Sách giáo khoa đang ảnh hưởng trầm trọng đến nhận thức, tư duy học sinh

Sách giáo khoa đang ảnh hưởng trầm trọng đến nhận thức, tư duy học sinh

MTG – “Cái quan trọng nhất lúc này là phải xóa bỏ được sự độc quyền trong viết sách giáo khoa (SGK) và SGK là do cả thầy và trò cùng làm ra. Một bộ SGK chuẩn phải được trải qua thực tiễn giáo dục, được giáo viên và học sinh chấp nhận, thể hiện trách nhiệm đến cùng của người viết sách…”

Đó là khẳng định của TS Ngô Thị Tuyên, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam khi trao đổi với Một Thế Giới xung quanh câu chuyện cải cách và thay mới SGK đang được Bộ GD-ĐT gấp rút triển khai thực hiện.


Tiến sĩ Ngô Thị Tuyên

Thưa TS Ngô Thị Tuyên, mới đây Bộ GD-ĐT có trình Thủ tướng Chính phủ “Dự thảo đề án xây dựng chương trình và SGK sau năm 2015”. Theo đó, giáo dục của ta sẽ đẩy mạnh các môn học tự chọn và dạy học theo hướng phân hóa, bà đánh giá như thế nào về xu hướng thay đổi này?

Trước tiên, cần quan tâm đến giáo dục cơ bản, phổ thông, nền tảng cho mọi đối tượng người học. Sau đó đúng là cần tiến tới phân hóa người học theo khả năng của họ. Tự chọn cũng là một cách làm để phân hóa.

Từ trước đến nay, giáo dục của ta vẫn mong muốn phát triển theo hướng phân hóa. Tuy nhiên, hiệu quả thì chưa được như mong đợi. Phân hóa thực sự trong giáo dục phải tới từng cá nhân học sinh.

Muốn vậy, thiết kế chương trình nói chung hay thiết kế cụ thể từng tiết học đều phải đặt ra mục tiêu này. Cấu tạo chương trình học để đạt được sự phát triển tư duy và phân hóa người học thì phải đi từ cái trừu tượng tới cái cụ thể, càng cụ thể thì càng phân hóa tốt.

Bà có thể nói về những bất cập của hệ thống SGK hiện hành?

Theo tôi, hệ thống SGK hiện tại đang thiếu tính hệ thống. Nó được ghép, cộng lại từ nhiều nguồn, nhiều người biên soạn nhưng thiếu căn cứ lý thuyết và không có “chỉ huy trưởng”.

Khối kiến thức không quá nhiều nhưng không có hệ thống, làm ảnh hưởng trầm trọng tới quá trình nhận thức và tư duy của học sinh. Học sinh của chúng ta đang phải học quá nhiều kiến thức vụn vặt nhưng lại không hình thành được phương pháp tư duy, phương pháp nhìn nhận, đánh giá vấn đề.

Chỉ cần chia ra thành 3 lĩnh vực giáo dục cơ bản: khoa học, nghệ thuật và lối sống là đủ bao quát tất cả, nhưng các lĩnh vực này không loại trừ nhau, mà làm phong phú lẫn nhau.

Khoa học giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức bằng sự tường minh của các khái niệm; làm phong phú tâm hồn nhờ có nghệ thuật; nhận thức giá trị cuộc sống, giá trị bản thân, biết sống hòa hợp với thế giới hiện đại bằng giáo dục lối sống. Tất cả đều rất thật, rất tường minh, rất gần với cuộc sống của trẻ.

Trong Dự thảo trình Thủ tướng Chính phủ, Bộ cũng đã vạch rõ lộ trình của việc thay mới SGK. Theo đó, từ 2014 đến tháng 6.2016 sẽ hoàn thành cơ sở khoa học về đổi mới chương trình và sách giáo khoa và bộ sách lớp 1, lớp 6 và lớp 10; từ tháng 7.2016 – 2022 sẽ hoàn thành thí điểm và ban hành SGK mới ở các lớp còn lại. Theo bà, lộ trình như thế có khả thi?

Có vẻ là hơi vội vã rồi! Để có một bộ SGK chuẩn là cả một quá trình lâu dài và liên tục. SGK phải là do cả thầy và trò cùng làm ra, trên ý nghĩa là một bộ SGK chuẩn phải được trải qua thực tiễn giáo dục, được giáo viên và học sinh chấp nhận… và đó là quá trình liên tục, thể hiện trách nhiệm đến cùng của nhà giáo dục.

Không nên làm theo kiểu dự án, viết xong, thử nghiệm điểm làm ví dụ, khái quát hóa và xong luôn.

Theo tôi, vấn đề quan trọng lúc này là làm sao xóa bỏ được sự độc quyền trong việc viết SGK. Xóa độc quyền để nhiều tổ chức, tác giả, nhóm tác giả, cùng tham gia viết SGK.

Bộ cần huy động lực lượng chuyên gia xây dựng khung chương trình chuẩn, xác định mục tiêu cần đạt được của từng bậc học và chuẩn đầu ra. Còn các tổ chức giáo dục có năng lực và mong muốn làm sách thì cứ để cho họ đề xuất.

Nếu xét đề xuất thấy họ có khả năng đáp ứng được mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình thì có thể cấp kinh phí cho họ làm. Rồi các hội đồng khoa học độc lập sẽ đánh giá. Khi đó, chúng ta sẽ có điều kiện lựa chọn được những sản phẩm tốt nhất đưa vào thử nghiệm và chỉnh sửa, hoàn thiện trong quá trình sử dụng.

Tính ổn định của sách giáo khoa rất tương đối, thực chất là vì lợi ích của nhà quản lý hay vì tiết kiệm nên ta dùng một bộ sách trong nhiều năm. Tác giả viết SGK phải thường xuyên theo dõi cuốn sách của mình được học sinh chấp nhận hay không, có sai sót hay không, có thể làm cho đẹp hơn, tốt hơn hay không.

Làm SGK không phải là vấn đề của chiến dịch mà phải thường xuyên chỉnh sửa để tạo ra sự tối ưu về phương pháp và phù hợp với sự phát triển của thời đại, cập nhật những nội dung mới.


Người biên soạn sách phải hiểu biết tâm lý học của trẻ em – Bà Tuyên khẳng định. (nguồn ảnh internet)

Theo bà người viết SGK cần phải thỏa mãn các tiêu chí nào? 

Người viết SGK phải là chuyên gia sâu về thiết kế (viết sách), thi công (đứng lớp) và đào tạo đội ngũ giáo viên đứng lớp.

Có 3 tiêu chí cơ bản: Người biên soạn phải hiểu biết tâm lý học trẻ em, quy luật của việc học, con đường học của một đứa trẻ, trẻ học như thế nào có hiệu quả.

Ví như, việc học thuộc lòng thì hiệu quả thấp nhưng học bằng thao tác, việc làm của trẻ thì lại nhớ lâu và hiệu quả hơn nhiều. Vậy làm sao phải thiết kế để học sinh làm chứ không phải ghi nhớ phải làm cái gì.

Hơn nữa, người viết SGK phải am hiểu sâu sắc về khoa học cơ bản, tức là về lĩnh vực mà mình viết. Đó là cái chuẩn, cái khoa học đích thực của môn học và không được phép sai sót.

Và cuối cùng, người viết SGK phải có kinh nghiệm đứng lớp ở bậc học đó, lứa tuổi đó để có thể cảm nhận được học sinh sẽ học sách của mình thế nào, có phù hợp hay không và có kỹ năng huấn luyện các giáo viên đứng lớp thực thi đúng ý đồ của mình.

Vậy theo bà, SGK mới cần hướng đến mục tiêu như thế nào ở từng bậc học?

Đi học là học những cái ở nhà không học được. Đến trường là để hòa nhập xã hội, để được giáo dục.

Tiểu học nên giáo dục để trẻ hình thành các kỹ năng làm việc trí óc, qua đó thành thạo các kỹ năng nghe nói, đọc viết, tính toán và hòa nhập với cuộc sống xã hội. Giáo dục trẻ giữ được căn cốt của người Việt Nam từ lời nói, chữ viết, nền nếp, cách cư xử, tình yêu gia đình, làng xóm… là cơ hội và cũng là bắt buộc phải có thật vững chắc ở bậc tiểu học.

Càng lớn, con người càng có cơ hội hòa nhập sâu vào xã hội bên ngoài, do vậy nếu không làm tốt điều này ở tiểu học, các bậc học trên lại càng khó làm được.

Trung học nên cho trẻ hòa nhập vào xã hội thực sự để có hiểu biết rộng về thế giới. Giai đoạn này, giáo dục có thể đưa vào các yếu tố quốc tế hóa bằng nhiều hình thức. Ví dụ, có thể có những môn học mang tính chất toàn cầu, học bằng tiếng nước ngoài, nếu nó tốt.

Đại học thì phải học sao cho tương đương với trình độ đương thời của thế giới. Có thể nhập trực tiếp chương trình đã được khẳng định của thế giới nếu có đủ điều kiện và học bằng tiếng nước ngoài càng tốt.

Chúng ta sẽ có những con người Việt Nam đích thực có thể sánh vai cùng thế giới hiện đại.

Xin cảm ơn bà!

Hà Thu

Leave a comment