Tag Archives: Văn Hóa

Carlos Santana – Nghệ sĩ guitar của mọi thời đại

Chào các bạn,

Ai trong chúng ta cũng đã nghe Santana dù là ta có biết tên hay không, nhất là hai bản Black Magic Women và Oye Como Va nỗi tiếng từ thời thập niên 70s và vẫn còn thịnh hành ngày nay trên các sàn nhảy Việt Nam.

Carlos Santana, sinh ngày 7.20.1947, là nghệ sĩ guitar người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ. Santana bắt đầu nỗi tiếng cuối thập niên 60s đầu thập niên 70s, với ban nhạc do anh lập lấy họ của mình làm tên, Santana, chơi một loại nhạc rock trộn lẫn rock, Salsa và jazz, cùng với đường guitar ngọt lịm bóng bẩy của Carlos, và các nhạc cụ Nam Mỹ như trống congas và timbales.

Trong thập niên 1990s, Santana lại bất đầu một lượt thành công với các bạn nhạc mới, trình diễn chung với các nghệ sĩ hàng con cháu.

Carlos Santana đã thắng nhiều giải Grammy, và được báo Âm Nhạc Rolling Stone đưa vào hạng thứ 15 trong danh sách “100 nghệ sĩ guitar của mọi thời đại.”

Sau đây mời các bạn xem vài videos của Santana:

1. Soul Sacrifice tại Woodstock 1969
2. Black Magic Woman
3. Oye Como Va
4. Europa
5. Santana và huyền thoại Guitar Eric CLapton, tringh bày Jingo
.

Santana – Soul Sacrifice (Woodstock 1969) (Video này có vài hình ảnh không được lịch sự mấy. Nhưng có lẽ cũng nên xem đển biết huyền thoại Woodstock thế nào 🙂 )

.

Santana: Black Magic Woman (2005)

.

Oye Como Va – Carlos Santana

.

Santana – Europa

.

Santana & Clapton – Jingo

.

Văn Thanh, thì ra “dâm vỏ tái lòng”!

Sau 18 năm dạy Trung văn ở Phú Thọ và Nghệ An, Văn Thanh bỏ nghề vào Đắk Lắk làm cán bộ văn hóa thông tin. Lý do được ông trần trụi phơi ra đầu bút :

Tôi cầm phấn lên bảng dạy học trò

Nói theo sách chúng vừa nghe vừa gật

Trang giáo án thêm đường rót mật

Ra giữa đời chát đắng chua cay …

Chất “đồ xứ Nghệ” ngang ngạnh, bộc trực thấm đẫm từ trong ra ngoài khiến Văn Thanh không ngồi yên trên bất cứ cái ghế nào. Người sao thơ vậy, ông luôn chọn được lối riêng thú vị, sắc sảo khi cần phơi bày những góc khuất của xã hội, dù trong đời hay trên trang giấy. Hoặc đùa cợt ngộ nghĩnh “Con chuồn ớt đậu trên cành ớt/ Dẫu đỏ hết mình cũng không thể nào cay”; Hoặc nghiêm khắc đe nẹt “ Thôi đừng ầm ĩ biển ơi/ Một ly nước ngọt cho đời, có chưa ?”; Và hồn nhiên như trẻ nhỏ “ Sáng ra choàng tỉnh dậy / Da trời đầy nếp nhăn/ Thì ra đêm vũ trụ/ Còn suy tư hơn mình” …

Tự làm mọi thủ tục hưu sớm để lui về lo cơm áo gia đình và lo cho … thơ. Loay hoay tập tành mãi mới phục hồi dần thể lực sau một cú tai biến mạch máu não tưởng đã “đi tong”! Thế nhưng ngay trong những năm tháng loay hoay ấy ông đã lần hồi sáng tác, gom góp được cả chục tập bản thảo thơ, tự vẽ bìa phô tô gửi tặng bạn bè đọc chơi. Tập đầu tay in ấn đàng hoàng của ông có tên là “ Quả đắng”. “ Thơ tôi quả đắng trên rừng/ Ai ham của ngọt xin đừng ghé môi !” . Dòng nào trang nào cũng đắng, kiểu “ đắng dã tật”, tốt mà … khó nuốt. Họa sĩ trường phái tả chân sau cả buổi vò đầu chả biết nên trình bày thế nào, bèn tương lên bìa hình vẽ một thứ quả tưởng tượng nhòe nhoẹt, lù xù gai nhọn, trông cứ như con Ếts (AIDS).

Có cậu con trai tài giỏi, họa sĩ Lê Hồng Thao, thành danh ngay trong giới đồ họa,  đang làm việc cho một trong những công ty hàng đầu về kỹ xảo điện ảnh và game 3D ở  Mỹ .  Nhưng con xa bạn gần, Văn Thanh không ngần ngại nhận “ tài trợ kỹ thuật” kiểu tự mày mò từ thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo để “một bước lên đời”, trở thành tác gia tân thời nhất trong giới cầm bút ở Đắk Lắk vì là người đầu tiên ở xứ cà phê xanh mù táo bạo mở blog văn chương. Văn Thanh blog’s đủ loại sáng tác trường ca đoản ca, truyện vừa truyện ngắn, thuần chất chém to kho mặn đọc vừa tếu vừa đau khó lẫn. Trong mớ hàng bày ra chỉ để chia sẻ chứ không bán ấy dễ gặp khá nhiều ảnh tươi mát , thoạt nhìn dễ nghĩ một đằng, đọc phần chữ in kèm hóa ra một nẻo. Ví dụ “ Triết lý của điếm” :

Vẻ đẹp em như một lâu đài/         Lộng lẫy lắm. Em có quyền định giá/Em bán. Em cho. Có gì mà lạ ? Khoa học bán phát minh/ Họa sĩ bán tranh/ Công nhân bán mồ hôi mình/ Lại có kẻ bán cả quyền hành/ Tất cả vì Tiền/ Bán/ Bán…Nghe em nói mà tôi hoảng sợ/ Những người già/ Giờ biết bán chi đây ?

Dấn thêm bước nữa, mới đây ông cho ra lò thêm tập thơ nặng trịch, trên mặt bìa cứng dày cộp in lồ lộ ảnh một nàng khỏa thân, tóc rũ vú chìa, ngồi gục đầu giữa đêm tối dưới cái tên nửa nạc nửa mỡ “Người tình ngoài sổ sách”. Tập tễnh một bên chân di chứng tai biến vác thơ đi , ông oang oang kể, nửa khoe nửa than :

Lắm thằng thấy cái bìa tưởng vớ bở, cứ nằn nì “Bác tặng em với!”. Của đâu cho đủ ?! Anh em giúp phần lớn mà vẫn phải nộp vô hai mươi lăm triệu mới ra được năm trăm bản. “Mỗi câu thơ là một hạt cát/ Trong ngực người bầm tím nỗi đau” chứ đùa à ?

Tôi ghẹo :

– Chính anh viết “ Thơ không được màu mè chưng bán/ Đánh lừa nhau, ru ngủ mọi người” . Vậy mà lần này phải chơi tới ảnh truồng để tiếp thị ư ?

Ông trợn mắt :

Tác phẩm nghệ thuật đoạt huy chương vàng gì gì đó của nghệ sĩ nhiếp ảnh Dương Quốc Định, thằng Tạo nó bảo thế . Chẳng đủ tặng bạn bè, còn đâu mà tiếp thị ?

Dân cá gỗ, Ký ức về cái nghèo, Vóc dáng miền Trung, Đu đủ đực, Tái ngộ Chí Phèo, Con voi một ngà, Đất Ea Sô, Bờm đi chợ WTO, Thiện và ác, Búa và đinh, Gà công nghiệp v.v…Gần ba trăm tên bài nép sau lớp bìa khiêu khích “ dâm vỏ” nhưng “ tái lòng”, dồn nén đầy ứ buồn vui  của quá nửa đời người trung thực thăng trầm.

Không phải bài nào cũng hay, song có thể nhặt ra lắm tứ thơ bất ngờ, thú vị, hàm súc như ca dao thành ngữ. Bút pháp xù xì thô mộc, thường chỉ vài câu ngắn gọn đã bao trọn tình ý thâm sâu. Ví dụ “ Cây bonsai” :

Trăm năm kẹt giữa sứ sành/ Thân nào chẳng sẹo, chẳng thành u chai…

Hoặc “ Lá chè ” : Cứ vò/ Cứ sấy/ Cứ sao/ Cứ đem đun nóng ai nào quản đâu/ Có gì chưa hiểu lòng nhau/ Xin tan vào chén để sau thấm dần…

Hoàng Thiên Nga

Múa rối bóng Thế Giới Tuyệt Vời – A Wonderful World puppet show

Chào các bạn,

Hình như mình đã post show này trước đây rồi, nhưng show hay thì xem lại cũng không sao. Đây là show múa rối bóng (shadow puppet), tao bằng bóng đen của đôi bàn tay trên tường. Người nghệ sĩ trong show này đã thuộc hàng số một trên thê giới, tạo những hình ảnh thật dễ thưởng và nhiều cảm xúc, minh họa cho Louis Armstrong ca bản A Wonderful World.

Cám ơn anh Phan Quang đã gởi link.

Mời các bạn thưởng thức.
.

Chuyện Nàng Thuý Vân

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa thế giới.
Bậc danh nhân sinh hạ được một cặp sinh đôi tuyệt thế: Thúy Kiều và Thúy Vân.
Cụ cũng gật gù đắc ý:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.


Ấy vậy mà số phận hai nàng lại quá khác nhau.

Kiều tiền hung hậu kiết. Kể từ độ bán mình chuộc cha, tính trung bình 20 lạng vàng định giá một năm son phấn kể cũng thua thiệt cho đời hoa ghen thua thắm. Tôi cũng tội thân Kiều. Mà qua cái tao đoạn ấy, đời Kiều kể lên hương. Hai thế kỉ rưỡi trôi qua, Kiều không thôi được các thi nhân xưng tụng, dẫu đôi lúc cũng bị đời mắng mỏ, song cái roi đe nẹt dẫu đau cũng chả bù những lúc được tôn vinh, nhất là khi một nhà thơ lạm quyền chủ tịch tôn Kiều là cái tiết trinh của đời dân tộc:

Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường!

Chế Lan Viên
Ngẫm lại thấy tội nàng Vân.
Một đời thanh xuân hơ hớ, so cô chị dẫu có tủi phấn thẹn hương đôi chút , song cũng hàng quốc sắc thiên hương, mà chẳng được đời chiều. Từ cái đêm trao duyên chẳng đặng chối từ, Vân cứ mất hút vào cõi vô danh, đến cuối hồi soát sổ, Vân mới có cơ hội trình diện một lần nữa, cũng chỉ để làm xong cái phận sự: Mang khối tình cất dùm mà nguyên chủ phát hoàn!

Nguyễn Du kể cũng hay tâm nên giành cho Vân tàng tàng chén cúc dở say ý hẳn để nàng quên đi hờn tủi!

Kể thì cũng tội, hồng nhan chẳng kịp đa truân, chẳng chịu đa tình, thành dở dang quá đỗi. Mười lăm mười sáu cập kê, chưa kịp biết yêu, đã phải vì chị mà mậu đường tình, khuân vác cái duyên hờ của chị. Mà mười lăm năm ấy, nào hạnh phúc cho cam, nuôi nấng cái đấng lang quân vừa kịp bảng vàng bia đá, ngài vội vứt ngang mà đăm đăm tìm kiếm tình xưa, thật đúng cái tình cái cảnh “ thân em bắt tép nuôi cò, cò ăn cò béo cò dò lên cây”. Nghĩ vậy mà khuyên thi nhân nay có mài bút khen cái chí tình của chàng Kim thì xin “ nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay” kẻo tội nàng Vân lăm lắm! Hãy ngẫm xem linh hồn Vân cười khóc thế nào khi nghe đời sau nhạo báng:

Thôi đừng nhắc khúc đàn xưa mờ tỏ
Mảnh vườn khuya em băng lối một mình
Ta không bẻ nhụy đào đêm xuân ấy
Để bây giờ buồn tiếc đến khôn nguôi!

Nguyễn Tiên Khôi

Thôi thì tập làm người nghĩa hiệp mà đi ngược lẽ đời, để chia sẻ cùng Vân đôi điều uẩn khúc.
Một lần đem nỗi băn khoăn này mà tỏ bày cùng một danh sĩ đất Hội An, danh sĩ cười ngạo mà phán bảo:
– Thương tiếc khéo là vô lí, lẽ đời đã dấn một nửa bước chân vào chốn tài hoa ai lại đi thương một cái giải nhì!
*
* *
Thôi đành vậy.

Người viết bài này chỉ là nhất thời cao hứng mà diễn xuôi ý tứ của một thi nhân, Trương Nam Hương, nên có lỗi nào trong bài luận văn vô phép rất mong quí bạn vui lòng tìm đến ông Trương Nam Hương mà cật vấn.

Sau đây là bằng chứng:

TÂM SỰ NÀNG THÚY VÂN

Trương Nam Hương

Lặng nghe lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị thương lệ khóc đã đành
Chứ em nước mắt đâu dành chàng Kim.

Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để nồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên
Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị thương kẻ mất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!
Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường.

Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim.
Em làm vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Đắp đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?

Ý kiến các bạn thế nào?

Nguyễn Tấn Ái

Haiku


    Gió
    thổi

    quả
    thông
    rụng

    lăn
    vào
    thung
    lũng

    Mảnh
    nắng
    mỏng

    lọt
    qua
    khe
    cửa

    sáng
    cả
    phòng

    Tuyết
    đầu
    đông

    trĩu
    cành

    hạ
    trắng
    rừng
    thông

    Tuyết
    đổ

    Trùm
    đầu
    trùm
    cổ

    Nhìn
    sóc

    đùa

Thứ bảy, 5.12.2009, tuyết đầu đông. Chụp ảnh cây thông trước nhà, chia sẻ với các bạn 🙂 TĐH

Lê Vĩnh Tài, Nhà Thơ Phố Núi Và Trường Ca Vỡ Ra Mưa Ấm

Chào các bạn,

Dưới đây là bài giới thiệu của chị Huỳnh Huệ về nhà thơ Balme Lê Vĩnh Tài, một thi sĩ dịu hiền và chân thật.  Mình và Phượng gặp Lê Vĩnh Tài năm 1996 tại đêm ca hát ờ nhà Hoàng Thiên Nga cùng chị Linh Nga Niê Kdăm và một số bạn bè khác.  Đêm đó anh em tâm sự cũng nhiều.  Nay có duyên được Huỳnh Huệ nối dây trở lại.

Trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm là một trường thi dài hơn 6,500 chữ, về rừng núi, cây lá, con người, tình yêu và những suy tư khắc khoải của Tây Nguyên.  Đây là bản trường ca của một người con ruột rà máu thịt Tây Nguyên, với những thổn thức và nhịp đập con tim của một đứa con dành cho đất mẹ:

Tây Nguyên mênh mang tận cùng máu chảy
mẹ dạy ta nhìn thấy
một bông lúa rẫy cũng khát như người

ôi Tây Nguyên
lá vẫn xanh trong câu thơ lá đỏ
ngày nhiều nắng gió
vàng rơi

Tây Nguyên mênh mang
có những phận người…

Mời các bạn “nghe” lời giới thiệu của chị Huỳnh Huệ về anh Lê Vĩnh Tài. Sau đó, mời các bạn xem đoạn 1 của trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm.

Mến,
Hoành
________

Chào các bạn,

Lê  Vĩnh Tài  sinh năm 1966 tại Ban Mê Thuột, Đăklăk, đã có những tháng ngày  khoác áo sinh viên, mặc blouse trắng thực tập tại các bệnh viện ở phố núi. Anh  tốt nghiệp Đại học Y Dược Tây Nguyên nhưng cuối cùng theo nghề kinh doanh và làm thơ.

Với anh, thơ chính là con đường, hành trình, nguồn năng lượng thắp sáng, tìm kiếm bản thể mình, là tình yêu tha thiết cho quê hương, thân phận,  nỗi đau trước những cánh rừng bị tàn phá… Anh đã có nhiều tập thơ được in, từng nhận nhiều giải thưởng văn học địa phương và trong nước : giải văn học nghệ thuật tỉnh Đăklăk, giải Tác phẩm Tuổi Xanh, giải Bút Mới, giải Bách Việt lần 1 tháng 1/ 2009… Trong cuộc hành trình của mình,  Lê  Vĩnh Tài đã đến nhiều nơi của  tổ quốc, từ Nam ra Bắc,  nhưng có lẽ Ban Mê và Tây Nguyên là một cõi đi về, đỉnh điểm và khát vọng của hồn thơ anh  : “Tôi yêu vùng đất đỏ bazan – khát quê nhà. Những bài thơ của tôi như loài hoa cà phê chỉ sống được và tỏa hương trên những triền đồi hoang dã”.

Các tác phẩm của anh gồm :

Tác phẩm:
Hoài niệm chiều mưa, NXB Thanh Niên 1991.
Hạt thóc và Hoa dại (in chung với Uông Ngọc Dậu), 1993.
Lục bát Phượng yêu (in chung với Phạm Doanh), 1994.
Và nỗi nhớ đã bắt đầu với gió, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2004.
Vỡ ra mưa ấm, trường ca, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005.
Liên tưởng, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2006, Giải thưởng của Liên hiệp các hội VHNT VN 2007.
Đêm & những khúc rời của Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2008.
Thơ hỏi thơ, NXB Thanh Niên, 2008.

Góp mặt trong:
Thơ trẻ Việt Nam 1994-1998.
Tuyển 20 năm thơ Sông Hương, 2003.
Tuyển 50 năm thơ Văn nghệ Quân đội.
Thơ Việt Nam, Tìm tòi và cách tân 1975-2005, NXB Hội Nhà văn, 2007.
Huy chương vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, 2001.

Cũng như nhiều  nhà thơ  khác của vùng  đất Tây Nguyên, tình yêu dành cho mảnh đất này, Lê Vĩnh Tài và thơ anh từ những xúc cảm ban đầu  –  nỗi buồn, nỗi nhớ nhung lặng lẽ, khó nắm bắt nhưng rất thực của anh về đất, về người, về đời, về những giấc mơ mỗi đêm “như gió về đập cửa” và “những ngày tháng đã xa như cổ tích” ( Và Nỗi Nhớ Đã Bắt Đầu Với Gió, Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 3.2004) cho đến những nỗi trăn trở, nỗi đau nhức nhối khi rừng chảy máu và bị tàn phá điên cuồng.

Hãy nghe tiếng lòng  thảng thốt :

rừng thành chật chội bước chân của người…
rừng bỏ chúng ta đi

đỉnh núi không còn rừng nhô ra đỉnh vú…
trên rơm rạ đời ta rừng từ giã cõi đời

Còn nhiều để nói về những trăn trở trong thơ của Lê Vĩnh Tài, bởi thơ anh không là cõi mơ xa rời hiện thực, mà là tiếng lòng anh gần gũi  với đất, rừng núi, con người và cuộc  sống của  vùng đất Tây Nguyên huyền thọai này:

tại sao không liên tưởng
hạnh phúc dửng dưng nỗi đau phá
giá oằn vai người nuôi cá basa
mắt người nuôi gà
nỗi kinh hoàng hố chôn dịch cúm
dường như chiều nay
chúng ta quên mất cuộc đời nhiều cánh cửa
cùng đóng lại ước mơ
với một ly cà phê Highland bốn mươi ngàn
khuyến mãi máy lạnh
quên mất ở Tây Nguyên bảy năm rồi cà phê bốn ngàn một ký
khuyến mãi mồ hôi

(Đêm và những khúc rời của Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2008)

Nhưng thực ra tác giả vẫn không mất đi niềm hi vọng về một ngày mai sáng, xanh hơn trên mảnh đất đã là máu thịt:

niềm vui Banmê chênh vênh mõm đá
thành phố dịu dàng nỗi đau ngược gió
bay lên.
(Vỡ ra mưa ấm, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005)

Đọt Chuối Non hân hạnh giới thiệu nhà thơ Lê Vĩnh Tài như một tác giả mới của Đọt Chuối Non qua trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm mà anh vừa gửi đến cho Đọt Chuối Non với lời hứa góp mặt thường xuyên vì tình cảm anh dành cho sân chơi – mảnh đất màu của tư duy tích cực , lạc quan yêu đời, và đặc biệt cộng đồng Daklak’s gang.

Các bạn có thể biết thêm về tác giả Lê Vĩnh Tài qua những bài viết giới thiệu khác trên báo, tạp chí và các trang web như bài :  Các khuôn mặt mới 11. Lê Vĩnh Tài tại http://inrasara.com/?p=1912

Hùynh Huệ

Vỡ Ra Mưa Ấm

(đoạn 1)

Những ý nghĩ về em chưa bao giờ lắng xuống
ôi quê hương
cỏ dại bông hoa như những quả chuông màu nắng ngân vang
vùng đất lũ lụt và hạn hán
sáu tháng mùa khô
sáu tháng mặt trời
những sáu tháng mắt cay mờ bụi đỏ
sáu tháng dựng lên tất bật, âu lo
con nước lớn thành con nước nhỏ
quả bầu để khô đựng nước bên trong
lũ lượt thành dòng
nước ở trên gùi chứ không ở dưới sông
lấy được nước mồ hôi nhiều hơn nước
mẹ biết vậy nhưng cách gì khác được

cơn khát khô cong dấu hỏi trong lòng
trốn đâu rồi con suối, dòng sông
sao cóc nghiến răng mà mưa không đến
lúa trên rẫy nghẹn đòng
vỏ trấu thôi chẳng hạt gạo bên trong
nương rẫy rộng mênh mông
mà mẹ đi mót lúa không hạt nào

mặt trời mọc đàng Đông và lặn đàng Tây
đêm cuộn vào trong ngày
cái quầng lửa trở mình qua lại
lăn qua rẫy nương một vệt máu bầm
cầu vồng mơ mưa rợp xuống thân Người
gió và bụi đỡ mặt trời lên cao
như ánh sáng
trong suốt dẫn ta vào giấc mơ
theo lối thang mòn của mẹ

Lê Vĩnh Tài

Tây Nguyên Việt Nam

Chào các bạn,

Mình vừa làm xong PPS Tây Nguyên, để tặng các bạn Tây nguyên, đặc biệt là các bạn Balme yêu quý.

Hoàng Triều Cương Thổ của một thời. Rừng núi bao la tĩnh lặng.

Ban Mê gió nhẹ bước vào đông
Trời đã ngủ quên ánh nắng hồng
Mưa phùn lất phất mềm lối cỏ
Phố nhỏ thơm nồng tách cà phê

    Thơ Minh Tâm

Và những con dốc quanh co

Tiếng ai cười trên dốc nhỏ lao xao.
Hạnh phúc trong tôi quá đổi ngọt ngào!

    Thơ Huỳnh Huệ

Những thác nước đẹp như thác mây

Trên cao đổ xuống một màn
sương trắng bao phủ những hàng núi non

    Thơ Kim Hoa

Những đồi thông, những rừng hoa trong nắng sáng

Hừng sáng mặt trời lên rực rỡ
Trăm hoa đua nở ngát hương bay
Cúc quỳ vàng rực,lung linh sắc
Vi vút thông reo dạ ngất ngây

    Thơ Hồng Phúc

Những con đường nhiều vương vấn

Dốc dài, lối cỏ mù sương
Bao nhiêu kỉ niệm còn vương vấn đời…

    Thơ Trần Can

Làm ta rơi vào chuyện thần tiên

…có phải thiên đường
Nở đầy hoa cổ tích?
Để em bên anh trong một chiều tĩnh mịch
Trao anh, bàn tay em…

    Thơ Kiêm Yến

Tây nguyên của ngày xưa, đất rộng dân thưa, các bộ lạc sống thong dong với rừng xanh.

Ngày nay các dự án xã hội và phát triển kinh tế đã đảo lộn cuộc sống của những người bạn của rừng xanh và làm rừng xanh biến dạng…

Gùi trĩu
Mắt hoang
Lạc lõng chân trần qua phố

Giữa ngã sáu
Bỗng gặp
Mắt hoang chân trần ngơ ngác
Giọt mặn nào
Lòng ta ngấm thật sâu…

    thơ Hoàng Thiên Nga

Tây Nguyên mùa xuân
Trước đoàn xe cây nghiến nát nền đường đất đỏ
Tôi dừng lại
Chân trần
Em khóc
Cầm trên tay đoá hoa rừng bé nhỏ

    thơ Hoàng Thiên Nga

Dù vậy những người con Tây Nguyên vẫn chia ngọt sẻ bùi, cùng ca trong đêm cho những buốt đau và hy vọng của núi rừng

Họ hát nồng nàn
Giọng thầm thĩ yêu thương gọi chân lạc bước
Giọng dào dạt thác nguồn mùa nai gọi bạn
Giọng vút trong vui lúa chín vàng.

Họ hát dịu dàng
Đau đáu nỗi chim không còn rừng biết thả vào đâu giọng hót
Nỗi bazan cây thôi không trĩu quả
Nỗi ai nỡ quên bến nước buôn làng.

    Thơ Tôn Nữ Ngọc Hoa

Mong rằng tất cả chúng ta sẽ cố gắng gìn giữ nét đẹp của rừng xanh cũng như nét đẹp của văn hóa Tây Nguyên.

Mai nầy nếu các bạn có ảnh và thông tin cho mỗi tỉnh của Tây Nguyên, mình có thể làm PPS riêng cho từng tỉnh. Nhưng mình cần các bạn “thổ địa” hướng dẫn làm việc đó.

Chúc các bạn một ngày thênh thang gió núi 🙂

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng

.

Trường ca Bini – Cham (Ariya Bini – Cam)

Chào các bạn,

Ariya Bini – Cam là một trong những thi phẩm cổ điển xuất sắc nhất của Chăm, nhưng ít được phổ biến. Nguyên tác và bản dịch Việt ngữ được Inrasara đưa ra lần đầu trong cuốn Văn học Chăm – khái luận, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H., 1994.

Ariya Bini- Cam là hồi ký bằng thơ, ghi lại những hồi tưởng và cảm nhận của một hoàng thân Champa (thuộc tiểu quốc Chàm Panduranga, tức là Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay) về tình yêu của chàng với nàng công chúa đến từ Makah (tiểu bang Kelantan, Malaysia), cũng như tình yêu của chàng đối với đất nước trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử Champa.

Cuộc tình tan vỡ, đất nước tiêu vong, Arya Bini – Cam là một tuyệt tác văn chương Chăm, thấm đẫm buồn đau và nước mắt…

Đọc bài dịch tiếng Việt ta cũng có thể nhận ra ngay dịch giả vừa là nhà thơ xuất sắc vừa là một học giả uyên thâm. Dịch giả là Inrasara (xem ảnh bên trên), tên thật là Phú Trạm, sinh 957 tại làng Chăm Caklaing – Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Công việc đang làm của Inrasara là nghiên cứu văn hóa Chăm; làm thơ, viết văn, dịch & viết tiểu luận – phê bình văn học. Các tác phẩm của Inrasara đến nay gồm có:

Tác phẩm:

Về văn chương

– Tháp nắng – thơ và trường ca, NXB Thanh niên, H., 1996.
– Sinh nhật cây xương rồng – thơ song ngữ Việt Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1997.
– Hành hương em – thơ, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh., 1999.
– Lễ tẩy trần tháng Tư – thơ và trường ca, NXB Hội Nhà văn, H., 2002.
– Inrasara – Thơ cho tuổi thơ, NXB Kim Đồng, H., 2003.
– The Purification Festival in April, thơ song ngữ Anh – Việt, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005.
– Chân dung Cát – tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, tiểu luận-phê bình, NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Song thoại với cái mới, tiểu luận, NXB Hội Nhà văn, H., 2008.

Về nghiên cứu văn hóa Chăm

– Văn học Chăm – Khái luận, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1994.
– Văn học dân gian Chăm – Ca dao, Tục ngữ, câu đố.
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2006.
– Văn học Chăm – Trường ca, sưu tầm – nghiên cứu.
+ In lần nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Từ điển Chăm – Việt (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1995.
– Từ điển Việt – Chăm (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1996.
– Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1999.
+ In lần thứ hai: NXB Văn học, H., 2003.
+ In lần thứ ba: NXB Văn học, H., 2008.
– Tự học tiếng Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2003.
– Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường (viết chung), NXB Giáo dục, H., 2004.

Chủ biên

Tagalau, tuyển tập sáng tác – sưu tầm – nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-09); Tủ sách văn học Chăm (10 tập, đã xuất bản 4 tập).

Giải thưởng chính

– CHCPI – Sorbonne (Pháp), Văn học Chăm I (1995).
– Hội đồng Dân tộc – Quốc hội khóa IX, Văn học Chăm II (1996).
– Hội Nhà văn Việt Nam, Tháp nắng (1997), Lễ tẩy trần tháng Tư (2003).
– Hội Văn học – Nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Sinh nhật cây xương rồng (1998), Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại (2003), Ca dao – tục ngữ – thành ngữ – câu đố Chăm (2006).
– Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, Lễ tẩy trần tháng Tư (2005).
– Giải thưởng sách Việt Nam, Từ điển Việt – Chăm (2006).
– Tặng thưởng Work of the Month, Tienve.org, tháng 9.2006.
– Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Trường ca Chăm (2006).

Chúng ta rất biết ơn Inrasara đã dịch Trường Ca Bini – Cam ra Việt văn, để chúng ta có cơ hội thưởng thức một tuyệt tác văn chương Chăm, đồng thời hiểu biết thêm về văn minh Chăm và Chiêm quốc cũ. Hãy cùng nhau hướng lòng đến các anh em Chăm của chúng ta còn lại ngày nay.

Trường ca này gồm 164 câu. Phần tiếng Việt đi trước tiếng Chăm. Trong phần tiếng Việt có một số các ghi chú. Tất cả các chú giải này đều nằm ở cuối phần tiếng Việt.

Thành thật cám ơn anh Trần Can của Balme đã chia sẻ các thông tin quý báu này.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

Những điều trông thấy mà…

Tôi vưà có hai chuyến điền dã tìm hiểu văn hoá cổ truyền của người Mnông ở tỉnh Đak Nông và người K’Ho ở tỉnh Lâm Đồng. Đây vốn là hai tộc người cùng chung ngữ hệ Môn – Khơmer, có rất nhiều điểm tương đồng về nghệ thuật diễn xướng goong – ching (bài bản ching, làn điệu dân ca, dân nhạc) và phong tục tập quán ( kiến trúc nhà, sản xuất nương rẫy, tang ma, cưới hỏi…). Điểm khác nhau cơ bản là: nếu trong chương trình sưu tầm sử thi đã thực hiện ở Tây Nguyên, các nhà khoa học “nhặt” được từ người Mnông hàng trăm tác phẩm trường ca – sử thi (ot, n’trong) đồ sộ, thì hình thức văn học truyền miệng độc đáo này (Yang yao) ở vùng người K’Ho chỉ còn là những trường đoạn đứt gãy. Thậm chí văn hoá truyền thống K’Ho hầu như chỉ lờ mờ trong ký ức người già (từ 70 mùa rẫy trở lên), lớp trung niên (từ 60 tuổi trở xuống) gần như chẳng còn nhớ gì nhiều .Tuối càng thấp thì sự hiểu biết về văn hoá tộc người của chính mình càng ít.

Giáo sư – Tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh , Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian VN đã từng có lần xót xa nhận xét “cái nghèo khiến các dân tộc còn giữ được văn hoá truyền thống”. (Điều này dưòng như mẫu thuẫn với một câu ngạn ngữ của người Việt, rằng “phú quý sinh lễ nghĩa” chăng? Bởi các tỉnh, huyện, xã miền xuôi khắp cả nước, chẳng đang đua nhau khôi phục các lễ hội truyền thống đó sao?).

Tuy nhiên, điều tôi muốn đề cập trước hết trong câu chuyện này, chưa phải về văn hoá cổ truyền, mà là về đời sống của hai tộc người tương đối gần gũi về phong tục tập quán, ở hai địa bàn khác nhau vừa nói đến ở trên.

Nói theo kiểu người Tây Nguyên chúng tôi phải tận mắt nhìn, phải tự tai nghe mới tin, thì :

– Đa số gia đình người Mnông ở các huyện Đăk Rlâp, Quảng Khê, Krông Nô, Đăk Song, thị xã Gia Nghĩa…thuộc tỉnh Đăk Nông mà chúng tôi đến, đều chưa thoát khỏi đói nghèo, do sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, thiếu đất. Tuy hầu hết đã chuyển từ nhà tranh sang nhà ván, nhà gạch,mái tôn, nhưng chỉ là những căn nhà cấp 4, diện tích hẹp. Có rất ít thanh niên người Mnông học tới trình độ cao đẳng và đại học.

Trò chuyện cùng chúng tôi, người dân đều có nguyện vọng được có đất để làm rẫy, may ra mới khỏi đói. Thậm chí có vùng còn đề nghị được chuyển cư đi tìm đất. Bà con cũng lý giải việc khó khôi phục lại văn hoá truyền thống, vì mọi lễ nghi, lễ hội đều liên quan tới lương thực, thực phẩm, mà điều đó hiện nay không thể giải quyết được.

– Người K’Ho ở tất cả những nơi chúng tôi đến (Lâm Hà, Lạc Dương, Đức Trọng, Di Linh,Dam Rông) đều có cuộc sống khá hơn hẳn, đặc biệt những nhà làm cà phê, hoặc chuyên canh rau & hoa (những vùng làm lúa tuy không giàu có bằng, nhưng cũng không bị đói). Rất nhiều gia đình xây nhà dạng biệt thự khang trang, đầy đủ tiện nghi (ti vi, bếp ga, máy giặt, tủ lạnh…). Người K’Ho là một trong những dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên có đông trí thức nhất.

Trao đổi điều này với những người nông dân K’Ho mà chúng tôi gặp, bà con đều cho rằng: mặc dù kỹ thuật chưa cao, nhưng do có đất sản xuất, nên thu nhập đủ sống, đủ nuôi con ăn học. Nhưng khi chúng tôi hỏi “con cháu mình biết gì về văn hoá tộc người mình?”, hầu hết đều trả lời “ không biết gì ngoài tiếng nói”. Họ cũng bày tỏ nguyện vọng muốn khôi phục lại văn hoá truyền thống, nhưng hầu hết không hiểu nên giữ lại cái gì, bỏ đi cái gì (bởi đa số là tín đồ đạo Thiên Chúa & Tin lành), nhất là khi không mấy ai còn biết truyền thống văn hoá của mình có những gì, ngoài gong ching vừa được quốc tế công nhận là di sản văn hoá nhân loại, thì ở nhiều vùng đã im tiếng từ vài chục năm nay.

Vậy là hai tộc người thiểu số Tây Nguyên, hai hiện trạng cuộc sống giàu nghèo khác nhau, nhưng đều đứng trước nguy cơ mất hẳn kho tàng văn hoá đã từng rất đồ sộ và có giá trị vô cùng quý báu của mình, mất “di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”

Trước hết là việc đời sống kinh tế chênh lệch rõ rệt ở hai vùng. Người Mnông nghèo và vẫn bị đói là do thiếu đất sản xuất. Thật khó tin, nhưng đó là sự thật. Chuyện xa hơn một chút, tù trưởng N’Trang Gưh đã từng dẫn 600 người Bih, người Mnông bỏ bon lan lùi sâu vào rừng chống Pháp. Những năm 60 của thế kỷ XX, khi lập vùng căn cứ kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Đăk Lak phải động viên một số hộ người Êđê từ Krông Ana bỏ buôn làng quê hương chuyển cư sang, để có thêm dân, vì cơ số người Mnông ở Krông nô quá ít. Cách mạng mà không có dân, không có chỗ dựa , làm sao thành công? Ấy vậy mà ngày nay “số ít” những chủ nhân đích thực ấy, lại không có đủ đất canh tác để đảm bảo đời sống, chỉ no đủ thôi, chưa dám mơ tới giàu có, là sao?

Sau nữa là biện pháp bảo tồn một trong những “vùng văn hoá cồng chiêng” Tây Nguyên thì thế nào nhỉ? Thể theo ý nguyện của bà con, ấy là cần lắm những cán bộ văn hoá là người chính dân tộc mình, để cùng nhau bàn bạc, lựa chọn cái gì phù hợp mà bảo vệ lấy “ nó” cho khỏi mất đi. Đấy, cứ ngoái lại mà xem, nếu là người bản địa tham gia vào chương trình, thì đâu đến nỗi đêm khai mạc cồng chiêng quốc tế ở Gia lai bị đông đảo khán giả chê bai vì sự thiếu tôn trọng chính chủ thể cồng chiêng đến thế? Mà có phải thiếu người đâu? Có tới hai Nghệ sỹ nhân dân chuyên ngành đạo diễn múa là người Bâhnar và Hrê ở đó đấy chứ. Nhưng họ có được nhúng tay vào đâu? Phải mời hẳn một công ty ở Hà Nội vào thực hiện, mới thành công chứ.

Thêm một câu chuyện nho nhỏ : có người tự cho là tâm huyết, có ý thức trách nhiệm, đã đến tận xã Nhân Cơ, nơi đang triển khai dự án Bôxit ở tỉnh Đăk Nông xem tận mắt, rồi về lớn tiếng “mọi người nói sao chứ dự án chỉ lấy có rẫy của 3 hộ Mnông, đã đền bù thoả đáng rồi”. Vâng, nhưng có ai quan tâm đến một cái hồ có tên gọi “cá trê”, nơi mà mỗi năm một lần, các bon Mnông quanh vùng mang theo rượu cần, goong –ching, tụ tập cùng tát cá và ăn uống, múa hát chung ở đó, nay đã bị biến mất không? Xì ! Cái hồ là việc nhỏ.Số tiền đền bù ấy có thể mua được xe máy, xây nhà …tốt quá rồi còn gì? Cái đói nếu có đến là tại bà con không biết mua đất ở đâu mà sản xuất đấy, chứ có phải tại “ ông Boxit ” đâu ???

Buổi sáng đầu tiên chúng tôi ở trang trại Trung Nguyên tại M’Drăk,để bàn về việc chuẩn bị cho Festival cà phê quốc tế tại Đăk lăk năm 2010, một nhóm các nhà kinh tế trẻ, gồm toàn các Tiến sỹ vừa từ Hà Lan, Mỹ, Đài Loan về, đã thẳng thừng nhận xét “Soi lại lịch sử thì người Kinh chỉ giỏi đánh nhau, xâm chiếm đất đai, áp đặt lối sống của mình, chứ không hiểu và không biết cách bảo hộ văn hoá, không tôn trọng văn hoá ngay cả của chính mình lẫn của các dân tộc thiểu số khác ”.

Xin dành sự bình luận cho các bạn ghé qua “nhà” tôi nhé.

Linh Nga Niê Kdăm

Xin lỗi các dân tộc thiểu số

Chào các bạn,

Hôm nay mình muốn giới thiệu đến các bạn một vài mẫu tin thú vị, để chúng ta cùng suy nghĩ.

Ngày 13.2.2008, thủ tướng Úc Kevin Rudd, đại diện chính phủ và nước Úc, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân Úc về những chính sách và luật lệ của nước Úc đã “gây bi thảm, đau khổ và mất mát sâu đậm” cho bao nhiêu đời thổ dân đã qua.

Chính phủ Canada liền noi theo gương tốt. Ngày 12.6.2008, thủ tướng Canada Stephen Harper, đại diện chính phủ và nước Canada, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân da đỏ tại Canada, về những chính sách và luật lệ của Canada trong quá khứ để “giết chết người da đỏ trong lòng em bé thổ dân”. Thủ tướng nói: “Chính phủ Canada thành thật xin lỗi và xin được các dân tộc thổ dân của đất nước này tha thứ vì đã làm họ thất vọng một cách thâm sâu. Chúng tôi rất hối hận.”

Ngày 6.10.2009 vừa qua, Thượng Viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết xin lỗi thổ dân da đỏ Mỹ. Nghị quyết này chưa thể thành luật, cho đến khi được cả Hạ Viện đồng ý, và Tổng Thống ký ban hành. Dù vậy, nghị quyết cũng là một bước tiến đúng hướng.

Sau đây là nguyên văn bản thông báo của Ủy Ban Thượng Viện Mỹ Về Các Vấn Đề Liên Hệ Đến Người Da Đỏ

Để thông tin lập tức
Ngày 6.10.2009

Ủy Ban Thượng Viện Mỹ về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ

Các Thượng nghị sĩ Brownback và Dorgan hoan nghênh việc Thượng Viện thông qua nghị quyết Xin Lỗi các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ.

Washingonton, DC – Các thượng nghị sĩ liên bang Sam Brownback (Cộng Hòa- Kansas) và Byron Dorgan (Dân Chủ-North Dakota) đã hoan nghênh việc Thượng viện thông qua Nghị Quyết Xin Lỗi Các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ, đề nghị sự xin lỗi của chính phủ Mỹ với Người Da Đỏ Mỹ. “Hành động của Thượng viện hôm nay là một bước tiến lớn cho liên hệ giữa chính phủ liên bang và Thổ Dân Mỹ,” Brownback nói. “Nghị quyết này nhằm tìm hòa giải và đề nghị sự xin lỗi chính thức đối với Thổ Dân Mỹ vì những lựa chọn gây đau đớn mà chính phủ liên bang đã làm trong quá khứ. Với nghị quyết này, chúng ta xác nhận những thất bại trong quá khứ và bày tỏ sự hối hận thành thật.”

Dorgan, chủ tịch Ủy Ban Thượng Viện về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ, cùng đứng tên tác giả bảo trợ nghị quyết với Brownbach. Dorgan nói, “Rất khó để biết lịch sử của Những Người Mỹ Đầu Tiên [tức là các thổ dân] và chính sách phá hoại mà chính phủ của chúng ta thường dùng đối với họ, mà không cảm thấy tràn ngập buồn rầu và hối hận.”

Nghị Quyết Xin Lỗi Thổ Dân Mỹ được thông qua như một tu chính án cho Dự Luật Quốc Phòng. Nghị quyết này mang lời xin lỗi chính thức từ Nước Mỹ đến các chính quyền thổ dân và người thổ dân trong toàn quốc. Nghị quyết xin lỗi này không phải là sự cho phép, hoặc dùng như là giải quyết cho, các tranh chấp đang có với chính phủ, cũng như không giải quyết nhiều thử thách Thổ Dân Da Đỏ Mỹ đang gặp phải. Một Nghị Quyết Xin Lỗi Người Da Đỏ Mỹ đã được đưa ra Quốc Hội, và đã được Thượng viện thông qua năm 2008, nhưng đã không được thành luật.


Chúng ta có nguyên bản tiếng Anh của thông báo này dưới đây, cũng như một bài báo nói về việc Người Da Đỏ Mỹ tiếp tục làm việc để lobby với chính phủ về việc chính phủ xin lỗi chính thức.

Đó là chuyện đang xảy ra trên thế giới.

Còn chúng ta, chúng ta đã có bao giờ thấy ta đã làm cho bao nhiêu dân tộc thiểu số anh em đau khổ trong quá khứ?

Và chính sách của chúng ta đối với các dân tộc anh em thiểu số hiện nay có nâng đở, ủng hộ, đưa lên, hay chỉ là kéo dài bất công và đau khổ?

Ngày nào chúng ta, như là một dân tộc, thấy là chúng ta cần phải xin lỗi chính thức? Chính phủ chúng ta phải xin lỗi chính thức?

Trong thời gian chờ đợi một câu xin lỗi chính thức, chúng ta có thể làm được gì NGAY BÂY GIỜ để chấm dứt các áp bức vô tình hay cố ý, và để nâng cao tiếng nói, vị thế và quyền lợi của các dân tộc anh em thiểu số trong nước ta?

Hãy thành thật nhìn lại lòng mình và chính sách của mình trước con tim của chính mình và Chúa hay Phật của mình.

Chúc các bạn một ngày thành thật.

Mến,

Hoành

.

For Immediate Release
10/07/09
Email This
Print This
BROWNBACK, DORGAN APPLAUD SENATE PASSAGE OF NATIVE AMERICAN APOLOGY RESOLUTION
WSAHINGTON, DC – U.S. Senators Sam Brownback (R-KS) and Byron Dorgan (D-ND) today applauded Senate passage of the Native American Apology Resolution, which offers an apology from the United States government to American Indians.    “The Senate’s action today is a big step for the relationship between the federal government and Native Americans,” said Brownback.  “The resolution seeks reconciliation and offers an official apology to Native Americans for the hurtful choices the federal government made in the past.  With this resolution we acknowledge previous failures and express sincere regrets.” Dorgan, Chairman of the Senate Committee on Indian Affairs, joined Brownback as co-sponsor of the amendment.  Dorgan said, “It is difficult to know the history of the First Americans and the destructive policies our government has too often followed regarding them, and not be filled with both sadness and regret.  It is appropriate that we, as a nation, express that sorrow and regret with this apology resolution.” The Native American Apology Resolution passed as an amendment to the Defense Appropriations bill.  The resolution extends a formal apology from the United States to tribal governments and Native American people nationwide.  The resolution of apology does not authorize or serve as a settlement of any claim against the United States and does not resolve many challenges still facing Native Americans.  The Native American Apology Resolution has been introduced in previous Congresses, and passed the Senate in 2008, but was not signed into la

.

Local American Indians Call for Formal Apology Print E-mail
By Natalie Bedell
Tuesday, November 24 2009 17:24
While families across the U.S. gather around their household tables this Thanksgiving, local members of the American Indian Society of Washington, D.C. will be meeting up with their own family — each other, for a potluck dinner at the Burgundy Community Center in Alexandria.

powwow Members of the American Indian Society (AIS) of Washington, D.C. celebrate Mother’s Day with a pow wow. (Photo: Courtesy Kathleen Dorn)

But, according to Michael Nephew of Falls Church, their table talk will be less about a pilgrim story of the past and more about catching up with one another.

Nephew, who serves as the organization’s president, saw the American Indian Society (AIS) as an opportunity for American Indians to get together with their brothers and sisters in the community when he moved to the area from New York years ago. He is an enrolled member of the Eastern Band of Cherokee Indians, as well as being part of Seneca and Cayuga.

Nephew first heard the story of Thanksgiving when he was a young boy, but said he “ironically heard very little” about Native American Indian history during his high-school years.

He said the biggest misconception about how Thanksgiving is taught in public schools is the “fighting that occurred shortly afterwards between [the settlers] and Native Americans often goes unmentioned.”

The holiday story traditionally taught in classrooms is a happy one of pilgrims who were befriended by the Natives, taught to hunt and gather and showed their gratitude with a shared meal. However, Nephew recalled a slightly different version of the feel-good tale, one of bloodshed and greed.

“[The settlers] were biting the hand that fed them,” said Nephew, referring to various wars that took place soon following 1621, during which many Natives were killed by colonists.

One thing Nephew believes can heal the wounds of political and social distrust between modern-day American Indians and the U.S. government is a formal expression of remorse from the latter.

“I think there needs to be an apology,” said Nephew, citing the Canadian government’s apology to its indigenous tribes in 1998.

Nephew said he wouldn’t be able to show anyone the land where he played as a kid even if he wanted to.

“People don’t think [the government] is taking away Natives’ land today, but yes, it has happened. And it’s happened in our lifetime,” said Nephew.

And what about those who believe they shouldn’t have to apologize for something they didn’t personally do?

“Well, it might have been their parents, especially in this area, where so many parents are involved with the government at that time. It’s not as far back as some may think,” said Nephew.

AIS Treasurer Mary Sunbeam agreed, challenging President Obama to a second Thanksgiving — to which tribal chiefs are invited to the White House for a peace-offering meal.

“We have not been healed. No president has come forward. We’re not asking for money or retribution,” said Sunbeam, who added that “these kinds of forgiveness need to happen” and that American Indians are looking for it to come from “power sources who’ve been too lax.”

On Nov. 5, President Obama held the first annual White House Tribal Nations Conference at the Department of the Interior. Invited were leaders from each of the federally recognized tribes in the U.S., as Obama signed a memorandum directing “every Cabinet agency to give a detailed plan within 90 days of how … to improve tribal consultation.” A formal apology was not issued.

“At some point, [the U.S. government] needs to say, ‘This is what happened. It wasn’t a good thing for our country. It wasn’t a good thing for the tribal people,’ and to heal the pain where there’s no closure, just open wounds,” said Sunbeam, a member of the Cherokee Nation of the Appalachia tribe.

Aside from her AIS duties, Sunbeam serves as the president of Positive Education, Inc., designing and presenting courses on Native American Indian cultures to schools, businesses and religious organizations.

She said the only Native American education she’s heard of public-school students having are brief mentions during the second and sixth grade, but that “most teachers are not trained in college to teach Native American history.”

“Thank goodness they will call on people like me to teach these things. Even today’s immigrants coming to the U.S. will ask me if I am a real Indian because they’ve been told we’re all dead,” said Sunbeam.

She said the blame, however, doesn’t fall solely on government-run school systems, but equally in the laps of American Indians. Sunbeam added that, unlike the NAACP, the American Indian community has not had enough advocacy for more extensive education.

“We can’t say it’s the government’s fault. Where are we? We don’t have enough activism in our own culture,” said Sunbeam, who hopes to change that through her own curriculum. Her work has been acknowledged by the American Association of Community Colleges with a Northern Virginia Community College Model Program Award.

As far as an organization comparable to the NAACP, Nephew said the Association is racially categorized, whereas “the tribal government is a political entity.”

“Part of the reason why there isn’t something like [the NAACP] for American Indians is people from each tribe have to make sure their particular tribe survives as opposed to recognizing all Natives and trying to lend support to other tribes,” said Nephew.

Still, Sunbeam believes U.S. politics play a critical role in Native American history teachings, or lack thereof, in today’s schools.

“The bottom line is education is political,” said Sunbeam, who suggested the U.S. government incorporate Native American history into the U.S. citizenry test.

michaelnephew Michael Nephew, President, American Indian Society of Washington, D.C. (Photo: News-Press)

As far as Thanksgiving, Sunbeam and Nephew agreed that the holiday’s theme is a bit novel, given that expressing thanks is a culturally embedded part of their everyday lives and not just a one-day event.“What came to be known as the first Thanksgiving was the idea of sharing food for people in need. It wasn’t a kindness thing; it was something you just do. It wasn’t religious, though it became so later on,” said Sunbeam, who added that “giving thanks to God, the great source, for weather to produce a harvest was always part of her culture” growing up.

She recalled being taunted by her peers in grade school for once bringing a dandelion sandwich to school.

“Nowadays, people go to GNC and buy dandelion root, the weed in their yard they find a nuisance. But when I was a kid, I was taught it was nature’s product for organs after the winter time and your body gets sluggish,” said Sunbeam, who garnered more than a few chuckles as a little girl with green stuff in her teeth. Taking the high road even then, she said she looked at it as “their ignorance, and I tried to educate them.”

Nephew recalled being looked to in high school from his peers as a historical fact checker. Still offering up the facts today, he works alongside other AIS leaders, to speak at government agencies and private schools about his culture’s historical footprint.

As far as Sunbeam’s message to open ears she encounters, she said, “Save money on the self-help books. We all have a belly button. We’re all one human race. I’m working on getting that message across.”

There are 564 federally recognized tribes in the U.S. To this day, neither Virginia, Maryland nor Washington, D.C. have federally recognized tribes, leaving people within those tribes ineligible for federal funds ranging from health care to housing assistance.

Both Rep. Jim Moran and Sen. Jim Webb sponsored legislation this year granting federal recognition to six Virginia Indian tribes, which was OK’d by the House in June.

As of Oct. 22, the Indian Tribes of Virginia Federal Recognition Act of 2009 passed in the Senate Committee on Indian Affairs.

Kinh Lạy Cha – The Lord’s Prayer

Chào các bạn,

Chúng ta đã nói khá nhiều về thiền và thiền thi, một suối nguồn tư duy tích cực trong văn hóa Việt Nam. Hôm nay chúng ta nói đến Kinh Lạy Cha của Kitô giáo, gốc rễ của tư duy tích cực của người Kitô giáo trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam.

Ở đây chúng ta chỉ phân tích Kinh Lạy Cha như một hiện tượng văn hóa, và giải thích ảnh hưởng của Kinh Lạy cha trên tư duy tích cực của chúng ta, và hạn chế các phân tích có tính cách thuần tôn giáo.

Kinh Lạy Cha, tiếng Anh goi là The Lord’s Prayer, Lời Cầu Nguyện Của Chúa. “Chúa” đây là Chúa Giêsu, tác giả của lời cầu nguyện này. Trong thánh kinh, khi mọi người hỏi Chúa Giêsu cách cầu nguyện, Chúa Giêsu cho họ Kinh Lạy Cha. Câu chuyện này được ghi lại tại Matthew 6: 9-13, được coi như một phần của Bài giảng trên núi, và tại Luke 11:2-4.

Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện phổ thông nhất và thịnh hành nhất trong Kitô giáo (gồm Công giáo, Chính thống giáo và các hệ phái Tin lành), đồng thời cũng là lời kinh phổ thông nhất trong mọi tôn giáo trên thế giới.

Bản tiếng Việt

Lạy cha chúng con ở trên trời,
Chúng con nguyện danh cha cả sáng,
nước cha trị đến,
ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ
Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.


Amen

Bản tiếng Anh

Our Father, who art in heaven,
Hallowed be thy Name.
Thy kingdom come.
Thy will be done,
On earth as it is in heaven.
Give us this day our daily bread.
And forgive us our trespasses,
As we forgive those who trespass against us.
And lead us not into temptation,
But deliver us from evil.
[For thine is the kingdom,
and the power, and the glory,
for ever and ever.]
Amen.

Bản tiếng La Tinh

Pater noster, qui es in caelis
Sanctificetur nomen tuum;
Adveniat regnum tuum.
Fiat voluntas tua
Sicut in caelo et in terra
Panem nostrum quotidianum da nobis hodie.
Et dimitte nobis debita nostra,
Sicut et nos dimittimus debitoribus nostris.
Et ne nos inducas in tentationem;
Sed libera nos a malo.
[Quoniam tibi est regnum et potestas et gloria in saecula.]
Amen.

Đọc bài kinh ta thấy nội dung chia làm hai đoạn rất rõ ràng. Đoạn đầu là ca tụng Chúa. Đoạn sau mới cầu nguyện cho chính mình.

I. Khiêm tốn

Đoạn đầu của Kinh Lạy Cha là để ca tụng Chúa. Nhưng nếu ta chỉ có IQ cở dưới trung binh thôi, ta cũng có thể biết được chẳng có Thượng đế nào cần mấy tiếng tung hô của con người cả. Đã là Thượng đế thì không cần được khen hay tung hô.

Vậy thì các việc ca tụng Thượng đế là để cho chính chúng ta, những tín hữu, để chúng ta biết kính sợ Thượng đế để mà khiêm tốn.

Đoạn đầu của Kinh có thể viết ra dễ hiểu hơn một tí như sau:

“Lạy Cha của chúng con ở trên trời, chúng con cầu xin cho tên của cha được chiếu sáng, nước của Cha trị sẽ đến với tất cả mọi người, ý muốn‎ của Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.”

Khi ta tự nhắc lại về quyền năng và vương quốc của Thượng đế, và uy quyền của “ý muốn” của Thượng đế, ta tự động dẹp bỏ cái tôi của mình–tôi, quyền năng của tôi, vương quốc của tôi, ý của tôi… không quan trọng.

Đây gọi là submission—“khuất phục” trước Thượng đế, hay “giao phó” cuộc đời của mình cho Thượng đế. Cái tôi của mình không còn nữa. Nó đã hoàn toàn thuộc về Thượng đế. Gần như là “vô ngã” trong Phật gia.

Submission hay total submission (giao phó hoàn toàn vào tay chúa) là một ý niệm cực kỳ căn bản và quan trọng hàng đầu của các tôn giáo thuộc dòng Maisen (Moses)–Do Thái giáo, Kitô giáo (Công giáo, Chính thông giáo, Tin lành), và Hồi giáo. (Những tôn giáo này cũng có thể được gọi chung là Thiên chúa giáo–tôn giáo lấy Thiên chúa (God/Allah) làm chủ).

Khiêm tốn!

(Chú thích: Về “nước Cha trị đến”, nhiều người tưởng rằng đó là biến cả thế giới thành Kitô giáo. Thực ra luật vàng của Chúa Giêsu chỉ có hai điều: Kính mến Thượng đế và Yêu người. Và Thượng đế có nhiều tên khác nhau: Ông trời, Thượng đế, Ngọc hoàng, Chúa, Allah, God, Yahweh… Làm được hai điều này là đã thuộc về “nước” của Thượng đế, ngay trong tâm ta).

II. Lo cho mình

Phần sau của Kinh Lạy Cha là các câu cầu xin cho chính mình:

“Xin cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ.” Tức là chỉ xin đủ ăn, đủ mặc, đủ chi dụng cho những nhu cầu tất yếu. Không xin giàu sang phú quý, tiền rừng bạc biển.

Thế thì ý niệm tài sản, của cải, là gì trong Thiên chúa giáo? Thưa, tài sản là do Thượng đế giao cho ta quản lý, để ta gầy dựng sinh lời cho Thượng đế. (Xem dụ ngôn về các đồng bạc, Matthew 25:14-30. Tuy nhiên, dụ ngôn này nói về nhiều thứ sâu thẳm hơn chỉ là tiền bạc).

Và dĩ nhiên là tài sản của Thượng đế thì phải được quản lý để phục vụ “Chúa trong mọi người”, tức là phục vụ mọi người quanh ta, mà chúng ta vừa đề cập khi nói đến Kinh Hòa Bình của Thánh Francis.

two-women-hugging-forgiveness

“Xin cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Mỗi người chúng ta làm rất nhiều lầm lỗi trong đời, và nhiều người khác cũng đã lầm lỗi thiệt hại ta. Ta phải tha thứ cho người khác, trước khi cầu xin và được Thượng đế tha thứ cho ta.

Xưng tội , giải tội, sẽ không giải quyết gì cho ta cả, nếu ta chỉ làm công thức mà không làm trong lòng, là tha thứ lỗi lầm của người khác. Nếu ta cầm buộc người khác, Thượng đế cầm buộc ta.

“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.” Chỉ cần sống không làm bậy là đủ. Không cần phải là anh hùng, vĩ nhân, thánh… Không cần phải đến mức hy sinh tánh mạng cho Chúa, hay bán hết nhà cửa để giúp người nghèo, hay tử vì đạo… Chỉ cần đừng sa vào cám dỗ là đủ–đừng si mê, sân hận, ghen ghét, đố kỵ, dối trá, trộm cướp, tà dâm, tham nhũng, bóc lột…

Và nếu lỡ bị lầm lạc vào đường xấu, vào sự dữ, thì xin Chúa cứu ta ra.

Từ “cám dỗ” ở đây ám chỉ là không ai trong chúng ta muốn và thiết lập kế hoạch để làm bậy cả. Chẳng qua là “sa chước cám dỗ” nên làm bậy thôi. Bản tính của mỗi người chúng ta là thanh khiết.

Amen là “mong được như vậy.”

Kinh Lạy Cha chỉ giản dị vậy thôi: Khiêm tốn trước mặt Thượng đế, đủ ăn đủ mặc, tha thứ, và đừng làm bậy.

Quy luật sống không bao giờ phức tạp. Cực kỳ giản dị. Chúng ta không chịu theo các quy luật sống đã tồn tại mấy ngàn năm và vẫn còn được nhắc đến bởi vài tỉ người trên thế giới ngày nay, nhiều lần trong một ngày. Và chúng ta thường đọc Kinh Lạy Cha mà không thực sự thực hành. Rồi ta lại than van sao cuộc sống quá khó khăn và phức tạp.

Chúc các bạn một ngày vui.

Sau đây mời các bạn nghe Barbara Streisand hát the Lord’s Prayer, và ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu, hát Kinh Lạy Cha.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

.

Barbra Streisand – The Lord’s Prayer

.

Kinh Lạy Cha – Ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu

Five hundred miles

Chào các bạn,

Chiều hôm qua tan sở, mình bước ra khỏi tòa nhà và đang đi bộ về phía bãi gửi xe. Trời se lạnh, gió thổi riết và mưa lất phất. Đã là mùa đông nên trời khá tối mặc dù chỉ mới 5 rưỡi chiều.

Trước khi mình nhận ra, mình đã đang huýt sáo theo giai điệu của bài hát ”500 miles” và tưởng tượng Joan Baez đang hát bài hát này. Cảm giác của mình lúc đó rất da diết.

Hôm nay chúng ta cùng nghe bài hát này nhé. 🙂

“500 Miles”  còn được biết đến với tên gọi “500 Miles away from home” (Xa nhà 500 dặm – 800 km) hay “Railroaders’ Lament” (Lời khóc than của công nhân làm đường xe lửa). Đây là bài hát dân ca phổ biến ở Mỹ và châu Âu trong phong trào Folk Revival những năm 60s. Lời nhạc đơn giản dạng điệp khúc là lời ca cẩm của một anh lữ hành xa nhà, hết tiền và ngượng không dám về nhà. Những người làm đường xe lửa ngày xưa rất cực khổ, công việc lao động nặng nề, phải sống xa nhà, xây đường qua những vùng hoang vu không dấu chân người, cực kỳ nguy hiểm với bệnh tật và chiến tranh với thổ dân da đỏ. Nhớ nhà!

“500 Miles” được coi là bài hát do Hedy West viết. Bản thu âm đầu tiên ra mắt công chúng có lẽ là của The Journeymen vào năm 1961. Sau đó rất nhiều ca sĩ đã thu âm bài hát này như Peter, Paul & Mary, Kingston Trio.

Dưới đây chúng ta có 2 video bài hát 500 Miles do The Journeymen và Joan Baez thể hiện. Ở video của Joan Baez, bài hát bonus There But Fortune theo sau 500 miles cũng rất cảm động. Tiếp  sau là lời nhạc.

Chúc các bạn một ngày da diết,

Hiển.
.

The Journeymen – 500 miles [Original Version] (1961)


Joan Baez – 500 Miles & There But Fortune (live)

.
500 Miles Away From Home

If you miss the train I’m on you will know that I am gone
You can hear the whistle blow a hundred miles
Lord I’m one, Lord I’m two, Lord I’m three, Lord I’m four
I’m 500 miles away from home.

Not a shirt on my back, not a penny to my name
Lord, I can’t go back this a’way
This a’way, this a’way, this a’way, this a’way
Lord, I can’t go back this a’way.

Well, I’m walking these ties with tears in my eyes
Trying to read a letter from my home
From my home, from my home, from my home, from my home
Trying to read a letter from my home.

If this train’s running right I’ll be home by Saturday night
I’m 500 miles away from home
Away from home, away from home, away from home. away from home
I’m 500 miles away from home…

.
There but fortune
Word and music by Ochs Phil, singer Joan Baez

Show me the prison, show me the jail
Show me the prisoner, whose life has gone stale
And I’ll show you a young man
With so many reasons why
And there but for fortune, go you or I……mm.mm

Show me the alley, show me the train
Show me the hobo, who sleeps out in the rain
And I’ll show you a young man
With so many reasons why
And there but for fortune ,go you or I, mm.mm

Show me the whiskey, that stains on the floor
Show me the drunkard, as he stumbles out the door
And I’ll show you a young man
with so many reasons why
And there but for fortune go you or I, mmm,mm

Show me the country, where the bombs had to fall
Show me the ruins of the buildings, once so tall
And I’ll show you a young man
with so many reasons why
And there but for fortune go you and I, you and I.

Haiku

.

.

Kìa con còng nhỏ
Nó chạy nó chạy
Bờ Thái Bình Dương

.

.

.

.

.

.

Chiếc lá đỏ
Rơi xuống cỏ
Trên đỉnh Trường Sơn

.

.

.

.

.

Chim câu một bóng
Trên nóc lầu
Cộ xe rầm rập làu làu dọc ngang

    TĐH
    LOW, Nov. 30, 2009

Ghi chú: Có bàn về các thí nghiệm haiku trong phần phản hồi