Tag Archives: Văn Hóa

Chào mừng Thanksgiving Day – Lễ Tạ Ơn

Chào các bạn,

Hôm nay, thứ năm cuối của tháng 11, là ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ. Lễ Tạ Ơn có nguồn gốc từ năm 1621, thời điểm đầu tiên của những người tị nạn Âu Châu đến lập nghiệp ở Thế Giới Mới và tạo thành nước Mỹ sau này.

Năm 1620, 102 người của 8 giáo hội ly khai khỏi Anh giáo thuê một chiếc tàu tên là May Flower để sang Mỹ Châu, trốn chạy bách hại tôn giáo ở Anh. May Flower rời Southhampton, Anh quốc, ngày 6 (hay 16?) tháng 9, chở 102 hành khách và khoảng 25 đến 30 người thủy thủ đoàn. Sau 66 ngày hành trình gian khổ đến nỗi hai người đã thiệt mạng, tàu đến nơi (mà ngày nay là cảng Provincetown Harbor ở Cape Cod, bang Massachusetts) ngày 11 (hay 21?) tháng 11.

Thực ra điểm đến dự tính của tàu này là miệng sông Hudson ở New York, nhưng vì thời tiết xấu, tàu đã đi sai đường, lên phía bắc. Ngày 11 tháng 12, tất cả 100 người hành khách còn lại xuống tàu, ở vùng ngày nay gọi là Plymouth, bang Massachusetts.

Nhóm hành khách này được gọi là the pilgrims (những người hành hương) trong văn hóa nước Mỹ ngày nay. The pilgrims và tàu May Flower đóng vai rất quan trọng trong lịch sử nước Mỹ–mở đầu cho một prong trào di dân và lập nghiệp, tạo thành nước Mỹ tương lai.

Mùa đông đầu tiên, những người pilgrim sống thật đói khát khổ sở thiếu thốn. Chỉ vài tháng sau họ đã mất 46 người. May là họ được thổ dân da đỏ giúp đở, dạy họ cách sinh sống, và làm mùa, trong vùng đất mới.

Vụ gặt mùa thu năm 1621, the pilgrims được mùa tốt. Họ quyết định làm một lễ tạ ơn, lễ hội cùng nhau và cùng 91 người thổ dân da đỏ đã giúp đở họ, trong ba ngày liền. Gà tây, bắp (ngô), dâu cranberry, bí rợ (đỏ) là những thực phẩm có lúc bấy giờ, được dùng trong lễ hội, và từ đó tạo lập truyền thống về các món ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn cho đến ngày nay.

Ngày 3 tháng 10 năm 1789, tổng thống George Washington, lần đầu tiên, chỉ định ngày Lễ Tạ Ơn cho quốc gia:

Vì lý do, nhiệm vụ của tất cả mọi Quốc Gia là công nhận quyền năng của Chúa Toàn Năng, vâng theo ý ngài, tạ ơn về các hồng phúc của ngài, và khiêm tốn khẩn cầu sự bảo vệ và yêu thương của ngài, và vì lý do cả hai viện của Quốc Hội, qua ủy ban lưỡng viện, đã yêu cầu tôi “đề nghị với toàn nhân dân Mỹ Quốc một ngày tạ ơn và cầu nguyện công, được tôn kính bằng cách công nhận với lòng biết ơn nhiều dấu hiệu yêu thương của Chúa Toàn Năng đã cho nhân dân một cơ hội hòa bình để thiết lập một hình thức chính quyền phục vụ an ninh và hạnh phúc của nhân dân.”

Vì vậy bây giờ tôi đề nghị và chỉ định ngày Thứ Năm, 26 tháng 11 tới là ngày của Nhân Dân Nước Mỹ hiến dâng cho Thượng đế vĩ đại và vinh quang, là đấng sáng tạo ra tất cả mọi điều phúc thiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Tất cả chúng ta hãy kết đoàn để dâng lên ngài lời tạ ơn thành tâm và khiêm tốn, vì ngài đã lo lắng ân cần và bảo vệ Dân Tộc này trước khi thành lập Quốc Gia; vì các dấu hiệu và nhiều thương xót của ngài, và sự can thiệp của quyền năng của ngài, mà chúng ta đã trải nghiệm trong suốt cuộc chiến và tại điểm kết cục của cuộc chiến vừa qua; vì mức độ rất cao của tĩnh lặng, đoàn kết và phú cường mà chúng ta đã được tận hưởng từ sau cuộc chiến; vì chúng ta đã được cho khả năng để tạo ra luật pháp, một cách hòa bình và hợp lý, cho chính phủ để phục vụ an ninh và hạnh phúc của chúng ta, đặc biệt là chính phủ liên bang mà chúng ta vừa thiết lập; vì tự do dân sự và tự do tôn giáo chúa ban cho chúng ta; và vì những phương tiện chúng ta có được để thu lượm và truyền bá kiến thức; và nói chung là tất cả ân sủng lớn và đặc biệt Thượng đế đã ban cho chúng ta.

Và để chúng ta có thể kết đoàn trong việc hiến dâng một cách khiêm tốn nhất lời cầu nguyện và khẩn cầu của chúng ta đến Chúa Cao Cả và Người Cai Trị Tất Cả Mọi Quốc Gia và nài xin ngài tha thứ cho mọi lỗi lầm của quốc gia cũng như các lỗi lầm khác, để giúp tất cả chúng ta, dù là trong chức vụ công hay nhiệm sở tư, có thể thi hành tốt và đúng lúc mọi nhiệm vụ của mình, để biến chính quyền quốc gia thành một ân phước cho tất cả nhân dân, bằng cách luôn luôn là một chính phủ khôn ngoan và công bình, và luật đặt trên hiếp pháp được thi hành và tuân thủ một cách tế nhị và trung thực, để bảo vệ và dìu dắt mọi Vua Chúa và mọi Quốc Gia (nhất là các quốc gia đã tử tế với chúng ta), và ban cho họ chính phủ tốt, hòa bình và thân ái, để thăng tiến kiến thức và thực hành tôn giáo và đạo đức thật, và phát triển khoa học giữa các nước và chúng ta, và nói chung ban cho tất cả Loài Người phú cường vật thể mà chỉ Chúa biết rõ nhất.

Chính tay tôi ký ở New York ngày 3 tháng 10 năm của Chúa thứ 1789.


Đến năm 1863, tổng thống Lincoln ấn định ngày thứ năm cuối tháng 11 là ngày Thanksgiving hàng năm.

Các tổng thống Mỹ có thông lệ là đọc một bài diễn văn đặc biêt trong ngày Thanksgiving, gọi là Thanksgiving Proclamation. Bài diễn văn năm 2008 của tổng thống Bush có thể đọc được ở đây, và bài diễn văn năm 2010 của tổng thống Obama có thể đọc được ở đây.

Mỗi năm National Turkey Federation (hiệp hội nuôi gà tây của Mỹ) gởi tặng Nhà Trắng gà tây vào dịp Thanksgiving. Các tổng thống Eisenhower, Nixon và Johnson xơi các chú. Tổng thống Kennedy lần đầu tiên tha mạng các chú, không làm thịt. Và năm 1990, tổng thống George H.W. Bush (Bush cha) đã chính thức thành lập ngày tha tội cho gà tây, tặng các chú gà tây nhận được vào các thảo cầm viên, và ngày nay ta có truyền thống ân xá gà tây hàng năm tại Nhà Trắng. Ngày tha tội gà tây của Thanksgiving 2010 có thể đọc được tại đây.

Trong ngày Thanksgiving, mọi người trong gia đình thường tụ họp nhau ăn uống và chuyện vãn. Các món ăn chính là gà tây, dâu cranberry, bánh mì bí rợ, bánh ngọt bí rợ, bắp (ngô)…

Tuần Thanksgivings là một trong những tuần dân Mỹ di chuyển nhiều nhất trong năm, để về tụ họp gia đình.

Thanksgiving cũng là ngày đầu tiên của Mùa Lễ Hội (Holidays Season), kéo dài cho đến ngày đầu năm mới, mồng một tháng giêng.

Ngày thứ sáu sau Thanksgiving là ngày đầu tiên của mùa buôn bán Lễ Hội (Holidays season shopping), và thường được gọi là ngày Black Friday (ngày Thứ Sáu Đen), vì ngày đó người ta đi mua sắm kẹt xe đen cả đường phố. Các cửa tiệm đều có những món hàng hạ giá rất thấp để mời gọi mọi người mua sắm đầu mùa. Có nơi người ta sắp hàng từ đêm hôm trước, dài cả cây số, để chờ tiệm mở cứa khoảng 6 giờ sáng.

Ngày nay, Black Friday (Thứ Sáu Đen) còn có nghĩa là ngày các tiệm kiếm ra tiền, thống kế kế toán có số lời, màu đen, thay vì số lỗ màu đỏ.

Chúc cán bạn một ngày nhiều Tạ Ơn.

Sau đây mời các bạn xem vài videos vui về ngày Thanksgiving.
.

Heavy turkey

.

Crappy Canadian Thanksgiving (w. Ellen Page & Justin Long)

(TĐH: cập nhật post 24.11.2010)

Một bữa cơm Tạ Ơn đời thường ở Mỹ

Chào các bạn,

Hôm nay là ngày thứ 4 tuần thứ 4 ở Mỹ rồi. Thư viện ở các trường học bắt đầu đóng cửa, các bạn học sinh Mỹ đi học ở xa gia đình chuẩn bị về nhà dự lễ Tạ Ơn với gia đình vào ngày mai 🙂

Mình đi theo một người bạn tên là Noah đến thăm và dự lễ Tạ Ơn với gia đình cậu ở trị trấn Delmar, tiểu bang New York vào năm 2006. Mình kể với các bạn cảm nhận của mình về lễ Tạ Ơn trong một gia đình người Mỹ bình thường nhé, gia đình bạn Noah không theo đạo Thiên Chúa.

Sau khoảng 2 tiếng lái xe từ Vermont, chúng mình tới được nhà của Noah ở Delmar ở phía bắc tiểu bang New York. Đó là một trị trấn nhỏ bé lạc hút trong một cánh rừng và những rặng núi. Ở đây ít trường học tốt, nên khi trẻ con lớn lên, chúng thường phải đi sang những tiểu bang khác để học đại học. Thành phố cứ bình dị hoang vắng thế thôi.

Tới nhà, mình và Noah gặp bố mẹ của cậu, ông bà Robert-Roberta và em gái cậu Shirah. Ông bà Robert-Roberta đã nuôi lớn đến 3 người con trong ngôi nhà này đấy, Noah, chị gái và em gái Noah nên căn nhà chứa đầy kỷ niệm, rất nhiều ảnh hồi bé đến lớn của anh chị em Noah rất kháu khỉnh dễ thương. 🙂

Bếp của gia đình người Mỹ có rất nhiều cookbook – sách dạy nấu ăn. Những đồ nấu ăn cũng rất sẵn sàng. Mình chợt nhớ tới câu nói đùa của một anh bạn du học sinh, anh từng là niềm cảm hứng để mình kiếm học bổng du học hồi trước: “Nếu giả sử nhé, nhà bạn sắp cháy và bạn chỉ được mang hai thứ ra mà thôi, bạn sẽ mang gì ra?” Câu trả lời của anh ấy là “Savings account của ông nội tôi và cookbook của mẹ tôi”. Mình rất thích câu trả lời này vì sự sâu sắc, hiếu thảo về gia sản gia đình cũng như giá trị truyền thống trong thức ăn nuôi dưỡng mình của văn hóa người Mỹ 🙂

Tủ lạnh của những gia đình người Mỹ cũng có nhiều những tấm nam châm để đính ảnh của gia đình và ghi thông báo rất sống động 🙂

Vì bọn mình đang đói nên kiếm gì ăn trước vậy. Nhà có một chút thịt nai rừng, do người hàng xóm cho vì ở vùng hoang vu phía New York, rất nhiều nai đi lạc và va vào ô tô hay bị người săn. Thịt nai rất nạc, nhưng hơi nhạt một chút 🙂

Bà Roberta rất nhớ Noah và thể hiện tình cảm ấm áp. Nhớ là vậy, nhưng một năm cũng chẳng gặp nhau được mấy lần, vì con cái đi học và đi làm xa xăm suốt, bỏ những người già ở quê nhà, vì ở quê không có mấy cơ hội học tập và việc làm. Những dịp lễ, cả nhà lại quấn quít bên nhau.

Cả cùng chuẩn bị đồ ăn tối. Mình được giao nhồi thịt cho con gà Tây, Shirah làm bánh táo, bà Shirah và Noah cũng vào phụ bếp.

Sau đó, Noah và mình lái xe qua nhà bà ngoại của Noah để thăm bà và đón bà ngoại qua nhà ăn tối.

Bà ngoại Noah sống cách đó khoảng 10 phút lái xe. Bà đã trên 80 tuổi và sống một mình. Căn nhà bà sống được xây dựng hơn 50 năm về trước và chứa đầy kỷ niệm của gia đình. Trên tường nhà bà treo ảnh ông ngoại, các con của bà khi con bé và gia đình các con và các cháu của bà.

Bà cũng ngạc nhiên thấy mình từ một đất nước xa xôi đến. Bà kể anh trai của bà là người thiết kế về xây dựng cho tòa nhà World Trade Center bị sập. Rằng bà lớn lên qua thời Great Depression khổ cực.

Bà chậm rãi nhưng có đôi mắt tinh nhanh. Bà yêu nghệ thuật và vẫn chơi piano. Bà bảo Noah ra chơi một đoạn piano do bà dạy Noah hồi trước, và căn dặn rằng “hồi trước bà nói với cháu là chơi nhạc là phải improvise – ngẫu hứng”. Noah chơi nhạc, căn nhà rộng rất yên tĩnh chỉ có tiếng piano và sự sâu thẳm của thời gian.

Mọi thứ tĩnh lặng vô cùng. Những bức ảnh rất sạch những chúng cũng có dấu ấn thời gian. Mình gọi căn nhà đó là “the house of time”. Căn nhà làm mình cảm thấy rất khiêm tốn và nhỏ bé trước thời gian.

Bà Noah đã cao tuổi và chậm rãi nên Noah đỡ vào vào xe ô tô.  Cẩn thận đi từng bước vượt qua bậc tuyết. Tất cả trở về nhà bố mẹ Noah.

Shirah rủ thêm hai bạn trai cùng xóm tới ăn tối cùng cho vui. Cả nhà bắt đầu ăn và truyền tay nhau những đĩa thức ăn đi một vòng. Bánh mì đi một vòng, sa lát đi một vòng, cứ lần lượt như thế. Cả nhà nói đủ thứ chuyện rôm rả suốt 🙂

Sau đó, bạn Shiral và Shirah ra ghế chơi ghita và hát nhè nhẹ.

Bà Noah, ông bà Robert, Roberta cũng ra ghế ngồi chơi với mình và nói chuyện tào lao. Bà của Noah là một giáo viên dạy tiếng Anh hồi xưa nên bà kể chút chuyện về những tác phẩm kinh điển của William Faulkner như the Sound and the Fury. Bố Noah là một bác sĩ có mức lương cao nên ủng hộ Bush, mẹ Noah ở nhà đan quần áo và làm những việc bình thường để kiếm thêm chút tiền. Bà quan tâm đến Phật giáo của châu Á.

Sau đó mẹ Noah, Noah và mình lái xe trở bà ngoại Noah về nhà bà. Bà lại về căn nhà trống trải. Đó là thực tế buồn ở Mỹ vì cha mẹ sống tách biệt với bố mẹ gia để có tự do. Những người già thường sống riêng nhưng ở nhà gần con cái, hay sống chung với nhau ở các Nursing home ở vùng thời tiết ấm áp như Florida.

Mặc ngoài trời tuyết lạnh, trong nhà không khí rất ấm cúng.

Mình rất cảm ơn vì cơ hội được đi chơi lễ Tạ Ơn cùng Noah, bạn Mỹ ở cùng nhà mình khi đó ở trường Vermont. Chuyến đi giúp mình hiểu nhiều về lối sống gia đình người Mỹ.

Mình cũng cảm nhận được rằng những bạn sinh viên du học ở những nơi xa xôi hẻo lánh như nơi mình khi đó như những tiểu bang vùng Midwest, Maine, New Hampshire nếu không đi đâu mà ở lại ký túc xá, nhìn thấy cảnh hoang vắng tiêu điều và tuyết rơi liên miên chắc buồn lắm. Mong bình an ở cùng các bạn.

Chúc các bạn một dịp nghỉ lễ ấm áp,

Hiển.

Greenager – Bảo vệ môi trường xanh, và Michael Jackson’s Earth Song

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng xem một tiểu phẩm về bảo vệ môi trường của các bạn học sinh trường Trung học Phổ thông Nguyễn Hiền ở thành phố HCM nhé 🙂

Trường THPT Nguyễn Hiền

Các bạn Hoàng Mai Trang, Nguyễn Ngọc Mạnh Cường, Tiến Lộc, Minh Quân, Hoàng Sơn, Thiện Phú, Huỳnh Phúc, Thái Lập Banh là Nhóm diễn viên tự phát của Văn Phòng Đoàn trường Nguyễn Hiền đã thực hiện video này.

Nhờ có video này, mình mới biết được trường THPT Nguyễn Hiền có một hồ sen xanh tươi rất đẹp giữa trường đấy 🙂

Trường rất đẹp, cũng như thành phố của chúng ta vậy, nhưng có một nhóm các bạn đẹp trai xinh gái làm hơi bừa một chút. Nếu có nhiều bạn đẹp trai xinh gái hơn, chúng ta có thể có một hồ rác. 🙂

Một tiểu phẩm nhỏ đưa câu chuyện đời thường ra ánh sáng rất dễ thương. Cám ơn các bạn diễn viên trường THPT Nguyễn Hiền nhé.  🙂

Nếu các bạn trong các tổ chức dân sự có những video clips vui nhộn về tuyên truyền những giải pháp, hãy gửi đến đóng góp với Nhạc Xanh trên ĐCN. Các bạn có thể gửi cho mình. Email của mình ở trong phần Giới Thiệu.

Sau đây mời các bạn thưởng thức video clip của các bạn Nguyễn Hiền, và video Earth Song của Michael Jackson. Lời nhạc theo sau video.

Chúc các bạn một ngày ý thức môi trường,

Hiển.
.
Greenager – Bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp

.

Michael Jasckson – Earth Song

.

“Earth Song”

What about sunrise
What about rain
What about all the things
That you said we were to gain…
What about killing fields
Is there a time
What about all the things
That you said was yours and mine…
Did you ever stop to notice
All the blood we’ve shed before
Did you ever stop to notice
The crying Earth the weeping shores?

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

What have we done to the world
Look what we’ve done
What about all the peace
That you pledge your only son…
What about flowering fields
Is there a time
What about all the dreams
That you said was yours and mine…
Did you ever stop to notice
All the children dead from war
Did you ever stop to notice
The crying Earth the weeping shores

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

I used to dream
I used to glance beyond the stars
Now I don’t know where we are
Although I know we’ve drifted far

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

Hey, what about yesterday
(What about us)
What about the seas
(What about us)
The heavens are falling down
(What about us)
I can’t even breathe
(What about us)
What about apathy
(What about us)
I need you
(What about us)
What about nature’s worth
(ooo, ooo)
It’s our planet’s womb
(What about us)
What about animals
(What about it)
We’ve turned kingdoms to dust
(What about us)
What about elephants
(What about us)
Have we lost their trust
(What about us)
What about crying whales
(What about us)
We’re ravaging the seas
(What about us)
What about forest trails
(ooo, ooo)
Burnt despite our pleas
(What about us)
What about the holy land
(What about it)
Torn apart by creed
(What about us)
What about the common man
(What about us)
Can’t we set him free
(What about us)
What about children dying
(What about us)
Can’t you hear them cry
(What about us)
Where did we go wrong
(ooo, ooo)
Someone tell me why
(What about us)
What about babies
(What about it)
What about the days
(What about us)
What about all their joy
(What about us)
What about the man
(What about us)
What about the crying man
(What about us)
What about Abraham
(What was us)
What about death again
(ooo, ooo)
Do we give a damn

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

Về Quê Nghe Tiếng Chim Bắt Cô Trói Cột


Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh
Ta xuống đồng, lúa mừng vui vẫy gọi
Cánh cò chao nghiêng ướm hỏi đôi điều
Ừ, nơi đây ta từng gieo kỉ niệm
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Ta cứ ngỡ quê nhà xưa vẫn vậy
Còn người thương gội bồ kết ướt lưng ong
Trăng vẫn cũ – con đường xưa lại mới
Hết đá vấp chân- sao lại nhói đau lòng!
Biết sao được chuyện của đời dâu bể
Sông có tự ngàn xưa chừ cũng xoay dòng
Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong.
Chim chỉ gọi- chẳng bắt ai trói cột
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa vườn xưa buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Trích từ tập TRƯỚC SÔNG THU.- Thơ Dương Quang Anh

Cảm nhận:

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm hứng chí ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu. Về sau, tôi đã tìm đọc trọn vẹn bài thơ ấy. Bài thơ tôi giới thiệu ở trên.

Bài thơ có cái duyên ngầm bởi bắt được một điệu quê. Với đa phần người, cái hồn quê thường thức dậy từ cánh diều mùa thu hay điệu lí mỗi chiều. Với Dương Quang Anh, thật đến bất ngờ là cái hồn quê lại dóng lên khắc khoải từ một loài chim chẳng mấy khi được chọn làm thi liệu: Chim bắt cô trói cột.

Và theo âm vang của nốt nhạc lạc loài ấy, khách tình quê đi về với cánh cò, đồng lúa, mùa trăng xưa và con đường cũ. Những bước lang thang mà định hướng cho cả một mùa kí ức.

Bắt được giai âm, tác giả như tình cờ được tặng luôn cả một giai điệu. Toàn bài thơ tuy có đôi chỗ phá cách nhưng chung qui vẫn nền nả mặn mà bằng điệu thơ tám chữ có phần xưa cũ. Ấy vậy mà giọng điệu rất quen thuộc ấy, tôi nghĩ, mới thật là một chọn lọc.

Có tình, có điệu. Chưa hết, tôi muốn bàn đến cái tứ của bài thơ. Phải nói thơ anh vừa xúc cảm vừa chắc trong cấu tứ. Ở mỗi khổ thơ, tác giả đã biết để lại một câu hay, một ý đắc để làm những chiếc đinh giữ vững bộ khung của thơ mình.

Ngang đồng lúa, người thơ tự hỏi:
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Và trên quê xưa, đường nhựa phẳng lì thay cho những bậc đá ngày nào còn mấp mô trong kí ức, sao lòng lại xốn xang:

Hết đá vấp chân sao lại nhói đau lòng

Và đây là thái độ của người đã quá cái ngưỡng tri thiên mệnh trước mọi ngã đời dâu bể:

Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong

Và bài thơ kết lại đúng nghĩa trữ tình. Kết mà không mở ra một cục diện mới nào, kết trong một thủy chung cảm xúc:

Chim vẫn gọi chẳng bắt ai trói buộc
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa đường làng buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Tôi cũng thế, vùng vẫy mãi mà chẳng thể thoát ra khỏi những sợi tơ chăng mắc bằng ngôn ngữ trữ tình ấy. Bỡi tôi cũng là một người quê. Cũng đôi lần đi về quê xưa mà nghe thời gian còn phảng phất một màu kí ức. Và như để trả nợ cho một tình quê, tôi giải tỏa bằng một vài cảm nhận. Hẳn cũng quê kệch như tiếng “bắt cô trói cột” kia. Song lại là một điệu quê, có ai người đồng điệu?

Nguyễn Tấn Ái

Nữ Thần Tự Do – Bài thơ “The New Collosus” của Emma Lazarus

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn bài thơ “New Collosus” của thi sĩ  Emma Lazarus. Bài thơ này được khắc trên một tấm biển ở dưới chân tượng Nữ thần tự do ở thành phố New York vào năm 1903.

Xa xa phía ngoài khơi, những đoàn người nhập cư mệt mỏi vượt biển đi đến thành phố New York qua hơn hai thế kỷ nay. Họ bỏ đi tất cả, quê hương, của cải, người thân để đem đánh cuộc tính mạng  mình trên một con tàu vượt đại dương đi tìm sự sống mới.

Họ là ai? Những người Ba Lan chạy sang Mỹ từ chiến tranh thế giới thứ nhất? Những người Tiệp chạy khỏi nhà độc tài Milosevic? Những người Âu sang đi tìm miền đất hứa? Những người tị nạn tôn giáo qua Mỹ từ thế kỷ 17? Những người muốn tìm cuộc sống kinh tế tốt hơn vì ở nước họ nghèo quá?

Hơn một thế kỷ qua, Nữ thần Tự do đứng đó nghiêm nghị trong gió buốt lạnh của hải cảng New York, đôi mắt bà nhìn xa xôi. Làn da bà đã phai màu vì gió và nước biển. Một tay bà cầm quyển hiến pháp nước Mỹ, và tay kia cầm một ngọn đuốc đỏ. Ngọn đuốc đó là tia sáng âm ỉ gần tàn, tia sáng bị đe dọa dập tắt trong con tim của bao thế hệ con người, tia sáng của Tự do.

Bài thơ “New Collosus” ở dưới chân tượng đó khiến mình suy nghĩ nhiều về ước vọng của con người. Sao một người ăn mày trên vỉa hè thành phố New York vất vả vô cùng mà mắt họ vẫn ánh lên vẻ sung sướng, và một anh đại gia trọc phú ở một nước xa xa bên kia bờ đại dương sao khuôn mặt u tối làm vậy? Phải chăng đó là Tự do? Hít thở được không khí của Tự do? Cái thứ không khí vào mọi  con đường, ngõ ngách, và lồng ngực con người.

Ở dưới đây, là đoạn nhật ký ngắn diễn tả cảm xúc của mình về bài thơ này và ngày mùng 4 tháng 7 năm 2009, và sau đó là bài thơ

”Bài thơ này nằm bên dưới suy nghĩ của mình vào ngày 4/7/2009 khi mình ngắm pháo hoa từ thành phố Jersey City. Ở đó, người ta có thể thấy cả tượng Nữ thần Tự do và Trung Tâm Macy, nơi mà những ngọn pháo hoa được bắn lên trời cao. Chúng đứng cạnh nhau (trung tâm Macy với pháo hoa và tượng Nữ thần Tự do). Thành phố đầy ánh sáng, tii đang bật và những talkshow đang chạy trên màn hình. Nữ thần đứng nghiêm, lạnh lẽo trong gió, và đưa cái nhìn của bà ra xa.

”Tượng khổng lồ mới” được khắc trên một tấm biển ở chân tượng Nữ thần Tự do. “

This poem underlined my thought on 7/4/2009 witnessing the fireworks from Jersey City. There, one could see both the Lady of Liberty and the Macy’s center where the fireworks were shot into the sky. They stood side by side. The city was full of light, television was on and and the talk was running. The lady stood sharp, cold in the wind, extending her look.

“The New Colossus” was engraved on a tablet in the pedestal on which the statue stands.
.

Tượng khổng lồ mới

    Emma Lazarus

Không giống như tượng đồng danh tiếng của Hy Lạp,

Với những cánh tay chinh phục sải dài từ xứ này sang xứ khác;

Nơi đây tại cửa biển hoàng hôn sóng vỗ

Đứng người đàn bà phi thường với ngọn đuốc, mà lửa đuốc

Là sấm sét bị cầm tù, và tên nàng

Di dân - Ellis Island (New York) - 1912

Mẹ Của Những Kẻ Tha Hương. Từ bàn tay cầm đèn hiệu đó

Sáng rực lời chào tỏa khắp thế giới; đôi mắt dịu hiền của nàng trị vì

Hải cảng lộng gió giữa hai thành phố. *

“Cứ giữ lấy những mảnh đất xa xưa, những cổ tích hoa lệ của các ngươi!”, nàng kêu gào.

Môi mím chặt. “Trao ta những kẻ mệt mỏi, nghèo đói của các ngươi,

Những đám đông chen chúc của các ngươi đang mong ước hít thở tự do,

Những rác rưởi khốn cùng trên bờ biển đông đúc của các ngươi.

Trao ta, những người vô gia cư, dập vùi trong bão tố,

Ta sẽ nâng đèn rọi bên cạnh cánh cửa vàng!”

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

Chú Thích: (*) Hai thành phố là New York và New Jersey

.

The New Colossus

    by Emma Lazarus

Not like the brazen giant of Greek fame,
With conquering limbs astride from land to land;
Here at our sea-washed, sunset gates shall stand
A mighty woman with a torch, whose flame
Is the imprisoned lightning, and her name
Mother of Exiles. From her beacon-hand
Glows world-wide welcome; her mild eyes command
The air-bridged harbor that twin cities frame.
“Keep ancient lands, your storied pomp!” cries she
With silent lips. “Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breathe free,
The wretched refuse of your teeming shore.
Send these, the homeless, tempest-tost to me,
I lift my lamp beside the golden door!”

Johann Sebastian Bach – Jesus, Joy of man’s desiring

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng nghe bản nhạc “Jesus, Joy of man’s desiring” của Johann Sebastian Bach, người mà Beethoven gọi là “một đại dương”. Đây là khúc thứ 10 trong cantana Herz und Mund und Tat und Leben của Bach.

J.S Bach
J.S Bach

Bản nhạc an bình ngợi ca chúa Giê-su này được ông viết vào lần đầu tiên ông tới thăm thành phố Leipzig, nước Đức, và đây là một trong những cantana sống mãi với thời gian của ông. Ngày nay, “Jesus, Joy of man’s desiring“ thường được chơi ở các lễ cưới trong nhà thờ. Những kênh truyền hình phổ thông và radio cũng thường chơi bản nhạc này ở phần nhạc nền.

Bản nhạc êm ái này khiến ta bị hút vào bởi sự an bình của nó, sự an bình của một đại dương. Hồi cấp ba, mình mượn được ở thư viện Hà Nội cuốn sách về cuộc đời của nhạc sĩ Beethoven, nhạc sĩ nhận xét về Bach là “Bach không phải là một dòng suối (Bach trong tiếng Đức có nghĩa là dòng suối), Bach là một đại dương”.

Dưới đây là 3 videos của “Jesus, joy of man’s desiring”.  Video thứ nhất là bài hát do Celtic Woman biểu diễn, video thứ 2 do dàn nhạc hòa tấu cùng hợp xướng, và video thứ 3 do David Qualey trình tấu bản nhạc ông chuyển soạn cho ghita.

Lời tiếng Anh theo sau các videos.

Chúc các bạn bình an và sức khỏe,

Hiển.
.

Celtic Woman – Jesus Joy of Man’s Desiring (live)

.

J.S. Bach – Jesus joy of man’s desiring, BWV 147

.

Jesus, joy of man’s desiring, David Qualey chuyển soạn và trình tấu cho ghi ta.

.


Jesus, joy of man’s desiring

Jesu, joy of man’s desiring,
Holy wisdom, love most bright;
Drawn by Thee, our souls aspiring
Soar to uncreated light.
Word of God, our flesh that fashioned,
With the fire of life impassioned,
Striving still to truth unknown,
Soaring, dying round Thy throne.

Through the way where hope is guiding,
Hark, what peaceful music rings;
Where the flock, in Thee confiding,
Drink of joy from deathless springs.
Theirs is beauty’s fairest pleasure;
Theirs is wisdom’s holiest treasure.
Thou dost ever lead Thine own
In the love of joys unknown.

Chicken Dance với các bạn ở Câu lạc bộ sách :-)

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng xắn giầy, xuống sàn và tung tăng điệu Chicken Dance vui nhộn với các bạn ở Highschool Book Club (HBC) ở Hà Nội nhé 🙂

.

Học Chicken Dance với The Lawrence Welk Show, một chương trình nhạc trên TV hàng tuần ở Mỹ.
.


.

Đoạn video của HBC vui quá, nhưng… có ý nghĩa gì vậy?

Đó là một trò chơi trong Talk Show về cuốn “Totochan, cô bé bên cửa sổ” để tái hiện một chi tiết về phương pháp giáo dục trong cuốn sách đó. Thật sáng tạo quá 🙂

Talkshow "Hoàng tử bé" 🙂
Các bạn ở Câu lạc bộ sách Trung học tổ chức những buổi nói chuyện về những cuốn sách dễ thương như “Hoàng Tử bé”, “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”,  để truyền niềm cảm hứng trí tuệ và làm giàu vốn kiến thức xã hội cho các bạn teens qua những trang sách.

Các bạn có thể đọc thêm về nhóm HBC và những buổi nói chuyện hào hứng đó tại địa chỉ trang nhà của các bạn:
Highschool Book Club

Hoạt động này thật hay và ý nghĩa quá. 🙂

Cảm ơn các bạn HBC nhiều vì video clip này. 🙂

Chúc các bạn một ngày tươi hồng, 🙂

Hiển.

Di sản Thế Giới – Phố Cổ Hội An

Chào các bạn,

Phố Cổ Hội An PPS là slideshow cuối trong series năm slideshows Di sản Thế giới về cảnh quan của nước ta trong danh sách Di sản Thế Giới (về cảnh quan) của UNESCO: Phong Nha-Kẻ Bàng, Cổ Thành Huế, Thánh Địa Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long, và Phố Cổ Hội An.

Hội An là một cảng xa xưa của Chiêm quốc. Đến thế kỷ 16 Nguyễn Hoàng biến Hội An thành một cảng quốc tế cho các thương thuyền và chiến thuyền các nước lân cận. Đến thế kỷ 17 Hội An đã trở thành một trong những cảng phồn thịnh nhất Đông Nam Á, đặc biệt tiện nghi cho các thuyền từ Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, và cả Trung Đông.

Khi nhà Thanh chiếm nhà Minh ở Trung quốc, một số người nhà Minh về phương Nam tị nạn và lập nghiệp tại Hội An, mang đến cảng này một nền văn hóa Trung Hoa rất mạnh, tồn tại cho đến ngày nay.

Hội An với tất cả các nét cổ truyền còn lại là gương mẫu cho việc bảo trì văn hóa của một thành phố cổ trong thế giới nhiều thay đổi hiện nay.

Nhạc nền cho slideshow này là Tì Bà Khúc, dùng một nhạc cụ chính trong nhạc cổ truyền Trung Hoa.

Mời các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn một ngày hoài cổ.

Bình an & Sức khỏe,

Tuý-Phượng
.

Thư gửi các học trò thân yêu của cô

Bây giờ là 1 giờ  sáng ngày 21 / 11  khi cô ngồi gõ email này. Bình thường đây là thời khắc thích hợp nhất trong ngày dành cho Đọt Chuối Non.  Hôm nay cô muốn dùng thời gian này gửi đến các em một lời tâm tình nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam vừa qua.

Kỷ  niệm Ngày Nhà Giáo Việt Nam  năm nay  là lần thứ 34  trong đời dạy học của cô, nhưng 20/ 11 lần này hết sức đặc biệt và ý nghĩa. Các em dễ dàng thấy được ý nghĩa lớn lao và tốt đẹp biết bao của những tặng phẩm tinh thần, những tặng vật của trái tim  mà Đọt Chuối Non đã dành  tặng cho tất cả thầy cô giáo là tác giả và  bạn hữu của ĐCN.

Xin được gửi lời cám ơn đến anh Hoành như một nhạc trưởng điêu luyện và các tác giả trong giàn hợp xướng 20/ 11 hôm nay. Những khuôn mặt thân quen : anh Hoành, anh Đức Dược, bạn Ngọc Hoa, các  em Kiêm Yến, Tấn Ái, Minh Tâm, Tố Uyên, Khánh  Hòa., hoặc  là các tác giả mới toanh.   Đặc biệt sự góp mặt của các cây bút mới như Thanh Thủy, Thùy Duyên, và các teen của Daklak’s gang đã nồng nhiệt đóng góp cho sân chơi bổ ích  này   như anh Nguyễn Đình Chung, Giảng viên trường CĐSP Daklak, các em Dương Ngọc Anh & chị Lê Thị Kim Chi, Happy  Bun  Ngô Việt Thảo, Nguyễn Đình Nguyên, Mr. Clown, Thảo Vi, Tường Vi, Bùi Công Đức & Phạm Thị Thanh Loan; Trần Như Yến & Phạm Vũ Như Thảo & Lâm Thanh Thanh, Phương Uyên.

Các ý kiến phản hồi  rất có ý nghĩa sâu sắc của Phương Thảo, dí dỏm của Quan Jun, chân tình của Hồng Phúc, và nhiều cảm xúc củaThảo Vi…. và  một ngạc nhiên thực thú vị đến từ Bảo Ngọc đang học ở một trường đại học tại Mỹ, trước những nỗ lực và thành công bước đầu như em báo  đã khiến cô rất vui và hạnh phúc. Em là một minh chứng để các thầy cô giáo và các bạn cảm thấy tự hào về  sinh viên Việt Nam.

Xin gửi một lời cám ơn trân trọng đến tất cả các bạn và  học trò về những tình cảm dành cho nhóm giáo viên  của ĐCN trong đó có Huỳnh Huệ.

Xin được nói về một  bài thơ  20/ 11 được đọc lại sau 32 năm đã khiến cô vô cùng xúc động.  Sau khi tiễn những em học trò cũ,  đi làm về buổi tối mới có thể ghé thăm và hàn huyên với cô muộn ( sau cả Quan Jun ) cô  mở  một tấm thiệp và bên trong tấm thiệp có một tờ giấy màu xanh.

Trên một mặt của tờ bìa màu xanh là bài thơ  do cô viết tay, trong một phút cảm xúc 20/ 11, đề  ngày 20/11/1977. Khi đó cô 22 tuổi, đang dạy  học năm thứ hai tại một trường Trung học Cơ sở  và  Hoài Dương là lớp trưởng lớp 7. Cô đã dạy  4 anh em nhà Hoài Dương  tại ngôi trường cấp 2 đó. Và cũng chính cô là người tập cho Dương đánh bóng bàn và động viên Dương tham gia thi vòng thành phố và đoạt giải bóng bàn cấp  tỉnh những năm  sau.

Bài thơ  có tựa đề Bước Tiếp:

Bước tiếp

Tôi bước tới hành trang là hy vọng,

Lòng yêu đời trải rộng cả trời xanh

Tin yêu dâng như nhựa sống trên cành

Tôi trao trọn học trò tôi bé nhỏ

Tôi đã chọn – và tôi làm cô giáo-

Đến với học trò,  đem cho cả tình yêu

“ Cho rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu?”

Không! Cho và nhận hai điều là một

Tôi muốn vì em thắp lửa hồng soi mắt

Ấm lại nụ cười tẻ nhạt bấy lâu

Xin vì em khơi mạch sống thêm sâu

Đi vỡ đất hoang làm người gieo hạt

Hãy đi với tôi hòa vang câu hát

Chúng ta chung lẽ sống dâng đời

Trái tim hồng, học trò nhỏ tôi ơi.

Rất an bình, tôi sẵn sàng bước tiếp

20- 11- 77

Tặng học trò của tôi, Hoài Dương

Kính tặng phụ huynh em, những người rất quan tâm đến việc giáo dục con em.

Huỳnh thị Huệ

Chiều hôm nay 20/ 11/ 2009  em Nguyễn Hoài Dương, lớp trưởng lớp 7 ngày ấy và bây giờ là một kỹ sư Lâm nghiệp, cử nhân Luật, chuyên viên chính đang là Phó TP Kế hoạch- đầu tư Sở Nông Nghiệp & PTNT, đặc trách thẩm định các dự án, quy hoạch nông lâm nghiệp Daklak, đã mang xuống một bó hoa, những quyển sách là tặng vật, với tấm thiệp và bài thơ trên trang giấy được ép plastic. Ở  mặt kia có  những dòng chữ như sau :

Kính gửi cô giáo Huỳnh thị Huệ

Đây là kỷ niệm quý giá mà em đã lưu giữ hơn 30 năm qua.
Em xin foto tặng lại cô!
Em vẫn luôn ghi nhớ hình ảnh và những lời chỉ dạy tận tình của cô.
Nghị lực và tâm huyết của cô luôn là tấm gương cho chúng em học tập.
Xin cám ơn cô!

Học trò của cô

Nguyễn Hoài Dương ( ký tên )

Dương ơi,

Cám ơn em đã cho cô một cơ hội tuyệt  vời để cô có thể hồi tưởng sâu và  soi lại đời mình sau 34 năm dạy học.  Ngày ấy, 20/ 11 / 1977,  cô là một cô giáo trẻ, năng động, yêu đời, yêu nghề và yêu học trò cấp 2 của mình qua bài thơ  viết  vì cảm xúc. Thực sự cô không nhớ rõ và không lưu lại bài thơ này, và cô cũng hiếm họa làm thơ.

Hôm nay, 20/ 11/ 2009, là kỉ niệm ngày Nhà Giáo Việt Nam sau cùng với tư cách Giảng viên chính  của cô, vì năm 2010 cô đã hoàn thành nhiệm vụ nghề nghiệp của mình.

Cô chỉ muốn nói một điều sau 32 năm, tuy tóc không còn xanh, chơi bóng bàn không còn giỏi nữa, sức khỏe không còn thật tốt, nhưng cô có thể khẳng định một điều  với các em:  tình yêu đời, yêu nghề nghiệp, và yêu học trò trong cô không hề suy giảm mảy may.

Cô yêu và tin vào năng lực của hết thảy các em, những học trò cũ, mới. Các em luôn là niềm tự hào và một trong những lẽ sống nghề nghiệp của đời cô.

Hãy vững lòng và bước tiếp, đã và sẽ tiếp  tục thành công, luôn  hữu ích cho đời, nhé  các em

Chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam

    Một trăm năm sau, tôi đã lái xe gì, không quan trong; tôi đã ở nhà loại nào, không quan trọng; tôi đã có bao nhiều tiền trong ngân hàng, không quan trọng… Điều quan trọng là thế giới có thể tốt hơn một chút vì tôi đã tạo được một thay đổi trong cuộc đời của một em nhỏ.” — Forest Witchcraft.

Chào các bạn,

Tháng 7 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục (tiếng Pháp: Fédération Internationale Syndicale des Enseignants – FISE).

Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản “Hiến chương các nhà giáo” gồm 15 chương với nội dung chủ yếu xây dựng nền giáo dục, bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo.

Công đoàn giáo dục Việt Nam, là thành viên của FISE từ năm 1953. Năm 1958, FISE họp hội nghị từ 26 đến 30 tháng 8 năm 1957 tại Warszawa, lấy ngày 20 tháng 11 năm 1958 là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”. Ngày này đã trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20 tháng 11 hằng năm là ngày lễ mang tên “Ngày nhà giáo Việt Nam”.

Nội dung quyết định số 167-HĐBT như sau:

Điều 1: Từ nay hàng nǎm sẽ lấy ngày 20-11 là ngày nhà giáo Việt Nam.

Điều 2: Để ngày 20-11 có ý nghĩa thiết thực hàng nǎm từ tháng 10 các cấp chính quyền và toàn thể cần họp để xem xét tình hình công tác và hoạt động của đội ngũ giáo viên ở địa phương mình, kiểm điểm những việc đã làm và đề ra những việc cấp tiếp tục làm nhằm động viên đội ngũ giáo viên phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, rèn luyện phẩm chất và nǎng lực, làm gương sáng cho học sinh noi theo. Về phía giáo viên, cần có những hoạt động phong phú nhằm nâng cao nhận thức về vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên trong xã hội nước ta ngày nay, từ đó mà ra sức phấn đấu làm tốt nhiệm vụ cao cả của mình.

Điều 3: Việc tổ chức ngày 20-11 hàng nǎm do Uỷ ban Nhân dân và Hội đồng các cấp chủ trì, có sự phối hợp các ngành giáo dục và các đoàn thể nhân dân. Các cấp các ngành cần phân công cán bộ lãnh đạo đi thǎm hỏi giáo viên, tổ chức các cuộc gặp mặt thân mật với giáo viên, nhân dịp này có thể tổ chức khen thưởng các giáo viên có thành tích. Việc tổ chức này nhà giáo Việt Nam cần được tiến hành trọng thể và thiết thực, tránh hình thức phô trương gây phiền hà cho học sinh và cha mẹ học sinh.

Điều 4: Trong ngày 20-11 các trường có thể sắp xếp lại việc học tập và giảng dạy để giáo viên được nghỉ và tham gia các sinh hoạt của trường và địa phương.

Trong truyền thống trọng thầy–Quân Sư Phụ; vua, thầy, rồi mới đến cha–ngày hôm nay chúng ta chào mừng sứ mệnh giáo dục của các thầy cô. Dạy học không phải là một nghề, mà là một sứ mệnh. Thiêng liêng và cao cả.

Chúc các thầy cô của ĐCN và thầy cô khắp nơi một Ngày Nhà Giáo nhiều tiếng cười, nhiều nước mắt, và nhiều ân sũng. Chúc các thầy các cô luôn vui vẻ khỏe mạnh để luôn đủ năng lực đưa các em tiến bước về hướng mặt trời.

Mời các thầy cô và mọi người nghe ba bản nhạc dành cho các thầy cô hôm nay sau đây.
.

Bụi Phấn

.

Những điều thầy chưa kể – Mung Ngay Nha Giao VN

.

Trường xưa yêu dấu – Clip Mừng Nhà Giáo VN

Chúc mừng ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11!

Với tất cả tình yêu thương và niềm kính trọng đến người thầy của tôi nói riêng và tất cả người thầy trên khắp thế giới nói chung.

Xin gửi đến thầy của tôi,người đã dạy tôi cách sử dụng đúng thì trong một câu tiếng Anh. Người đã dạy chúng tôi bằng cả tấm lòng và sự nhiệt tình.

Xin gửi đến thầy, thầy không chỉ dạy chúng tôi cách học tập sao cho thật sự hiệu quả, mà thầy còn hướng chúng tôi đến một thế giới bổ ích, đến một niềm tin vững chãi, một cái nhìn đồng cảm, một sự yêu thương tha thiết, những triết lí bổ ích, những bản nhạc khiến trái tim và cả trí óc đều ấm lên những lời ca ngọt ngào.

Xin gửi đến thầy thông điệp bé nhỏ của tôi:

“ Cô ơi! Em chỉ muốn chúc cô có một ngày nghỉ lễ thật hạnh phúc, thật vui vẻ và ấm áp. Em muốn sẽ mãi là học trò ngốc nhất của cô. Mong rằng cô luôn luôn khoẻ mạnh, luôn luôn vui tươi, và sẽ mãi là người dẫn đường cho chúng em, là người chỉ cho chúng em con đường đến một thế giới thật xinh đẹp; là người cầm chìa khoá mở cánh cửa của tình yêu nơi chúng em. Biến tâm hồn non nớt của chúng em trở nên trưởng thành hơn!!!! Cô ơi, em thương cô nhiều lắm!!!!!!”

—–

Happy Teacher’s Day 20-11!

With all my love and respect to my teacher and all the teachers around the world.

-Your student –

Mr.Clown. 🙂

Khi thầy nghĩ rằng em đang không quan tâm


Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy nhận xét về bài báo cáo đầu tiên của em và em muốn làm lại một bài khác .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy cho một chú mèo đi lạc ăn và em nghĩ rằng thầy tuyệt vời biết bao khi tốt với động vật.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy cho em một tấm vé , và em hiểu ra rằng những thứ nhỏ nhặc đôi khi lại rất đáng quý.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy che chở em và em cảm nhận được yêu thương dâng trào.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , em thấy những giọt nước mắt chảy ra từ

đôi mắt thầy và em học được rằng đôi khi thứ làm ta đau lại đáng để ta phải khóc.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy mỉm cười và điều đó làm cho em muốn được trông rạng rỡ như vậy .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy quan tâm và em muốn được trở thành những gì em có thế .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , em nhìn và muốn nói rằng nhờ ở thầy và tất cả những gì thầy đã làm khi thầy nghĩ rằng em đang không quan tâm.

    Bài dịch của Nguyễn Phương Uyên, lớp 10 chuyên Văn trường Nguyễn Du Daklak

.

WHEN YOU THOUGHT I WASN’T LOOKING

    By Mary Rita Schilke Korzan


When you thought I wasn’t looking, you displayed my first report, and I wanted to do another.

When you thought I wasn’t looking, you fed a stray cat, and I thought it was good to be kind to animals.

When you thought I wasn’t looking, you gave me a sticker, and I knew that little things were special things.

When you thought I wasn’t looking, you put your arm around me, and I felt loved.

When you thought I wasn’t looking I saw tears come from your eyes, and I learned that sometimes things hurt–but that it’s all right to cry.

When you thought I wasn’t looking, you smiled, and it made me want to look that pretty too.

When you thought I wasn’t looking, you cared, and I wanted to be everything I could be.

When you thought I wasn’t looking–I looked…and wanted to say thanks for all those things you did when you thought I wasn’t looking.

Number One Teacher – Người Cô Số 1

Dạ em chào cô ạ…. hôm nay nhân ngày 20-11, em chúc cô ngày càng mạnh khỏe, tươi trẻ và vui vẻ…dạ hôm nay em lên mạng kiếm được bài thơ bằng tiếng Anh về cô giáo ạ… em xin copy lại và dịch ra để gửi tặng cô ạ… em dịch còn nhiều sai sót, nên mong cô sữa lại những chỗ dịch chưa đạt giúp em ạ! Em chúc cô 1 ngày làm việc vui vẻ!

Như Thảo.

(ĐCN: Như Thảo, học sinh lớp 8, là thế hệ học trò thứ hai của chị Huỳnh Huệ. Mẹ Thảo trước đây 16 năm là sinh viên học tiếng Anh với chị Huệ. Như Thảo đã dịch bài thơ Time của Quan Jun đăng hai hôm trước).

.

Number One Teacher

I’m happy that you’re my teacher;
I enjoy each lesson you teach.
As my role model you inspire me
To dream and to work and to reach.

With your kindness you get my attention;
Every day you are planting a seed
Of curiosity and motivation
To know and to grow and succeed.

You help me fulfill my potential;
I’m thankful for all that you’ve done.
I admire you each day, and I just want to say,
As a teacher, you’re number one!

(Joanna Fuchs)

.

Cô giáo số 1!

Con rất hạnh phúc vì cô là cô giáo của con
Con thích thú với mỗi bài học mà cô dạy
Như một tấm gương mẫu mực, cô đã truyền cảm hứng cho con
Để con được mơ, để học và được

Cô đã chăm sóc con chu đáo với sự ân cần
Mỗi ngày cô là người gieo rắc
Sự tò mò và sự thúc đẩy
Để con biết, con lớn lên và để con được thành công

Cô giúp con hoàn thành được những tiềm năng của con
Con biết ơn tất cả những gì mà cô đã làm
Con rất ngưỡng mộ cô, và con chỉ muốn nói,
Cô là cô giáo số 1 của con…!

(Như Thảo dịch)

Tiết học cuối cùng

Tôi bắt đầu tới trường rất muộn vào sáng hôm đó và lo sợ sẽ bị trách mắng, đặc biệt là bởi vì Thầy Hamel đã nói rằng thầy sẽ hỏi chúng tôi về phần động tính từ, mà tôi lại không biết một chữ gì về chúng. Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ ngay đến việc trốn học và dành cả ngày để lang thang đây đó. Khí trời thực ấm áp, thực sáng sủa. Tiếng chim hót vang lên từ phía cánh rừng; và ở cánh đồng trống phía sau xưởng cưa, bọn lính Phổ đang tập trận. Tất cả những điều này đều hấp dẫn hơn rất nhiều so với những nguyên tắc của động tính từ, nhưng tôi đủ sức để chống cự lại, và hấp tấp chạy đến trường.

Khi tôi băng qua tòa thị chính, có một đám đông đứng trước tấm bảng thông báo. Trong hai năm nay tất cả những tin xấu đề đến từ tấm bảng đó – Tin chiến bại, tin tuyển binh, tin về những mệnh lệnh của sĩ quan chỉ huy – và tôi tự nhủ, chân vẫn không dừng :

“Điều gì đang xảy ra đây ?”

Sau đó, khi tôi đang chạy qua nhanh hết sức có thể, bác thợ rèn Wachter, người đang đứng ở đó, cùng với anh chàng thực tập, đang đọc tấm bảng, gọi với theo tôi:

“Đừng chạy nhanh thế chứ, cậu bé; cháu còn cả khối thời gian để đến trường cơ mà!”

Tôi nghĩ là ông ấy đang giễu cợt tôi, và tôi thở hổn hển khi đến được cái vườn nhỏ của thầy Hamel.

Thường lệ thì, khi lớp học bắt đầu, luôn có những âm thanh ầm ĩ có thể nghe ngay cả khi đang ở ngoài đường, tiếng mở đóng học bàn , tiếng ôn bài như một bản hợp xướng, rất ồn ào, với những cánh tay bịt chặt tai lại để học bài tốt hơn, và tiếng đập bàn của cái thước quá khổ của thầy nữa. Nhưng bây giờ không khí im ắng hoàn toàn! Tôi hy vọng mình có thể tiến vào lớp mà không bị ai nhìn thấy. Tuy nhiên, dĩ nhiên là ngày hôm dó tất cả mọi thứ đều im lặng như sáng Chủ Nhật. Qua cửa sổ tôi thấy những bạn học của tôi, tất cả đều đã ngồi vào chỗ, và Thầy Hamel đang đi lên đi xuống với cây thước sắt kinh khủng trên tay. Tôi phải mở cánh cửa và đi vào trước mắt mọi người. Bạn có thể tưởng tượng là tôi thẹn và sợ đến thế nào

Nhưng không có gì xảy ra cả. Thầy Hamel nhìn tôi và nói rất tử tế:

“Ngồi vào chỗ, nanh lên em Franz. Lớp học đã bắt đầu mà không có em đấy.”

Tôi nhảy qua cái ghế dài và ngồi xuống cái bàn học của tôi. Cho đến lúc đó, khi tôi đã bớt lo sợ, tôi thấy thầy của mình đang mặc cái áo khoác đẹp màu xanh, cái áo sơ mi kiểu, và một cái mũ lụa nhỏ màu đen, tất cả đều được thêm thắt, bộ đồ mà thầy chưa bao giờ mặt ngoại trừ những ngày kiểm tra và những ngày trao giải. Bên cạnh đó, cả lớp có vẻ như rất lạ và trang nghiêm. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là ở dãy bàn cuối, cái dãy bàn luôn trống, những người dân làng đang ngồi lặng im như chúng tôi; cụ Hauser, với cái mũ tam giác của ông ấy, thị trưởng cũ, trưởng phòng bưu điện cũ, và nhiều người khác ngồi bên cạnh. Mọi người đều có vẻ buồn bã; và cụ Hauser mang theo một quyển sách mở lòng cũ, nhăn ở góc, và ông ấy để mở nó trên đầu gối với cặp kính của cụ nằm trên trang sách.

Khi tôi đang tự hỏi về tất cả những điều đó, Thầy Hamel ngồi lên ghế, và, với cùng một giọng trang nghiêm và tử tế mà thầy đã dùng với tôi, thầy nói:

“Các học trò của tôi, đây là tiết học cuối cùng tôi sẽ dạy các em. Lệnh đến từ Berlin là chỉ được dạy tiếng Đức ở những trường ở Alsace và Lorraine. Thầy mới sẽ đến vào hôm sau. Đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Tôi muốn các em thực chú ý.”

Thực là một tin sét đánh đối với tôi!

Ôi, khốn khổ thay; đó là những gì họ treo lên ở tòa thị chính!

Tiết học tiếng Pháp cuối cùng của tôi! Tại sao, tôi chỉ mới biết viết! Tôi sẽ không được học thêm gì nữa! Giờ tôi phải ngừng lại sao! Ôi, tôi thực sự luyến tiếc rằng tôi đã không học bài, chỉ vì ham tìm trứng chim, hay ham đi trượt trên ngọn đồi Saar! Những quyển sách của tôi, chỉ mới một khoảnh khắc trước thôi, chúng như là những mối phiền toái, thực nặng nề khi mang chúng; thế mà bây giờ, quyển sách ngữ pháp của tôi, quyển sách sử thánh của tôi, chúng như là những người bạn cũ mà tôi không thể nào vứt bỏ. Và cả thầy Hamel nữa; cái suy nghĩ là thầy sẽ đi xa và tôi sẽ không bao giờ gặp lại thầy nữa làm tôi quên hết mọi điều về cây thước của thầy cũng như thầy là một người cáu kỉnh như thế nào.

Khốn khổ thay! Để tôn trọng ngày tiết học cuối cùng này, thầy đã mặc bộ đồ mà thầy chỉ mặc vào những ngày chủ nhật đẹp trời, và bây giờ tôi đã hiểu tại sao tất cả những người già trong làng lại ngồi tại dãy ghế cuối phòng học. Đó là bởi vì họ cũng luyến tiếc rằng học đã không đến lớp nhiều hơn. Đây là cách mà họ cảm ơn người thầy của chúng tôi vì bốn mươi năm tận tụy phục vụ; cũng là cách mà họ biểu lộ niềm tôn trọng đối với đất nước mà không còn là của họ nữa .

Khi tôi đang nghĩ về những điều này, tôi nghe tên tôi được gọi. Tới phiên tôi trả bài. Làm sao tôi có thể nói được cái nguyên tắc kinh khủng về động tính từ này từ đâu đến cuối được chứ? Tôi bối rối nói được chữ đầu tiên rồi đứng đó, giữ chặt cạnh bàn, tim đập mạnh, và không dám nhìn lên. Tôi nghe thầy Hamel nói với tôi:

“Thầy sẽ không la em đâu, Franz à; Em chắc hẳn cảm thấy đủ tệ rồi. Hãy nhìn lại xem! Mỗi ngày chúng ta đều tự nhủ rằng : “Ah, tôi có cả khối thời gian. Tôi sẽ học vào ngày mai.” Và bây giờ các bạn nhận ra rằng chúng ta đã tới đâu. Ah, đó là một vấn đề lớn lao đối với Alsace; Cô ấy hoãn việc học đến ngày mai. Bây giờ những người bạn ngoài kia có quyền nói với bạn: “Sao lại như thế; bạn giả đò là người Pháp phải không? Vì bạn chẳng thể nói hay viết được chính ngôn ngữ của bạn” Nhưng em không phải là kẻ tệ nhất đâu, Franz khốn khổ à. Tất cả chúng ta đều có nhiều việc để tự trách mắng mình.

“Bố mẹ các trò không đủ ló lắng để bắt các em học. Họ thích các em làm việd trên những cánh đồng hay tại các nhà máy hơn, để có thêm một ít tiền. Và tôi? Tôi cũng đáng trách. Tôi thường cho các em tưới cây thay tôi thay vì để các em học. Và khi tôi muốn đi câu cá, tôi cũng cho các em nghỉ học

Sau đó, từ điều này đến điều khác, Thầy Hamel tiếp tục nói về tiếng Pháp, rằng nó là ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới – là thứ rõ ràng nhất, lo-gic nhất; rằng chúng ta phải bảo vệ nó giữa chúng ta và không bao giờ được phép quên nó, vì khi một dân tộc bị bắt làm nô lệ, chừng nào họ còn giữ được ngôn ngữ của chính mình thì họ còn giữ được chiếc chìa khóa để thoát khỏi kiếp nô lệ. Sau đó thầy mở quyển sách ngữ pháp ra và đọc bài học cho chúng tôi. Tôi thực sự ngạc nhiên vì tại sao tôi hiểu bài rất nhanh. Tất cả những điều thầy giảng thực dễ hiểu, thực sự rất dễ hiểu! Tôi cũng nghĩ rằng, có lẽ đó là vì tôi chưa bao giờ lắng nghe cẩn thận hết mức, cũng như thầy chưa bao giờ giải thích mọi thứ kiên nhẫn như thế này. Nó như thể là người đàn ông khốn khổ này muốn truyền cho chúng tôi tất cả những gì ông biết trước khi ra đi, và cố thực hiện hết sức mình.

Sau phần ngữ pháp, chúng tôi học viết. Vào ngày đó, thầy Hamel có những bản in mới cho chúng tôi, được viết bởi một hoa tay đẹp: France, Alsace, France, Alsace. Chúng như là những lá cờ nhỏ tung bay ở khắp mọi nơi trong căn phòng học, được gắn trên thanh kéo trên cùng của cái bàn học. Bạn nên thấy mọi người tập trung làm việc thế nào, và lớp học đã trở nên im lặng ra sao! Âm thang duy nhất là tiếng ngòi bút chạy trên giấy. Có một vài con bọ cánh cứng bay vào; nhưng chẳng ai quan tâm đến chúng, thậm chí là những cậu nhỏ nhất đang chăm chú viết những chữ ngoằn ngoèo như móc câu, như thể chúng cũng là tiếng Pháp. Trên mái nhà những chú chim bồ câu đang chậm rãi kêu gù gù, và tôi nhủ thầm:

“ Liệu bọn chúng có bắt tất cả phải hát bằng tiếng Đức, kể cả đó là những con bồ câu?”

Bất cứ khi nào tôi ngước lên khỏi bài viết của tôi, tôi thấy thầy Hamel đang ngồi bất động trên ghế và liếc nhìn từ vật này sang người khác, như thể thầy muốn in sâu hình ảnh căn phòng với mọi đồ vật vào trong tâm trí mình. Ồ! 40 năm thầy đã luôn ở đúng một nơi, với khu vườn nhỏ ở ngoài và với cái lớp học đang ở trước mặt thầy, vẫn như vậy. Chỉ có những cái bàn học và những dãy ghế là mòn đi theo năm tháng; những cây óc chó ngoài vườn đã cao hơn, và cây hoa bia mà thầy tự trồng đã quấn quanh cửa sổ, vươn lên tận mái nhà. Thầy chắc hẳn phải rất đau lòng khi phải bỏ tất cả lại; khi nghe tiếng em thầy đóng gói đồ đạc ở nhà trên! Vì họ phải rời nơi này vào ngày mai


Nhưng thầy đủ dũng cảm để dạy hết tiết học. Sau phần viết, chúng tôi học về lịch sử, và sau đó các em nhỏ đánh vần từng chữ ba, be, bi ,bo ,bu. Ở cuối phòng học, cụ Hauser đã đeo kính vào, cầm cuốn sách vở lòng cũ bằng cả hai tay, cụ cũng bắt đầu đánh vần với các em.Và bạn cũng có thể thấy rằng, cụ đang khóc; Giọng cụ run run vì xúc cảm, thực ngộ là khi nghe cụ đọc, tất cả chúng tôi đều muốn vừa khóc vừa cười. Ah, tôi nhớ rất rõ về buổi học cuối cùng ấy!

Đột nhiên chuông đồng hồ nhà thờ điểm 12h. Sau đó là hồi chuông cầu kinh Đức Bà. Cùng một lúc tiếng toán quân Phổ vừa quay về từ bãi tập vang lên bên dưới của sổ nơi chúng tôi học. Thầy Hamel đứng bật dậy khỏi ghế, mặt thầy tái nhợt đi. Tôi chư từng thấy thầy cao đến như vậy

“Các bạn của tôi” Thầy nói “Tôi-Tôi-“ nhưng có điều gì đó làm thầy nghẹn lại. Thầy không thể tiếp tục.

Sau đó thầy quay lại tấm bảng đen, cầm một viên phấn, và, bằng hết sức mình, thầy viết to hết cỡ dòng chữ:

“Nước Pháp muôn năm!”

Sau đó thầy dừng lại rồi dựa đầu vào tường, và, không nói lời nói, thầy ra hiệu cho chúng tôi:

“Lớp học kết thúc – các em có thể về. “

    Người dịch: Nguyễn Đình Nguyên, lớp 9, trường THCS Phan Chu Trinh
    Buôn Ma Thuột.

.

The Last Lesson

I started for school very late that morning and was in great dread of a scolding, especially because M. Hamel had said that he would question us on participles, and I did not know the first word about them. For a moment I thought of running away and spending the day out of doors. It was so warm, so bright! The birds were chirping at the edge of the woods; and in the open field back of the sawmill the Prussian soldiers were drilling. It was all much more tempting than the rule for participles, but I had the strength to resist, and hurried off to school.

When I passed the town hall there was a crowd in front of the bulletin-board. For the last two years all our bad news had come from there—the lost battles, the draft, the orders of the commanding officer—and I thought to myself, without stopping:

“What can be the matter now?”

Then, as I hurried by as fast as I could go, the blacksmith, Wachter, who was there, with his apprentice, reading the bulletin, called after me:

“Don’t go so fast, bub; you’ll get to your school in plenty of time!”

I thought he was making fun of me, and reached M. Hamel’s little garden all out of breath.

Usually, when school began, there was a great bustle, which could be heard out in the street, the opening and closing of desks, lessons repeated in unison, very loud, with our hands over our ears to understand better, and the teacher’s great ruler rapping on the table. But now it was all so still! I had counted on the commotion to get to my desk without being seen; but, of course, that day everything had to be as quiet as Sunday morning. Through the window I saw my classmates, already in their places, and M. Hamel walking up and down with his terrible iron ruler under his arm. I had to open the door and go in before everybody. You can imagine how I blushed and how frightened I was.

But nothing happened. M. Hamel saw me and said very kindly:

“Go to your place quickly, little Franz. We were beginning without you.”

I jumped over the bench and sat down at my desk. Not till then, when I had got a little over my fright, did I see that our teacher had on his beautiful green coat, his frilled shirt, and the little black silk cap, all embroidered, that he never wore except on inspection and prize days. Besides, the whole school seemed so strange and solemn. But the thing that surprised me most was to see, on the back benches that were always empty, the village people sitting quietly like ourselves; old Hauser, with his three-cornered hat, the former mayor, the former postmaster, and several others besides. Everybody looked sad; and Hauser had brought an old primer, thumbed at the edges, and he held it open on his knees with his great spectacles lying across the pages.

While I was wondering about it all, M. Hamel mounted his chair, and, in the same grave and gentle tone which he had used to me, said:

“My children, this is the last lesson I shall give you. The order has come from Berlin to teach only German in the schools of Alsace and Lorraine. The new master comes to-morrow. This is your last French lesson. I want you to be very attentive.”

What a thunderclap these words were to me!

Oh, the wretches; that was what they had put up at the town-hall!

My last French lesson! Why, I hardly knew how to write! I should never learn any more! I must stop there, then! Oh, how sorry I was for not learning my lessons, for seeking birds’ eggs, or going sliding on the Saar! My books, that had seemed such a nuisance a while ago, so heavy to carry, my grammar, and my history of the saints, were old friends now that I couldn’t give up. And M. Hamel, too; the idea that he was going away, that I should never see him again, made me forget all about his ruler and how cranky he was.

Poor man! It was in honor of this last lesson that he had put on his fine Sunday clothes, and now I understood why the old men of the village were sitting there in the back of the room. It was because they were sorry, too, that they had not gone to school more. It was their way of thanking our master for his forty years of faithful service and of showing their respect for the country that was theirs no more.

While I was thinking of all this, I heard my name called. It was my turn to recite. What would I not have given to be able to say that dreadful rule for the participle all through, very loud and clear, and without one mistake? But I got mixed up on the first words and stood there, holding on to my desk, my heart beating, and not daring to look up. I heard M. Hamel say to me:

“I won’t scold you, little Franz; you must feel bad enough. See how it is! Every day we have said to ourselves: ‘Bah! I’ve plenty of time. I’ll learn it to-morrow.’ And now you see where we’ve come out. Ah, that’s the great trouble with Alsace; she puts off learning till to-morrow. Now those fellows out there will have the right to say to you: ‘How is it; you pretend to be Frenchmen, and yet you can neither speak nor write your own language?’ But you are not the worst, poor little Franz. We’ve all a great deal to reproach ourselves with.

“Your parents were not anxious enough to have you learn. They preferred to put you to work on a farm or at the mills, so as to have a little more money. And I? I’ve been to blame also. Have I not often sent you to water my flowers instead of learning your lessons? And when I wanted to go fishing, did I not just give you a holiday?”

Then, from one thing to another, M. Hamel went on to talk of the French language, saying that it was the most beautiful language in the world—the clearest, the most logical; that we must guard it among us and never forget it, because when a people are enslaved, as long as they hold fast to their language it is as if they had the key to their prison. Then he opened a grammar and read us our lesson. I was amazed to see how well I understood it. All he said seemed so easy, so easy! I think, too, that I had never listened so carefully, and that he had never explained everything with so much patience. It seemed almost as if the poor man wanted to give us all he knew before going away, and to put it all into our heads at one stroke.

After the grammar, we had a lesson in writing. That day M. Hamel had new copies for us, written in a beautiful round hand: France, Alsace, France, Alsace. They looked like little flags floating everywhere in the school-room, hung from the rod at the top of our desks. You ought to have seen how every one set to work, and how quiet it was! The only sound was the scratching of the pens over the paper. Once some beetles flew in; but nobody paid any attention to them, not even the littlest ones, who worked right on tracing their fish-hooks, as if that was French, too. On the roof the pigeons cooed very low, and I thought to myself:
“Will they make them sing in German, even the pigeons?”

Whenever I looked up from my writing I saw M. Hamel sitting motionless in his chair and gazing first at one thing, then at another, as if he wanted to fix in his mind just how everything looked in that little school-room. Fancy! For forty years he had been there in the same place, with his garden outside the window and his class in front of him, just like that. Only the desks and benches had been worn smooth; the walnut-trees in the garden were taller, and the hopvine that he had planted himself twined about the windows to the roof. How it must have broken his heart to leave it all, poor man; to hear his sister moving about in the room above, packing their trunks! For they must leave the country next day.

But he had the courage to hear every lesson to the very last. After the writing, we had a lesson in history, and then the babies chanted their ba, be bi, bo, bu. Down there at the back of the room old Hauser had put on his spectacles and, holding his primer in both hands, spelled the letters with them. You could see that he, too, was crying; his voice trembled with emotion, and it was so funny to hear him that we all wanted to
laugh and cry. Ah, how well I remember it, that last lesson!

All at once the church-clock struck twelve. Then the Angelus. At the same moment the trumpets of the Prussians, returning from drill, sounded under our windows. M. Hamel stood up, very pale, in his chair. I never saw him look so tall.

“My friends,” said he, “I—I—” But something choked him. He could not go on.

Then he turned to the blackboard, took a piece of chalk, and, bearing on with all his might, he wrote as large as he could:

“Vive La France!”

Then he stopped and leaned his head against the wall, and, without a word, he made a gesture to us with his hand:

“School is dismissed—you may go.”

Trái tim nhà giáo

Như các bạn tôi chọn ngành sư phạm
Vì tôi yêu những đôi mắt ngây thơ
Long lanh sáng tròn xoe tinh nghịch
Nét xinh tươi ngoan ngoãn vô tư

    ***

Như các bạn tôi một lòng tâm huyết
Đưa các em vững bước đi lên
Bằng khối óc, bằng trái tim nhà giáo
Bằng tấm lòng yêu trẻ đến vô cùng

    ***

Trang giáo án tôi làm người họa sĩ
Vẽ con đường các cháu đến tương lai
Của đất nước hòa bình độc lập
Mang trái tim nhân hậu an bình

    ***

Có người bảo làm nghề nhà giáo
Như lái đò đưa khách sang sông
Bến trống vắng người lái đò hiu quạnh
Sang sông rồi khách sẽ đi xa

    ***

Ta không ngại vì trong nền văn hóa
Chúng ta là những chiến sĩ tiên phong
Dù hy sinh thầm lặng
Hay gặp muôn vạn những khó khăn

    ***

Ta không ngại vì ta là nhà giáo
Niềm tự hào nhà giáo Việt Nam

Minh Tâm