Bình minh âu yếm nâng nhẹ tấm khăn sương che chiếc gương bạc của nàng tiên H’Lung dắt ngang đỉnh trời tròn, từ từ hiện ra hàng ngàn đóa sen trắng, sen hồng đung đưa trên mặt nước biêng biếc. Đang giữa mùa sen, gió đẫm hương mát ngọt. Thuyền độc mộc đi đánh cá, rời bến từ lúc bóng đêm còn loãng, đang đua nhau tung lưới. Trong ánh hồng e thẹn của bình minh, nhìn từ xa, các vàng lưới tung lên như những tấm mạng nhện khổng lồ. Bóng người chống thuyền, thả lưới rung rinh uốn lượn trong sương như điệu múa mời rượu pah kngan rông yang của các nàng sơn nữ. Phía tây hồ, đỉnh Cư Yang Sin hiện dần như vóc dáng chàng Lăk cường tráng đang trìu mến ấp ủ, chở che gương mặt xinh đẹp của người tình.

Đứng trên hiên nhà sàn, Y Tlang hít một hơi thật dài khoan khoái. Bao nhiêu mệt nhọc của một ngày đi bộ hôm qua, gió thơm dừơng như mang đi hết. Chào amí chủ nhà, vịn lên đôi bầu vú căng mẩy chạm đầu thang xuống sàn, Pie Y Tlang và H’Zen quả quyết rảo bước về phía buôn Phơi. Lại đi. Lại hỏi. Nữ thần lúa Yang Hri có bảy người con gái, mỗi nàng là một loại giống. Trong một cơn giận dữ của cha rừng, bảy người con lạc mẹ. Việc H’Zen phải tìm cho ra bảy giống lúa, bảy người con gái thất lạc đã khó, nhưng tìm cho ra gốc rễ của Pie Y Tlang còn khó hơn. Đức Cha Phrancis đã đưa anh về Pháp từ bốn mươi bảy năm trước đây, lúc còn đỏ hỏn như con chuột nhắt mới sanh. Trước lúc đi về cõi vĩnh hằng, Đức Cha mới tiết lộ và khuyên Y Tlang nên đi tìm lại nguồn cội của mình. Sáu tháng trời về tới thành phố Hồ Chí Minh, nhờ mục nhắn tin của báo Tuổi Xanh, cả sự nhiệt tình của Ban bạn đọc, Y Tlang mới gặp được kỹ sư nông nghiệp H’Zen, tìm được người bảo lãnh để về đến cái hồ trên đỉnh cao nguyên, cao hơn mặt biển tới hơn bảy trăm mét này.
Cũng may, H’Zen lại đang được giao đề tài “ Giống lúa rẫy truyền thống của đồng bào Tây Nguyên”, chị mới có dịp đưa Y Tlang đi tìm bến nước gốc cội của anh, kết hợp với việc truy tìm các giống lúa cũ. Hai người đã đến nhiều bến nước Êđê, gặp hàng chục người già không còn đếm được số mùa rẫy đã qua, mà vẫn chưa tìm ra manh mối gì. Tất cả vẫn còn phủ một tấm màn bí ẩn. Hôm nay, H’Zen khuyên Y Tlang chuyển hướng sang tìm ở các bon Mnông.
H’Zen đã lần lượt mở toang ra từng cánh cửa mà đôi chân Pie Y Tlang run rẩy mỗi lần bước qua. Đây là cội nguồn của anh ư? Quê hương của anh đó ư? Mông muội? Hoang dã? Hay chính là những gì trong suốt nhất, hơn cả giọt sương, hơn cả nắng trời, vượt lên trên tất cả? Anh sẽ phải tiếp nhận hay chối bỏ “ nó” đây? Những câu hỏi cứ nhay đi nhay lại trong tâm trí Y Tlang như một lưỡi cưa cùn. Có lúc anh đã muốn bỏ chạy, vứt lại sau lưng tất cả. Thế là đủ rồi, không cần biết điều gì hơn nữa.Nhưng rồi anh cũng lại thấy cần phải đi cho đến tận cùng của sự tìm kiếm. Bởi thật là ngỡ ngàng trước những gì nhìn thấy, nghe thấy và gặp gỡ. Nó chẳng có chút nào chung với cuộc đời bốn mươi bảy năm ở nơi “ kinh đô ánh sáng” mà Y Tlang đã sống. Nhưng lại như giúp anh lần giở từng trang một cuốn sách đầy những điều hấp dẫn. Này nhé, người Êđê ở những nhà sàn mang hình dáng con thuyền, dài đến “ một hơi ngựa chạy ”. Cả buôn dựng nhà theo hướng Bắc –Nam, san sát nhau như các con thuyền độc mộc chiều về neo lại nơi bến nước. Bon làng Mnông lại là những căn nhà trệt nằm kề nhau, mái tranh lợp rủ dài sát đất, tròn như những chiếc nấm mối. Khách muốn vào nhà Êđê phải leo cầu thang đằng trước, vịn tay lên bầu vú gỗ để đến được với không gian mẫu hệ. Nhà Mnông lại có hai cửa hình vòng cung cùng mở về hướng đông, thấp lè tè. Bước qua cửa nào cũng gặp bếp lửa cháy quanh năm. Giữ gìn lửa là việc sống còn của con người giữa rừng đại ngàn. Lửa soi sáng mọi việc làm trong nhà. Lửa nấu chín thức ăn. Lửa xua cái lạnh giá những tháng mưa rừng. Lửa phừng phừng da thịt gái trai thương nhau…Nhà dài Êđê mỗi bếp lửa, mỗi ngăn là một cặp vợ chồng con cái. Người Mnông chỉ có hai bếp lửa chung. Một sạp nứa dài suốt chiều ngang nhà, kêu răng rắc mỗi khi có người bước lên bước xuống. Đây là chỗ ngủ chung của cả đại gia đình lẫn khách. Mọi đôi chân đều hướng ra bếp lửa. Ấm chân sẽ ngủ yên cả đêm, dù chỉ đắp một tấm chăn thổ cẩm mỏng.
H’Zen đang lúi húi bên bếp với mẹ chủ nhà. Y Tlang nằm tựa đầu lên chiếc gối gỗ, đối diện với cửa bên trái, chỗ nằm của khách. Từ đây có thể nhìn xa sang tận bên kia hồ, tới chỗ cánh đồng lớn mênh mang viền quanh bờ Nam. Cánh đồng như một tấm lụa xanh, Mẹ Đất âu yếm choàng cho cô con gái yêu. Hoang sơ, tĩnh lặng, tưởng như đang ở vào thời khắc của chàng dũng sỹ Dam San và nàng H’Nhi thuở trước. Đầu Y Tlang đau như có ai đem búa nên vào…
– Tha lỗi cho Cha, từng ấy năm đã giấu con sự thật. Cha đã từng nghĩ phải để cho con xa hẳn, quên hẳn nguồn gốc man rợ của mình. Nhưng về trước Chúa, Cha không có quyền đem đi bí mật của đời một con người. ..Có Chúa chứng giám…Chắc cha mẹ con trên thiên đàng cũng sẽ hài lòng….Cha…đã…làm hết sức mình để con nên người….Ai cũng có nguồn cội con ạ. Phải trở về thôi….rất tiếc, đã từ rất lâu…Cha không có liên hệ gì với bên ấy….Nhưng con cứ…đến giáo xứ Lạc Thiện…cái hồ…..núi Yang Sin…hỏi…ông…
Tiếng cười đắc thắng của Thần Chết cắt ngang câu nói hổn hển khó nhọc của vị linh mục già. Đồng loạt các quả chuông lớn nhỏ trong mái của nhà thờ xứ rung lên não nề. Bóng áo choàng đen cao lênh khênh, tay lưỡi hái, tay dắt linh hồn vượt qua vòm trần cao thăm thẳm, bay về vô định. Bàn tay Đức Cha Phrancis tuột khỏi đầu Pie Y Tlang, biến thành chiếc cánh vẫy vẫy. Y Tlang cuống cuồng ngẩng lên, đuổi theo
– Đừng bỏ con Cha ơi! Cha! Tìm ông gì Cha ơi…

Đuôi chiếc áo choàng đen quật vào ngực anh đau điếng. Y Tlang mở mắt nấc nghẹn. Chao ôi! Cái hồ hơn năm trăm héc ta mặt nước. Họ đã đi nửa số buôn bản địa quanh nó. Mấy lần trăng? Mấy mùa rẫy Y Tlang mới đi giáp vòng? Mới tìm được cái nơi mẹ đã cắt nhúm nhau, cha đã chôn cuống rốn cho anh? Mà người ta có ở mãi một chỗ đâu. Tìm đến chỗ này là buôn mới, buôn cũ đã dời đi từ hồi bệnh dịch thổ tả hoành hành. Đến chỗ nọ, rẫy cũ đã hết màu, bon làng phải dắt díu nhau đi tìm vùng rẫy khác. Thời chiến tranh còn chạy giặc, dồn dân gom về các ấp chiến lược. Từ ngày thống nhất hai miền, cũng đã vài đợt quy hoạch định canh định cư rồi. Mà Y Tlang đâu có biết mình vốn gốc Êđê hay Mnông đâu để tìm chứ?
– Cha đặt tên con là Y Tlang. Con chim Tlang pút vẫn hót bên cửa số nhà thờ của Cha ở bên cạnh hồ, mỗi sáng sớm…
Cứ đi, cứ hỏi. Mà hỏi ở đâu? Tìm ở đâu? Hỏi ai? Mẹ ơi, cha ơi! Con lại phải tiếp tục sống trong mù mờ thế này bao lâu nữa?
Chiều đang mờ dần trên mặt hồ. Bóng tối trong nhà đã đặc như cắt được. Chợt có tiếng thoang thoảng :
– Về đi con! Những người Mẹ mang con đằng trước, mang gùi đằng sau, không khi nào chối bỏ con cái của mình đâu…
Y Tlang bật dây, thoáng như thấy một phụ nữ tóc dài chấm gót, váy quấn ngang cặp vú, đôi vai trần loang loáng nước, uyển chuyển lướt qua cửa. Bà tan biến trong sương đêm đang mỗi lúc một dày lên.
*
Mệt mỏi. H’Zen và Y Tlang leo lên chiếc xe đò đầy bụi về thành phố Buôn Ma Thuột. Nóc xe chất cao nghệu những sọt hàng chở đầy ốc, cá , lươn…Họ phải về vì đã đi gần trọn tháng. H’Zen thiu thiu ngủ. Y Tlang không dứt khỏi được những ý nghĩ triền miên, lặng lẽ ngó mông ra ngoài cửa xe. Vùng đất này đến lạ, vượt qua những qủa đồi cao với những dãy núi đá thấp chen đất đỏ bạc phếch, những rừng cây lưa thưa, là gặp những cánh đồng rộng đến khó tin.Lúa xanh mơn mởn trải dài đến tít tận chân núi xa. Chơ vơ giữa đồng, một thân cây với đầy những cụm hoa lớn trắng xóa. Đứa trẻ chăn trâu chạy vụt qua, những cụm hoa lay động, biến thành cả trăm con cò trắng táo tác bay lên trong nắng. Bầy cò hợp thành đàn lớn, giang cánh bay về phía núi xa, như một dải lụa trắng phơi ngang nền trời xanh trong vắt. Cái màu xanh ngăn ngắt của bầu trời cao nguyên sao diệu kỳ đến vậy. Dường như không giống với màu xanh của bất cứ một vùng trời nào Y Tlang đã từng thấy, ngay cả bầu trời ở vùng ngoại ô Paris đầy cây xanh mà anh đã lớn lên. Màu xanh ở đây cứ trong vắt, thăm thẳm, nó hợp với chàng gió phóng khoáng tạo nên sự bao la đến vô tận. Giá không có những người phụ nữ váy kéo ngang đầu gối, đang lom khom cấy lúa, làm cỏ, chắc người ta ngỡ đang ở một vùng đồng bằng hay trung du nào đó. Chợt Y Tlang há hốc miệng, chồm lên thành xe, thò hẳn đầu ra ngoài : một người đàn ông mặc độc chiếc quần cộc, phơi tấm lưng trần loáng mồ hôi nâu bóng, vạm vỡ, đang đuổi…voi cày ruộng. Con voi thủng thẳng nhấc từng chiếc chân to như cột nhà, lội bì bõm trong đám bùn. Đuôi ngoe nguẩy như làm nũng với ông bố đang cầm cày phía sau, nhưng vòi lại hít đầy nước ruộng phun lên thằng bé đang nhảy chồm chộp bắt dế trên bờ ruộng. Người đàn ông nhẫn nại đẩy chiếc cày, lật lên những tảng đất bùn đen bóng.
Ôi ! Có biết bao nhiêu điều bí ẩn kỳ lạ mà ta chưa từng được thấy. Có phải quê hương ta thực đó không? Giá mà được sục chân trong đám bùn mát rượi kia. Giá mà được nằm lăn trên đám cỏ mịn dưới gốc cây knia đơn độc giữa đồng ấy. Giá mà được lắc lư trên bành voi đi trong bóng râm mát của rừng đại ngàn? Mẹ ơi! Mẹ chối bỏ con ư ?
Con đường làm từ thời Pháp đến nay, chưa được tu sửa lớn lần nào, xóc dữ dội.Chả trách người ta gọi là Lắc. Đường hẹp chỉ đủ hai xe tránh nhau. Một cái xóc nảy người, quăng cả H’Zen lẫn Y Tlang chúi về phía trước. Từ lúc lên xe, quá mệt mỏi và mải suy nghĩ, bây giờ họ mới chợt nhận thấy : ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu đặt thêm cạnh thùng máy, ngay trước mặt hai người là một ông già dáng nhỏ thó.Tóc ông loăn xoăn trắng như bông blang, xòa xuống tận cổ, viền quanh khuôn mặt đen cháy, đầy nếp nhăn xếp nếp như thân cây bằng lăng cỗi. Hai bàn chân khô đét đầy bụi đường, ngón cái xòe ra tách hẳn với những ngón chân kia, kẹp chặt chiếc dép bằng da bò, co hết lên trên chiếc ghế nhỏ. Tẩu thuốc đen bóng dính chặt trên môi. Đôi mắt ông đã sùm sụp nhưng vẫn ánh lên vẻ tinh anh của người già được coi là thông thái trong buôn. Một chiếc áo không tay dày cộm, cứng queo, luốc luốc màu đà khoác trên vai. H’Zen nhận ra chiếc áo bằng vỏ cây đập dập rất kỹ. Ông lão lạc lõng với xung quanh như vừa bước ra từ câu chuyện cổ về con lươn thần của hai chàng Lăk, Liêng. Một tia sáng lóe lên trong đầu, H’Zen tỉnh ngủ hẳn :
– Ti ih nao ? ( Ông đi đâu vậy?)

Mắt nheo nheo, hai lỗ mũi nở bung, phì ra một đám khói đặc, khét lẹt mùi lá thuốc gốc, thủng thẳng ông nói từng tiếng :
– Đi Buôn Thuật! Cho đứa cháu chứng dùm lại cái giấy cách mạng ghi cho mình đóng góp voi từ hồi chống Pháp.
– Ông mấy lần rẫy rồi?
– Cái bầu khô từ hồi Âe Tăng mình bỏ vô, mấy con cháu đếm được tám mươi sáu hòn đá suối đấy.
– Ti anôk buôn ih? ( Ông ở buôn nào?)
– Buôn Du đó chớ đâu.
Y Tlang chồm tới vồ lấy hai bàn tay như hai chiếc lá đa úa khô, lắc lắc:
– Ông ơi, buôn Du hồi xưa có ai đưa con nít mới sinh cho Đức Cha người Pháp nuôi không ông?
– Để coi coi…Ôi Yang ạ. Cái đầu mình khô như hạt giống trong bầu rồi đấy…
Cặp mắt lại nheo nheo, lại một đám khói đặc khét lẹt che mờ cả khuôn mặt ông lão. Ánh mắt ông bỗng lờ đờ, lờ đờ như đang lạc vào cõi hư vô nào xa lắc…
*
Tiếng ching báo có người chết rầm rập nổi lên từ cuối buổi chiều, các bà í ới xôn xao gọi nhau suốt các nhà dài, từ cây blang đầu buôn, tới bến nước cuối buôn :
– Con H’Liang nó tắt hơi rồi đấy. Nghe tiếng ching báo không?
– Amí Tin ơi, bà sang đó giúp thay váy áo cho nó với.
– Ơ amí Son. Mày ghé bà Chàm lấy mấy cuộc chỉ màu tết sợi dây cúng hồn nhé.
– H’ Yên ! Ở đâu rồi? Con xúc cho amí một nồi ba gạo mang sang nhà cô H’Liang nhé…

Nhà H’Liang không lúc nào ngớt người lên xuống. Sàn nứa rung rinh kêu ràm rạp. Vịn đôi bầu vú gỗ đến nơi cầu thang đằng trước là đàn ông, người mang cột gơng cúng thần, kẻ vác ché rượu, anh khiêng nồi nước, thoăn thoắt nối bước chân nhau. Thang đằng cuối nhà, cô cõng gùi gạo, chị xách con gà, bà nọ hấp tấp chạy sai bọn trai trẻ bổ thêm củi, mấy cô gái gùi thêm bầu nước. Khói đặc sệt từ các bếp lửa dưới sân nhà rung rinh theo nhịp ching, nhịp chân. Các ông oang oang cắt cử người đào huyệt, kẻ tạc tượng, bác làm hòm, cháu bẻ lá nhét vô ghè rượu. Xì xào là tiếng các bà bàn tán sự đẻ khó của H’Liang, tính toán số gạo phải giã, đồ ăn phải đủ cho ba ngày cúng đám. Vượt lên trên những tiếng nhộn nhạo ấy, như một cánh chim chấp chới hốt hoảng, là tiếng khóc của thằng bé mới sinh. Nhăn nhúm như một trái cà dái dê để héo, nó ngoác cái miệng đói sữa mà gào lên từng chặp. Bà đỡ bồng nó đung đưa, vỗ về, kể lể. Mặc ! Nó cứ gào bằng cái giọng đến là chói tai. Đôi lúc bà lão đút ngón tay út vô miệng cho nó mút. Không nhận được chút gì, nó lại nhả ra la chói lói. Dường như thằng bé linh cảm thấy số phận của nó chẳng khác gì rừng đêm không trăng. Pap mnai – tội nghiệp cái thằng ! Cha nó cách nay ba lần con trăng treo vì bắn hụt con hổ thọt, bị nó xé xác trong một đêm săn. Một mình mẹ nó, cái bụng khệ nệ như chiếc trống h’gơr, hết lên rẫy cuốc cỏ, lại xuống suối xúc cá, mò ốc. Chắc không muốn mẹ mang nặng, nên chưa tới ngày tháng đủ, thằng nhỏ đã quẫy đạp đòi ra, khiến amí nó ngã dụi, bao nhiêu máu trong người ào ra cả bờ suối như nước trong bầu dội xuống. Lúc bà đỡ phát vô cái mông bé teo cho nó khóc, cũng là lúc mẹ nó tắt làn hơi cuối cùng, không kịp mở mắt nhìn thấy mặt con. Nó khóc ngằn ngặt từ lúc đó. Ác cái là mẹ nó mồ côi, là người cuối cùng của dòng họ H’Druê ở buôn này. Còn cha nó, lưu lạc từ đâu tới, cả buôn không ai biết rõ, ở làm nô lệ nhà người ta, tới lúc thương nhau, mẹ nó mang tất cả những vật dụng quý còn lại của gia đình, sang nộp cho Âe Tăng làm lễ hỏi và cưới cha nó. Cả dàn ching Lao quý giá pha đồng đen, lẫn bộ ché Tuk, ché Tang ba đời, lớn nhỏ mười cái, mới chuộc được cha. Lúc cha mẹ nó về ở chung, chỉ còn cái nhà trống lổng. Gió đuổi nhau chạy từ cửa phía Bắc sang cửa đằng Nam, không gặp cái gì ngăn lại. Còn bây giờ á, không có người đặt tên cho nó. Càng không có ai để mang tên nó, mẹ nó cứ mãi là H’ Liang với hai mươi mùa rẫy. Cha nó cũng vẫn cứ là Y Rit. Chẳng ai được buôn làng gọi ama thằng nọ, amí thằng kia theo tập tục nữa. Thằng bé vẫn cứ khóc không lặng.
– Tội nghiệp thằng nhỏ quá đi. Buôn mình sao lúc này không có ai đang nuôi con bú hè?
– Con H’Liang có còn bà con nào ở buôn gần, buôn xa không? Đem thằng nhỏ tới đó gửi.
– Đâu có còn ai ! Chắc phải chôn nó theo mẹ thôi. Lời luật tục ông bà ta là thế đó.
– Bếp mình nhận nuôi nó được không amí?
– Đâu có được. Mình không phải bà con, cũng không có người đang còn sữa, làm sao làng cho nhận. Nuôi không nổi nó còn khổ hơn. Phải làm cái hòm rộng cho mẹ nó mang đi theo thôi. Sau này về nhà ai cũng có mẹ có con. Luật tục khít như vậy rồi.
– Ama ! Cái ông áo đen, tóc vàng như râu bắp đó, là ai vậy ?
– A! Đó là người Cha ở nhà thờ buôn Tâng Jú. Con trai buôn mình có người học cái chữ với ông đó mà…
Từng hồi chiêng tang lễ vẫn dồn dập, dai dẳng.
*

Pie Y Tlang ngồi lặng nơi đầu sàn, ngó ra mặt hồ. Chiều, như cô gái tắm, hờ hững buông rơi tấm choàng hoàng hôn. Hàng đàn chim kiú quáo gọi nhau về tổ, cánh chấp chới chao nghiêng in trên nền trời đỏ. Xa xa, những cành thủy tùng khô khỏng, tạc vào chiều như bao nhiêu cánh tay níu kéo, kêu gọi.
Tiếng ching đón khách rộn rã trong nhà ông Ama Nhen, cháu ba đời của Âe Tâng. Không biết có yang nào phù trợ vượt được mọi đổi thay, mà ngôi nhà sàn dài này đã chứng kiến gần cả trăm lần sen tàn, sen nở trên hồ Lăk rồi. Những cây cột một vòng tay ôm, chiếc ghế kpan độc mộc dàn chiêng đang ngồi, dài hàng sải tay; cả chiếc jhưng nơi ông chủ nhà nằm ngủ mỗi đêm bên bếp lửa, đều đã đen bóng như thoa nhọ nồi.
Y Tlang gục đầu. Tay phải vô tình cứ xoay xoay chiếc vòng đồng mà thày cúng sau khi khấn khứa các vị thần linh thiêng, đã lồng vào cổ tay trái cho anh. Tiếng chiêng dội trong ngực anh đau nhói.
– Thế rồi cuối cùng con cũng tìm được bến nước của mình, mẹ ơi.
– Con ơi! Mấy chục mùa gió nổi nay, cha mẹ cứ bay vật vờ như con mối, vì không có người bỏ mả, không thoát được bến nước này, làm sao theo phù trợ cho con được. Nhưng con đã về đây rồi, núi này, rừng nọ, bến nước đây sẽ không bỏ rơi con đâu. Ơ con của mẹ….
Lời khấn của Pô riu yang âm âm trên mặt hồ lãng đãng phủ kín hơi sương :
– Tôi gọi ông Du, ông Diê. Tôi gọi ông Gỗn trên làng trời. Tôi gọi bà Dung bà Dai dưới đất. Tôi gọi hồn mẹ hồn cha phơ phất. Hãy nhận lấy con mình lạc nơi bến nước lạ, nay đã về được với bến nước mẹ cha. Xin các yang cho cái tay nó khỏe như hùm beo, cái chân nó mạnh như heo rừng. Cho của cải của nó tầng tầng như lá cây, tình anh em tràn đầy như nước suối.Ơ Yang !
– Nhưng mẹ ơi, nơi này con đâu còn có ai?
– Còn chớ con ! Bến nước đầu buôn nơi mẹ đổ máu sanh con. Rừng xanh ở đây máu cha con đã đỏ gốc. Cái rốn con chôn chỗ này. Nước sương nơi đây con đã uống. Đó chính là sức mạnh của rừng, đất đã cho con. Bà con đó sẽ là anh em. Buôn làng đó sẽ là nhà con.
– Mẹ! Mẹ ơi!
– Cha mẹ luôn ở mãi với con đây con à.
Y Tlang se sẽ rùng mình. Bàn tay nào vừa vuốt nhẹ từ trên đầu xuống mặt anh.
Vẫn là tiếng chiêng ấy, bây giờ ngân nga ca hát. Tiếng ching dội vang trên mặt hồ, chạy theo những con sóng lăn tăn, gọi vầng trăng mười sáu to như chiếc nong phơi lúa, nhô lên khỏi mặt nước. Những con ruà, con chim, kỳ đà trên xà nhà như được ánh trăng đánh thức, động đậy, động đậy. Y Tlang vươn người đứng dậy hít căng lồng ngực hơi nước mát lành. Anh như mỗi lúc một lớn bổng lên, tràn đầy sinh lực.. Quay lại, H’Zen đã đứng bên cạnh từ lúc nào. Tiếng ching rộ lên đón chào, vây bọc lấy hai người, ấm áp. Lung linh, lung linh, mặt nước bạc xôn xao, chở tiếng ching vui về bao bến nước….
Linh Nga Niê Kdăm
Hôm ấy tôi bị đòn oan, mà nguyên do thì rất là vặt vãnh. Nhưng là vặt vãnh với bây giờ thôi, chứ ngày ấy thì không vặt một chút nào. Có lẽ phải kể qua một chút về bối cảnh gia đình tôi lúc bấy giờ để các bạn dễ hình dung ra một giai đọan của cuộc sống. Cũng như đa số những người dân sau ngày giải phóng, đời sống vật chất rất nhiều hạn chế. Lại cha tôi sớm qua đời sau ngày hòa bình không lâu. Gánh nặng gia đình dồn cả lên vai mẹ tôi. Một đàn con còn ngờ nghệch non dại, giữa chật vật miếng sống hàng ngày, mẹ tôi không khỏi những lo âu bươn trải, rồi đôi khi vì phải lo toan nhiều quá, cộng với những va đập của những bon chen giành giật hàng ngày, mẹ tôi cũng trở nên nóng tính. Con cái có những lúc là nơi để trút cơn giận dữ không phải là chuyện lạ. Nhất là với cái tính đểnh đỏang của tôi thì chẳng khác gì cơm ngày hai bữa, có khi còn dăm bữa phụ nữa ấy chứ.
Chiếc xe lam phì phạch đưa tôi đi qua một đỗi đường dài đến hai mươi cây số, hai bàn chân tôi mỏi nhừ vì cứ phải co lên tránh luồng hơi lạnh ngăt tỏa từ những cây nước đá xếp giữa lòng xe. Bây giờ mà chủ xe nào có lối tận dụng như thế chắc sẽ khó mà tồn tại trên những tuyến đường, ngày đó thì hành khách cứ thin thít mà chịu đựng. Duỗi và co bóp mãi hai chân tôi mới bắt đầu những bước đi.Từ nơi xe lam dừng để trả khách đến nơi tôi muốn đến còn phải hơn tám cây số đường đất nữa. Bây giờ các du khách đến tham quan du lịch Thác Drây Sáp thì thong dong một lèo thẳng thớm trên con đường trải nhựa láng e đến tận cổng thác. Còn ngày đó, con đường dài bụi mù đất đỏ, qua hết được con đường chẳng khác nào người của một bộ tộc hẻo lánh xa xưa. Trước đó tôi đã một lần đi qua, đi du lịch hẳn hoi nhé. Nhưng các bạn biết chúng tôi đi du lịch bằng gì không ? Một chiếc xe cần cẩu, một lọai xe chỉ chuyên đi lấy cây trong rừng, ngày nay thì khó mà nhìn thấy trong thành phố. Không muốn tin cũng phải tin, chiếc xe đánh vật qua con đường không bằng phẳng ấy không biết bao lần trồi sụt, dằn lắc, và hành khách trên xe, khỏang mấy chục mạng đều chơi : vé đứng. Cũng nhờ có lần đi chơi đó mà tôi biết được nơi ấy, và dự định kế họach cho một lời vĩnh biêt thật êm thấm và lãng mạn.
Thế mà rồi tôi đến được thật. Khi nhìn thấy những vuông đá làm bậc đi xuống, tôi thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, tiếng nước đổ ầm ù phía xa trong làm tôi phấn chấn lên. Vào được đến khu vực thác chính, tôi ngã người lên một phiến đá to, cảm giác gân cốt rã rời một cách thỏai mái làm sao. Lúc đó trong tôi như không còn nỗi buồn nặng trĩu như lúc bước chân ra khỏi nhà, nhưng ý định trở về thì tuyệt nhiên không. Nằm một lúc cơn mệt đã nguôi đi thì cơn đói lại đến, đói thì lại nghĩ lại buồn lại tủi thân và khóc. Khóc chán, tôi lơ mơ thiếp vào giấc ngủ. Bên tiếng thác ầm ào, những bụi nước li ti như một làn sương bắn vào da mặt, tạo một cảm giác tê tê và mát rượi.
Có nghĩa tôi chưa thể an tòan, tôi vẫn luồn lỏi dưới những khe đá, bất chợt tôi nhìn thấy một lỗ hổng to dưới một gốc cây, mừng qua tôi chui tọt vào, trong đầu không có chút đề phòng gì những con vật nguy hại như rắn rết đang chực chờ trong cái hốc cây ấy. Càng mừng hơn khi tôi nhìn thấy rõ những gộp đá như có tay ngưới sắp xếp thành một cái giường đá vậy. Tôi ngồi ngay lên, rất vừa với vóc người của tôi. Tôi lóng tai nghe ngóng phía ngòai một lúc, không có động tịnh gì, đúng là hai người kia đã mất dấu tôi. Yên tâm, tôi nhìn lại chỗ mình ngồi một lần nữa, đúng là quá lý tưởng so với yêu cầu của tôi, chắc ông trời đã giúp tôi đây mà. Thật buồn cười, đang muốn chết, được một nơi như mong đợi lại mừng, lại bảo được trời giúp.
Có ánh đèn bin lấp lóa soi đường, bấy giờ tôi mới nhìn thấy có hai người phía trước nữa, tôi biết đó là hai thanh niên lúc chiều đuổi theo tôi. Dòng người nối hàng nhau, đi sau tôi là người đã nhảy chắn mặt nước và cũng là người góp phần sau cùng lôi tôi ra khỏi cái hang ấy. Con đường đá lô xô, khúc khủyu, ban ngày còn khó khăn đặt những bưỡc chân, huống chi , vừa tối trời, lại vừa mệt vừa đói, những bước chân tôi chập chỗm, đã mấy lần bị vấp té. Bất chợt giọng nói phía sau tôi cất lên :
Khi các thứ bát đũa được dọn đi. Anh Thuộc (thủ trưởng) lấy từ trong cái ba lô ra một túi bánh ít, nói :
Ngôn ngữ của lúa là âm thanh lao xao, mượt mà khi gió ngang qua cánh đồng thì con gái, là tiếng rì rào trĩu nặng ân tình khi phù sa và mặt trời đã lặn đủ vào hạt. Ngôn ngữ của lúa là màu vàng tươi vui khi được mùa, cũng có thể là màu ủ ê thuở thất bát. Ngôn ngữ bình dị đó chỉ được nói lên bằng hạt chín, cũng là bằng thành quả của những ngày gom nhặt. Lúa học bay, học nhịn. Còn nhà thơ, ta hãy nghe anh tâm sự: Tôi học ướt từ mưa / học khô từ nắng / học lội từ bùn / học hát từ trăng / học chắt chiu từ chua mặn đồng làng
Có lẽ nhiều người không đồng ý với con số chính xác trong câu thơ này. Sao không phải là năm , bảy, thậm chí một trăm mà lại là mười. Theo tôi số mười ở đây chỉ là cách nói chứ không phải là con số thực. Số mười chỉ sự vẹn toàn; sự khó đạt tới ( !). Điều đó có nghĩa là “ cực kỳ khó, vô cùng khó”.







































Không biết xưa Chung vô Diệm xấu đến thế nào, mà đến nỗi mặc nhiên đi vào giai thọai như thế. Nếu ngày đó bà là người xấu nhất thế gian, thì đích thị ngày nay tôi là con cháu duy nhất của bà. Điều khó hiểu là nhà có bốn chị em gái, thi ba người kia lại rất đẹp, da trắng, mắt xinh, môi tròn, mũi thẳng. Nói chung là họ có một ngọai hình tương đối, đủ để giao thoa với cuộc đời. Riêng tôi, cứ như một chuyến đi buôn hết vốn, đành gom góp chút rơi rớt khi chợ tàn cho đỡ xót lòng túi rỗng, cứ như là một biểu vật mà ông trời trớ trêu nghịch ngợm ném xuống cõi trần trong một lần ác ý. Cái biểu vật ấy gần như hội đủ những gì có thể cho là xấu nhất thế gian với hình thể một con người. 






Tôi chưa biết mình có chọn mua được một vài thứ hàng hoá đang bày bán nơi đây không ? Những thứ hàng hoá mà tôi chưa thấy ở bất kỳ một khu chợ nào. Tôi mang máng, hình như lúc bước chân vào đây tôi có đi qua một cánh cổng, và bên trên nó có một tấm bảng, à phải rồi, tấm bảng có một kiểu vẽ ngoằn ngoèo như thư pháp “Chợ Chữ”. 
