Tag Archives: Văn

Đêm Dài

ĐÊM DÀI

    Kính tặng Tú Xương

Nam Định.

Tú Xương. Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm
Tú Xương. Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm

Cuối thế kỉ 19 không còn yên tĩnh nữa, cái tin mừng ông hoàng giáp làng Vị Hạ tỉnh Hà Nam vừa vinh qui không đắp đổi dồn dập nghững nỗi kinh hoàng: Hà thành thất thủ, danh tướng Nguyễn Tri Phương rồi liên tiếp thủ khoa Huân , hoàng giáp Phạm Văn Nghị tuẫn tiết; hòa ước Hác- măng ô nhục, Tự Đức băng hà.

Sĩ tử rụt rè gà phải cáo.

Trên đường đê, dấu cũ của con sông Vị Hoàng phố cổ thành Nam, một thư sinh bước đi thiểu nảo.

Căn nhà ba gian tường gạch trát đất vữa đứng sùm sụp sau một hàng trúc lơ thơ.

Đến ngoài bờ trúc, nho sĩ dừng lại, thở dài. Trong nhà mấy đứa con nít túa ra, vừa chạy vừa reo:

Thầy đã về.

Trái với vẻ hớn hở của lũ trẻ, nho sĩ chậm rãi sờ đầu từng đứa: Thằng Bái, thằng Bột, thằng Bành, con Thục.

Gói quà là mấy nắm xôi lạc mua vội từ góc phố, chút vớt vát của một mùa thi Hương thất bát.

Bà Tú vẫn chưa về. Ông Tú ngồi bắt bằng trên bộ ngựa đợi vợ, rít một khói thuốc lào.

Đợi vợ trong nỗi buồn mà xót bà Tú tất bật chợ đời.

Một quãng đồng mênh mông quạnh vắng, vùng Nam Định trắng xóa là nước ngày đông, chang chang là nắng ngày hạ. Bà cứ như một chấm trắng nhỏ giữa trời chiều. Chao! Cái cánh cò lẻ loi đó lặn lội chắc đã nửa đời, rồi chắc cũng lặn lội kì hết nửa phần còn lại. Phố Nam Định từ Tây sang tấp nập trên bến dưới thuyền. Những con tàu viễn dương khổng lồ nuốt từng tấn than đen no bụng, ầm ì nhả khói, lừng lững ra khơi. Những con thuyền thủ công nhọc lòng đi khơi đi lộng dạt về bến mới. Bến cá trong cái nhỏ bé nhọc nhằn của mình cũng không kém phần chao chát eo sèo.Một người phụ nữ chừng dưới ba mươi, mặt lành da trắng, thị vuốt ngược một giọt mồ hôi, tức tửi lách mình bưng bê giữa đám người nhốn nháo. Chao ôi! Ai dám nghĩ đó là bà Mẫn, vợ của đấng tú tài nổi tiếng tài hoa. Chao ôi! Nhớ cái ngày bà về làm dâu mới rình rang nở mặt:

Căn nhà 280 Hàng Nâu (Minh Khai) nơi Tú Xương từng cư ngụ
Căn nhà 280 Hàng Nâu (Minh Khai) nơi Tú Xương từng cư ngụ

Ông tu tát nhà cao cửa rộng toan để cho dâu
Chồng lăm le bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ.

Năm ấy là năm Ất Dậu ( 1885).

Những tưởng rồi Tú Xương đỗ đạt, võng tía lọng vàng, danh thơm bốn bể, bà cũng thơm lây:

Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.

Nào ngờ… con gái dòng dõi thi thư nổi tiếng làng Lương Đường tỉnh Hải Dương nay lại hàng tôm hàng cá thế này, chao ôi! Eo sèo mặt nước buổi đò đông!

Ngồi nghĩ mình lận đận, tám khoa nhẵn mặt chỉ vớt vát nổi cái tú tài, nghĩ mà xót đồng tiền mồ hôi nước mắt của bà vợ lắm!

Và kì này mùa thi năm Đinh Dậu( 1897), sĩ tử buồn hiu. Một vì văn tinh từ trời cao vừa rơi rụng, vì văn khúc ứng vào Tuy Lí Vương Miên Trinh.* Cái văn nghiệp nước nhà đến kì hỏng bét.

Kì thi phú. Tú Xương đắt chí cái thơ mà hụt hẫng cái trường:

Nào có ra gì cái chữ nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thông phán
Tối rượu sâm banh sáng sữa bò
.

Kì văn sách, quan trường một phường bợ đít Đu – me lại học đòi nói câu cửa khổng: “ Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.
TruongNamĐinh
Tú Vị Xuyên chấm bút, huơ liền một mạch, nét bút lông cứ xoắn lên nền giấy hoa tiên, phần phật như gió lại ran rát như lửa:

Dân ta hỏng rồi

Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

Xã tắc ta hỏng rồi

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Vua ta hỏng rồi, quí sĩ tử cứ ngóng lời ông nghè làng Yên Đỗ mà rõ việc

Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề

Tú nộp quyển, chệnh choạng ra khỏi trường thi, lần ruột tượng ghé bà hàng nước, đồng tiền kẽm rơi đánh keng trên nền gạch, mấy đồng xu đã hoen gỉ xanh với mùi muối cá bà Mẫn gom góp từ những phiên chợ chiều.

Chợt mi mắt vị tú tài cay cay.

Tiễn chân cô mất dăm đồng lẻ
Sờ bụng thầy không một chữ gì!

Hỏng kì này là chẵn năm.

Tú Xương ngồi chong đèn thu mình trên gác ván, nghĩ lại câu chuyện Đặng Tử Mẫn thì thào khi chiều: Phan Bội Châu đã ra Bắc, lên Phồn Xương, chắc là để gặp Đề Thám.

Tú ngẫm lại đôi lần trò chuyện cũng Phan danh sĩ. Miệng rồng mắt sư tử, con người chọc trời khuấy nước ấy ngang nhiên mang cái án “hoài hiệp văn tự” ngao du bốn bể, kết giao cùng nhân sĩ hào kiệt Bắc Nam. Cũng là kẻ sĩ mà thẹn mình chưa được cái khí cốt Bội Châu. Ngẫm một đời văn nhược tài hoa, một đời phong nguyệt tình hoài, một đời nổi tiếng được cái chơi ngông phá bĩnh, cũng hoài phí một kiếp đầu thai nhầm thế kỉ. Tú thở dài, chấm bút nắn nót những dòng thơ cuối đời:

Chập tối trông ra ngỡ sáng lòa
Đêm sao đêm mãi thế ru mà
Kìa kìa ai kẻ tìm ta đó
Đốt đuốc mà soi kẻo lộn nhà.


NGUYỄN TẤN ÁI

* Tuy Lí Vương Miên Trinh mất ngày 18 tháng 11 năm1897.

Bùa Yêu

Chim xa còn nhớ lối về
Bậu ra là dứt ước thề được sao
Nợ trầu cau trả chiêm bao
Người gieo tiếng dữ, người đau giọng tình
Ví dù, bến nước sân đình
Trăm năm… bậu hết thương mình, mình thương!
(Vĩnh An)

I. Mụ Hoàng

Bên nhà tôi, về hướng tây, có nhà mụ Hoàng. Mẹ cấm tôi qua chơi,không biết tự bao giờ, từ hồi tôi mười ba, mười bốn chưa? Từ hồi thằng chim thằng cò tôi đã nhu nhú nên trai chưa?
Mụ Hoàng góa chồng, không phải chồng chết, mà còn sờ sờ bên trời Tây. Lão là sĩ quan cảnh sát, vượt biển đông từ hồi chiến tranh còn ì ầm ở cửa Xuân Lộc, mụ thành gái góa.
Gái một con trông mòn con mắt, vắng chủ nhà gà vọc riêu tôm, mụ Hoàng thành cái gai trong mắt đám đàn bà con gái. Nổi gió nổi bão tự bận mụ thuốc một gã trai tơ.
thomoc

Thanh thợ mộc, khéo tay, mau miệng, mắt dài mi dài như gái, quảy thùng dùi đục đến đâu y như là Thanh làm nên một tình sử đến đó. Vậy mà sau khi chạm trổ xong bốn chân giường nhà mụ Hoàng ,Thanh chẳng đi đâu nữa. Nghe nói chiếc giường để bên hướng đông, có cửa sổ hóng gió, Thanh nằm nghỉ một giấc trưa, mơ màng thế nào mà tỉnh dậy chân tay còn bủn rủn, người cứ rỗng như ống thù đủ, mất cả chí tang bồng. Nghe nói Thanh ngủ mê, mụ Hoàng lấy một sợi tóc cột ngang ngực Thanh, lại dấm thêm chút nước miếng nơi lỗ rốn. Rồi Thanh lú lẩn.
Thanh hai mươi hai, mụ gần ba mươi, vậy mà thành nhân ngãi, đúng là mụ có bùa yêu!

II. Chuyện Hạnh

Tránh trời sao khỏi nắng mưa, mụ Hoàng không thuốc tôi, mà Hạnh con mụ lại thân tôi lăm lắm.
Bận ấy con bò nhà bé Hạnh lạc mất ở núi cấm. Bọn trẻ cùng bầy chẳng đứa nào động chân đi tìm.Mấy đứa trẻ quá rành, mặt trời gần lặn là giờ bùa yêu rất thiêng, dại gì mà đụng vào mẹ con mụ phù thủy. Hạnh bưng mặt khóc.
trau
Tôi đánh trâu đi sau cùng, ngoái lại, động lòng. Se sẽ tách bầy, tôi quay lại. Chẳng tìm ra bò, bé Hạnh sợ bị mẹ phù thủy đánh, lại bưng mặt khóc. Tôi đành phải dỗ, rồi đưa Hạnh về. Hú hồn, hóa ra con bò no cỏ bỏ về chuồng.
Mụ Hoàng ra, vẫy tôi vào, tôi thụt lùi rồi co giò chạy biến.
Không biết bùa phép có di truyền không mà tự đó tôi đâm nhớ Hạnh, nhớ hoài đôi bờ vai tròn lẳng rung bần bật mỗi khi Hạnh khóc, nhớ hoài đôi mắt to tròn lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác. Hạnh tình như cũng đã. Một bận tôi đau, không dong trâu lên đồi được, vừa sâm sẩm tối đã thấy Hạnh thập thò ngoài bờ dậu, vẫy tôi ra, trao cho chùm dủ dẻ vàng ươm chín mọng.

Tôi hỏi:
-Mẹ Hạnh có bùa yêu phải không?

Hạnh gật.
– Nó như thế nào?
– Không biết. Nghe nói nó dẹt dẹt như cái lá, trong như mắt mèo. Mẹ không cho Hạnh biết.
Tôi không tin rằng Hạnh không biết, nên mỗi bận ngồi bên Hạnh, mắt cứ nhìn trô trố, cố tìm xem nơi nào trên người Hạnh dẹt dẹt như cái lá, trong như mắt mèo không.
Thấy tôi quanh quẩn hoài với mấy cái bùa yêu, Hạnh mách:
-Nghe mẹ với chú Thanh hay nói chuyện gì mà miếu cô Châu. Hay mẹ dấu bùa yêu sau núi, chổ miếu cô Châu ấy.
Chuyện cô Châu là một bi tình. Đẹp gái, hát hay, múa giỏi. Trai làng mê lắm. Ác nghiệt, cô lại mê anh thợ may đã có vợ. Bị bắt ghen, cô Châu ốm ba tháng, buồn đến da xanh cổ cao. Cô thắt cổ chết trên đồi chổ miếu hoang, thề bắt tất cả những đàn ông đã có vợ làm chồng.
mieu
Một buổi trưa trên đồi tôi đưa Hạnh lại chổ miếu cô Châu. Ngôi miếu hoang tàn không nhang khói lại càng nhuốm màu thê lương. Lom khom tìm hoài, đủ thứ đá lắm hình thù màu sắc mà không có cái nào trong trong dẹt dẹt cho ra vẻ bùa yêu. Mệt quá, ngồi nghỉ. Hạnh tựa vào tôi thiếp đi tự lúc nào không rõ.Nhìn Hạnh bầu má hồng hồng, mi mắt dài lim dim, nỡ nào mà khách sáo. Tôi tìm được bùa yêu trong túi áo của Hạnh.

III. Đoạn kết

Huyền thoại hồi ấu thơ tôi giữ mãi, mà huyền thoại thì không thật bao giờ.
Tôi nhảy xổm từ đồng cỏ vào văn chương trà rượu rồi sa đà mê mãi. Lá bùa yêu rơi rồi đâu đó ở kí ức xa xăm. Một hôm nghe tin Hạnh có chồng, đâu đã dăm năm.
Ngày Hạnh chết, tôi không về viếng đưa được. Thằng Hùng, đứa si Hạnh một đời đến giờ vẫn chưa lấy nổi vợ, kể với tôi:
-Mày đi học, nghe nói léng phéng với mấy đứa thị thành phải không? Hạnh đòi mụ Hoàng bí quyết bùa yêu, mụ giận tát cho mấy cái. Hạnh ức bỏ đi Nam làm thợ nhuộm, bắt chồng dắt về nhà. Hạnh mang thai, cứ lang thang quanh quẩn bên miếu cô Châu, ai cũng cho là điềm gỡ. Rồi sinh khó, mẹ mất, con mất.
Có người bảo “ đời cha ăn mặn đời con khác nước”, mụ Hoàng bắt nhiều gã trẻ, con mụ trả nợ thay cho mụ.
Có người bảo: Hạnh có bầu mà không cử, cứ quanh quẩn hoài chổ hoang quạnh, bị cô Châu vọc.
Lại có người bảo cái nghề thợ nhuộm độc hại, cái khó bó cái đời, tội nghiệp!
Hùng bảo tôi:
– Sao mày đớn thế? Hạnh chết mà không về đưa linh nó, tao biết nó chết uất vì mày.
Rồi lại bảo:
– Thôi cũng được. Giá mày lớn xớn đi đưa khóc đểu, dễ chừng tao thịt mày quá.
Tôi biết Hùng nói thật.

Rock
Hạnh ơi! Cô Châu ơi! Mụ Hoàng ơi! Bùa yêu là mấy tội, mà hồng nhan lại mấy người. Thề có đất trời, tôi chưa tìm được bùa yêu.
Nếu có thì tôi cũng thuốc tôi luôn, để tôi biết si tình, yêu Hạnh một đời mà không so đo hơn thiệt.
Tôi chỉ nghe bùa yêu là tội lỗi.
Mà chừ mới thấm thía không mang được chút ngải yêu trong tim người mới lại càng tội lỗi.
Tôi đi rửa mặt, để có một quyết định sạch sẽ, mai tôi sẽ về thăm miếu cô Châu. Rồi về nhà mẹ Hoàng, viếng Hạnh.

Nguyễn Tấn Ái.