèo chết.”

“Tại sao đầu của con mèo chết là cái quí giá nhất trên thế giới?” người học trò thắc mắc.

Sozen trả lời: “Bởi vì chẳng ai có thể định giá nó được.”

Bình

• Thiền sư Sozan là Sozan Honjaku, tức Tào Sơn Bản Tịch, người đã cùng thầy là Động Sơn Lương Giới lập ra dòng thiền Tào Động tại Trung quốc vào thế kỷ thứ 9. “Tào Động” là ghép hai họ của hai vị tổ sư này.

Vào thế kỷ 13, thiền sư Nhật là Đạo Nguyên Hi Huyền (dōgen kigen) đưa tông này qua Nhật và Tào Động trở thành môn phái Thiền quan trọng, ngày nay vẫn còn. Thiền Tào Động khác với thiền Lâm Tế (Nhật) ở chỗ Tào Động chú trọng đến thiền chỉ, chỉ an nhiên tọa thiền là đủ. Lâm Tế chú trọng đến thiền quán, nhất là quán công án.

• Đầu mèo chết chẳng có giá trị gì hết. Người ta ăn đủ loại đầu—đầu heo, đầu bò, đầu cá, đầu gà…—nhưng làm thịt mèo thì vất đầu mèo.

Nếu “cái quí giá nhất thế giới” (đầu mèo chết) chỉ là rác chẳng có giá trị gì cả, thì không phải là tất cả mọi thứ khác trên thế giới cũng đều là rác chẳng có giá trị gì hết hay sao?

Tại sao?

Tại vì đời là mộng, huyễn, bào, ảnh (mộng, ảo, bọt, bóng – Kinh Kim Cang).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Most Valuable Thing in the World

Sozan, a Chinese Zen master, was asked by a student: “What is the most valuable thing in the world?”

The master replied: “The head of a dead cat.”

“Why is the head of a dead cat the most valuable thing in the world?” inquired the student.

Sozan replied: “Because no one can name its price.”

#70

“Tiếng gọi” của bạn là gì?

Chào các bạn,

Mỗi người chúng ta sinh ra là để làm việc gì đó trong đời. Người ta nói việc đó đã được tiền định, hoặc do nhân duyên kiếp trước hoặc là ‎ ‎ý chúa hoặc là cái gì đó trong gin của ta. Điều đó gọi là “tiếng gọi” (calling), tiếng kêu đưa ta vào con đường đặc biệt của riêng ta.

Nhiều người đang say mê điều họ làm từng giây đồng hồ sẽ xác nhận với bạn là họ đang làm điều họ được sinh ra để làm, vì họ cảm thấy thật sự say mê và hạnh phúc, dù điều đó đôi khi có thể mang đến biết bao là gian nan khổ ải.

Khi đã tìm ra được tiếng gọi trong lòng, tìm ra được sứ mệnh của mình rồi, mọi sự thành dễ dãi—tiền bạc, danh tiếng, thành công, thất bại… không thành vấn đề. Cứ mỗi ngày làm theo tiếng gọi, phục vụ sứ mệnh của mình, thì chuyện gì khác cũng đều trở thành không quan trọng. Chính vì thế mà có những người đã sẵn lòng mất tất cả, kể cả sinh mạng mình, chiến đấu cho tổ quốc, hay vào những khu rừng hẻo lánh để truyền đạo cho thổ dân ăn thịt người, hay hy sinh vượt mọi gian khổ để trở thành ca sĩ… Liếc mắt điểm nhanh qua chuyên mục Chứng Nhân của Đọt Chuối Non ta có thể nhận ra sự tập trung dữ dội vào sứ mệnh của mình của những người đã tìm ra tiếng gọi— Cô giáo Thùy Trâm, chị Nguyễn Thị Tiến tìm xác đồng đội, Robert Poduna trầm lặng trên đồi Buông, nhà cách mạng Y Ngông Niê Kdăm, Cô giáo Huỳnh Huệ, ca sĩ Thủy Tiên, Nguyễn Hữu Vinh lưu đày trên đảo xanh, Bùi Văn Toản ghi dấu tù nhân Côn Đảo.

Bí mật thành công là tìm được tiếng gọi trong lòng mình.

Nhưng, ngoại trừ một thiểu số may mắn nghe được tiếng gọi, đối với đa số người trên thế giới, tiếng gọi đó luôn luôn là một bí mật.

Tức là, bí mật thành công là tìm được tiếng gọi luôn luôn bí mật đó 🙂 Nhưng đã là bí mật thì không thể bật mí được. 🙂 Đó là vấn đề của đại đa số người, và vì thế mà đa số chúng ta thường cảm thấy đi qua cuộc đời như bèo dạt mây trôi, đời đẩy đến đâu trôi đến đó, chứ cũng chẳng biết sứ mệnh mình là gì.

Nếu bạn là một trong những người như thế thì, chào mừng bạn bước lên thuyền (cho cùng hội cùng thuyền)!

Những người đã nghe tiếng gọi đều xác nhận một điều là họ luôn luôn có thôi thúc trong lòng về một chuyện nào đó, không bỏ qua được. Thôi thúc có nhiều hình thức—khi thì ồ ại như đại dương, khi thì nhẹ nhàng như gió thoảng, nhưng điều giống nhau là thôi thúc luôn có mặt ở đó, luôn rỉ rả ngày này qua tháng nọ trong lòng, không trả lời nó thì không xong.

Để mình chia sẻ với các bạn kinh nghiệm riêng của mình. Từ năm 17 tuổi, mình đã có một câu hỏi trong đầu: “Làm thế nào để Việt Nam ra khỏi chiến tranh đói nghèo và thành cường thịnh?” Câu hỏi này chẳng có gì ồ ạt cả, nhưng nó cứ ở đó trong đầu ngày đêm, không chịu tắt công-tắc, rất phiền toái. Vì vậy mình nghiên cứu đủ thứ môn trên trời dưới đất để tìm câu trả lời—luật, tâm lý học, kinh tế học, chính trị học, triết học, thánh kinh…. hằng mấy chục năm không nghĩ. Rất nhiều khi rất bực mình vì chẳng tập trung tâm trí vào việc gì khác được… Và trong bao nhiêu năm mình chẳng hề nghĩ đến tiếng gọi của mình là gì, luôn luôn cảm thấy như mình chẳng có tiếng gọi gì ráo, vì làm nghề gì thấy cũng trống trải. Mãi cho đến những năm về sau này mình mới “ngộ” ra là mình đã có một tiếng gọi cả mấy mươi năm mà không thấy… tức là làm gì mà giúp được quê mẹ một tí thì mình vui, còn không thì làm bất kì việc gì trên đời cũng thấy trống trải.

Có lẽ là nhiều người chúng ta có những thôi thúc tương tự, nhưng ta không biết rằng đó là tiếng gọi của mình, có lẽ vì ta không để ‎ý đến nó, hoặc là bị những cái ồn ào khác trong đời sống bận rộn hàng ngày lấn át, làm ta không nghe được nó. Nhưng có lẽ cách dễ nhận ra nhất là ta không vui với việc ta đang làm. Cảm thấy trống trải và vô nghĩa. Đó rất có thể là dấu hiệu ta đang có một tiếng gọi bên trong mà chưa nghe được, và chưa bắt tay với nó được.

Thường ta hay chạy theo những tiếng nói bên ngoài—bố mẹ nói học cái này tốt cái kia xấu, bạn bè nói làm việc này việc kia kiếm ra tiền lẹ—cho nên ta không nghe được tiếng gọi bên trong. Hoặc đôi khi ta nghe, nhưng chẳng buồn làm gì với nó vì ta không muốn thay đổi cuộc sống hiện tại.

Mình nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy đã sống rất trọn vẹn, cho đến khi ta đã đi theo tiếng gọi trong lòng.

Trong thời gian chờ đợi, chúng ta nên làm hai điều: (1) Học và thực tập những kỹ năng tốt để xây vốn liếng, và để luôn luôn sẵn sàng cho tiếng gọi, dù tiếng gọi đó là gì. Và (2) tĩnh lặng thường xuyên để có thể nghe những tiếng nói của quả tim mình.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Người ghi dấu tù nhân Côn Đảo

“Tôi sắp trả được món nợ với anh em rồi” – ông Bùi Văn Toản bùi ngùi nói khi thông báo về bản danh sách tù nhân Côn Đảo 1940-1945 vừa hoàn thành. Nhưng nghe giọng ông, biết là còn lâu ông mới cho phép mình nghỉ ngơi trong cuộc hành trình ngược về quá khứ đã chọn.

Hằng ngày, ông Toản dành hết thời gian cho việc sưu tầm, nghiên cứu về các cựu tù Côn Đảo – Ảnh: Gia Tiến

Trong khi người người nếu không chen chân trong cuộc đua chóng mặt về phía tương lai thì cũng tìm mọi cách để an trú trong hiện tại, ông Toản lại nhọc nhằn lặn lội đi ngược thời gian.

Bùi Văn Toản – tù nhân Côn Đảo, cặp danh từ ấy đã đi song song trong cuộc đời ông kể từ những chuyến tàu lưu đày chở những chàng trai, cô gái tuổi 20 nhắm thẳng hướng địa ngục trần gian đến ngày nay, khi nổi danh là một chuyên gia về nhà tù Côn Đảo.

“Đó là một mối duyên, là nhiệm vụ” – ông giải thích giản dị về lựa chọn của mình.

Mối duyên giữa địa ngục

Nhà tù Côn Đảo là một địa ngục trần gian, điều ấy ngày nay ai cũng đã biết, đã thấy qua những xà lim, hầm tối, chuồng cọp qua bao năm hòa bình vẫn còn nguyên sự thù nghịch với cuộc sống.

Người ta chỉ không biết những người tù đã tồn tại, đã sống, đã vượt qua địa ngục ấy như thế nào, bằng cách nào và Bùi Văn Toản bảo ông đã được giao nhiệm vụ làm một người kể chuyện.

Ấy vậy nhưng cũng có nhiều nơi hiểu lầm, ngỡ chúng tôi dựa vào chút quá khứ mà trục lợi khiến tôi rất buồn lòng. Nhưng rồi nghĩ đến những anh em đã nằm lại không còn chút tro bụi, giờ chỉ còn cái tên trong cuốn sách nên lại cắn răng đi, đi từ Nam chí Bắc. Sưu tầm được danh sách mấy ngàn, vài trăm người được thân nhân nhận ra, tìm về là may mắn lắm rồi

Đó là những ngày trại tù câu lưu (tù không được kết án) 6B sôi động với những đợt tuyệt thực, chống chào cờ, đòi chế độ cho tù chính trị.

Máu đổ hằng ngày, đi đu dây giữa sự sống và cái chết, những người tù đã chọn con đường sống thật đàng hoàng. Trại 6B làm báo, diễn văn nghệ, tổ chức các lớp học ngay giữa những cơn mưa dùi cui, ma trắc, vôi bột, lựu đạn cay, những đợt siết bóp lương thực.

Vốn là một sinh viên văn hay chữ tốt, Bùi Văn Toản thường xuyên lãnh phần biên tập, trình bày báo. Và những tờ báo từ trại 6B vẫn giữ được sự chỉn chu đến kỳ lạ kể cả khi nhìn với con mắt hôm nay.

Toản còn được giao giữ gìn báu vật của toàn trại là chiếc radio và mấy cục pin để thỉnh thoảng cả phòng tự thưởng một buổi cập nhật tin tức bên ngoài. Và một việc tối quan trọng khác nữa: lập danh sách toàn trại để khi có dịp thì truyền ra ngoài đấu tranh yêu cầu giao trả tự do.

Mối duyên ghi chép, sao lục đến từ đấy, nhiệm vụ lưu giữ thông tin của những người bạn tù cũng đến từ đấy.

Có khi một trang giấy pơluya vừa tỉ mẩn chép xong đã phải bỏ vào miệng nhai nuốt để tránh bị phát hiện. Có khi người bạn tù vừa rủ rỉ đọc tên thật, bí danh, quê quán vừa cùng nhau lặng đi nhớ những ngày thơ ấu thanh bình hôm trước, hôm sau đã bị tra tấn, đàn áp đến chết…

“Và cái duy nhất họ còn lại trên đời chính là chút thông tin trong mảnh giấy vụn. Tôi nghĩ đến cha mẹ, vợ con, anh em họ đang trông chờ nơi quê nhà mà thấm thía những việc người may mắn được sống như mình sẽ phải làm. Không chỉ là những cái nắm tay, những lời hứa trước phút lâm chung của anh em, mà là những công việc sẽ phải làm bằng hai, ba lần sức người, thay phần những người đã không về” – ông Toản giải thích về mối duyên của cuộc đời mình với số phận những tù nhân Côn Đảo.

Sau giải phóng, về với cuộc sống công chức không được bao năm, ông Toản xin nghỉ hưu non để thực hiện tâm nguyện của mình.

Trở đi trở lại Côn Đảo, tìm lại đồng đội, xác minh những câu chuyện, cuộc sống kỳ diệu của những người tù chính trị Côn Đảo đã được ông lần lượt tái hiện qua các tác phẩm Ác liệt Côn Đảo, Côn Đảo – 6.694 ngày đêm, Những tờ báo của tù nhân Côn Đảo, Huyền thoại Côn Đảo

Những câu chuyện thật được quay lại như một cuốn phim không thể thật hơn được nữa đã làm rơi nước mắt bao nhiêu người trong những cuộc họp mặt hội cựu tù, nhưng vẫn chưa làm yên lòng tác giả của nó. Món nợ vẫn còn.

Ông Bùi Văn Toản cầm cuốn sách Tù nhân Côn Đảo 1940-1945 vừa chuyển về từ nhà in chiều 26-3 – Ảnh: Gia Tiến

Đám giỗ, đám giỗ…

Một ngày đầu năm 2000, chúng tôi nhận được một lá thư yêu cầu đăng giúp một mẩu tin nhỏ với nội dung là lạ “Cung cấp miễn phí thông tin về ngày mất, địa điểm bia mộ của các tù nhân Côn Đảo. Liên hệ Bùi Văn Toản”.

Tìm đến và tôi được biết đằng sau thông báo chỉ vỏn vẹn hai dòng kia là những ngày tháng ông Toản gò lưng trong Trung tâm Lưu trữ quốc gia khu vực 2 dò tìm, trích lục, sao chụp, ghi chép, đối chiếu, dịch thuật hàng chồng hồ sơ của nhà tù Côn Đảo, tòa tiểu hình, tòa đại hình, tòa án binh, tòa hình sự…

Có tài liệu còn lưu rất đầy đủ từng bản cung, có tài liệu chỉ vài dòng nguệch ngoạc, có tập vừa động đến đã vụn nát từng mảnh, nhưng những kinh nghiệm vượt khó chi li học được trong tù và sự thôi thúc mãnh liệt đã giúp ông chắt lại được những thông tin dù nhỏ nhất.

Các hồ sơ hầu hết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và ghi tên người không dấu, ông còn cẩn thận ghi lại đặc điểm nhân dạng, nếu may mắn có ảnh để tránh nhầm lẫn.

Mẩu thông tin được đăng báo. Nhà ông Toản không lúc nào ngớt khách. Những bà mẹ tay xách giỏ lác đựng đòn bánh tét và một mảnh thư nát, tấm giấy căn cước ố vàng đến tìm, dò tên chồng, tên con. Những phụ nữ, anh thanh niên ngơ ngác và đầy hi vọng mang theo một lời trăng trối của mẹ, của bà là phải cố tìm thông tin về cha.

Một bà mẹ ở Bến Tre đã khóc hết nước mắt khi ông Toản tìm ra thông tin và cả tấm ảnh của chồng bà. Lần đầu tiên con bà biết mặt cha và gia đình được thắp nén nhang lên bàn thờ không phải vào ngày giỗ chung 27-7.

Được làm người khách quý nhất dự đám giỗ hôm ấy, vai ông Toản thấm không biết bao nhiêu nước mắt của những người trong gia đình, những giọt nước mắt đã đọng lại từ bao năm.

Thêm một đám giỗ nữa, một đám nữa… Tất cả đã khiến ông Toản vượt qua những khó khăn trong cuộc sống riêng, ngày ngày cầm mẩu bánh mì “định cư” luôn trong thư viện để tìm, tìm nhiều hơn nữa thông tin, giải mã những con số tù vô tri vô giác.

Cứ như thế hơn mười năm. Cuốn Côn Đảo – danh sách hi sinh và từ trần xuất bản năm 2009 cung cấp thông tin về 3.276 người tù đã mất tại Côn Đảo trong giai đoạn 1930-1975.

Hai tập Tù nhân Côn Đảo 1940-1945 chuẩn bị xuất bản sẽ cung cấp thông tin về hơn 5.000 người tù nữa. Mỗi người chỉ có nửa trang tập hợp thông tin thiết yếu nhất như họ tên, quê quán, ngày bị bắt, ngày ra tòa, phần ghi tội danh vắn tắt “vận động lật đổ chính quyền, tập hợp lực lượng bất hợp pháp”, “phản nghịch”, “chống lại công cuộc bảo vệ quốc gia” và những bản án “tử hình, khổ sai, biệt xứ, cấm cố trong hầm” cũng đủ làm tim người đọc đập mạnh, đủ làm dịu đi nỗi khắc khoải của mất mát trong lòng những thân nhân.

Có những địa danh như Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc xuất hiện dày đặc trong cùng một thời điểm, vẽ nên rất rõ nét một phong trào yêu nước tại địa phương.

Mười năm ấy, ông Toản đã xử lý một lượng tài liệu cao khoảng vài trăm mét, đã học thêm phần mềm Access để xử lý số liệu, đã trở lại giảng đường và khai thác những đề tài về Côn Đảo để làm luận văn thạc sĩ và đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ sử học.

Thế nhưng cực nhất với ông lại là việc xuất bản và đưa những cuốn tài liệu rất quý ấy đến tay những người cần nó.

“Những cuốn sách dày cả ngàn trang, chứa tin tức về mấy ngàn người tù Côn Đảo khi xưa đương nhiên chẳng thể mang ra nhà sách bày bán, chẳng thể có doanh thu. Hội cựu tù chúng tôi phải đi vận động kinh phí để in ấn, rồi lại gom góp kinh phí để… đi tặng”.

Đơn vị này cho giấy, đơn vị kia cho công in, bản quyền tác giả thì… không tính, ông Toản cùng bạn bè thân thiết lặng lẽ gom góp lộ phí, ôm đồm những bản danh sách nay đã có hình vóc như một cuốn đại từ điển lên xe máy, xe đò đi đến từng tỉnh, vào từng tỉnh ủy, ủy ban trao tặng với mong muốn duy nhất: thân nhân những người cựu tù trong tỉnh có dịp được mở cuốn sách tìm tên người nhà và những người chưa có chế độ chính sách sẽ được Nhà nước lo đầy đủ.

Trở thành khách mời danh dự của hàng trăm đám giỗ, được nghe thêm hàng ngàn câu chuyện về những người bạn đồng cảnh tù ngục là phần thưởng lớn nhất với ông Toản đến ngày này.

Ông mới vui mừng gọi điện báo tin: theo chỉ đạo của Ban Bí thư, Bộ Lao động – thương binh và xã hội sẽ tổ chức họp bàn việc lập bia tưởng niệm những người tù chính trị hi sinh tại Côn Đảo vào tuần sau.

Chỉ đống sách mới đưa từ nhà in về, ông trầm giọng: “Bia đá thật cần để anh em chúng tôi không bị lãng quên, mong bộ tiến hành làm sớm. Phần tôi, tôi chỉ có thể lập bia giấy cho anh em mà thôi…”.

PHẠM VŨ
Phóng viên Tuổi Trẻ