Category Archives: Văn

Phố Ngọc Lan

Chào các bạn,

Truyên ngắn này mình đã đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 43-96 (677), 3.11.1996-9.11.1996, dưới bút danh Trần Đình. Vậy là lúc này đang nằm trong bệnh viện ở Singapore. Mình nhớ là viết bài này lúc còn ở Hà Nội. Gởi vào Tuổi Trẻ cho Nguyễn Đông Thức thì phải. Sau đó đi qua Singapore thì bị bệnh luôn.

Bản dưới đây đã được scanned và đặt trên Scribd.com. Các bạn có thể điều khiển màn ảnh cho dễ đọc. Click vào “Fullscreen” (ở phía trên) để xem màn ảnh lớn. Rồi dùng “Zoom – +” (ở cuối màn ảnh) để phóng đại chữ.

Tờ báo cũ quá nên đã hoen ố vài nơi. Mong các bạn thông cảm.

Chúc cả nhà một ngày vui.

Hoành

.

Tất cả những điều tốt đẹp

Cậu nhóc học lớp 3 đầu tiên tôi dạy ở trường Saint Mary tại Morris,Minn.Tất cả 34 học trò đều thân với tôi,duy chỉ có Mark Eklund là khác biệt.Vẻ ngoài tươm tất,nhưng với suy nghĩ” hạnh-phúc-để-được-sống” làm cho tính nghịch ngợm thi thoảng của cậu bé rất ngộ nghỉnh.

Mark nói liên hồi.Tôi phải nhắc nhở suốt rằng nói chuyện riêng là không được chấp nhận.Tuy nhiên điều làm tôi ấn tượng nhiều nhất chính là cách đáp lại thành thật của nó mỗi khi tôi chỉnh cách xử sự xấu đó.”Cảm ơn cô đã nhắc nhở em”Ban đầu tôi không hiểu rõ lắm,nhưng chẳng bao lâu tôi trở nên quen với việc nghe điều đó nhiều lần một ngày.

Một buổi sáng sự kiên nhẫn của đi đến giới hạn khi Mark nói một việc quá thường xuyên,và sau đó tôi phạm phải sai làm của giáo viên mới vào nghề.Tôi nhìn nó và nói,”Nếu em còn nói nữa,cô sẽ dán miệng em lại.”

Chưa đầy mười phút sau Chuck thốt lên,”Mark lại đang nói chuyện nữa ạ.”Tôi không yêu cầu bất kì học trò nào giúp tôi trông chừng Mark.Nhưng kể từ khi tôi đưa ra hình phạt trước lớp,tôi buộc phải thực hiện.

Tôi nhớ cảnh đó như thể nó đã diễn ra vào buổi sáng đó.Tôi đi đến bàn,cố tình mở ngăn kéo và lấy ra 1 cuộn băng dính.Rồi tôi tiến đến bàn Mark mà không nói một lời,xé hai mảnh băng dính và làm thành chữ X trên miệng cậu bé.Sau đó tôi quay lại trước lớp.Khi tôi ghé mắt xem Mark đang làm gì,nó đang nháy mắt với tôi,Chính là nó!Tôi bắt đầu cười.Cả lớp hoan hô khi tôi đến lại Bàn của Mark,lột lớp băng keo và nhún vai.Câu nói đầu tiên của nó là,”Cảm ơn cô đã sửa sai cho em.”

Vào cuối năm học tôi được đề nghị dạy toán trung học. Các năm học trôi qua,và tôi biết Mark lại ở trong lớp tôi.Cậu bé đẹp trai hơn bao giờ và rất lịch sự.Bởi vì cậu phải chú ý vào lời hướng dẫn của tôi trong môn”toán mới”,khi học lớp 9 cậu không nói nhiều như hồi lớp 3.

Một buổi sáng thứ sáu,tôi có cảm giác mọi việc không ổn lắm.Chúng tôi phải làm việc cật lực về một khái niêm mới cả tuần,và tôi thấy đám học trò đang kiệt sức, chán nản-và cáu kỉnh với người khác.Tôi cần phải chấm dứt việc cáu kỉnh này trước khi nó đi quá xa. Vì vậy tôi hỏi chúng liệt kê tên những học sinh khác trong lớp học lên hai mặt giấy,để khoảng trống giữa mỗi tên. Sau đó tôi bảo chúng viết ra giấy những điều đẹp nhất chúng có thể nói về mỗi bạn cũng lớp chúng có thể nghĩ đến.

Cả lớp cần đến cả một tiết để hoàn thành bài tập,và khi đám học trò rời khỏi phòng,mỗi đứa nộp giấy cho tôi,Charlie mỉm cười.Mark nói,”Cảm ơn cô đã dạy em.Chúc ngày cuối tuần tốt đẹp.”

Tối thứ bảy đó,tôi viết tên của mỗi học sinh lên một tờ giấy đơn riêng biệt,và liệt kê những điều bọn trẻ nói về một bạn trong lớp.Vào thứ hai tôi đưa mỗi học sinh một danh sách viết về chúng.Chẳng mấy chốc,toàn bộ lớp mỉm cười. “Thật ư?Tớ chưa từng biết điều đó lại có ý nghĩa với người khác !Tớ không biết những người khác thích tớ nhiều như thế,” tôi nghe tiếng thầm thì.

Không một ai đề cập đến những tờ giấy đó nữa.Tôi không bao giờ để ý liệu bọn trẻ có thảo luận về nhau sau giờ học hay kể với bố mẹ hay không,điều dó chẳng có vấn đề gì.Bài tập đã hoàn thành tốt mục tiêu.Đám học trò lại hãnh diện về chính mình và các bạn khác.

Nhóm học sinh ấy cứ tiếp tục.Vài năm sau, khi tôi đi nghỉ về , cha mẹ đón tôi ở sân bay.Trên đường về nhà, Mẹ hỏi tôi những câu thường lệ đại khái là về chuyến đi,thời tiết và những kinh nghiệm ở trường.Cuộc trò chuyện có những khoảng lặng. Mẹ liếc sang nhìn cha và nói: “Anh?” Cha tôi hắng giọng như thường lệ trước khi nói điều gì quan trọng. ”Nhà Ekunds gọi đến tối qua.” ”Thật hả cha?” Tôi nói. ”Con đã không nhận được tin gì về họ mấy năm nay. Không biết biết Mark thế nào rồi.”

Cha trả lời điềm tĩnh:” Mark đã chết ở Việt Nam,” cha nói.”Lễ tang tiến hành vào ngày mai, và cha mẹ cậu ta rất muốn con đến.”

Trước kia, tôi chưa từng thấy một sĩ quan trong quan tài bao giờ.Trông Mark thật đẹp và vô cùng chín chắn.
Tất cả những gì tôi có thể nghĩ vào khoảnh khắc đó là, Mark, tôi sẽ tặng cậu tất cả băng dính trên thế giới miễn là cậu ta có thể nói chuyện với tôi.

Nhà thờ chật ních những người bạn của Mark.Mục sư đọc những bài kinh cầu nguyện thường lệ, và lính kèn gõ những tiếng nhẹ. Từng người một đi vòng quanh chiếc quan tài lần cuối và rắc những giọt nước thánh.
Tôi là người cuối cùng cầu nguyện. Khi tôi đứng đó, một trong những người lính thay mặt người hộ tang, đến gần tôi.”Cô có phải là giáo viên dạy toán của Mark không?” Anh ta hỏi. Tôi chỉ gật đầu tiếp tục nhìn chăm chăm vào chiếc quan tài.”Mark đã nói về cô rất nhiều.” Anh ta tiếp lời.

Sau lễ tang, hầu hết những cậu bạn cùng lớp Mark trước kia đi thẳng về nông trại nhà Chucks dùng bữa trưa.Cha mẹ Mark đã ở đó,rõ ràng đang chờ tôi.”Chúng tôi muốn đưa cho cô vài thứ”,cha Mark nói, và lấy trong túi ra một cái ví.”Họ tìm thấy vật này trên người Mark khi nó chết.Chúng tôi nghĩ cô có lẽ sẽ nhận ra nó.”

Cha Mark mở ví , cẩn thận lấy ra hai mảnh giấy viết đã sờn và bị gấp đi gấp lại nhiều lần. Không cần nhìn tôi cũng biết đó chính là những mảnh giấy mà tôi đã liệt kê tất cả những điều tốt mà bạn Mark nói về cậu ấy. “Cảm ơn cháu rất nhiều,” Mẹ Mark bảo. “Như cháu thấy đó, Mark trân trọng mảnh giấy đó.”

Bạn học của Mark vây quanh chúng tôi. Charlie cười bẽn lẽn và nói “Em vẫn giữ danh sách của mình. Nó ở ngăn trên cái bàn làm việc của em ở nhà.” Vợ Chuck nói: “Chuck đã nhờ tôi đặt nó vào album cưới.” “Em cũng có,” Marilyn nói. “Nó ở trong nhật kí của em”. Rồi Vicky, một học trò khác, lấy cái danh sách mòn và nhàu nát từ quyển sổ tay ra và nói: ’Khi nào em cũng mang nó theo.” Vicky nói không chớp mắt: “Em nghĩ tất cả chúng em đều giữ danh sách của mình.”

Đó là lúc tôi ngồi bệt xuống và khóc. Khóc vì Mark và vì bạn Mark- những người sẽ không bao giờ gặp lại cậu ấy nữa.

Hồng Hải – Nhất Thương- Vĩnh Thanh dịch

.

All The Good Things

He was in the first third grade class I taught at Saint Mary’s School in Morris, Minn. All 34 of my students were dear to me, but Mark Eklund was one in a million. Very neat in appearance, but had that happy-to-be-alive attitude that made even his occasional mischievousness delightful.

Mark talked incessantly. I had to remind him again and again that talking without permission was not acceptable. What impressed me so much, though, was his sincere response every time I had to correct him for misbehaving. “Thank you for correcting me, Sister!” I didn’t know what to make of it at first, but before long I became accustomed to hearing it many times a day.

One morning my patience was growing thin when Mark talked once too often, and then I made a novice-teacher’s mistake. I looked at him and said, “If you say one more word, I am going to tape your mouth shut!”
It wasn’t ten seconds later when Chuck blurted out, “Mark is talking again.” I hadn’t asked any of the students to help me watch Mark, but since I had stated the punishment in front of the class, I had to act on it.

I remember the scene as if it had occurred this morning. I walked to my desk, very deliberately opened my drawer and took out a roll of masking tape. Without saying a word, I proceeded to Mark’s desk, tore off two pieces of tape and made a big X with them over his mouth. I then returned to the front of the room. As I glanced at Mark to see how he was doing he winked at me. That did it! I started laughing. The class cheered as I walked back to Mark’s desk, removed the tape and shrugged my shoulders. His first words were, “Thank you for correcting me, Sister.”

At the end of the year I was asked to teach junior-high math. The years flew by, and before I knew it Mark was in my classroom again. He was more handsome than ever and just as polite. Since he had to listen carefully to my instructions in the “new math,” he did not talk as much in ninth grade as he had in the third.
One Friday, things just didn’t feel right. We had worked hard on a new concept all week, and I sensed that the students were frowning, frustrated with themselves – and edgy with one another. I had to stop this crankiness before it got out of hand. So I asked them to list the names of the other students in the room on two sheets of paper, leaving a space between each name. Then I told them to think of the nicest thing they could say about each of their classmates and write it down.

It took the remainder of the class period to finish the assignment, and as the students left the room, each one handed me the papers. Charlie smiled. Mark said, “Thank you for teaching me, Sister. Have a good weekend.”

That Saturday, I wrote down the name of each student on a separate sheet of paper, and I listed what everyone else had said about that individual. On Monday I gave each student his or her list. Before long, the entire class was smiling. “Really?” I heard whispered. “I never knew that meant anything to anyone!” “I didn’t know others liked me so much!”

No one ever mentioned those papers in class again. I never knew if they discussed them after class or with their parents, but it didn’t matter. The exercise had accomplished its purpose. The students were happy with themselves and one another again.

That group of students moved on. Several years later, after I returned from vacation, my parents met me at the airport. As we were driving home, Mother asked me the usual questions about the trip, the weather, and my experiences in general. There was a light lull in the conversation. Mother gave Dad a side-ways glance and simply says, “Dad?” My father cleared his throat as he usually did before something important. “The Eklunds called last night,” he began. “Really?” I said. “I haven’t heard from them in years. I wonder how Mark is.”

Dad responded quietly. “Mark was killed in Vietnam,” he said. “The funeral is tomorrow, and his parents would like it if you could attend.”

I had never seen a serviceman in a military coffin before. Mark looked so handsome, so mature. All I could think at that moment was, Mark, I would give all the masking tape in the world if only you would talk to me.
The church was packed with Mark’s friends. The pastor said the usual prayers, and the bugler played taps.

One by one those who loved Mark took a last walk by the coffin and sprinkled it with holy water.
I was the last one to bless the coffin. As I stood there, one of the soldiers who had acted as pallbearer came up to me. “Were you Mark’s math teacher?” he asked. I nodded as I continued to stare at the coffin. “Mark talked about you a lot,” he said.

After the funeral, most of Mark’s former classmates headed to Chucks farmhouse for lunch. Mark’s mother and father were there, obviously waiting for me. “We want to show you something,” his father said, taking a wallet out of his pocket. “They found this on Mark when he was killed. We thought you might recognize it.”
Opening the billfold, he carefully removed two worn pieces of notebook paper that had obviously been taped, folded and refolded many times. I knew without looking that the papers were the ones on which I had listed all the good things each of Mark’s classmates had said about him. “Thank you so much for doing that.” Mark’s mother said. “As you can see, Mark treasured it.”

Mark’s classmates started to gather around us. Charlie smiled rather sheepishly and said, “I still have my list. It’s in the top drawer of my desk at home.” Chuck’s wife said, “Chuck asked me to put this in our wedding album.” “I have mine too,” Marilyn said. “It’s in my diary.” Then Vicki, another classmate, reached into her pocketbook, took out her wallet and showed her worn and frazzled list to the group. “I carry this with me at all times,” Vicki said without batting an eyelash. “I think we all saved our lists.”

That’s when I finally sat down and cried. I cried for Mark and for all his friends who would never see him again.

Unknown Author

Về Quê Nghe Tiếng Chim Bắt Cô Trói Cột


Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh
Ta xuống đồng, lúa mừng vui vẫy gọi
Cánh cò chao nghiêng ướm hỏi đôi điều
Ừ, nơi đây ta từng gieo kỉ niệm
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Ta cứ ngỡ quê nhà xưa vẫn vậy
Còn người thương gội bồ kết ướt lưng ong
Trăng vẫn cũ – con đường xưa lại mới
Hết đá vấp chân- sao lại nhói đau lòng!
Biết sao được chuyện của đời dâu bể
Sông có tự ngàn xưa chừ cũng xoay dòng
Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong.
Chim chỉ gọi- chẳng bắt ai trói cột
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa vườn xưa buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Trích từ tập TRƯỚC SÔNG THU.- Thơ Dương Quang Anh

Cảm nhận:

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm hứng chí ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu. Về sau, tôi đã tìm đọc trọn vẹn bài thơ ấy. Bài thơ tôi giới thiệu ở trên.

Bài thơ có cái duyên ngầm bởi bắt được một điệu quê. Với đa phần người, cái hồn quê thường thức dậy từ cánh diều mùa thu hay điệu lí mỗi chiều. Với Dương Quang Anh, thật đến bất ngờ là cái hồn quê lại dóng lên khắc khoải từ một loài chim chẳng mấy khi được chọn làm thi liệu: Chim bắt cô trói cột.

Và theo âm vang của nốt nhạc lạc loài ấy, khách tình quê đi về với cánh cò, đồng lúa, mùa trăng xưa và con đường cũ. Những bước lang thang mà định hướng cho cả một mùa kí ức.

Bắt được giai âm, tác giả như tình cờ được tặng luôn cả một giai điệu. Toàn bài thơ tuy có đôi chỗ phá cách nhưng chung qui vẫn nền nả mặn mà bằng điệu thơ tám chữ có phần xưa cũ. Ấy vậy mà giọng điệu rất quen thuộc ấy, tôi nghĩ, mới thật là một chọn lọc.

Có tình, có điệu. Chưa hết, tôi muốn bàn đến cái tứ của bài thơ. Phải nói thơ anh vừa xúc cảm vừa chắc trong cấu tứ. Ở mỗi khổ thơ, tác giả đã biết để lại một câu hay, một ý đắc để làm những chiếc đinh giữ vững bộ khung của thơ mình.

Ngang đồng lúa, người thơ tự hỏi:
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Và trên quê xưa, đường nhựa phẳng lì thay cho những bậc đá ngày nào còn mấp mô trong kí ức, sao lòng lại xốn xang:

Hết đá vấp chân sao lại nhói đau lòng

Và đây là thái độ của người đã quá cái ngưỡng tri thiên mệnh trước mọi ngã đời dâu bể:

Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong

Và bài thơ kết lại đúng nghĩa trữ tình. Kết mà không mở ra một cục diện mới nào, kết trong một thủy chung cảm xúc:

Chim vẫn gọi chẳng bắt ai trói buộc
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa đường làng buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Tôi cũng thế, vùng vẫy mãi mà chẳng thể thoát ra khỏi những sợi tơ chăng mắc bằng ngôn ngữ trữ tình ấy. Bỡi tôi cũng là một người quê. Cũng đôi lần đi về quê xưa mà nghe thời gian còn phảng phất một màu kí ức. Và như để trả nợ cho một tình quê, tôi giải tỏa bằng một vài cảm nhận. Hẳn cũng quê kệch như tiếng “bắt cô trói cột” kia. Song lại là một điệu quê, có ai người đồng điệu?

Nguyễn Tấn Ái

Hi Vọng

Bóng tối bủa vây khắp căn phòng kín mít, không có lấy một khe hở nào để ánh sáng dù nhỏ nhoi có thể len vào. Bóng tối đen đặc cứ đập vào mắt gây nhức nhối. Có cảm giác như bị mù.

Nó ngồi đó, bó gối nhìn vào màn đêm u tối, im lặng nghe trái tim Nó đập từng nhịp, từng nhịp. Nó liên tưởng tới một lúc nào đó, trái tim của Nó mệt mỏi, nằm im và không muốn đập những nhịp đập đều đặn đó nữa. Tuyệt vọng, chán chường.

Nó không biết bao nhiêu đêm rồi mình thức trắng. Không phải Nó không muốn ngủ nhưng giấc ngủ đến với Nó cứ chập chờn, đáng sợ. Mới vừa nhắm mắt, Nó đã mơ thấy ác mộng, những cơn ác mộng kinh hoàng mà tỉnh dậy Nó không thể lý giải được tại sao. Nó cũng không biết mình đã ngồi như thế trong bao lâu. Mọi thứ đối với Nó dường như đã ngừng lại. Trong Nó không còn chút ý niệm nào về không gian, thời gian kể từ buổi sáng hôm đó.

Mọi thứ xảy ra quá nhanh, nhanh đến nỗi làm cho Nó không kịp cảm nhận được chuyện gì đang diễn ra. Từ hôm đó đến giờ, trong đầu Nó lúc nào cũng văng vẳng một câu hỏi ” tại sao?”. Nó đi tìm mọi lý do nhưng cũng không thể trả lời cho câu hỏi của mình. Nó ép bản thân tin rằng đấy chỉ là một sự nhầm lần, rằng chuyện đó là của người có cái tên giống Nó. Nó tự huyễn hoặc mình rằng không bao giờ chuyện đó có thể xảy ra với Nó… Còn nhiều, rất nhiều lý do Nó tự bào chữa cho mình.

Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Dù cho Nó có cố tình không chấp nhận, thì cái sự thật hiển nhiên đó vẫn đang đeo bám Nó ngày qua ngày. Nó bàng hoàng, đau đớn và xót xa cho cái số phận của mình. Bởi Nó sinh ra trên đời này đã là một sai lầm, tồn tại đến giờ phút này lại càng sai lầm hơn nữa. Cái suy nghĩ ước gì mình chưa từng được sinh ra lại quay về trong tâm trí của Nó. Nó mất phương hướng. Nó cứ quay cuồng mãi với sự đắn đo, chấp nhận hay từ bỏ. Nếu chấp nhận, Nó sẽ phải rất dũng cảm, phải có đủ bản lĩnh để đối mặt với nỗi đau về thể xác và tâm hồn. Còn nếu từ bỏ, mọi chuyện hết sức đơn giản, nhẹ nhàng nhưng Nó sẽ bị mang tiếng là kẻ hèn nhát, Nó sẽ làm cho trái tim của những người yêu thương Nó đau đớn. Nó sẽ làm cho Chị, người mà Nó kính trọng và yêu quý thất vọng. Đó là điều Nó không hề muốn. Gọi điện cho Chị, Nó khóc. Nó là đứa rất bản lĩnh, dù gặp phải chuyện gì cũng chưa bao giờ để lộ cảm xúc ra ngoài. Nhưng với chị dường như Nó không che dấu gì cả. Nó khóc như một đứa trẻ. Khóc với nỗi ấm ức đè chặt trong lòng. Chỉ có Chị mới có thể hiểu được tâm trạng của Nó mà chính bản thân Nó cũng chẳng hiểu nổi. Chỉ có Chị mới có thể kéo Nó lên khỏi bờ vực mà Nó đang tìm cách lao xuống.

Hai tuần điều trị thử nghiệm, Nó tưởng đâu mình đã chết. Những cơn đau về thể xác hành hạ Nó. Nó gắng chịu đau, cố quên đi cái cảm giác nhức nhối xâm chiếm Nó từng giờ từng phút. Bác sĩ hỏi Nó có đau lắm không, Nó chỉ cười nhăn nhó. Tác dụng phụ của thuốc còn khiến Nó mơ màng như bị mộng du, nằm trong bệnh viện mà Nó cứ ngỡ mình đang ở tận đâu đâu. Nó cố ngủ. Trong giấc ngủ vội vã, Nó thấy đôi chân mình chênh vênh , đứng ở một nơi thật tối, thật đáng sợ. Có hàng ngàn khuôn mặt gớm giếc, kỳ lạ đang nhìn Nó, cái nhìn như muốn hỏi Nó là ai, tới đây làm gì. Tỉnh dậy rồi mà Nó còn cảm thấy những khuôn mặt đó đang hiện hữu quanh đây, nhìn xoáy vào ruột gan Nó.

Nằm trong viện, nó chứng kiến nhiều mảnh đời còn bất hạnh hơn mình. Chứng kiến lằn ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Bên khu B, cái Nga vừa mới qua đời. Hồi sáng Nó còn mang sang tặng cái Nga một con gấu bông, vậy mà chiều nay, chị y tá mang con gấu về trả lại cho Nó. Nó bàng hoàng và tự giận mình đã không kịp nói lời tạm biệt với người bạn đặc biệt đó.

Cảm xúc lẫn lộn, Nó bỗng chốc thấy sợ, sợ màn đêm, sợ cái chết sẽ ập xuống đầu Nó bất kỳ lúc nào. Sợ những bóng ma vây quanh Nó khi đêm xuống, sợ sự cô đơn đang xâm chiếm trái tim bé nhỏ. Trong đời Nó, Nó chưa từng trải qua cảm giác như thế này bao giờ. Cảm giác như bị bỏ rơi, bị bỏ lại chốn này một mình. Tủi thân, Nó muốn khóc nhưng không thể khóc, nước mắt cứ nghẹn lại trong cổ họng. Nó sợ lắm. Nỗi sợ hãi đó như một động lực mãnh liệt, đẩy Nó ra khỏi bóng tối u uất, xua tan những ý nghĩ vẩn vơ trong tâm trí Nó. Nó bước ra ánh sáng, ngẳng mặt nhìn cuộc đời và môi nở nụ cười ngạo nghễ.

Vậy là giờ Nó đã biết mình phải làm gì. Nó sẽ chấp nhận sự thật. Nó sẽ đối diện với chính bản thân mình. Nó sẽ tìm cách để có thể thoát ra khỏi cái định mệnh của mình. Nó sẽ đương đầu với những gì đang chuẩn bị xảy đến. Bởi Nó cũng đã nhận thấy mình không hề đơn độc. Bên cạnh Nó còn có Chị, có tình yêu thương của Chị dành cho, có sự quan tâm của nhiều người bạn mới. Sự quan tâm chân thành mà Nó chưa bao giờ được nhận trong đời mình. Niềm hy vọng dù nhỏ nhoi đang len lỏi vào suy nghĩ của Nó. Không phải định mệnh tạo ra Nó, mà chính Nó sẽ tạo ra định mệnh cho mình. Thay đổi tư duy tích cực hơn, Nó sẽ làm được điều đó.

Nó chợt nhớ những ý tưởng về tư duy tích cực trên trang web quen thuộc đã trở thành món ăn tinh thần hàng ngày đã dần giúp nó thay đổi tư duy từ tiêu cực bi quan đã theo hướng tích cực và lạc quan hơn. Cái giây phút tình cờ khi nó gõ vào phần tìm kiếm của google: Hạnh Phúc là gì? Những ai có thể hưởng được đặc ân ấy? Thế rồi tiêu đề bài viết: ” Để hạnh phúc: buông xả và tha thứ “ hiện ra giữa bao nhiêu tiêu đề khác. Định mệnh dun dủi cho nó click vào cái link ấy để rồi nó đến với ngôi nhà của yêu thương của hi vọng như những mầm xanh. Và những thay đổi đã xảy ra từ trong sâu thẳm tâm hồn nó.

Nếu không có sự thay đổi kì diệu ấy, nó đã chọn cách giải quyết cuộc đời, chấm dứt nỗi đau, vĩnh biệt bóng ma của quá khứ và nỗi sợ hãi theo cách ấy: dại dột và hèn nhát.

Đâu đó trong đầu nó vọng lên một câu nói về đau khổ đọc được khiến nó suy nghĩ :

Đau khổ là một phần của đời sống…..
Rõ ràng là chúng ta không thể tránh đau khổ hơn là tránh ăn uống ngủ nghỉ. Chúng ta chỉ có thể học cách xử lý với đau khổ thế nào khi chúng đến mà thôi. Càng trải nghiệm đau khổ, chúng ta càng trưởng thành ra, càng già dặn ra, càng khôn ngoan ra.
” ( Trần Đình Hoành)

Và nó đã bắt đầu nhận rõ hình bóng mình trong một bài viết khác, Những Ngọn Nến Cho Đời:

Tuy nhiên khi chúng ta đã trưởng thành, dù chỉ mới vài bước trong tư duy tích cực, chúng ta bắt đầu cảm nhận được rất rõ ràng quyền lực của tư duy tích cực trong việc chuyển hóa đời mình. Và đời của những người khác.” (Trần Đình Hoành)

Ánh mặt trời đang lấp ló những tia nắng rực rỡ đầu tiên, báo hiệu một ngày ấm áp sau những đêm lạnh giá. Đâu đó ngoài kia có tiếng chim hót líu lo đón chào ngày mới.


Nguyễn Thanh Mai

Leo_pretty

Lớp Mười Hai

Quân nể Nhi, vì dù sao Nhi cũng là lớp trưởng từ hồi lớp 10. Nhi không học giỏi nhất. Không xinh đẹp nhất. Nhi còn hơi đanh đá nữa. Nhưng mọi chuyện vào tay Nhi đều trở nên suôn sẻ kỳ lạ. Quân nghĩ là mình để ý Nhi. Tất nhiên ở đây không có chuyện lãng mạn như “chàng lớp trưởng và nàng lớp phó”. Vì lớp trưởng là Nhi còn lớp phó học tập là Quân. Giang sơn cũng khác. Quân học lớp Lý, còn Nhi học lớp Văn.

Lớp Lý chơi thân với lớp Văn chẳng phải do hợp ý nhau mà là do “duyên nợ”. Khối 12 có bốn lớp chuyên. Lớp Toán rất cá tính, lớp Anh rất điệu đàng. Lớp Lý hơi cù lần, còn lớp Văn đích thị là những bà cụ non nhiều chuyện và đanh đá mà Nhi là một ví dụ điển hình. Lịch sử qui định vậy rồi.

Để cân bằng sinh thái thì một lớp toàn con trai phải có một buổi học chung với một lớp toàn con gái cho đỡ chán. Lý và Văn chung nhau môn ngoại ngữ. Toán và Anh chung nhau môn văn. Bởi duyên nợ và bởi ông bà xưa nói nồi nào úp vung nấy nên lớp Lý phải gắn bó với lớp Văn thôi.

Hôm kỷ niêm 10 năm thành lập, trường tổ chức cắm trại trên bãi dương cạnh bờ biển và kết hợp thi văn nghệ. Lớp Lý không có nhân tài ca hát nên Quân chưa biết tham gia bằng tiết mục gì. May quá, Nhi đĩnh đạc sang gặp Quân để cứu bồ:

– Lớp tui có kịch bản rồi nhưng thiếu diễn viên, tui muốn mượn một người bên lớp ông.

– Kịch gì?

– Bí mật, ông đừng lo. Hát thì tui dở nhưng dựng kịch tui có khiếu lắm à…

Quân ngẫm nghĩ. Phải kiếm thằng nào ra dáng một chút, dù gì cũng là đại diên của lớp.

– Ninh được không? Nó đẹp trai nhất lớp tui.

– Không được. Nó không hợp vai – Nhi dứt khoát – Tui thích thằng Hoàng hơn.

– Trời, cái thằng gầy tom mà còn ẻo lả nữa.

– Nhưng tui thấy nó tiềm tàng khả năng diễn xuất. Ông yên tâm đi.

Thế là mỗi ngày, hết tiết 6, những kịch sĩ và đạo diễn của lớp Văn kéo theo thằng Hoàng lên khu nội trú tập kịch. Bí mật hết sức. Giống như tụi nó đang chuyển thể “Điệp vụ bất khả thi” sang kịch nói không bằng.

Tối hôm diễn, thiếu điều Quân muốn té xỉu khi nhìn thấy thằng Hoàng diện váy dài, độn bong bóng hai bên ngực, đội tóc giả thắt bím, đóng vai một cô gái õng ẹo đỏng đảnh đi coi bói chuyện tình duyên. Lão thầy bói ranh ma gắn râu đen đeo mắt kính đen đích thị là Nhi. Ban giám khảo cười nghiêng ngả, đám lớp Toán thích chí gõ xoong chảo rầm trời, còn lớp Lý đứa nào đứa nấy cứ ôm bụng bò lăn bò càng ra đất mà cười.

Quân phải công nhận Nhi dựng kich và đóng kịch có duyên hết biết. Nhưng tác phẩm “vĩ đại” của lớp 12V – 12L chỉ đạt giải ba, đúng giá năm chục ngàn, đủ cho Nhi đãi hai lớp một chầu ốc luộc. Thằng Hoàng tí ta tí tởn ra mặt với các danh hiệu “đệ nhất danh hài” mà mấy lớp đàn em đặt cho nó, muốn tỏ vẻ ta đây là nghệ sĩ chân chính, vừa ăn vừa cấm cẳn:

– Hài kịch dù xuất sắc vẫn không được xem trọng bằng chính kịch tầm thường… Thật không công bằng.

Quân vừa tức cười vừa bực mình, hỏi:

– Sao mày không kể chuyện mày đóng vai con gái. Việc gì phải giấu như mèo giấu cứt vậy.

– Bà Nhi nói tao mà hé ra bà cắt lưỡi liền – vừa liếc Nhi nó vừa nói nhỏ với Quân – Nhưng mà cũng phải công nhận nhỏ Nhi có mắt xanh thiệt nghen mày. Nó kêu tao giống Thành Lộc. Bây giờ tao mới thấy là cũng… giống thiệt.

Hết mấy trò chơi tập thể, lớp Lý ầm ĩ kéo sang trại lớp Văn ăn ké món chè khuya. Ngoảnh đi ngoảnh lại, không thấy Nhi đâu, Quân tìm quanh quẩn, thấy Nhi ngồi bó gối trên bãi cát ngắm sao.

– Sao bà không lo dọn dẹp với tụi nó, ỷ thế lớp trưởng hả?

– Trời! Có hai chục cái ly, 13 cái chén, bốn cái nồi, hai cái tô, 5 cái đĩa mà tới 9 người phụ nữ đảm đang giành nhau rửa kìa, tui nhào vô làm tụi nó mới ý kiến á. Tui chán quá. Kêu thi nấu ăn không ai chịu đi, thi cắm hoa cũng không, vậy mà có mặt lớp ông, bà nào cũng muốn giành chức “phụ nữ đảm đang” hết trơn…

Quân phì cười, khẽ khàng ngồi xuống cạnh Nhi. Đêm ở biển bình yên. Chỉ có tiếng sóng rì rầm và sao trời. Nhi chợt nói nhỏ:

– Sao tui thấy nhớ bà ngoại quá. Nhà ngoại tui cũng kề biển vậy nè. Nhưng biển không đẹp bằng, chiều tối nào bà tui cũng phải đi cào ốc. Ông không biết đâu. Tui lớn lên rồi đi học đến bây giờ cũng nhờ mấy con ốc của ngoại.

Quay sang nhìn thấy mắt Nhi long lanh, nhưng Quân chỉ biết lặng thinh. Có lần nghe thầy Tuấn hiệu phó nói hoàn cảnh của Nhi rất buồn. Bố mẹ và đứa em trai mới sinh đã mất vì tai nạn cách đây mười năm. Nhi sống với ông bà ngoại, rồi ông Nhi mất vì ung thư gan. Khó khăn, nhưng Nhi có chí và học chăm lắm. Tốt nghiệp cấp II thủ khoa, giải nhì môn Văn quốc gia, được tuyển thẳng vô trường chuyên của tỉnh, vậy mà thầy cô và bà ngoại phải động viên dữ lắm Nhi mới chịu lên tỉnh học, vì sợ để ngoại ở nhà một mình. Mấy đứa ở cùng phòng nội trú của Nhi kể, mỗi buổi sáng, Nhi ăn đúng nửa ổ bánh mì, tiền học bổng gửi về cho ngoại hết chứ không mua sắm gì, và luôn cười tíu tít như người hạnh phúc nhất trên đời. Ít khi Nhi thơ thẩn như bây giờ. Tự nhiên Quân thấy thương Nhi lạ.

– Mấy đứa lớp ông đâu hết rồi?

– Tụi nó đang bắt còng ngoài kia kìa.

– Mình ra đó đi. Tui cũng thích bắt còng lắm.

Nhi đứng lên, chạy về phía biển, nơi những ánh đèn pin của bọn thằng Nam, thằng Ninh đang dò đếm từng bước trên bãi cát. Quân đi theo, chầm chậm, nhìn dáng Nhi chạy nghiêng nghiêng trên cát, tóc tung bay, dịu dàng và đơn độc làm sao.

Thi tốt nghiệp xong, hai lớp tổ chức liên hoan ngay trên khoảng đất sân xi măng trước khu nội trú, bên hông trường. Dốc hết quỹ lớp và học bổng tháng cuối cùng, tiệc chia tay có đủ nem nướng, bia hơi. Dù sao cũng là đêm cuối, chiều mai đã bắt đầu có đứa vào Sài Gòn luyện thi rồi.

Uống không quen nên chẳng mấy chốc đầu óc đứa nào cũng lâng lâng. Thằng Hoàng lăn ra nền ngủ tít thò lò. Mấy đứa lớp Lý chuồn lên phòng học. Còn lại thầy Cường, quản lý khu nội trú và dăm ba đứa “chì” nhất, trong đó có Nhi và Quân.

Thầy Cường hơi gật gù, nắm chặt tay Quân:

– Mai mốt mấy em đi rồi. Thầy nhớ tụi bây lắm. Thầy dặn, hôm nay uống cho vui thôi chứ vô Sài Gòn rồi đừng có nhậu nhẹt. Thầy nghe nhiều người nói sinh viên bây giờ nhiều đứa bê tha dữ lắm. Tương lai trong tay mình. Giống như xây nhà, xây lên cũng mình mà đạp đi cũng mình thôi. Nhớ trân trọng tương lai để dăm ba năm sau về đây cho thầy nở mày nở mặt, nghe chưa?

Quân dạ. Rồi im lặng quay sang nhìn Nhi và bọn thằng Ninh đang hát, giọng lào khào vì bia và la hét quá nhiều. “Về đây đứng bên máy trường xưa, thấy như mình trôi trong ngày cũ, bồi hồi nhớ tiếng nói thầy cô, thoáng trong lòng, một nỗi buồn qua”. Mặt Nhi đỏ bừng lên dưới ánh lửa, mắt Nhi long lanh. Chưa bao giờ Quân thấy Nhi đẹp và thân thiết như bây giờ.

Đột nhiên, Nhi đứng dậy rồi đến ngồi cạnh Quân:

– Nè, nói thiệt đi, ông để ý ai trong lớp tui phải không, sao chiều giờ thấy ông thẫn thờ vậy?

– Ừ.

– Trời đất, tui đoán tầm bậy tầm bạ mà trúng tùm lum tà la nghen. Ai vậy ? Nói đi tui giúp đỡ cho.

Quân hít một hơi thật sâu.

– Bà chớ ai.

– Cái gì???- Nhi trợn mắt.

Lỡ đâm lao rồi, Quân phải theo lao luôn:

– Đúng ra, tui để ý Nhi lâu rồi, từ hồi Nhi mới vô trường. Mới đầu tui thấy Nhi ít nói, dễ thương. Ai dè Nhi làm lớp trưởng, hay nạt nộ, hay trợn mắt nên sau đó tui thấy Nhi …hết dễ thương. Bây giờ mới thấy Nhi dễ thương lại…

Nhi im lìm, mắt đăm đăm nhìn về mấy đứa con trai lớp Lý đang hát om sòm chẳng thèm để ý gì đến hai thủ lĩnh đang thì thầm với nhau bên cạnh đống lửa, mặt đầy căng thẳng.

– Nhi thấy sao? Quân đánh bạo.

– Tui hả? Tui thấy… nói chung lớp Lý cũng dễ thương. Tui thấy…nói chung…ông cũng dễ thương. Umh…Có gì mai tui trả lời ông nghen.

Nhi cười. Lửa nhảy nhót trong đôi mắt. Rồi Nhi quay sang nhìn đám bạn, cao giọng hát “Ai mang đến gần trời lưu luyến. Mà cứ yêu thương nhau hoài. Bao nhiêu kỷ niệm qua ngày tháng, sao không lúc nào nhạt phai”.

Sáng sớm, Quân lò dò xuống sân đã thấy Nhi ngồi bên hồ cá nhỏ cạnh phòng để xe của khu nội trú, tay cầm cuốn sách lịch sử. Tóc Nhi mới gội, xõa ra, bóng mướt và đen nhánh. Trông dịu dàng lạ. Nghe tiếng chân, Nhi ngẩng lên, cười, Quân ngượng nghịu:

– Hồi tối say quá.

– Ừ.

– Tụi Quân phải về phòng thầy Cường ngủ.

– Vậy hả?- Nhi vẫn chúi đầu vào sách, chân đong đưa, miệng nhóp nhép, tay chìa miếng bánh mì ra mời Quân.

– Nhi. Chuyện hồi tối…

– Chuyện gì? Nhi ngơ ngác.

– Chuyện… Quân nói… Nhi không nhớ thiệt hả?

– Hình như không… Nhưng mà chuyện gì?

Trời! Làm gì có buổi liên hoan chia tay lần thứ hai để Quân có cơ hội nói lại. Bây giờ giữa thanh thiên bạch nhật, mắt Nhi lại tỉnh queo như vầy, có cho vàng Quân cũng không dám nói.

– Ờ… Bà viết lưu bút tui nghen?

Quân rút quyển sổ tay ra, lòng thấy đau đớn khôn tả:

– Nhi à?

– Gì?

– Bà là người cuối cùng. Viết nhiều nhiều nghen.

– Vậy tui giữ luôn, thi đại học xong tui trả hén. Có khi lúc đó mới có nhiều chuyện để viết. Đồng ý không?

Nhi cười tươi rói, mắt lấp lánh. Quân thấy hoang mang quá. Có thật là Nhi không nhớ hôm qua Quân nói gì không ta?

Đông Vy

Tôi Mơ Làm Cô Giáo

Tôi mơ làm cô giáo
Bởi không có nghề nào được trao và nhận nhiều đến vậy.
Tôi trao em tình người, và nhận ở em tình yêu thương, lòng kính trọng.
Tôi trao em trái tim người thầy nồng ấm, và nhận ở em ánh mắt rực sáng niềm hi vọng.
Tôi trao em tâm huyết một đời, và hân hoan trong niềm vui chiến thắng, ấy là lúc em thành công trên bước đường đời.
Tôi mơ làm cô giáo
Để cùng em bước đi trên con đường trải thẩm đỏ.
Cha mẹ em cầu mong em tròn đầy, thì hà cớ gì tôi lại để em đi trên những con đường gấp khúc.
Tôi mơ làm cô giáo.
Tôi sẽ không đánh giá em bằng những bài kiểm tra, bằng những con điểm mà em đạt được, những kì thi mà em đã vượt qua.
Mà bằng chính ý thức, sự lạc quan, niềm vui sống, những tình cảm âu yếm mà em dành cho mọi người xung quanh và cả thế giới này.
Tôi mơ làm cô giáo.
Ước mơ là của riêng em, thành công hay không cũng là do em quyết định.
Tôi không thể cho em những gì em mơ ước, bởi tôi không có quyền năng, lại càng không thể trao em phép nhiệm màu, bởi tôi không là bà tiên trong truyện cổ tích.
Nhưng tôi có thể thắp sáng ngọn lửa niềm tin trong em.
Và đắp đầy hành trang em bằng tri thức mà tôi có được, và cả tình yêu thương.
Và tôi chỉ sẽ là chiếc cánh quạt rẽ nước mà không là bác thuyền trưởng độc đoán.
Tôi mơ làm cô giáo.

Tình yêu trong tôi sẽ hóa phép lạ để biến mặc cảm của em thành tự tin, biến khó khăn thành nghị lực, biến tuyệt vọng thành ý chí.
Một ánh mắt biết sẻ chia, một đôi tai biết lắng nghe, một trái tim chan chứa yêu thương…
Tôi mơ làm cô giáo.

Võ Thị Thanh Thủy

Thơ Không Vần

Có ai nói rằng thầy giáo là người làm vườn chăm bón cây đời. Tôi nay đã là người làm vườn, cũng tại ngôi trường Quế Sơn này, tôi không quên cái ngày tôi hãy còn là một thứ trái xanh. Không chỉ là trái, hãy còn là hoa. Không chỉ là hoa, hãy còn là một nụ mầm. Có vui vẻ gì chăng khi tôi nhắc lại cái ngày lũ chúng tôi đói áo đói cơm cố níu ghì con chữ. Cái ngày lũ học trò chúng tôi chung đèn chung sách, chung mộng đẹp, chung quần áo đến trường, chung cả những đặc điểm lẽ ra là phải riêng: Chung hắc lào, ghẻ ngứa, chung cả bệnh phù chân. Ôi cái thời vinh quang và đói khổ. Đói khổ thuộc về chúng tôi. Vinh quang cũng thuộc về chúng tôi. Có nụ mầm xưa chỉ kịp se mình làm chiếc lá xanh, thành chiếc lá vàng, lá rụng. Song cũng có nụ mầm đã kịp cho đời quả ngọt, kịp rụng xuống để mọc lên thành kĩ sư, bác sĩ, công nhân… Và tôi, từ cây đời ấy, nay lại mọc lên thành người làm vườn. Một vụ mùa bội thu của thầy cô.

Tôi nhớ về những người làm vườn năm xưa ấy. Thầy Cao Thiệp, hiệu trưởng, rất hấp dẫn chúng tôi mỗi câu chuyện dưới cờ. Đôi tay tài hoa của thầy Thu dạy toán, nét chữ cứ đều như cấy, và vòng tròn tròn hơn cả com pa. Thầy Thuyết đến lớp và ra lớp làm chuẩn mực cho bác phu trường điểm từng tiếng trống. Thầy Quang dạy văn, và chúng tôi thực sự đã được học văn… Và còn nhiều,nhiều những thầy những cô, trực tiếp hoặc chưa trực tiếp dạy chúng tôi con chữ, song mỗi ánh mắt, mỗi dáng đi cũng là một chấm, một nét vẽ nên cuộc đời chúng tôi hôm nay.

Tôi trở về trường Quế Sơn không vì trôi theo dòng khẩu hiệu “ tiếp tục sự nghiệp trồng người”. Mà tôi đã về, tự nguyện, có thể buồn, có thể vui, mà không thể dửng dưng. Nay đã hai mươi năm rồi tôi sống trong giấc mơ xưa, giấc mơ làm thầy giáo. Mộng đời thật đẹp, mà đời cũng thật gian nan. Có lúc vỗ cánh bay, có lúc đi khập khiễng. Có lúc làm người hào phóng. Cũng có lúc xót xa nhìn ánh mắt vợ con.

Ngày ấy tôi chỉ gặp thầy cô tôi vào những giờ lên lớp, những bữa cơm tập thể của thầy tôi chưa hề biết đến. Chúng tôi tưởng thầy giáo thì khỏi phải ăn. Khu tập thể giáo viên chỉ dành riêng cho những người độc thân, chúng tôi nghĩ thầy giáo thì chẳng cần có vợ. Và tôi đã chiêm ngưỡng ánh hào quang đơn độc và tinh khiết của thầy cô mình như trẻ em thích thú ngắm nhìn các vì sao xa.

Nay tôi đã về lại trường xưa mà khắc khoải làm thầy, nhớ oặn lòng về thầy cô , bè bạn. Thương và nợ những thầy, những cô, những đời thường đã cố hóa thân thành những vì sao xa xcho chúng tôi chiêm ngưỡng. Tôi thực sự hiểu cái giá để được làm thầy. Tôi hiểu, nhà văn thì có quyền chọn cửa để hóa thân- hiện thực hay lãng mạn. Nhà giáo chỉ duy nhất một độc chiêu chân truyền của bổn môn: Làm kiểu người lí tưởng.

Tôi về lại trường xưa làm một người thầy. Giữa bài giảng văn chợt nao nao nhớ về thằng bạn, thằng ấy giờ phiêu bạt phương trời để lại trong lòng tôi câu thơ nhoi nhói:

Cây phượng tương tư nối những hiên trường
Cho bên nớ bên ni cùng tâm sự


Cây phượng già năm xưa vẫn còn đó, khó nhọc với thời gian nhắc tôi nhớ lời thầy tôi thủ thỉ “chỉ cây phượng già hiểu người năm cũ, cứ âm thầm trút nhỏ một mùa thu.”

Tôi lại về trường Quế Sơn gắng gỏi làm thầy, qua đèo Le nhớ mùa sim chín muộn, nhớ con bé miệt mài cắm cúi để lưng đèo còn đọng giọt mồ hôi.

Nhớ ơi là nhớ! Thương ơi là thương!

Cậu học trò năm xưa lại về trên bục giảng. Chập chững làm thầy, khó nhọc làm thầy. Tôi đã dạy các em tôi những điều tôi chưa làm được. Tôi mời các em cùng tôi theo đuổi lí tưởng làm người. Lắm lúc rạng rỡ vui khi có những học trò vượt qua mình mà vươn vai hóa thành Phù Đổng. Thi thoảng buồn khi bạn bè xưa lối hẹn, bỏ cuộc, hoặc đành lòng làm một thứ hoa ôi!

…Rồi sau tôi , còn có cả một thế hệ học trò. Các em sẽ viết tiếp về thầy cô mình ngày ấy. Yêu toán, yêu luôn mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ. Yêu văn, cố nhịn ăn để có vóc dáng hao gầy. Yêu lí, yêu cả những ai thật thà gan góc… Còn yêu, sẽ yêu hơn những thầy, những cô đã khiêm nhường hóa thân cho các em có một ngày mai.

Hai mươi năm kỉ niệm, hai mươi năm làm thầy, với tôi, trường lớp đã là một thứ của riêng, vừa muốn phô phang, vừa muốn âm thầm cất giấu. Nói ra và im lặng. Một thứ ngôn ngữ dở dang. Nhưng tôi vẫn chưa đi hết một đời nhà giáo. Hãy để thời gian viết tiếp những dòng xanh về chốn sinh thành. Và những dòng tâm sự của tôi, ước ao sao hãy cứ là tiếng nói của trẻ thơ vừa rời khỏi vòng nôi- bập bẹ khuyết mòn ý tưởng. Song rất mực chân thành. Như một bài thơ không vần. Mùa tặng mình. Tôi khe khẽ xướng ngâm.


Quế Sơn, Nguyễn Tấn Ái.

Câu hỏi cuối

Chào cả nhà,

NUH Singapore
National University Hospital (Singapore)

Truyện ngắn này đã đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật năm 1997, dưới bút danh Trần Đình.  Cuối bài, thấy đề ngày viết xong là 27.1.1997, như vậy là lúc đó mình đang bị bệnh tại Singapore, đã xuất viện và về nhà viết được. (Thực ra là bây giờ mình không nhớ đã viết lúc nào. Có lẽ lúc đó bệnh dữ quá nên trí nhớ không ghi lại tốt).

Tuổi Trẻ đăng bài này sau đó một thời gian ngắn, có lẽ tháng 2 năm 1997.

Gọi là truyện ngắn, nhưng tất cả đều là chuyện thật, ngoại trừ chữ “h” đã được đổi thành chữ “g”.

Chia sẻ tâm sự với cả nhà.

Hoành

.

Câu Hỏi Cuối

    Truyên ngắn Trần Đình

Lúc Minh Hải mới học lớp năm trường Thánh Tô Ma nhà thờ Ba Chuông trên Trương Minh K‎ý mà ngày nay gọi là Lê Văn Sỹ, Hoàng đã để ‎ý đến cô bé. Hai nhà chỉ cách nhau một con hẻm trong Cư Xá Kiến Thiết; hai bà mẹ thân nhau. Lần đầu tiên thấy cô bé, xinh và rất thông minh, cậu bé lớp chín Thánh Tô Ma đã thầm hứa là sẽ đợi vài năm, đến khi cô bé lớn hơn cậu sẽ cặp bồ.

truongSaintThomas
Trường Saint Thomas - ngày nay là Trường THPT Phú Nhuận

Mấy năm sau đó cậu bé Hoàng bận rộn với những cô bạn gái. Hai bà mẹ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau và thỉnh thoảng Hoàng vẫn có một tí tin về Minh Hải qua mẹ. Cô bé càng ngày càng đẹp và càng nổi tiếng thông minh. Dù học cùng trường nhưng Hoàng học buổi sáng, Minh Hải học buổi chiều, nên chẳng gặp nhau. Năm Hoàng lên lớp mười hai, cả đám con trai lớp Hoàng và hàng tá các lớp dưới xoay quanh Minh Hải. Cô bé bây giờ đã lên lớp tám, đổi sang buổi sáng, và trở thành người con gái đắt giá nhất trường. Nhìn đoàn con trai bủa vây Minh Hải, Hoàng tự nhủ thầm bây giờ thì mình cũng chỉ có thể là một con ruồi bám theo đĩa mật như đàn ruồi này thôi, chẳng nghĩa lý gì cả. Đành đứng xa nhìn cô bé cười rạng rỡ giữa đám con trai và tiêng tiếc sự khám phá thuở xưa.
ao-dai-trang-04-2
Khoảng hai năm sau nhà Minh Hải dời về Thủ Đức; Hoàng không còn nghe mấy về cô bé. Năm thứ ba luật khoa, nhân dịp theo Phê về nhà Phê ở Tân Uyên, Hoàng ghé qua Thủ Đức hỏi đường thăm Minh Hải. Nhà nàng ở trên đường vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức quanh co vài con hẻm. Hàng hiên trước nhà bày bán tạp hóa lặt vặt, nước ngọt, thuốc lá, xì dầu, bánh kẹo. Mấy đứa em nàng quấn qu‎ýt bên Hoàng. Nàng đang học lớp mười một ở Đức Minh, nhưng đã trở thành một nhà văn trẻ thường xuyên trên báo Sóng Thần. Bọn con trai ở Sài Gòn đã không theo nàng về Thủ Đức. Hoàng đến thăm Minh Hải hàng tuần. Mẹ Minh Hải có vẻ mến Hoàng. “Có gì thì cũng đợi học hành xong đã nghe con,” bà nói. Hoàng đã dạ dạ gật gầu và trong lòng đã rất vui. Thỉnh thoảng Hoàng lại gởi Minh Hải thêm một lá thơ giữa những ngày về thăm. Lá thơ đầu tiên chàng gởi, Minh Hải đã thuộc lòng và Hoàng đã rộn ràng ngạc nhiên khi nghe nàng đọc lại tờ thơ không sót một chữ.

Lâu lâu Hoàng lại rủ Minh Hải nghỉ học đi chơi. Lần đầu tiên vào Hầm Gió gần Ngã Bảy, Minh Hải đã tựa sát vai Hoàng và nhờ đó chàng đã có đủ can đảm để thám hiểm một nụ hôn. Cho đến lúc bấy giờ Hoàng vẫn chưa biết hôn thế nào cả; chỉ thấy người ta kề môi nhau trong xi nê, vậy thôi. Hoàng đã phân vân rất lâu trong quán cà phê mờ ảo, chỉ sợ chạm môi nhau xong không biết phải làm gì, lại rút về thì ngượng chết được. Cuối cùng đành đánh bạo “Đến đâu hay đến đó,” kéo sát Minh Hải vào lòng và đặt môi chàng lên môi Minh Hải. Rất may là Minh Hải đã hôn rất nhanh, rất sâu và rất nóng. Hoàng học được hôn nhau từ đấy và trong lòng thầm cám ơn thầy Minh Hải.
holdinghands
Những quán cà phê ngoài xa lộ Biên Hòa, vắng lặng riêng tư, nhìn ra cánh đồng trống vắng, trở thành quen thuộc. Những buổi hẹn hò đi xa hơn thế giới văn chương thuở trước của Henry Miller, Albert Camus, Calih Gibran, đến những vòng tay chặt, những nụ hôn sâu, những ve vuốt nồng nàn và những giấc mơ thầm kín. Minh Hải mơ ngày sau sẽ tham dự chính trường, sẽ thành dân biểu, sẽ đóng góp vào việc lãnh đạo quốc gia. Nàng mơ ngày đàn bà con gái thực sự ngang hàng với đàn ông và người phụ nữ không còn bị gọi là phái yếu. Hoàng đã lắng nghe những giấc mơ của nàng và đã tin là mình thực sự yêu nàng, yêu ồ ạt và nồng nhiệt. Đã có lần Hoàng rủ Minh Hải đứng hôn nhau khoảng nửa tiếng đồng hồ trước cổng trường Đức Minh giờ tan học, Minh Hải đã cười, “Nếu anh dám làm thì em dám làm,” và đến giờ chót thì chính Hoàng đã rét. Một lần khác chở nhau về Sài Gòn, Hoàng đã quay ra sau hỏi, “Em có bằng lòng vào khách sạn với anh không?” Minh Hải đã nói, “Anh đưa em vào đâu em cũng vào hết,” và Hoàng đã không dám vào vì tự xét là chưa đủ khả năng đảm nhận hậu quả. Dù vậy, những cái gật đầu không cân nhắc của Minh Hải vẫn làm Hoàng thấy cái gì đó thật ấm và thật đẹp—lòng tin nẩy mầm giữa tình yêu như nhụy vàng lung linh giữa những cánh hoa nhung trắng.
aodainonla
Nhưng một ngày nào đó, bỗng nhiên Hoàng không còn thiết tha gì đến Minh Hải nữa. Đám hoa quỳ rực lửa hôm qua bỗng nhiên gục héo. Không một lý do. Hoàng cũng chẳng biết tại sao. Chỉ biết là tất cả mọi rung cảm bỗng nhiên bị cắt, như chiếc máy hát bị cúp điện nửa chừng. Chàng ngưng thăm, ngưng viết thơ, ngưng liên lạc mà không một lời giải thích, không một câu xin lỗi. Những lá thơ của Minh Hải đã không được hồi âm. Đã một lần chàng viết thơ trả lời, nhưng thực sự là chỉ viết nhăng viết cuội mà chẳng có tí trả lời nào cho câu hỏi “Sao lâu quá anh không về thăm nhà mẹ?” Nhiều năm sau Hoàng vẫn thắc mắc về hiện tượng đó và vẫn chưa bao giờ tìm được câu trả lời chắc chắn. Khoảng 15 năm sau, khi Hoàng đã trưởng thành và đã khiêm tốn hơn xưa rất nhiều, chàng đã nghĩ có lẽ lúc đó chàng sợ. Minh Hải rất thông minh, rất mạnh mẽ, và rất nhiều mộng lớn. Một người con gái như vậy luôn luôn là cái gì đó đe dọa tự ái, tính kiêu căng và máu gia trưởng của đám đàn ông. Dù Hoàng thuở ấy nghĩ là mình rất tự tin, có lẽ chàng chưa đủ tự tin để chỉ yêu mà không thấy bị đe dọa, sợ hãi. Có lẽ là nỗi sợ hãi đã bùng lên trong tiềm thức như những vùng cỏ dại, vươn cao, vươn rộng, vươn dài, che tối cả vùng tâm thức, và chỉ trong một đêm bóp nghẹt được tất cả những xúc cảm yêu ái trước đây, đồng thời ép được ‎ý thức tạo nên khoảng cách phòng thủ. Đằng nào đi nữa thì hậu quả là Hoàng tự lánh xa hay chạy trốn Minh Hải.

Vài tháng sau đó, Minh Hải về Sài Gòn học mười hai ở Văn Học, cùng trường với Hà, em gái Hoàng. Hoàng hay đến trường đón em mỗi chiều và thỉnh thoảng lại gặp Minh Hải. Mỗi lần gặp nhau nói chuyện vài ba câu. Minh Hải luôn luôn hỏi tại sao anh không còn muốn gặp em nữa. Anh có bạn gái khác phải không? Không. Anh hết yêu em rồi phải không? Không. Thế thì tại sao? Anh không biết. Anh không đáng với em. Quên anh đi. Nói nhăng nói cuội. Chẳng đâu vào đâu cả. Rồi lại chào nhau đi. Lần cuối cùng gặp nhau, Minh Hải đã hỏi Hoàng một câu, và chính câu hỏi này đã theo đuổi châm chích Hoàng nhức nhối cả hai mươi năm sau.
goodbye
Đó là một buổi chiều nắng nhẹ. Hoàng đến Văn Học đón Hà như thường lệ. Nhìn sang bên kia đường, Minh Hải, áo dài trắng, nón lá, đang đứng đợi chuyến xe đò Sài Gòn – Thủ Đức. Hoàng mỉm cười, gật đầu chào, và vòng xe sang đường. Minh Hải đã im lặng nhìn chàng rất lâu, rồi nói chầm chậm từng chữ một, “Tại sao anh cứ cố tình đẩy em ra khỏi cuộc đời của anh vậy?” Hoàng nghe chới với. Câu hỏi chầm chậm rót vào tim nhói buốt như những hạt chì nóng lỏng nhỏ xì xèo trên những cơ tim đỏ hỏn. Trời chiều xám và buồn vô hạn. Một luồng điện chạy ồ ạt từ thắt lưng theo xương sống lên tận đỉnh đầu. Hoàng rùng mình lành lạnh. Chàng nghe như nước mắt đang ứa ra ngoài. Cắn môi thật chặt. Nhìn đăm đăm xuống vệ đường. Hàng rào phòng thủ sụp đổ. Hoàng định bảo Minh Hải lên xe chở nhau đi đâu đó một vòng, và như vậy nghĩa là đường xưa nối lại. Nhưng Hoàng còn ấp a ấp úng thì chiếc xe đò Sài Gòn Thủ Đức đã đỗ lại bên đường. Minh Hải chạy đuổi theo xe, bước lên. Hoàng lặng lẽ nhìn theo. “Thôi,” chàng chắt lưỡi. Đó là lần cuối Hoàng gặp Minh Hải. Hai mươi năm sau, hình ảnh người con gái, vạt áo dài trắng lồng lộng gió, hấp tấp lao vào đám bụi mờ của chiếc xe đò, vẫn rõ ràng trong tâm thức như mới hôm qua.

Chẳng mấy chốc sau đó thời cuộc đưa Hoàng qua tận Mỹ. Đời sống mới sầu thảm và nhiều gian khổ. Nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ em, lo ăn, lo ở, lo học hành, lo phấn đấu với xã hội mới. Con cá nước ngọt bị bỏ biển đông. Ngụp lặn trong muối rát. Dần dần rồi cũng quen đi. Hoàng lập gia đình. Thời gian vượt rất nhanh khi người ta phải quần quật lo lắng mỗi ngày. Nhưng rất nhiều khi Hoàng nhớ Minh Hải, và mỗi lần như vậy câu hỏi cuối cùng của nàng văng vẳng châm chích buồng tim. Từng mũi kim xuyên nhức nhối.

WashingtonDC-The Mall
The Mall

Bao nhiêu năm Hoàng chẳng nghe gì về Minh Hải. Đầu thập niên 80 Hoàng về Hoa Thịnh Đốn làm việc. Văn phòng của chàng nằm trên đại lộ Pennsylvania. Sau lưng, phía bên kia đường Hiến Pháp là Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Quốc Gia và công viên cỏ non xanh mịn trải dài giữa Quốc Hội và Tòa Nhà Trắng mà dân địa phương gọi là The Mall, với một dọc mười mấy viện bảo tàng và một loạt văn phòng chính phủ cổ kính uy nghi. The Mall là trung tâm du lịch của thủ đô. Vào mùa hè du khách từ khắp nơi trên thế giới đổ về Hoa Thịnh Đốn, đi lại ngang dọc tràn ngập The Mall. Vào những giờ nghỉ trưa, Hoàng hay đi một mình dọc The Mall, dưới những tàn cây rộng, cạnh những đàn bồ câu hiền lành trên thảm cỏ xanh, luôn luôn mang cảm giác lạc lõng, cảm giác buồn buồn của những người xa xứ, luôn luôn nhìn đăm đăm vào mặt những người phụ nữ có vẻ Á Đông, tìm Minh Hải. Trong lòng chàng vẫn mải ôm tia hy vọng lạ lùng là nếu Minh Hải đang ở đâu đó trên thế giới, biết đâu nàng lại chẳng đến Hoa Thịnh Đốn thăm viếng The Mall.
Vietnam-Memorial-Wall
Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh (Phục Vụ Tại) Việt Nam

Những ngày trời buông mây xám, không muốn về làm việc sớm, Hoàng lại thả bộ qua Tòa Nhà Trắng đến tận cuối The Mall, thăm đài tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam. Bức tường đá hoa cương chữ V dưới lòng đất, trang nghiêm, âm thầm, sầu thảm. Một mảng V đen lớn chồng thêm trên những bóng tối cuộc đời. Vòng trở lại sở, những bước chân chầm chậm, câu hỏi cuối cùng của Minh Hải luôn luôn châm chích, khiêu khích, bỡn cợt trên những dải nắng mưa. Cái cảm giác có tội hoài đeo đuổi. Hoàng chẳng biết tội gì. Nhưng bóng áo dài trắng lồng lộng buổi chiều xa xưa đó vẫn hoài quấn xiết đeo đuổi như những mảng mây mồ côi giữa nắng chiều bàng bạc theo bóng người ta trên mọi nẻo đường đời. Thỉnh thoảng Hoàng mua được một tờ báo từ trong nước gởi ra, chàng liếc nhanh qua tên các tác giả, hy vọng là tìm được nàng trong số những người viết lách. Đầu thập niên 80 Hoàng có dịp gặp anh tổng biên tập cũ của báo Sóng Thần ở Virnigia. Anh ấy bảo là có biết Minh Hải nhưng chẳng hề có tin tức gì về nàng từ dạo anh đi cải tạo nhiều năm về trước. Những buổi trưa của Hoàng trong gần hơn một thập niên vẫn là những bước âm thầm và những đôi mắt kiếm tìm dọc The Mall.
cà phê võng
Những năm đầu thập niên 90 Hoàng thỉnh thoảng về lại cố hương công tác, nhưng không có dịp hỏi thăm tin tức Minh Hải. Năm 1996 trở lại Sài Gòn, cùng cậu em chở nhau lên Thủ Đức. Cảnh vật đã đổi. Người ta xây cất thêm khá nhiều. Hoàng không còn nhận ra con hẻm cũ. Vào hàng chục con hẻm hỏi thăm, chẳng ai biết gì về Minh Hải.

Hai anh em trở ra xa lộ, nằm võng, uống cà phê. Những chiếc xe chạy qua, những tiếng máy ập gần mờ xa. Những đám mây trắng buông ngang những vòm bạch đàn tha thướt. Câu hỏi cuối cùng của Minh Hải vẫn châm chích trong lồng ngực và văng vẳng trên những tầng mây trắng. “Tại sao anh cứ cố tình đẩy em ra khỏi cuộc đời của anh vậy?”
sky
Một ngày nào đó, nếu gặp lại, Hoàng sẽ kể cho nàng nghe những tìm kiếm trong suốt hai mươi năm. Và chàng sẽ nói, chàng vẫn không có câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng buồn thảm ấy.

Trần Đình
Singapore, 17 tháng 1, 1997

Phụ chú:

* Cậu em ở cuối truyện là Hùng. Lan, em gái của Hùng, là thím của Đặng Nguyễn Đông Vy. Hùng là cậu em mình thương nhất trong tất cả cậu em ở Sài Gòn. Mình có hứa là sẽ cố gắng lo cho Hùng nhiều điều. Nhưng lần gặp nhau trong truyện là lần cuối. Khoảng năm 2000 hay 2001 gì đó, Hùng qua đời vì bệnh. Coi như lời hứa không làm được, lại cũng vì thời thế.

* Nhà Thờ Ba Chuông đã được sửa chữa với kiến trúc Á Đông đặc sắc, hoàn thành năm 2008. Xin xem bài dưới đây.

Danh Xưng Giáo Xứ

Thứ hai, 12 Tháng 1 2009 09:44

Danh Xưng Giáo xứ Đaminh – Ba Chuông

“Nhà thờ Ba Chuông”, một tên gọi gần gũi, bình dị nơi cửa miệng dân gian, nhưng đã gợi lên thắc mắc cho nhiều người về nguồn gốc và ý nghĩa lịch sử.

Giáo xứ Đaminh – Ba Chuông ngày nay tọa lạc tại số 190 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận, do các Linh mục Dòng Đaminh sáng lập. Dòng Đaminh Việt Nam đã đến đây từ năm 1957. Các tu sĩ xây dựng tu viện thánh Albêtô năm 1959 và mở trường trung tiểu học Thánh Thomas.

nhathobachuong1
Toàn cảnh Tu Viện - Đài Đức Mẹ Apollo - Nhà Thờ

Sau dịp long trọng mừng “bách chu niên” bốn chân phước Tử Đạo Hải Dương (1861-1961), tu viện đã tiến hành xây dựng một Đền Thánh dâng kính các Ngài, được khánh thành vào ngày 5-10-1962.

Ngày 24.06.1967, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ký quyết định chính thức thành lập giáo xứ mới với danh xưng Thánh Đaminh, Đấng sáng lập Dòng của các tu sĩ phục vụ tại đây. Bổn Mạng giáo xứ : Thánh Đaminh, Lễ kính 08.08.

Nhà thờ đầu tiên của giáo xứ chính là “Đền Thánh” trên, có kiến trúc khá độc đáo, với nhiều nét cong uyển chuyển mềm mại. Nhà thờ hình thánh giá với hành lang rộng và hàng hiên gợn sóng. Nhà thờ dài 50 mét, rộng 18 mét, hai tay thánh giá 25 mét, theo thiết kế của kiến trúc sư Võ Văn Tần. Mặt tiền hình quả chuông úp, với cuốn sách mở trên có chữ Veritas, nghĩa là chân lý, thánh giá và các nhành thiên tuế tử đạo.

nhathobachuong2

Nhưng ấn tượng nhất với mọi người là tháp chuông ba khía mầu đỏ sẫm, cao 14 mét, được xây tách biệt về phía cổng nhà thờ. Dáng tháp chuông thon thả, phía trên nở ra như một bông huệ, khoe cho mọi người thấy ba quả chuông. Phía trên cùng có quả địa cầu cách điệu, gồm những đường kinh tuyến và vĩ tuyến, đôi khi được thắp điện sáng ngời. Có lẽ chính vì thế mà nhà thờ được dân gian đặt cho một tên gọi mới là “Nhà thờ Ba Chuông”.

nhathobachuong3

Cho đến hôm nay đã gần nửa thế kỷ, “Nhà thờ Ba Chuông” trở thành một danh xưng phổ biến và quen thuộc với nhiều người. Có những cuốn Agenda còn giới thiệu với khách du lịch về nhà thờ “Three Bells” như một địa chỉ để tham quan.

Dần dà “Nhà thờ Ba Chuông” bỗng trở thành một tên riêng, dù nhiều nhà thờ khác cũng có đủ ba quả chuông. Ghép tên gọi của giáo xứ và danh xưng dân gian trên ta có Nhà thờ Đaminh – Ba Chuông.

nhathobachuong4
Noel 2008


Tôi vô hình hay con người vô tình? Một câu chuyện giữa góc kẹt của thời gian. Thế thôi!

Chào các bạn,

Bài văn dưới đây của Hạnh Nguyên thì chắc là không đi thi được, vì người đọc chẳng hiểu hết được nó, hoặc chẳng hiểu tí nào. Chính mình cũng chẳng hiểu được nhiều, chỉ suy đoán thôi.

Tuy nhiên mình thấy đoản văn toàn ẩn ngữ này có sức thu hút rất mạnh của một bức tranh siêu thực, mà người xem có thể thấy được cảm xúc mãnh liêt, kéo mình vào bức tranh, mặc dù không thế nói chính xác là bức tranh vẽ gì.

Mình post bài này lên như là một thí nghiệm, nhờ các bạn cho phản ứng trung thực thế nào. Thành thât nhé. Nếu đa số các bạn cho điểm âm thì cả hai chú cháu mình cùng sai. Nếu đa số các bạn cho điểm 10 thì hai chú cháu sẽ có dịp đi ăn kem.

Các bạn đọc và phản hồi nhé.

Cám on mọi người trước.

Hoành

.

“Tôi vô hình hay con người vô tình? Một câu chuyện giữa góc kẹt của thời gian. Thế thôi!”

Nó lao ra khỏi nhà với đôi mắt ướt sũng, chỉ kịp nghe thấy tiếng kêu đói thảm thương của lũ mèo con. “Xin lỗi… tau hok thể” – Đôi mắt nó chỉ kịp ánh lên điều cuối cùng trước khi rơi vào khoảng không gian như đang o bế trước mặt. Vô hồn.
abstract art 1
Bầu trời chùng xuống, những sắc cam rực rỡ cũng không làm vực dậy nổi đôi bờ mi nhắm nghiền của nó.. Nó chờ cho đến lúc đôi mắt xám kiệt sức, gục xuống, cắm mình vào màu đỏ ngập ngụa bóng hoàng hôn. Những chiếc lá lảo đảo, rơi xiên xiên như bị kiệt sức… rồi cắm xuống đất thở phào. Kết thúc một đời xanh. Đôi vai nó run lên bần bật giữa những cơn gió xoắn chiếu nhau, lạnh cóng. Gió lạnh hay lòng người nguội lạnh. Bất thần rồi chợt tan chảy theo cái nhìn xa xăm. Nó lặng lẽ cúi mình thấp xuống, thấp đến nổi nó muốn hoá thành những bông cầu gai, lăn mãi, lăn mãi xuống chân đê, tấp vào dòng nước lạnh giá hoặc may mắn hơn, nương nhờ đất mẹ… rồi con của chúng cũng lại lăn tiếp… lăn về với nước. Như loại ếch… không sao thoát nổi kiếp sống hai mang.

Ba- người nó luôn kính trọng, thần tượng, sẽ phải chấn dứt trong chiếc vòng số tám. Số tám xoay đều… đối xứng. Số tám ám ảnh trong những cơn mộng mị… Ngay cả trong những cơn mơ, bình yên cũng không về bên nó. Những giấc mơ mang tên Ba: Nó sợ hãi và ngồi đó, miệng muốn hét lên nhưng không được, tê dại. Trơ đôi mắt ngơ ngác của một con mèo con nhìn chiếc xe đen vút đi… vút đi… mang theo ba nó, mang theo cả hy vọng của nó.

Một trận gió vụt qua, rát bỏng như một cái tát. Cả rừng lá dưới chân nó lao xao, lồng lộn, tách khỏi mặt đất, búng mình suốt mặt hồ tạo thành những khoanh tròn cứ lan rộng… rộng mãi.

Mỗi chiếc lá là một mảnh vỡ, trải trên đất thành từng mảng, từng mảnh thứ màu đỏ cay nhức nhối và ràn rụa trong buổi chiều thu.

*      *      *

*

Lá rơi.

Thời gian trôi.

Con chim sẻ trú đông rách tiếng hót

“Tôi đã ở đây bao lâu rồi?”
“Rất lâu! À không, đủ lâu…”

Phải, tôi đã ở đây đủ lâu để chứng kiến một câu chuyện. Một câu chuyện trong hốc kẹt của không gian và thời gian.

Câu chuyện về những cây bút chì được gọt tỉa kĩ càng trong đêm khuya, rồi lại được xếp kĩ càng vào những ngăn kéo như che đậy một điều gì đó. Đôi mắt bất thần nhìn vào bức tường nhắng nhịt những vết cào xước trước mặt, tim nó nhói lên những cảm xúc kì quặc quen thuộc. Sao lại là quen thuộc? Bởi đêm nào cũng thế, vẫn là những cảm xúc đó… dào dạt và bất tận. Căn phòng vốn trống trải đột nhiên trở lên chật chội. Nỗi buồn ở khắp mọi nơi, thấm vào trong hơi thở và vào cả những thứ vô hình đang hiện hữu nơi đây, như tôi. Bàn tay nó chảy ra thứ màu quen thuộc, bàn tay siết mạnh vào lưỡi dao như đang bóp nghẹt tất cả. Đau buốt, nó giật mình ném con dao ra khỏi con tay nhầy nhụa máu. Nó lại lao vào phòng tắm, cố gắng rửa sạch đi cái màu tanh bẩn trước khi mẹ thấy. Nó vớt nước lên mặt cho đến khi không còn nhận ra đâu là nước mắt. Nó nhợt nhạt soi mình vào gương. Nó cười điên dại nén nước mắt, máu vẫn chưa chưa chịu ngưng, đỏ úa. Nó nhếch nhát từng bước về phía tủ, cố lôi lên những gói bông trắng muốt và băng bó, nó làm công việc này một cách vô thức. Quá quen!

“Một người đàn ông cũ kĩ dắt một con chó trắng đến đây, đến khoảng không gian này, khoảng không gian giữa những cây lá đỏ của một công viên. Một ông già với râu tóc bạc phơ, bạc theo màu da nhăn nhúm, một con người cổ kính mang theo một con chó đến vùng trống ngập ngụa sắc đỏ của lá và hoàng hôn rồi cột nó vào một gốc cây nào đó.

Lão đến.

Lão cột.

Cuối cùng, lão đi, bỏ lại sau lưng con chó và một vùng màu đỏ thẫm.”

erosion
Một giấc mơ kì lạ. Nó lẩm nhẩm điều gì đó nghe không rõ và lại mơ. Tôi ở đấy, trong giấc mơ. Nó bừng tỉnh. Nó đưa đôi mắt nhìn tôi hãi hùng nhưng cũng đầy mê hoặc. Nó chạm nhẹ, xuyên những ngón tay. Thảng thốt, nó nhìn tôi định thần hơn. Nó cười:

–         Tôi lại mơ thấy bạn?

–         Tớ là ma. Bạn có sợ ma không?

–         Chỉ có ma sợ người thôi. – Vô thức nó trả lời

“Chỉ có ma sợ người” – tôi thấy thích câu này… Đúng!  Tôi sợ… những con người vô hình… trong cuộc sống thực. Tôi sợ nó.

–         Và bạn ở đây theo dõi tôi. – Nó nói như thấy có ai nhún hộ vai mình.

–         Không… bạn theo dõi tớ.

–         Tôi không hiểu. Tại sao tôi lại theo dõi bạn, tôi không biết bạn? Tại sao tôi lại mơ thấy bạn, tại sao bạn lại cho tôi thấy con chó trắng. Bạn vô tình quá chăng? – Ánh mắt nó đột nhiên quắt lên màu giận giữ.

–         Tớ không vô tình… tớ chỉ vô hình thôi. Cậu không vô hình… nhưng cậu vô tình. Tớ là một phần tìm kiếm của cậu. Chúng ta theo dõi lẫn nhau. Vì chúng ta tìm kiếm nhau. Con chó là ai? lão là ai? Là giấc mơ. Tại sao bị cột? vì lão muốn nó tự thoát ra và xoay chuyển cuộc sống phụ thuộc. Lão đại diện cho ai? Cho số phận. Con chó là ai? Tớ nghĩ cậu biết.

Nó nhìn sững sờ vào tôi, những lời nói trong suốt tan vào thinh không nhưng lại vang vọng vào lòng nó. Con chó là nó. Và nó đang vô tình trong cuộc sống. Tôi lại vô hình! Thế là đủ. Ngóp nghét trong những giấc mộng thực và ảo của nó thế là đủ. Tôi cần phải đi. Những con người vô tình sắp tan biến.

Bản Promise vang lên trong căn phòng. Lời hứa với ba được thực hiện. Những ngón tay lướt nhẹ trên cây dương cầm phát ra thứ âm thanh trong suốt, vút lên, xé toạt những sầu bi, những oán hận trong căn nhà. Những lời nói giả dối mang đầy hương tiền bạc bị cuốn phăng ra khỏi óc, để lại hình ảnh ba nó ôm con hiền lành yên bình. Mẹ sững sỡ nhìn nó từ khung cửa sổ, giọt nước mắt khô khốc lăn trên khuôn mặt gầy mòn. Tóc nó xoã nhẹ tung bay trong bình minh

Một chiếc lá khẽ đu mình vọt vào khoảng không bất tận. Tiếng hót bị rách của con chim sâu vút lên. Trong trẻo lạ kì.

Phan Nguyên

Thả Diều

dieu len
Hôm nay, đuợc gió, con diều của thằng Đạt bay lên thật nhanh. Cả sáng hôm nay, Nó cứ lom khom bò trên sàn nhà làm con diều bằng giấy báo. Nó nhất định phải làm con diều có bốn đuôi dài hơn con diều bị rớt mất hôm qua. Nó xin được cuộn dây cước câu cá thay cho cuộn giây chỉ dễ đứt, nhất định con diều bằng báo này sẽ bay cao nhất thành phố Quy Nhơn hay ít ra phải bay cao hơn diều của mấy đứa hàng xóm.

Thả diều là một nguồn vui của các đứa bé tỉnh lỵ, nhất là ở cái thành phố ven biển này. Sau khi diều đã bay cao, thằng Đạt không giống mấy đứa bạn khác là cho diều lượn hay chạy diều dọc biển với đám bạn. Nó thả diều trên nóc nhà, khi diều đã bay hết cuộn dây cước, nó sẽ cột dây diều vào ngón chân rồi nằm dài trên mái nhà đọc sách, thỉnh thoảng nhìn con diều đang bay trên cao mà mơ mộng….
dieuxua
… Nó mơ bay qua những tầng mây, nó bay đi xa khỏi thành phố, nó vượt trùng dương, bay qua sa mạc nơi của chuyện 1001 đêm.

Nó muốn bay mãi, bay đến cung Trăng chơi bắn bi với chú Cuội. Nó muốn có một cuộn dây cước thật là dài để nó bay xa, thật xa.

…Đã qua bao ngày tháng, qua hơn 28 mùa Hè, con diều của nó đã đi xa, thật xa, con diều thằng Đạt rớt bên kia Thái Bình Dương.Con diều đã thấy vừa đủ của sự vật chung quanh. Nó không còn ao ước mơ mộng khi đã đến được xứ Aladin, đến thành phố của Chopin, rồi con sông Siene… nó đã đến xứ của chú chuột Disney và thành phố của những ngôi sao màn bạc Hollywood..
motgocQuyNhon_
… Bây giờ nó không còn muốn bay xa, bay cao nữa. Nó muốn bay thật gần với ngọn me, trên đầu cây Phượng, bay thật thấp để được trôi theo những làn sóng nhẹ nhàng êm đềm của biển Quy Nhơn, bay thật thấp để được mơn man những ngọn cỏ đồng quê ở hai bên bờ sông Ba, bay thật thấp đến những gánh hàng rong…rất Việt Nam


Phạm Lưu Đạt

Chợ Phiên Cán Cấu

Những ai đã từng có cơ hội đặt chân lên mảnh đất Lào Cai, đã từng có cơ hội được tham dự những phiên chợ vùng cao, đều đọng lại trong tâm trí những kỷ niệm không thể quên về những phiên chợ họp trên núi.
cancau1
Chợ Cán Cấu là một trong những phiên chợ như thế, mới nghe cái tên thôi cũng đã hứa hẹn cho chúng ta nhiều điều thú vị. Cái tên thật lạ. Hỏi vì sao lại có tên gọi là Cán Cấu thì có người giải thích rằng : “Cán Cấu có nghĩa là vừa cắn vừa cấu”

Chợ phiên Cán Cấu thuộc địa phận xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Cách thành phố Lào Cai gần 100km, cách thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà gần 30km. Từ thành phố Lào Cai, xuôi theo quốc lộ 4D, du khách sẽ đến xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng.Tiếp tục xuôi theo tỉnh lộ 153, qua trị trấn Bắc Hà, du khách sẽ đến được với phiên chợ đặc biệt, phiên chợ Cán Cấu.

Khi những làn sương đêm vẫn còn đọng lại trên sườn núi, khi nhưng tia nắng đầu tiên vừa le lói, thì người dân tộc từ các buôn làng đã rủ nhau cùng tới chợ.
cancau2
Con đường lên núi thơ mộng trong vạt nắng vàng rực rỡ, ẩn hiện trong màn mây trắng, hôm nay dường như lại càng đẹp hơn, rộn rã hơn bởi sắc mầu của muôn vàn chiếc váy xòe hoa dập dìu.

Bạn có thể đi bộ, leo núi như những người dân bản xứ để lên chợ, hoặc đôi chân bạn chưa đủ dẻo dai để vượt dốc, thì lúc này xe ôm là phương tiện hữu hiệu nhất. Với tốc độ như bay, chỉ trong vòng 20 phút, bạn sẽ được các “xế ôm” đưa tới chợ Cán Cấu. Chợ họp vào mỗi thứ bảy hàng tuần. Chợ họp trên ngọn đồi thoai thoải cạnh đường xe. Lán trại sơ sài mang tính hoang dã của núi rừng.

Một phiên chợ hoàn toàn của người dân tộc, mang nhiều nét văn hóa của các dân tộc Mông Đen, Mông Đỏ, Mông Hoa, Giao, Tày…Người bản xứ thường đi bộ hoặc thồ hàng bằng ngựa. Họ mang tới chợ những đặc sản của dân tộc mình, hàng dệt thổ cẩm, nông sản, gia súc…Chợ phiên là nơi mọi người có thể mua và bán đủ các thứ mà không cần phải xếp loại hay theo khuôn mẫu nào. cac cau 3Bạn sẽ dễ dàng tìm được những món quà lưu niệm nhỏ xinh bằng chất liệu thổ cẩm được làm thủ công. Nếu bạn thích, bạn có thể sắm sanh cho mình một vài chiếc váy rực rỡ sắc màu, mang về xuôi làm điệu cùng bạn bè, rất độc đáo.

Chợ không chỉ là nơi bày bán hàng hóa, đó còn là nơi hẹn hò của các đôi nam thanh nữ tú. Là nơi những cô thiếu nữ dân tộc xinh xắn tìm cho mình người thương. Những cô gái miền sơn cước mang một nép đẹp rất riêng, rất lạ. Nắng hanh hanh làm ửng hồng đôi mà càng tăng thêm phần duyên dáng của họ.
cancau4
Mỗi cô đều mang một vẻ đặc trưng của dân tộc mình, tạo nên những sắc màu của phiên chợ vùng cao.

Bạn có biết đây là gì không? Đó là xôi tím, món ăn đặc sản của chợ phiên Cán Cấu. Xôi được nấu từ một loại gạo đặc biệt của người dân tộc nên có màu tím. Ăn rất ngon và thơm. Nếu đã đi chợ Cán Cấu mà không ăn xôi tím thì bạn mới chỉ được thưởng thức một nửa hương vị Cán Cấu mà thôi.
xoitim

Đến với chợ phiên Cán Cấu, ngoài việc mua bán, trao đổi hàng hóa, người Mông nơi đây và du khách phương xa còn có mục đích giao lưu văn hóa, gặp gỡ, tâm tình. Những chàng trai cô gái gương mặt hồ hởi, tạo nên không khí vưi tươi như ngày hội. Phiên chợ kết thúc, mọi người cùng ra về trong sự tiếc nuối, sự ước mong cho thời gian qua mau để lại được gặp nhau ở phiên chợ lần sau.

Đứng dưới chân núi và phóng tầm nhìn lên cao, chợ Cán Cấu giống như những bậc thang rực rỡ bởi váy áo và hàng hóa của bà con dân tộc. Nhìn từ trên cao xuống, lại thấy chợ như những bông hoa ngũ sắc, nằm lọt giữa những ngọn núi hùng vĩ của xứ Si Ma Cai. Khung cảnh ở Cán Cấu từ bao năm nay vẫn giữ nguyên được dáng vẻ hoang sơ trong trẻo vốn có. Nét hoang sơ đó cũng chính là sức hấp dẫn khó cưỡng đối với ai yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc Việt Nam.

Nguyễn Thanh Mai ( Leo_pretty)
11 -2009

Hố Hụi Hò Khoan

Hố hụi hò khoan
Khoan anh chưa vợ, khoan em chưa chồng…

Xưa mỗi lần nghe ới lên như thế thì trai gái lục tục kéo đến đình làng…
Tôi thường nghe sách vở nói thế.
Hokhoan
Các cụ bảo: Toàn nói tầm phơ! Xưa làm gì có nhà văn hóa như bây giờ. Mà kéo đến đình làng để làm gì kia chứ?

Các ông tiên chỉ kéo đến đình làng là để chia phần cái thủ lợn, đôi móng giò kì thanh minh, giỗ chạp. Còn thường dân áo vá cũng chỉ đến đình mỗi khi nợ thuế đinh, trộm gà bẻ bí bị tóm, hay không chồng mà chửa, nhất nhất không vui. Trai gái chỉ ới với nhau kì gặt lúa ba trăng, kì hái đậu phụng hay giã vôi làm nhà, róc mía … Mà cũng ở bờ bãi ruộng đồng hay sân vườn ai đó. Mà cũng chỉ những đứa chưa chồng chưa vợ, đi hoang cho nó vui, đỡ cái cực cày cực cuốc, cực nắng cực mưa, thế thôi. Mà toàn là mặt mẹt với đực rựa, tha hồ mà trái khoáy.

Mà đúng là trai trống gái tơ, lời ý cứ xáp vô nhau, tình tứ thì nên vợ nên chồng, choảng nhau thì đớ lưỡi rát mặt.
Này là đàn chị ra roi dạy đàn em chơi trồi:

Đời chi quái lạ làm sao
Gà chưa cứng cựa đòi vô cửa trường

Gặp đàn em ớt chuột mà cay:

Đừng chê anh nhỏ anh rầu
Chớ con ong kia mấy lớn mà đú trái bầu cù queo!

Này em hát khó hòng loại đàn anh ra khỏi sới hát:

Gặp anh qua hỏi anh đây
Chớ trời không thắt gióng kéo mây làm gì?

Đàn anh thuận thế bịt đuôi không cho em chạy:

Hỏi qua đây thì qua trả lại đây
Trời không thắt gióng thì kéo mây đậy mù!

hokhoan1
Nói chung, trong lối hát “kiến tại”, hay hát “ môi miếng” này thì đúng là “xuất đối dị, đối đối nan”, nên cái tài cái trí thường ở vế sau, khoái là khoái cái lời đáp tài cao trí lẹ, tưởng những lúc chỉ còn “tẩu vi thượng sách”, vậy mà “mạt lộ xuất sinh lộ”, thế là đôi bên cùng “hố hụi hò khoan” tán thưởng cho lời xuất sắc.

Một em hát:

Anh về đào lỗ sau hè
Chôn con lấp vợ mới ve đặng nường ( nàng)

Thiệt là hát ác!
Ra đòn càng thâm thì vế phản càng độc:

Anh về đóng một cái thang
Mười hai cái nấc
Bắt từ dưới đất bắt thẳng lên trời
Mồ cha cái đứa bạc lời
Sử anh chôn con lấp vợ sống ở đời với ai

hokhoan2
Hố hụi hò khoan!
Hố hụi hò khoan!
Hố hụi hò khoan!
Có anh nghịch khẩu, ý muốn hát đến tốc váy mấy cô thì mới thích, thành sàm:

Ba cô đứng lại một chùm
Tui liều quần rách tui đùm ba cô

Đáp:

Tui liều một gốc tre khô
Đóng gông ba cậu giải vô đồn lầu

Bí!
Xin kết câu chuyện dông dài bằng một giai thoại:

Ở huyện Đại Lộc có anh Trần Hàn nổi danh cao thủ. Hàn thường dọc ngang xuất khẩu thành chương chinh phục các hội các làng. Vậy mà “cao nhơn tất hữu cao nhơn trị”, có lần trong một đám hát, một cô trẻ mà hát thiệt già:

Trần ai gặp cảnh cơ hàn
Rổ đan mặt mốt xuống làng mót khoai

Hàn đớ họng. Cái hiểm ở câu hát là xoi đúng cái khuyết tật ở Hàn: Mặt rổ hoa, lại chột con mắt ( rổ đan mặt mốt).
Sau bận thọ đòn độc, Hàn biết điều, ít hẳn cái sự dọc ngang.

Mà nghĩ cũng hay, cái văn hóa dân gian lành mạnh ngay trong ứng xử, không theo cái kiểu “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”, người ta cũng chỉ quăng quật nhất thời, rồi ai về nhà nấy, vỗ bụng ngủ khì, sự được thua quên sạch. Sự được mất cũng chỉ không ngoài mục đích khoe tài bắt nọn cho vui. Vui thôi mà!

Bây giờ mỗi khi đi ngang làng ngang xóm thấy thiếu hẳn miếng trầu đầu câu chuyện. Các cụ còn biết bỏm bẻm nhai trầu, còn vần vè đôi câu hát thì cũng đã quá cái tuổi tám mươi, càng khi càng hiếm. Những câu hát hò khoan của xứ Quảng quê tôi khi dần đi vào tuyệt lộ!

Tôi sinh sau đẻ muộn, thương cái sự văn thuở còn ăn chung ở lộn với đời khoai sắn mà lặn lội xóm làng khề khà chén rượu ki cóp đôi vần. Việc vặt mà mưu cái sự cao: Lưu giữ cho con cháu đời sau.

Cà kê thế nào lại sinh sử sự mai sau, một ngày tao ngộ, khi mời anh Đức Dược với chị Minh Tâm của Đọt Chuối Non đối đáp một phen cho mình “ kiến tại”.

Nhưng nhớ đừng ra những đòn quá độc!

Nguyễn Tấn Ái

Đi trắng về đen

Đôi khi dạo chơi phơ phất đâu đó nơi quen thuộc ta lại chợt nhặt được đôi điều mới lạ mà xưa kia vô ý chẳng nhận ra.
Đây là câu chuyện tôi nhặt lại trong vườn cổ học:
dogchasingman
Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà mặc áo trắng, nửa đường gặp mưa ước hết. Người quen cho mượn cái áo thâm.
Bố về nhà, con chó nhà vừa cắn vừa đuổi. Bố giận toan cầm gậy đánh. Anh là Dương Chu chạy ra bảo:
“ Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng nhà ta đột nhiên đổi màu lông thành đen thì em có lấy làm lạ không?”

Không biết lỗi tại phía nào?
Nghĩ cái sự con người ta lạ ngay cái chỗ nết người, thường thì nhạy lắm cái sự người ta xoay ra chiều khác, mà cái sự mình đổi khác thì cứ tỉnh như nhiên! Thế là cố chấp và ích kỉ lắm. Giá như lúc nào cũng sẵn một người anh bên mình như Bố để cảnh tỉnh mình.

Lại nữa, cái màu mè sơn phết bên ngoài còn có cơ nhận ra mà tránh, còn cái đen từ ruột đen ra, mình còn không biết, nói chi anh em!

Mà phàm phu tục tử thì chẳng chấp làm gì. Đôi lúc hiền nhân quân tử mà cũng cứ bị cái sự được không cao thấp của đời nó hoặc cho đến mê mới hại. Anh cả của đọt chuối non có lúc chê Nguyễn Công Trứ bị hoặc bởi chữ danh ngẫm mà có lí!

Mà có riêng gì tướng công Uy Viễn, tội nghiệp Nguyễn Tiên Điền chọn cho mình tên tự Tố Như hẳn giàu hàm ý, vậy mà cũng có lúc cứ đau đắm đuối trong một nỗi niềm hư ảo:

Dao ức gia hương thiên lí ngoại
Trạch xa đoạn mã quí đông lân

Tạm dịch:

Quê nhà xa hút mù khơi
Đời xe ngựa, thẹn với người thuở xưa!

Ý hẳn cũng mong cái sự khác mình nhiều lắm!
Xin lượng thứ!
heartcarvedintotree
Cũng xin lượng thứ khi kể một chuyện không vui, một nhà thơ từ một “kiếp phôi pha” cho đến khi rời cái bậc tam công của mình vẫn còn oán “chúng nó tiếc gì cái chức cố vấn mà không cho miền giữ”( theo phóng sự của Phùng Quán).

Ô hay, hành trình làm người khó giữ thiên lương cho lành vững!

Ngẫm mà thương Vương Xương Linh, đỗ tiến sĩ, đi làm quan xa, chỉ lo ngai ngái cái lòng mình trên hoạn lộ, chỉ sợ cố nhân ngày về chẳng còn nhận mặt nhau mà chí tình nhắn gửi:

Lạc Dương thân hữu như tương vấn
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Tạm dịch:

Bạn xưa dù hỏi, rằng ta
Lòng trong vẫn giữ như là thuở nao!

Lại nhớ cụ Nguyễn Khuyến dù thương Dương Khuê đến thế mà khi khóc Vân Đình tiến sĩ lại lẫn trong tiếng tình thống thiết một lời trách khôn nguôi:

“Bác già tôi cũng già rồi
Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là.”

Khi nói những lời này, lòng cứ ngùi ngùi nhớ dăm thằng bạn, lại thon thót giật mình không biết cái tôi giờ đã ra sao?
Một chút phản tỉnh giữa ngày đời bận rộn, không biết có đại ngôn tật hô không thế?
Mà e khi to tiếng lớn giọng thì đã khác ngay từ cái giọng của mình, chao ôi!
Mà Dương Bố chỉ có một Dương Chu, tôi thì còn có cả anh em mình, ta hãy nhắc nhau sống từng ngày đời cho thật!

NGUYỄN TẤN ÁI.

Chuyện của những đêm tối trời

Ở quê, thuở chưa xa, những đêm không trăng mênh mông là đêm tối, sự sống lu bu quần tụ quanh những ngọn đèn dầu. Và lũ trẻ có được cái thú háo hức nghe những chuyện li kì rùng rợn.

Chuyện ma le
ghost1
Chú Bốn góa vợ, không phải chú không có vợ, mà vợ chú chết rồi. Mà cái việc chú có vợ cũng là chuyện “hên”. Một cô gái không biết từ đâu đến làng mót khoai, thấy nhà chú một mẹ một con, xin ở nhờ, rồi thành vợ chú.
Ai cũng khen cô tốt nết, tốt người, lại khéo vá may. Từ ngày có cô dâu, cái cơm tấm áo nhà mẹ con chú Bốn tươm tất hẳn. Chỉ khổ ba năm rồi mà chưa có mụn con, mà chú Bốn ngày một xanh xao. Thương chồng, vợ chú dành cơm cho chú, không ăn hột nào.
Có tiếng dè bỉu: “Chỉ làm bộ, không ăn sao người hồng hào béo tốt mặn mắt thế, khéo ở nhà ăn vụng.”
Mẹ chú Bốn sinh nghi, một bận giả bộ đi làm đồng, nửa buổi quay về rình sau hè.
Cô dâu vẫn chăm chỉ vá áo. Bỗng một cơn gió thổi tung rẻo vá.
Rồi cái lưỡi cô dâu cứ thế le ra dài thườn từ chổ ngồi đến mảnh vải có chừng vài sải.Cô nhặt mảnh vải bằng lưỡi!
Mụ gia chết điếng người.
Mụ cầu phù thủy. Phù thủy mách: Ma le dễ trị, nó không ăn cơm, chỉ hút tinh khí người, ban đêm thường đi ăn thêm phân gia súc. Rồi cho một lá bùa.
Đến đêm, mụ gia qua giường con dâu, thấy chỉ còn cái xác rỗng, phần đầu và ruột đâu mất!!! Mụ đem lá bùa dán nơi cổ, rồi lật úp xác lại. Xong về giường nằm.
Nửa khuya mụ nghe có tiếng gào khóc trên mái hiên, con dâu đòi mở cửa cho nó vào nhà. Mụ sợ ngồi tho lo một xó,Chú Bốn vẫn ngủ mê mệt.
Gần sáng, con ma bay đi đâu mất. Chỗ cái xác chỉ còn dúm giẻ rách.
Chú Bốn về sau khỏe mạnh như thường, chỉ cái không có vợ nữa, ai hỏi chú cười hề hề bảo: Ngủ với ma đã đời ông địa rồi, không nghiện người nữa!
.

Chuyện ma bù cào
ghost
Các bạn có biết cái cào năm răng dùng để cào cỏ không? Ở quê gọi là cái bù cào.
Tiếng đồn ở dốc Bà Giáo có con ma răng dài mặt đỏ, ai cũng sợ, gọi là ma bù cào.
Vì sợ nên lúc chạng vạng thì trên dốc tuyệt không có bóng người. Ai có chuyển bụng cũng chờ đến sáng hôm sau.
Một vị khách có việc ngang đường, không dám lên dốc, đành ghé nhà bên đường xin nghỉ qua đêm. Một lát, lại có người xin ở lại, cùng một lí do. Hai ông khách bàn nhau: Mình có hai người, trời chưa tối lắm, cũng có thể cùng nhau vượt dốc. Mặc chủ nhà ngăn cản, hai ông khách lên đường.
Càng đi, đường càng vắng, gió càng lạnh. Một người đã bắt đầu sợ, nói với người kia:
Sợ quá, hay hồi nãy ở lại, nghe nói chỗ ni kinh lắm.
Người kia bảo: Đừng lo, có tôi đây, anh xem con ma kia có đáng sợ như tôi không?
He!!!Trên mặt là hai cục lửa đỏ lòm lòm, hai cái nanh dài như hai cái tay vượn!
Sáng hôm sau người đi đường thấy một cái xác còng queo, tái nhợt không còn hột máu.
Dốc Bà Giáo từ ngày san đồi lấp hố, đường nhựa phẳng lì, chẳng biết con ma bù cào đi đâu không rõ.
Chỉ biết mấy chú ngồi xác cầu cơ thỉnh thoảng la hét cào cấu, mặt xanh dờn,máu chó chổi rể phải đập tới tấp mới xả nổi. Ấy là ma bù cào nhập xác.

Hề, chuyện hoang đường kiểu này ở quê còn nhiều lắm, không kể sợ thất thoát. Nếu bạn đọc có hứng thú thì xin cho biết, sẽ còn nhiều chuyện như rắn hiển linh, phù thủy bị quỉ vật… Tha hồ.
Xin cam đoan rằng chỉ kể vui, không thật đến trăm phần trăm đâu.

NGUYỄN TẤN ÁI.

Mục Đích Học Tập

Ngày xưa ông tôi học để nâng cao hiểu biết đóng góp vào công cuộc cứu nước trong hai cuộc chiến tranh ác liệt của dân tộc. Ngày xưa cha tôi học để làm người cán bộ hữu ích với quê hương làng xã. Ngày xưa thầy tôi học để thực hiện ước mơ đào tạo một thế hệ trẻ biết ham học hỏi.
learning1

Còn tôi, ngày nay học để làm gì? Đó là câu hỏi của tôi dành cho tôi.

Hãy thử làm một phóng viên và một phỏng vấn nhỏ với câu hỏi: Bạn học để làm gì?

Đáp số thật đa dạng.

Học để kiếm thật nhiều tiền.
Một mục đích không sai. Nhưng, với vài bạn trẻ, mục đích ấy trở thành tối thượng, thành không thể đúng!

Học để trang sức.
Ôi, cũng đúng! Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người mà! Song cũng cần nhắc mình tỉnh táo để không là kẻ mang lỉnh kỉnh các thứ bằng mà chẳng thứ nào là nhọn cả!
learning3

Bạn sẽ bất ngờ với câu trả lời của các em nhỏ cho lời hỏi: Ước mơ của em là gì?
Em ước mơ sẽ là một chú lái xe tốt bụng.
Em ước mơ sẽ là một người nghèo, bố em bảo nghèo mà không làm điều gì xấu thì càng đáng được kính trọng.
Những ước mơ ngô nghê với mục đích vĩ đại.

Ngày xưa kẻ sĩ học để ghi danh vào bảng vàng bia đá, mang vinh quang về cho làng xã, rồi cao hơn là để
giúp đời giúp nước. Bác Hồ cũng quan niệm “Học để làm người cán bộ giỏi, học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhận dân, Tổ Quốc và nhân loại”.

Còn tôi, học để làm gì?
Tôi học để tạo cho mình một tương lai tươi sáng, để không phụ công ơn nuôi dưỡng của ba mẹ, để không phụ niềm tin nơi bè bạn, và mong mỏi thầy cô gửi gắm nơi tôi. Tôi học vì em tôi, những đứa em đường phố đang chờ những ai hảo tâm cho từng ngày mưu sinh nhọc nhằn…Và tôi học để làm người – một con người có tâm tốt, biết trưởng thành hơn qua những khó khăn trở ngại gặp trên đường đời.

Biết mình học cái gì đã khó. Biết mình học để làm gì lại càng khó hơn. Biết mình học cái gì là cần thiết, biết học để làm gì lại càng cần thiết hơn. Vì vậy, mục đích cũng là ước mơ và rất cần nỗ lực để thực hiện ước mơ. Bi kịch không phải là không đạt mục đích, mà bi kịch là chỗ chúng ta không có mục đích, và hơn thế nữa là xác định sai để rồi sau bao xây dựng lại phải quay lại từ đầu.
hoc 2
Sự học là hành trình vô tận, và nếu không leo lên tới đỉnh của những ngọn núi bạn sẽ không thấy những cánh đồng. Và khi đạt được mục đích rồi cũng đừng nên dừng lại, bởi vì “ không có mục tiêu cụ thể nào có thể duy trì mãi khi ta giành được nó” ( Adam Smith)
Và tôi biết mình đang cố gắng.

Trần Thị Mẫn
Lớp 12 Trường THPT Quế Sơn