Category Archives: trà đàm

Như trong ngôi nhà của thời thơ ấu

Ngày chúng tôi dọn về nhà mới, má chồng tôi tự tay chuẩn bị ba hũ đầy: gạo, muối và nước. Như một lời cầu chúc cho cuộc sống mới của chúng tôi sẽ không bao giờ thiếu thốn.
nha1
Tự trong tâm, tôi thầm khấn thêm một thứ vô hình nữa sẽ luôn tràn đầy trong căn nhà này. Những tiếng cười.

Tâm niệm ấy xuất hiện trong tôi vào một trưa cuối năm, khi tôi vừa từ Sài Gòn về đến nhà trên chuyến tàu đêm. Vì mệt quá, tôi quẳng ngay hành lý và nằm ngủ nướng đến tận trưa lắc trên chiếc giường nhỏ cạnh cửa sổ.

Bất chợt, sau giấc ngủ sâu khoan khoái, tôi bị đánh thức bởi tiếng cười. Đó là ba mẹ và các em tôi đang ngồi quây quần bên hiên nhà sau khi ăn cơm trưa. Chắc hẳn đó là khi ba và mẹ cùng nhắc lại một hành động ngộ nghĩnh nào đó của em tôi ngày xưa, khi nó mới lên hai tuổi. Hoặc đó là khi ba nhắc lại một chi tiết trong chuyện Azit Nesin mà cả nhà đều đã đọc. Những câu chuyện đó vẫn thường được nhắc lại, và lần nào chúng tôi cũng bò lăn ra mà cười. Rộn rã và bình yên. Những tiếng cười thân thuộc, sảng khoái làm trái tim tôi tràn ngập một niềm cảm động.

Hạnh phúc. Tôi biết rằng để có tiếng cười đó thì phải có hạnh phúc. Hạnh phúc thực sự.

Tôi nằm thật yên, nghe gió mát mơn man trên má, nghe tiếng lá xào xạc ngoài vườn, nghe tiếng gàu ai va vào thành giếng, tiếng nước rót từ gàu vào thùng thiếc, reo trong trẻo… và tôi tự nhủ, ước chi tổ ấm của mình sau này cũng mang lại cảm giác bình yên và đầy ắp tiếng cười như vậy đó.

.

Một ngày cuối năm, cô bạn thân tíu tít gọi điện khoe rằng Tết này hai vợ chồng không đi đâu cả, không về quê nội mà cũng không về quê ngoại, chỉ ở nhà thôi. Nhà mới. Phải ở cho ấm nhà. Rồi cô nói thêm, không hiểu sao mới ở có mấy ngày mà đã cảm thấy yêu căn nhà mới của mình quá.

Tôi cười. Ai không yêu căn nhà của mình thì thật đáng buồn, phải vậy không? Bạn đã bắt đầu yêu căn nhà của mình từ lúc nào vậy? Bạn có biết, điều gì đã làm mình phải lòng chốn ở?

Với tôi, đó chắc chắn không phải là tình yêu sét đánh. Cho đến khi xây xong phần thô, và thậm chí đã xong phần hoàn thiện. Lòng tôi vẫn tràn đầy lo âu, bước vào căn nhà mới như bước vào chốn lạ. Khi đã dọn xong giường tủ, tự tay sắp đặt chén bát trong chiếc tủ bếp, hài lòng vì ngôi nhà hoàn tất và giống như hình dung ban đầu, tôi vẫn tự hỏi: mình sẽ yêu ngôi nhà này chăng?

.
nhà
Ngày đầu tiên nằm nghỉ trưa trong căn phòng mới, tôi mỉm cười nghe tiếng con trai líu lo ngoài lan can: “Ba ơi, ba ơi, có một con sóc trên cây mít nhà chú Út kìa. Ba thấy không?” “Đâu con? A, Ba thấy rồi, ô ô… nó nhảy lên mái nhà rồi kìa” Chợt hai cha con cười giòn giã. Tiếng cười đó làm lòng tôi xao động.

Tôi chợt nhận ra, mình phải lòng chốn ở này, không phải vì nó đẹp, mà bởi vì nơi đó có tiếng cười thân quen của người bạn đời, của đứa con yêu. Tôi khám phá ra rằng tình yêu chốn ở cũng giống như mọi tình yêu khác. Đến từ sự thoải mái. Miếng gạch này, món đồ gỗ này, màu sơn này có thể quá u trầm với người hàng xóm nhiệt thành, nhưng nó thể hiện bản tính của tôi, nó khiến tôi thấy mình là mình. Vậy là đủ.

Tôi chợt nhận ra, tình yêu đến khi tôi bắt đầu nhìn thấy những điều không hoàn hảo. Bởi nhờ đó mà tôi cảm thấy ngôi nhà đang sống, và bởi những điều không hoàn hảo ấy khiến nó thành duy nhất, khiến nó là của riêng mình.

Ngôi nhà của tôi, dù hai vợ chồng luôn mong muốn có một ngôi nhà đẹp, thì nó vẫn không thể nào trông hoàn hảo như những mẫu nhà đẹp trên catalogue hay tạp chí.

Đó là căn nhà của một người ưa thích bài trí và yêu nghệ thuật, nhưng cũng là căn nhà có cậu con trai nghịch ngợm và tò mò, nhà của một phụ nữ rất thích làm bếp nhưng đôi khi lơ đãng, nhà của một đôi vợ chồng ưa tiếp đón bạn bè, nhà có ba mẹ già thỉnh thoảng ghé thăm. Một căn nhà an toàn để có thể sống bình yên, sạch sẽ nhưng không cố gắng để hoàn hảo đến từng chi tiết.

Và tôi hiểu rằng mình đã yêu nó qua từng ngày, yêu cả cái miếng gạch lót sàn bị mẻ chút xíu, phải vá lại bằng xi măng, mỗi ngày quét nhà, đi qua nó, nhìn hoài thấy thân quen. Cái vết xước nhỏ trên bức tường kia, là khi khiêng cái tủ về không cẩn thận bị va vào. Cánh cổng hơi thấp này có thể không đủ an toàn đối với những chủ nhà thận trọng, nhưng nó có cái vẻ thân thiện mà tôi mong muốn…

Ngoài kia, hai cha con vẫn tíu tít chuyện trò. Một ngọn gió hiếm hoi của chốn đô thị len vào phòng, mơn man trên má tôi. Sự bình yên mà tôi tưởng là sở hữu riêng của tuổi thơ đột nhiên quay trở lại. Tôi cảm thấy nơi chốn này đúng là nhà của mình. Đúng là nơi mình mơ ước. Và tôi đã ngủ một giấc thật say.

Như tôi đang ngủ trong ngôi nhà của thời thơ ấu.

Đông Vy

Con ma ngày mai

Chào các bạn,

Nếu chúng ta ngồi nhìn kỹ mọi vấn đề làm mình lo lắng (worry), mắt ăn mất ngủ, nhức đầu nhức tim hàng ngày, thì có lẽ là hơn 90%, nếu không phải 100%, những vấn đề đó là lo lắng cho ngày mai. Mai mốt liệu có đủ tiền trả nợ không? Mai mốt bị mất nhà thì sao? Mai mốt ông xả mình có người khác thì sao? Mai mốt bệnh không đi làm được thì sao? Mai mốt bạn mình nó phản mình thì sao?… Nếu gạt bỏ hết các lo lắng này đi, thì đương nhiên là ta đến thiên đàng, hay ít ra thì cũng đến một vườn hoa tươi thắm hàng ngày.
relaxed
Lo sợ cho ngày mai là cái cướp đi hạnh phúc của ta hôm nay. Nếu ta tiêu thụ ngày hôm nay chỉ để lo ngay ngáy cho ngày mai , thì làm sao có được hạnh phúc? Nếu ngày hôm qua bạn tin là cuộc đời của mình đã kết thúc, đã suy sụp, đã chẳng còn chi nữa, và hôm nay còn uống cà phê lướt nét thì hãy nhớ “Hôm nay chỉ là ngày mai mà ta đã lo ngay ngáy ngày hôm qua.”

Lo sợ cho ngày mai chẳng được lợi ích gì cả:

1. Việc gì sẽ đến sẽ đến, việc gì sẽ không đến sẽ không đến. Lo hay không cũng không thay đổi được.

2. Ngày mai luôn luôn là một bí mật. Lo hay không thì vẫn có nhiều bí mật ta không biết, vậy thì lo làm gì? Thông thường kinh nghiệm cho thấy cơn động đất ta lo là sẽ xảy đến cho mình ngày mai chẳng bao giờ đến, và ngày mai thường tốt hơn ta lo sợ. Người Thụy Điển có câu ngạn ngữ “Lo lắng thường làm cho các việc nhỏ có bóng đen rất lớn.”
relaxedbusiness
3. Chính lo sợ sẽ làm cho chuyện mình lo xảy ra thật, dưới động lực của luật hấp dẫn. Gần 20 năm trước mình có chị bạn làm đám cưới với một ông chồng trẻ hơn và chị ấy cứ ngay ngáy hỏi mình: “Anh Hoành tui lo quá. Ông xả tui nhỏ hơn tui tới mười tuổi. Mai mốt lớn tuổi tui già hơn ổng nhiều, lỡ ông bỏ tui đi với bà khác thì sao?” Mình trả lời: “Dĩ nhiên là ông xả chị có thể bỏ chị, và cũng có thể ổng sống với chị tới chết. Chuyện gì cũng có thể xảy ra trong tương lai. Nhưng nếu chị cứ lo là ổng bỏ chị, chị làm cho ổng quá căng hàng ngày, thì có khả năng khá chắc chắn là ổng phải đi chỗ khác cho đở nhức đầu. Nhưng nếu chị đừng lo gì hết, cứ vui vẻ yêu đời, đợi đến đâu tính đến đó, thì có thể là ổng ở với chị vui quá, chẳng bao giờ muốn đi đâu cả.” (Họ vẫn còn ở sống với nhau ngày nay).

Vì vậy các nhà tâm l‎‎ý, các nhà giáo dục, và các đạo gia, thường dạy người ta đừng lo lắng về ngày mai. Như:

Một trăm gói lo lắng cũng không trả được 1 gram nợ. George Herbert

Lo lắng, nghi ngờ, sợ hãi và tuyệt vọng là kẻ thù đang từ từ đè ta xuống đất và biến ta thành bụi trước khi ta chết. Tướng Douglas MacArthur

Không phải là các quan tâm về hôm nay, mà là các quan tâm về ngày mai, làm cho người ta khuỵu xuống. George MacDonald

Lo lắng không bao giờ lấy đi được buồn khổ của ngày mai, mà chỉ rút hết hạnh phúc của hôm nay. Leo Buscaglia

Chúng ta không nói là không quan tâm (care) đến ngày mai. Ngày mai có một số việc phải giải quyết, chúng ta nên biết các việc đó và chuẩn bị để giải quyết chúng. Nhưng điều chúng ta đang nói là lo lắng hay lo sợ (worry), tức là cứ ngay ngáy lo động đất sẽ đến với mình ngày mai. Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 có nói một câu rất rõ về việc này: “Nếu bạn lo lắng và sợ hãi đau hoặc khổ, thì xem bạn có làm được điều gì về nỗi lo sợ đó không. Nếu bạn làm được điều gì đó, thì bạn không cần phải lo lắng; nếu bạn không làm được việc gì cả, thì bạn cũng không cần phải lo lắng,” vì lo lắng thì cũng chẳng được gì.

Chúa Giêsu nói: “Ai trong các bạn nhờ lo lắng mà thêm được một giờ đồng hồ cho đời mình?” Matt. 6-25, và “Đừng lo lắng cho ngày mai. Hãy để ngày mai lo lắng cho chính nó. Mỗi ngày có phiền toái riêng của nó.” Matt. 6-34.

Lo sợ đến con ma của ngày mai là bệnh cố hữu của rất nhiều người trong chúng ta, bởi vì ta không biết phân biệt việc ta có thể làm và những việc ta không thể làm hay không thể biết. Hãy làm các việc cần làm mà ta làm được, rồi thong thả đi ngủ. Nằm đó lo ngay ngáy thì chỉ mất ngủ và thêm stress, tức là có thể làm hỏng ngày mai đầy stress của chính mình, chứ chẳng được gì hơn. Những bí mật của ngày mai sẽ được vén màn ngày mai, lúc đó ta sẽ lo giải quyết, hơn là nằm tưởng tượng đủ thứ ma quỹ lúc này. Đợi đến lúc gặp xe khác sắp đâm vào mình thì hãy phanh xe và bẻ tay lái; đừng nằm trên giường đêm nay lo lắng ngày mai có bao nhiêu chiếc xe có thể đâm đầu vào xe mình.

Cuối cùng, đây là điều quan trọng nhất cho nghệ thuật sống. Chỉ có ở đây lúc này mới thật, ngày hôm qua chỉ là kỷ niệm trong tư tưởng, ngày mai chỉ là tưởng tượng trong tư tưởng. Quá khứ và tương lai đều không thật. Sống ở đây lúc này. Ngay lúc này có chuyện phải làm—đi chợ, nấu ăn, dạy học, ngủ–thì hãy làm cho trọn vẹn. Lúc này ngồi đây mà cứ lo ngay ngáy cho ngày mai tức là phí bỏ thời gian sống thật lúc này, chỉ để tiêu phí nó vào một con ma không thật của ngày mai.

Nếu bạn biết được sống ở đây lúc này quan trọng đến thế nào, bạn sẽ không bỏ một giây nào lo sợ cho ngày mai cả.

Chúc các bạn một ngày hôm nay tích cực, không bóng ma.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Tĩnh lặng

Mong sao trời kéo những u buồn của bạn đi xa,
Chief
Mong bông hoa rót vào tim bạn vẻ đẹp,

Mong hy vọng gạt đi nước mắt của bạn,

Và, trên tất cả, mong tĩnh lặng làm bạn mạnh mẽ.

(Tù trưởng Dan George
Nguyễn Minh Hiển dịch)

.

May the stars carry your sadness away,

May the flowers fill your heart with beauty,

May hope forever wipe away your tears,

And, above all, may silence make you strong.

(Chief Dan George)

Tôi là thiên thần, trừ khi ai làm tôi xù lông

    I am an angel, unless someone ruffles my feather

Chào các bạn, lúc bình thường ai trong chúng ta cũng hợp lý, vui vẻ, dịu dàng, đáng yêu, như những thiên thần. Tuy nhiên, khi đụng chuyện, bị ai phê phán gì đó, lúc đó mới có sự khác biệt giữa các thiên thần. Lúc này có thiên thần nhảy đổng lên gầm thét. Có thiên thần thì chằm bặm, không nói, nhưng tẩy chay người phê phán. Có thiên thần thì ngoài mặt cười vui nhưng có vẻ gượng gạo, và trong lòng thì “để đó ông sẽ tính với mày sau.” Có thiên thần thì mỉm cười và thề trong lòng “ông sẽ đì mày cả đời.” Có thiên thần thì vui vẻ, cám ơn, đã nhận được đóng góp từ người phê phán.
rufflemyfeather
Cho nên, chúng ta đừng đo lường mình bằng những lúc bình thường. Bình thường thì mình và ông hàng xóm, và 7 tỉ người khác trên thế giới cũng đều là thiên thần như nhau cả; có đo lường thì cũng chẳng nói lên được điều gi. Hãy đo lường mình bằng con người của mình lúc đụng chuyện. Đó mới là lúc sức mạnh của mình hiện ra tới đâu.

Nếu bị phê phán mình có bị đau không? Nhiều hay ít? Mình có vui tí nào không? Nhiều hay ít? Và phản ứng của mình có nhẹ nhàng, lễ độ, tươi cười và tri ân không? Hay là mình lồng lộn chống lại?

Lúc này là lúc phân biệt thầy và trò, người chín chắn và người chưa trưởng thành, người hướng thiện và người hướng ác.

Trong các tôn giáo thần quyền người ta hay nói, Thượng đế dùng tay người khác để nhắn lời cho mình. Người khác đó có thể là cha mẹ thầy cô, nhưng cũng có thể là người điên hay kẻ cướp. Theo truyền thống suy tư này, thì người nói hay cách nói đối với mình không quan trọng. Đúng thì vẫn là đúng, dù là ai nói và nói cách nào. Điều quan trọng là mình có thể nghe sự thật, nghe lời nhắn nhủ của Thượng đế, trong câu nói đó hay không.

Dĩ nhiên là lúc đụng chuyện thì không thể như lúc bình thường được, vì nếu cũng như lúc bình thường thì đó là bình thường mất rồi, đâu phải là “đụng chuyện” hay “khủng hoảng”. Bị phỏng lửa thì chắc là ai cũng rát, nhưng người thì bình yên thâm trầm chịu phỏng, người thì la lối chưởi bới lung tung.

Cho nên, chúng ta có thể tự lừa dối mình rất dễ dàng khi ta nhìn ta lúc bình thường. Hoặc khi ta chỉ một mình không ai quấy nhiễu. Chỉ khi ta bị đụng chạm với xã hội, bị mất mát, bị thất bại, bị sỉ nhục, bị lăng mạ, bị coi thường, bị tấn công một cách bất công… lúc đó ta còn yêu người, yêu đời, còn dịu dàng, còn hiền hậu, còn trung thành, còn đạo đức không? Đó mới là thước đo thực sự.
rufflemyfeather1
Bạn có thể hùng hổ, dữ tợn khi bi lăng mạ hay mất mát, và bạn sẽ có đủ l‎y’ do chính đáng để làm thế, như là bảo vệ quyền lợi, bảo vệ công l‎ý, chống người gian ác v.v…

Nhưng hùng hổ, dù là có l‎ý do đúng, vẫn là hùng hổ, vẫn là không hiền dịu.

Điều này chẳng có gì sai cả. Và bạn hoàn toàn có quyền hùng hổ như thế. Chỉ xin nhớ rằng, khi bạn phản ứng như thế thì bạn chẳng khác gì 7 tỉ người khác trên thế giới đã chẳng tốn một phút nào để học tư duy tích cực, đã chẳng tốn một giây nào để thiền, hay một giây nào để thực hành hạnh khiêm tốn và nhẫn nhục.

Và cũng đừng ảo tưởng rằng mình là người hiền dịu, hay đã trưởng thành tâm linh.

Và cũng xin nhớ rằng tất cả những người trong những cuộc chiến điên rồ giết nhau đều thề với bạn là họ có lý do chính đáng, là thượng đế đứng về phe họ, là họ bảo vệ công l‎ý… để làm việc giết nhau. Chúng ta đang ở trong thời đại có nhiều người trong những cuộc chiến điên rồ thề thốt như nhế. Chỉ cần mở TV lên là bạn sẽ có ngay thông tin về họ.

Phúc cho những người khiêm nhu, vì họ sẽ thừa hưởng quả đất.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Tri Thức và Đời Sống

Tôi không mấy đồng tình với triết thuyết của Đác-uyn (Darwin) rằng con người chỉ là động vật đã thoái hóa đi phần động vật.
Tôi suy ngẫm nhiều hơn về phát ngôn của Pascan (Pascal):
Con người là cây sậy, nhưng là cây sậy biết tư duy”.

Tư duy, tư tưởng, tri thức mới là con người và thế giới con người.
Theo kinh thánh, nguyên tội đã dắt con người rời xa khỏi vườn địa đàng.
Theo Mi-ken-lăng -gien-lô (Michelangelo) trong một họa phẩm thì lời phán truyền của Đức Chúa Trời mang hình tia chớp. Và mang hình não bộ con người.

Brain

Và bắt đầu cuộc tồn sinh.
Có lẽ ý thức về địa vị cao trọng của mình mà con người luôn khát khao chinh phục.
Bằng tri thức, con người chinh phục trái đất, chinh phục vũ trụ, và chinh phục chính bản thân mình.
Tri thức hướng vào khoa học tự nhiên, và những chân trời mới mở ra, vũ trụ không còn tăm tối.
Và con người có quyền tự hào về những vĩ nhân của khoa học.

Ác-si -mét ( Archimedes) không chịu để con người chìm vào đáy nước.
Lô-ba-sép-ki ( Lobasepxki)không chịu nép mình vào những mặt phẳng song song.
Và Niu-tơn (Newton)kịp hóa thành hấp dẫn.
Và Anhstanh (Einstein)là năng lượng vĩnh viễn của loài người, lấp lánh cái công thức của trí tuệ: E=mc2.
Tri thức hướng vào khoa học xã hội và nhân văn, và vĩnh viễn còn đó Xô-cờ-rát (Socrate), Pla-tông (Platon), A-rix- tốt (Aristotle).
Còn đó Mô-da (Mozart) với Bết- tô- ven (Beethoven).
Còn đó Huy-gô (Hugo) và Gớt (Goethe) …

knowledge-is-power

Còn mãi những tụng ca vĩnh viễn cho những gì bất tử: Là yêu thương và hành động, là xả kỉ với vị tha, là ánh trăng và đêm tối…
Tri thức hướng vào bản thân, là thứ thuốc rửa giúp ta hoàn thiện chính bản thân mình.
Rằng hiểu biết của mình chỉ là hạt cát, mà sa mạc tri thức lại quá mênh mông.
Rằng một chợp mắt ngơi nghỉ đã kịp đưa mình về thế kỉ trước.
Rằng con sói ích kỉ trong ta còn gầm gừ đói khát.
Và biết tự hỏi:

Có bao giờ tấm chăn hạnh phúc đủ kín phía mình là đủ hở phía tha nhân?

sự xơ cứng tâm hồn có là giễu cợt ngày xưa thân ái?

Thật sai lầm khi cứ cố vẽ biểu đồ tri thức, như con còng vẽ tập tính mình trên bãi bờ đại dương.
Song không là ngoa ngôn nếu tin quyết rằng một khi cố gắng đến cạn mình thì trong biển tri thức loài người có thêm một giọt nước từ gom góp nơi ta.
Và thân ái nhắc nhở các học trò của tôi:

“ Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người”
Ngạn ngữ.

Rằng con đường ngắn nhất và chính qui nhất để ghi danh vào hội những người có tri thức là con đường học tập.
Và hãy cố gắng đến cạn mình để chiến đấu với những mùa thi.

NGUYỄN TẤN ÁI

Yêu chính mình

23 love myself
Có phải tất cả chúng ta đều muốn được yêu thương đúng nghĩa? Từ  gia đình, bạn hữu, đồng nghiệp, láng giềng.. Và ta thường xuyên nhận được tình cảm của mọi người. Ta thật sự đã nhận, dù có khi ta không tin vào điều đó! Vấn đề là, ta thật sự yêu thương chính mình được bao nhiêu? Tôi cho rằng đa phần ta bị vướng vào việc chỉ lo thu hút sự chú ý, quan tâm và tôn trọng của người khác, trong khi ta hiếm khi dừng lại chiêm nghiệm cảm giác tuyệt vời của tình yêu dành cho chính mình, từ trong ta.

Phần nhiều suy nghĩ này do ta phụ thuộc những ước lệ của xã hội chung quanh. Xã hội thường đánh giá việc “cho” như là một đức tính tốt hơn nhiều so với việc “nhận”. Yêu thương kẻ thù, yêu thương láng giềng, yêu thương gia đình… Ta làm tất cả điều đó, và quên mất yêu thương chính ta.

1 love myself
Trong chừng mực đó, chúng ta thường xuyên cảm thấy đáng trách khi chi tiêu cho chính mình, dù ta cần hay xứng đáng với một thứ gì đó, ngay cả khi không ai lục vấn quyết định của ta. Tiềm thức luôn mách bảo ta đè nén niềm khao khát của mình, trong khi phần khác trong ta chống lại, ta vẫn muốn được chú ý quan tâm dù thường không có được điều này. Ta tưởng rằng nếu mọi người thấy ta yêu chính mình, ta sẽ bị xem như người tự cho mình là tâm điểm hay thậm chí là người ích kỷ.

Thân thể và tâm trí ta là sở hữu lớn nhất, và là thực thể quan trọng nhất của ta! Ta cần chăm sóc, quan tâm và trao tặng cho thân tâm ta tất cả yêu thương cần thiết. Sao ta lại chờ đợi một ai khác làm điều đó? Ai khác phải làm gì với nó? Sao ta không tự làm? Và, vì Chúa, sao ta lại lo “người khác” nghĩ gì về ta?

Điều quan trọng ở đây là phân biệt giữa người vị kỷ và người biết yêu mình trong sáng. Đó là hai việc hoàn toàn khác nhau. Người vị kỷ luôn muốn mình là trung tâm của mọi sự chú ý, họ thèm được mọi người lắng nghe. Có vẻ như họ chẳng yêu gì ngoài chính họ. Thực tế là họ thấy bất an và một cách vô thức khao khát yêu thương và tôn trọng.

16 love myself
Ngược lại, yêu chính mình một cách trong sáng là điều bạn có thể tự trải nghiệm. Việc gì bạn phải nói ra với nhân gian thiên hạ? Bạn mua một cái điện thoại di động đắt tiền vì bạn muốn tự tặng mình một món quà. Đôi khi bạn thủ thỉ với chồng rằng bạn không thích nấu ăn hôm đó vì cảm thấy xứng đáng được hưởng một ngày nghỉ!

Người yêu chính mình đón nhận lời khen bằng lòng tri ân chân thành. Khi bạn khen họ “Chúc mừng bạn! Bạn xứng đáng chiến thắng”, họ sẽ không trả lời “À.. đó chỉ là may mắn..”. Họ nói “Cám ơn. Đúng vậy!”. Hãy yêu chính mình và bạn sẽ nhận ra rằng mọi người cũng yêu bạn. Hãy tự nhủ “Mình chằng được tích sự gì!” và cả thế giới sẽ đồng thanh “Bạn đúng rồi”.

Tất cả sự tự trọng, tự tin, cảm giác an toàn, tham vọng, ước muốn thành công căn bản bắt nguồn từ tình yêu mình. Nếu tình yêu đó không còn, nó thể hiện ngay trong hành động và kết quả của ta. Và quan trọng hơn cả, nếu ta không biết cách yêu mình, làm sao ta trông mong ta có khả năng yêu thương người khác?

17 love myself
Và khi tôi nói về tình yêu, tôi muốn ám chỉ đến tình yêu không điều kiện. Tôi muốn nói về tình yêu kiên định dành cho chính mình, thậm chí khi bạn phạm một sai lầm lớn, khi bạn làm hỏng một mối quan hệ quí báu hay một cơ hội đáng giá. Tôi đang nói về việc trung thành với bản thân hết mình ngay cả khi cả thế giới ruồng bỏ bạn. Người nào biết cách yêu mình chân thật sẽ biết cách tự tha thứ chính mình. Và biết cách học hỏi từ những lỗi lầm để trở nên tốt đẹp hơn, mạnh mẽ hơn…

19 love myself
Hãy yêu mình thật sự và bạn sẽ tìm được cân bằng trong cuộc sống. Tất cả kỷ luật, cần cù, thư  giãn, khoan thứ  sẽ có mặt trong cuộc sống của bạn với tỷ lệ hợp lý. Suy nghĩ vô thức của bạn sẽ muốn bạn có mỗi  thứ một chút. Tình yêu chính mình sẽ hoạt động như một bộ điều nhiệt. Nó sẽ không để bạn làm việc quá nhiều, cũng không cho phép bạn vui thú quá mức. Và Vũ trụ sẽ tái lập mọi thứ  sao cho chúng phù hợp với bạn.

Nhưng yêu mình phải bắt đầu từ bạn. Bạn đòi hỏi thế giới trao cho bạn tình yêu, bạn có thể có nó. Nhưng để yêu mình, không ai có thể làm thay bạn. Thật sự điều đó rất đơn giản. Hôm nay, bạn hãy tự nhủ “Tôi yêu mình”. Và cảm nhận điều đó. Nói điều đó. Từ trong tâm.

Và sẽ thấy cách cuộc đời yêu bạn như thế nào!

Phạm Kiêm Yến dịch từ I love Myself của Milind Jadhav.

Lời nguyện hòa bình

Lạy chúa

Xin cho chúng con biết
Yêu Mẹ Việt Nam
Và yêu thương nhau
Trong tình yêu Mẹ
green_landscape
Xin cho chúng con biết sống hòa bình
Kể cả khi chúng con bất đồng

Xin cho tổ quốc chúng con khôn lớn
Vì chúng con là con cái chúa
Khôn lớn trong tình yêu
Và thánh linh hiền từ của chúa

Xin cho chúng con biết
Mang hạt giống yêu thương và hòa bình
Từ trong tim
Gieo trồng trên khắp quê hương
Để đất nước khô cằn
Có được vựa xanh bóng mát
Và Mẹ Việt Nam
Có được nụ cười
Nở trên môi.

Amen

Những dấu gạch nối từ quá khứ

Có lần, tôi đọc được trên Internet một tin ngộ nghĩnh. Một phụ nữ người Ba Lan tên là Agat Czemierys đã đăng một quảng cáo với nội dung: “Chúng tôi muốn nhận nuôi một ông hay bà, người sẽ sống, tận hưởng các kỳ nghỉ hè và đi mua sắm cùng chúng tôi suốt đời. Không ràng buộc về tiền bạc, chỉ có tình thương”. Kết quả là Agat đã nhận được hàng nghìn thư trả lời từ các cụ già trên khắp Ba Lan, mong được làm ông bà cho các con của cô.
bàcháu1
Câu chuyện đó làm tôi nhớ bà ngoại của mình quá đỗi. Tôi nhớ những ngày ngồi gọt cau với bà, lấy vỏ cau kết thành những chiếc thuyền thúng nhỏ xinh xinh. Bên thềm nhà, tôi gối đầu trên đùi bà, mắt lim dim ngủ trong làn gió mát thổi từ vườn và tiếng bà êm êm kể chuyện thời con gái. Những khuôn phép về đạo đức và tính cách của dòng họ, những quy tắc ứng xử hàng ngày được truyền đạt qua những buổi trưa êm, bằng giọng thì thầm rỉ rả của bà, mưa dầm thấm lâu như vậy.

Nhà văn Louisa May Alcott viết rằng: “Mỗi ngôi nhà cần có một người bà trong đó”. Tại sao vậy? Tại sao mỗi khi nhớ về thời ấu thơ, ký ức về ông bà luôn là những ký ức êm đềm nhất? Tại sao khi đến tuổi dậy thì con cái thường cãi lời cha mẹ nhưng lại sẵn sàng nghe lời ông bà? Tại sao cũng đều xuất phát từ yêu thương, nhưng cha mẹ thường trách mắng còn ông bà lại có thể bao dung? Tại sao có những chuyện ta không thể kể với ba mẹ, nhưng sẵn sàng tâm sự với ông Nội hay Bà ngoại?

Có khi nào em tự hỏi mình điều đó?
ong ba ngoai
Mỗi thế hệ đều có vai trò của mình. Có lẽ ông bà không còn bị sức ép trực tiếp của cuộc mưu sinh hàng ngày như cha mẹ chúng ta, cũng không bị sức ép bởi trách nhiệm phải dạy dỗ chúng ta nên người. Ông bà có sự thông thái và kiên nhẫn trải nghiệm. Sự nhẫn nại và dịu dàng của người đi qua quãng đường dài. Luôn luôn có một đoạn đường mà cha mẹ chúng ta chưa đi qua. Và ông bà ở đó, để yêu thương chúng ta, nuông chiều chúng ta, làm hư hỏng chúng ta, với một tình yêu vô điều kiện.

Đôi khi, có những mâu thuẫn xảy ra giữa cách giáo dục nghiêm khắc của ba mẹ, và sự chiều chuộng của ông bà. Nhưng rồi khi lớn lên, em nhìn lại thời ấu thơ và sẽ hiểu rằng: nhân cách của mình đã được hình thành nhờ cả hai điều đó, nhờ sự cân bằng của cả hai. Quả thật, ai có được cha mẹ nghiêm khắc và ông bà nuông chiều thì quả là hạnh phúc lớn lao.

Do cuộc sống bận rộn, không có thời gian chăm sóc thế hệ già nên người Nhật đã chế tạo robot Snuggling Ifbot có khả năng nói chuyện như một đứa cháu lên 5 tuổi để bầu bạn với người già. Nhưng chỉ sau một tháng, sản phẩm này đã trở nên ế hàng. Bởi ông bà của chúng ta không cần một người máy giúp họ “kích thích não hoạt động và tránh được bệnh hay quên”. Robot không biết lắng nghe, không biết hỏi chuyện ngày xưa, cũng không biết vòi vĩnh và đón nhận tình yêu từ ông bà. Trong khi, đó mới chính là cái mà ông bà cần ở những đứa cháu.

Ông bà của chúng ta chính là những chứng nhân đầy yêu thương, là một dấu gạch nối giữa chúng ta với quá khứ. Thế hệ ông bà cũng như cái rễ cây vậy. Em không nhìn thấy rễ cây, nhưng em biết rằng rễ luôn hiện hữu ở đó, là nguồn gốc của nhựa sống, là nơi khởi đầu của những chiếc lá non. Vì vậy hãy kính trọng ông bà. Dù em gặp ông bà ở đâu, trong gia đình hay viện dưỡng lão, hay thậm chí khi nhìn thấy ông bà trên đường, dù là ông bà của bất cứ ai, cũng đừng hờ hững đi qua mà không cúi đầu chào. Với lòng biết ơn./.

Đông Vy và Phạm Công Luận

Phong trào Vòng đai xanh và giải Nobel Hòa Bình

Chào các bạn,

Trước chúng ta là một bãi đất khô cằn tại một làng ở Kenya, châu Phi, cách đây 33 năm.
đatkho
Những người đàn ông Kenya sống manh mún làm ăn nhỏ, trong những bộ lạc khác nhau, dưới một chính quyền Kenya hà khắc và tham nhũng cực độ, có rất nhiều người dưới mức nghèo khổ và hỗn loạn.

Chẳng có gì nhiều ở đó, thỉnh thoảng mọi người xô xát vì những thứ lặt vặt, tranh đấu nhau vì không đủ ăn và tài nguyên để sống. Người này hơn thì người kia thiệt.

cayxanh
Các bạn nghĩ sao, nếu giữa bãi đất khô cằn kia bỗng mọc lên những cây xanh, cung cấp lương thực và bóng cây xanh mát cho cả làng?

Cải thiện đất bị xói mòn? Cung cấp không khí để thở? Cung cấp gỗ để làm củi?

Làm mát dịu những con người nóng tính, tác động đến hòa bình cho khu vực?

Ai nghĩ đến việc này? Ai sẽ làm những việc này?

Năm 1976, một người phụ nữ bản địa tên là Wangari Maathai hàng ngày bước chân đi trên mảnh đất khô cằn ở Kenya đó.

Tên chị Wangari Maathai nghe có quen không nhỉ? 🙂

Chị bắt đầu trồng cây.

Chị thành lập phong trào những người dân cùng trồng cây. Phong trào Green Belt Movement ở Kenya.

Chị dẫn dắt phong trào liên tục. Phong trào Green Belt Movement đã trồng được hơn 40 triệu cây trải khắp đất nước Kenya cho tới nay.

Phong trào phát triển thành Pan Africa Green Belt Network, cả châu Phi cùng trồng cây, và giúp những đất nước ở các châu lục khác trồng cây.

Khơi nguồn cảm hứng từ chị, chương trình môi trường của liên hợp quốc vận động phong trào trồng hàng tỉ cây xanh. Kế hoạch là nội trong năm 2009, trồng 7 tỉ cây xanh.

“The billion tree campaign enters a second wave
Together, let’s plant 7 billion trees by the end of 2009!”
(website của Liên Hợp Quốc)

Hành động của chị suốt hơn 30 năm được kính trọng khắp thể giới và đã đem đến cho chị thật nhiều niềm vui.

Nhận giải Nobel Hòa Bình năm 2004
Nhận giải Nobel Hòa Bình năm 2004

Năm 2004, chị nhận giải Nobel về Hòa Bình.

Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu về chị Wangari cùng phong trào Green Belt nhé.

Wangari Maathai – Cảm hứng và hành động

Chị Wangari sinh năm 1940 giữa vùng cao nguyên của Kenya, vào thời mà sự thiếu hụt hoàn toàn thức ăn rất hiểm khi xảy ra. Chị nhớ và yêu tuổi thơ chị với đất đai xanh tươi và màu mỡ, với “những mùa thật thường xuyên đến nỗi mà bạn có thể hầu như đoán chắc chắn được mùa mưa ngâu sẽ đến vào giữa tháng ba”.

Vào cuối thời thuộc địa ở Đông Phi, năm 1959, chị là một trong 300 sinh viên Kenya được chọn qua Mỹ học đại học theo học bổng của quỹ Joseph F. Kennedy. Chị học chuyên về sinh học. Chị theo học tiếp thạc sĩ về sinh học và sau đó trở lại Kenya làm nghiên cứu ở trường đại học Naibori.

Năm 1971, chị là người Đông Phi đầu tiên nhận bằng tiến sĩ ở đại học Naibori ở Kenya.

Ngoài làm công việc nghiên cứu, chị làm tình nguyện cho các tổ chức dân sự vào đầu những năm 1970s ở Kenya – Hội chữ thập đỏ Kenya, Chủ tịch của Environment Liaison Centre và mở rộng sự liên kết giữa các tổ chức dân sự với các chương trình của liên hợp quốc, Hội đồng quốc gia về phụ nữ ở Kenya.
greenbeltmovement
Qua nhiều vị trí làm tình nguyện như vậy, chị Wangari hiểu rằng cội rễ của hầu hết các vấn đề ở Kenya là do suy thoái về môi trường. Chị hiểu rằng các chính phủ nước ngoài và chính phủ Kenya rất hư hỏng, họ khai thác kinh tế bừa bãi chẳng quan tâm đến nhu cầu của người dân, cũng như vấn đề về tăng dân số. Một chút cảm xúc cá nhân, chị nhận thấy những mùa mưa ngâu trong tuổi thơ yêu dấu của chị không còn đều như trước.

Năm 1977, chị giới thiệu với Hội phụ nữ Kenya về ý tưởng cộng đồng trồng cây.

Tiền để cho sứ mệnh chị đưa ra rất đơn giản: ở Kenya và ngay cả nhiều nước trên thế giới ngày nay, đất đai bị xói mòn bởi sự phá hủy rừng. Ít đất đai có nghĩa là vụ mùa nghèo nàn hơn. Nghèo nàn hơn dẫn đến đói nghèo. Đói nghèo dẫn đến bất ổn về chính trị và bạo loạn. Hơn nữa, những khí thải carbon từ những nhà máy công nghiệp tạo ra ô nhiễm môi trường. Trong cả hai trường hợp, Green là câu trả lời. Trồng cây để hấp thụ khí thải carbon và chống xói mòn đất.

Đầu ra của phong trào trồng cây sẽ rất có lợi? Tại sao? Chữa lành cho môi trường và tạo việc làm cho người dân – những người phụ nữ. Ở hầu hết khắp châu Phi, đàn ông nắm giữ của cải và phụ nữ trông nom gia đình và trồng trọt. Và phụ nữ cũng là người gánh chịu hậu quả đầu tiên vì các vấn đề về môi trường. Tạo việc làm cho những người phụ nữ cho họ có thu nhập tốt hơn, giúp gia đình và chữa lành cho quê hương.

Thật là một ý tưởng đơn giản và mạnh mẽ!

Green Belt có những ngày tháng khó khăn. Bởi lẽ, đối với những người nghèo, họ đã tin rằng bởi họ nghèo, họ không chỉ thiếu tư bản, mà cả kiến thức và kỹ năng để đối mặt với những thử thách của họ. Những người nghèo đã quá quen với suy nghĩ rằng giải pháp cho những vấn đề của họ phải đến từ “bên ngoài”. Họ không thế thấy được những vấn đề vĩ mô.

Để hỗ trợ cộng đồng hiểu được những liên hệ, Green Belt đã tạo ra chương trình giáo dục người dân, trong đó, người dân nhận ra vấn đề của họ, các nguyên nhân, và những giải pháp có thể. Sau đó, họ liên kết những hành động của cá nhân họ với những vấn đề họ thấy được ở môi trường và xã hội.

Trong quá trình đó, những người tham gia khám phá ra rằng họ phải ra một phần của giải pháp. Họ nhận ra năng lực của mình. Họ nhận ra năng lực chưa khai phá của họ và được tiếp năng lực để vượt qua sự ì ạch và hành động. Họ nhận ra rằng họ chính là những người làm vườn và người hưởng lợi từ chính môi trường nuôi dưỡng họ.

Tất cả những cộng đồng nhỏ như nhà thờ, trường học, khu chợ, bộ lạc đã nhận ra rằng, trong khi thật cần thiết để bắt chính phủ của họ có trách nhiệm, điều cũng thật quan trọng, mà còn quan trọng hơn trong đất nước Kenya nghèo đói là, trong quan hệ của những người dân bình thường với nhau, họ làm gương bằng những giá trị lãnh đạo mà họ mong muốn thấy ở chính những người lãnh đạo của họ, có nghĩa là công lý, trung thực và đáng tin tưởng.
greenbeltmovement1
Mặc dù lúc đầu hoạt đồng trồng cây không nói gì đến vấn đề dân chủ và hòa bình, rất sớm sau đó, câu chuyện rõ như dưới ánh sáng mặt trời là việc quản lý môi trường có trách nhiệm không thể xảy ra được nếu không có “không gian mang tính dân chủ”. Do đó, cây xanh trở thành một biểu tượng của sự tranh đấu cho dân chủ ở Kenya. Những người dân bình thường được huy động để thách thức sự lạm dụng quyền lực, tham nhũng và quản lý môi trường cẩu thả.

Qua phong trào Green Belt, hàng ngàn người dân hàng ngày cầy ruộng lên nương được huy động và tiếp năng lượng để hành động và tác động tới thay đổi. Họ đã học được cách vượt qua nỗi sợ hãi và cảm giác tuyệt vọng và hành động để bảo vệ quyền lợi của họ.

Có những ngày tháng khó khăn, khi chị Wangari bị bắt, bỏ tù và đánh đập khi phong trào trồng cây từ người dân cày của chị chạm vào sự tham nhũng và lạm dụng quyền lực của chính phủ. Nhưng, cám ơn Chúa, chị vượt qua tất cả.

Theo thời gian, cây xanh đã trở thành biểu tượng của hòa bình và giải quyết mâu thuẫn, đặc biệt là mâu thuẫn sắc tộc ở Kenya, khi phong trào Green Betl dùng “cây xanh hòa bình” để giải quyết mâu thuẫn giữa các cộng đồng. Trong suốt quá trình viết lại hiến pháp Kenya, những “cây xanh hòa bình’ tương tự cũng được trồng khắp các vùng của đất nước để phát triển văn hóa hòa bình. Dùng cây xanh để giữ hòa bình cũng là tập tục lâu đời của Châu Phi.

Vào năm 2002, sự can đảm, kiên tâm, kiên nhẫn và cam kết cao của những thành viên của phong trào Green Belt, và những tổ chức dân sự khác, và công chúng Kenya đã đem đến cuối cùng sự chuyển tiếp hòa bình của đất nước Kenya thành một đất nước dân chủ trong thực tế, và tạo ra nền tảng cho một xã hội ổn định.

Chị được bầu vào quốc hội của Kenya và hiện nay chị phục vụ ở vị trí phó bộ trưởng về môi trường, tài nguyên thiên nhiên và cuộc sống hoang dã.

Trong hơn 30 năm phong trào Green Belt hoạt động, những hoạt động tàn phá môi trường vẫn tiếp tục không ngưng nghỉ.
Chị Wangari, nhóm Green Belt và những nhà môi trường kêu gọi, rằng nhân loại cần chuyển đổi lối tư duy, dừng lại việc đe họa hệ thống duy trì sự sống của hành tinh này. Chúng ta được kêu gọi, để giúp Mẹ Đất chữa lành vết thương của mẹ, và trong quá trình đó, chữa lành vết thương của chính chúng ta – thật ra là vậy, để ôm lấy tạo vật trong toàn bộ sự đa dạng, vẻ đẹp và kỳ diệu của nó.

Điều này sẽ xảy ra nếu chúng ta nhìn thấy sự cần thiết để làm sống lại cảm giác thuộc về của chúng ta về một gia đình lớn hơn.

Hội đồng Nobel ở Na Uy đã thách thức thế giới mở rộng hơn sự hiểu biết về Hòa bình: chẳng thể có hòa bình nếu không có phát triển đồng đều, và chẳng thế có phát triển mà không có sự quản lý bền vững về môi trường trong một không gian dân chủ và hòa bình. Suy thay đổi tư duy này là một ý tưởng mà thời gian của nó đến rồi đó. Chị Wangari chia sẻ như vậy ở Hội đồng giải Nobel.

Những năm gần đây, chị đi khắp thế giới để nói chuyện chia sẻ những kinh nghiệm của chị và giúp đỡ cho phong trào hòa bình và môi trường ở các đất nước đang phát triển và phát triển.

Sẽ chẳng thể đủ để nói hết về chị Wangari, người phụ nữ của niềm cảm hứng bất tận này. Các bạn có thể tìm hiểu thêm về chị ở trang web của Green Belt Movement: http://greenbeltmovement.org/
Hay tìm kiếm tên chị “wangari maathai” qua một cỗ máy tìm kiếm Internet.

Ở đây, mình chia sẻ với các bạn cảm xúc của chị khi nhận được giải Nobel:
greenbeltmovement2
Những cây Hy vọng

Giải Nobel đã cho tôi một cơ hội để bàn luận về những vấn đề mà tôi đã làm 30 năm qua. Tôi đã nói liên tục cho tới khi tôi khản cả giọng. Nó (giải Nobel) cũng đã cho tôi cơ hội để nói tới một khán giả rộng lớn hơn. Điều này tôi thấy thật rất tuyệt vời. Những người Kenya đã thực sự rất hạnh phúc, từ chủ tịch nước tới những người dân làng. Mọi người thực sự thực sự hạnh phúc. Tôi thấy thật khó có thể xử lý với những cảm xúc này, vậy tôi vội vã lấy một cái cây, đào một cái lỗ, và trồng nó. Tôi nghĩ quan trọng là chúng ta không cân bằng một cây xanh như là một cây xanh cho hòa bình. Điều tôi muốn mọi người hiểu là cây xanh là một biểu tượng. Rất nhiều cuộc chiến tranh chúng mà chúng ta đang tranh đấu trên hành tinh ngày hôm nay liên quan tới tài nguyên thiên nhiên. Cuộc vận động (Green Belt) cố gắng tiếp năng lực cho các cơ sở địa phương, người phụ nữ, và mọi người trong cộng đồng để làm điều gì đó với môi trường. Cây xanh đối với tôi là hy vọng, nó là tương lai. Khi tôi nhìn thấy một cây xanh, tôi nhìn thấy sự hứa hẹn. Nó bắt đầu bằng một cái hạt. Cuối cùng nó trở thành một cái cây to. Nó trở thành một hệ sinh thái trong chính nó. Nó là nhà cho những sinh vật. Nó là biểu tượng của nhiều thứ. Một cái cây là mọi thứ đối với tôi.
.

Trees of Hope

The Nobel Prize gives me an opportunity to discuss these issues that I have been working on for 30 years. I have been talking until I am hoarse. It has also given me the opportunity to speak to a large audience of people. This I find very very wonderful. Kenyans were really happy, from the president to the people in the villages. Everyone was really, really happy. I found it very difficult to deal with those emotions, so I hurried to get a tree, dug a hole, and planted it. I think it is important for us not to equate the tree as a tree to peace. What I would like people to understand [is] the tree is a symbol. A lot of wars that we are fighting on the planet today have to do with these national resources. The campaign tries to empower the grass roots, women, then every person in the community to do something about their environment. The tree for me is hope, it is the future. When I look at the tree I see promise. It starts from a seed. Eventually it becomes a huge tree. It becomes an ecosystem in itself. It is a home for other species. It is a symbol of many things. A tree is everything to me.

Lời kết

Khi chị Wangari Maathai chia sẻ những kinh nghiệm của chị ở Bảo tàng Tự Do, thành phố Chicago, Mỹ tháng Tư vừa rồi, điều kinh ngạc nhất từ khán giả không chỉ là sự cảm thông sâu sắc của những người đặt câu hỏi, mà bởi con số kinh ngạc của những câu hỏi bắt đầu với “Tôi có thể làm gì để giúp đỡ?” (What can I do to help?) và “Chị có lời khuyên nào cho một ai đó muốn thuộc về phong trào hơn” (What advice would you give someone who wants to get more involved?) – không chỉ sự đa dạng về màu da và văn hóa, mà cả độ tuổi. Những gia đình, trẻ em, người lớn tuổi – họ đều đến nghe những chia sẻ đầy cảm hứng từ chị.

Chúng ta sẽ làm gì để tiếp thêm sức cho “tinh thần xanh” ở Việt Nam?
Chúng ta sẽ làm gì để tiếp thêm sức cho  Hà Nội Xanh, Nhiệt Huyết, Làm Việc Tốt và các nhóm dân sự khác?

Tất cả công việc chị Wangari Maathai làm đều bắt nguồn từ tình yêu và niềm cam kết vô hạn của chị cho sứ mệnh. Khi chị nhìn thấy bãi đất cằn khô, chị thấy một rừng cây xanh. Khi chị nhìn thấy sự chết chóc và héo tàn, chị thổi làn gió sự sống vào khoảng không. Khi chị nghe thấy âm thanh của xung đột, chị hát lên thứ âm nhạc của hòa bình.

Bạn sẽ thổi làn gió gì vào một khoảng không khô cằn?

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

Văn hóa đưa mọi người lại gần nhau

Chào các bạn,

Tuổi Trẻ mới đăng lại bài interview của anh Vũ Đức Vượng, giáo sư Đại học De Anza, California, về vài vấn đề xã hội văn hóa. Hồi tháng 7 chúng ta có đăng tin là Bộ Ngọai Giao Việt Nam gởi Bằng Khen đến anh Vũ Đức Vượng về những thành tích xuất sắc trong công cuộc xây dựng đất nước.

Mời các bạn đọc bài phỏng vấn chia sẻ cùng anh Vượng.

Mến,

Hoành

.

Văn hóa đưa mọi người lại gần nhau

Giáo sư Vũ Đức Vượng là một trong số những du học sinh miền Nam qua Mỹ từ năm 1968. Trong hơn 40 năm định cư tại Hoa Kỳ, ông được xem là một trí thức có tiếng nói độc lập.

Tham gia công tác thiện nguyện giúp đỡ những người Việt sang Hoa Kỳ từ sau 1975 hội nhập vào một môi trường văn hóa mới, lên tiếng kêu gọi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, thực hiện nhiều hoạt động quảng bá văn hóa Việt tại nước này là những công việc ông làm không mệt mỏi. Tháng 11-1995, ông là người đưa đoàn múa rối Việt Nam đầu tiên qua Mỹ trình diễn sau khi Mỹ và Việt Nam nối lại bang giao.

Tranh: Hoàng Tường

Hơn mười năm nay, ông chuyển sang làm công tác giảng dạy tại Trường đại học De Anza, bang California. Ba năm trở lại đây, cứ đến học kỳ mùa hè, ông lại đưa những sinh viên của mình về Việt Nam. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi diễn ra vào một buổi chiều cuối tháng 8, cũng là ngày cuối cùng trước khi ông lên đường trở lại nước Mỹ. Ông nói:

– Sau ngày Việt Nam thống nhất, năm 1975, tôi vào làm việc cho một tổ chức thiện nguyện ở Saint Louis, bang Missouri vì tin rằng mình có thể làm được điều gì đó cho những người Việt chân ướt chân ráo qua Mỹ. Lúc đó, công ăn việc làm, chỗ ở, tiếng Anh… là những nhu cầu bức bách đối với họ.

Nhận thấy cộng đồng người Việt có xu hướng định cư ngày càng nhiều tại Mỹ, năm 1977, tôi học thêm ngành luật và công tác xã hội, bởi đây là hai phương tiện hữu dụng để tổ chức cộng đồng người Việt và hỗ trợ họ hội nhập vào xã hội Mỹ.

Sở dĩ tôi quyết tâm làm việc này vì không muốn đồng bào mình rồi sẽ như cộng đồng người Cuba. Sau 50 năm ở Mỹ, cộng đồng này vẫn còn sinh hoạt trong một môi trường biệt lập với xã hội mạch chính của Mỹ và vẫn còn tự coi mình như là những người tị nạn.

* Năm 1990, ông đã tham gia tranh cử hội đồng thành phố San Francisco nhưng thất bại?

– Khi ra tranh cử, tôi đã biết trước là mình không có cơ hội thắng. Việc tôi đi trước một bước cũng không ngoài mục đích muốn người Việt thấy được chỗ đứng của mình trong xã hội Mỹ, đồng thời thay đổi nhận thức của những người xem nước Mỹ chỉ là chỗ trú chân tạm thời. Chúng tôi vận động mọi người nhập quốc tịch Mỹ khi có cơ hội. Bởi nếu trông vào trợ cấp xã hội thì suốt đời chỉ có xin xỏ. Còn khi đã trở thành công dân Mỹ, cầm trên tay lá phiếu đi bầu cử, họ mới có quyền đòi hỏi.

* Ông đã có nhiều đóng góp tích cực đối với cộng đồng người Việt ở Mỹ gần 35 năm qua, vậy nhưng vẫn có những người công khai tỏ thái độ hằn học với ông?

– Đúng là có một số người không ưa tôi. Người ta cho rằng việc tôi đã kêu gọi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam trên nhiều diễn đàn là ủng hộ chính quyền cộng sản. Về phần mình, tôi chỉ nghĩ đất nước Việt Nam mới là điều quan trọng.

* Vì nhà nước có nhiều, nhưng tổ quốc thì chỉ có một?

– Đúng vậy. Lịch sử đã cho thấy triều đại nào cũng có lúc hưng thịnh và suy vong, Vua sáng suốt thì dân được nhờ, nước mạnh, còn thiển cận thì dân khổ, nước nguy, ngai vàng cũng chẳng giữ được. Đội thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân. Nhà nước hữu hạn, nhưng nhân dân trường cửu. Nhân dân cũng chính là lực lượng chủ chốt đứng lên giành lại độc lập chủ quyền cho đất nước khi có họa ngoại xâm. Thế nên, quan điểm của tôi là nếu làm được một điều gì đó hữu ích cho nhân dân thì phải làm.

Thực tế là ở bên Mỹ vẫn còn những người chống đối đến mức nhất quyết không sử dụng hàng Việt Nam, cho rằng mua hàng Việt Nam là gián tiếp giúp đỡ nhà cầm quyền trong nước. Tại sao không nghĩ rằng việc mình mua gạo, mua cá tôm, quần áo… của Việt Nam là tạo thêm công ăn việc làm cho đồng bào, giúp bà con cải thiện thu nhập. Tích tiểu thành đại, dân có mạnh, nước mới bền.

* Một chân của ông đi lại không được bình thường. Có những lời đồn đãi rằng ông đã bị “đòn hội đồng” vì tổ chức phát hành báo chí Việt Nam ở Mỹ cách nay nhiều năm. Chuyện này thực hư ra sao, thưa ông?

– Hoàn toàn là tin vịt. Cái chân của tôi không dính dáng gì đến chính trị. Nước Mỹ là một xã hội dân chủ, ở đó, ai chống đối cứ chống đối, nhưng việc ai thì người ấy cứ làm. Cách nay ít tháng, có một nhóm anh chị em nghệ sĩ miền Nam California cũng bị chống đối vì tổ chức triển lãm một số hình ảnh chụp từ trong nước.

Nhưng khi những người phản đối dấn thêm bước nữa, đòi đóng cửa triển lãm thì không được, vì khi ấy lại trở thành một hình thức bịt miệng. Nếu muốn phản đối, những người này có thể tổ chức song song một cuộc triển lãm với những hình ảnh khác, hoặc kêu gọi tẩy chay. Việc xã hội có nhiều luồng ý kiến khác nhau là chuyện hết sức bình thường, chỉ khi mọi người đồng ý 100% mới là bất bình thường.

* Từ năm 1975 đến nay đã được 34 năm, một khoảng thời gian đủ dài để thế hệ người Việt thứ hai trưởng thành trên đất Mỹ. Ông nhận xét như thế nào về nhóm người này?

– Điểm nổi bật ở thế hệ này là suy nghĩ độc lập. Một phần vì họ được đào tạo trong một nền giáo dục cởi mở hơn ở Việt Nam. Tôi thấy còn một số người thuộc thế hệ thứ nhất cương quyết không về thăm quê hương, một phần vì còn mang trên vai gánh nặng quá khứ, phần khác vì không tin tưởng vào chính quyền trong nước.

Thậm chí, có những người do thiếu thông tin nên ngăn cản con cái của mình trở về, sợ thân nhân bị tẩy não… thành cộng sản. Nhưng rồi họ cũng không thể ngăn cản mãi được. Nhiều gia đình thế hệ thứ hai về trước, chứng kiến hiện tình đất nước, sau khi về Mỹ đã thuyết phục được thế hệ thứ nhất về thăm quê hương.

* Người ta nói rằng “Tiếng Việt còn, nước Việt còn”. Nhưng thực tế là một số người thuộc thế hệ thứ hai (sinh ra và lớn lên tại Mỹ) về nước làm ăn đã không còn nói được tiếng Việt. Nghĩ đến thế hệ thứ ba, nhiều người không khỏi cảm thấy băn khoăn, lo lắng…

– Từ năm 1983, chúng tôi đã tổ chức các lớp dạy tiếng Việt dành cho thế hệ thứ hai. Mặc dù giờ đây ở Mỹ có rất nhiều trung tâm dạy tiếng Việt nhưng đúng là những người thuộc thế hệ này thành thạo tiếng Việt không nhiều. Trừ một số người có điều kiện về nước, thấm nhuần văn hóa Việt, còn lại đa số muốn tìm hiểu về quá khứ của chính mình đều phải vật lộn với sách vở, tư liệu do người ngoại quốc viết.

Thiết nghĩ, Chính phủ Việt Nam cần chú trọng đến hoạt động quảng bá văn hóa Việt ra thế giới, thậm chí phải xem việc này như một chiến lược quốc gia. Nhiều quốc gia khác đã lập các phòng văn hóa chuyên trách ở những nơi kiều dân của họ sinh sống.

Một số nước đã theo đuổi chính sách xuất khẩu văn hóa khá bền bỉ và hiệu quả từ nhiều năm nay, chẳng hạn Nhật Bản đã xây dựng hàng loạt vườn Nhật tại nhiều thành phố lớn trên thế giới, Đức thành lập những viện Goethe, Pháp có Alliance Française, Trung Quốc cũng đang mở các viện Khổng Tử học…

Cần lưu ý là những nhân viên làm việc tại các phòng văn hóa phải có đủ trình độ để “đem chuông đi đấm xứ người” và được đãi ngộ tương xứng. Bằng không, lợi bất cập hại.

* Nước Mỹ rất rộng. Theo ông, nên đặt bao nhiêu phòng văn hóa là hợp lý?

– Vấn đề này tôi đã đặt ra trong hội thảo “Trí thức người Việt ở nước ngoài với sự nghiệp xây dựng quê hương” tổ chức tại Hà Nội năm 2005. Theo đó, Việt Nam nên thành lập từ bốn đến sáu phòng văn hóa tại những vùng có nhiều người Việt cư trú trong vòng mười năm. Tôi nghĩ cộng đồng người Việt sẵn lòng hỗ trợ để các cơ sở này phát triển.

Hiện nay, trong số gần ba triệu người Việt đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài thì ở Mỹ đã chiếm hơn nửa. Đây là một con số đáng kể, có tiếng nói nhất định đối với chính quyền địa phương. Nếu gầy dựng được thiện cảm với lực lượng này, khiến mọi người cùng hướng về quê hương thì rất có lợi về chính trị và kinh tế.

Làm được điều đó phải sử dụng văn hóa. Chỉ có văn hóa mới đưa mọi người lại gần nhau. Mười năm trước, những ca sĩ về nước biểu diễn là bị tẩy chay liền. Bây giờ tình hình đã khác xa. Nếu các nghệ sĩ làm được thì Nhà nước Việt Nam cũng có thể làm được.

* Nhưng như ông đã nói ở trên, vẫn còn những người chưa quên được quá khứ?

– Đó chỉ là một bộ phận thiểu số. Những năm gần đây, người Việt ở Mỹ về quê ăn Tết vẫn chiếm số lượng quan trọng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Vì vậy, khi cộng đồng này đồng lòng lên tiếng thì sức lan tỏa với chính quyền sở tại sẽ có hiệu quả. Tiếng nói ấy chưa chắc Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có được.

* Tức là có một bộ phận người Việt thầm lặng hướng về quê hương, tổ quốc nhưng còn ngại ngần bày tỏ thái độ?

– Nhiều, rất nhiều. Cách nay mười lăm năm, những người về thăm quê nhà thường đưa ra lý do thăm cha mẹ già, đau yếu, hoặc về chịu tang người thân. Nay thì việc đi về đã trở thành chuyện bình thường.

Cách nay hai năm, sau khi phỏng vấn cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ban biên tập tờ Vietweekly cũng chịu nhiều sóng gió. Những người cực đoan biểu tình phản đối, tẩy chay, đòi đóng cửa tạp chí này. Nhưng tờ báo vẫn sống đến giờ. Nghĩa là vẫn còn nhiều độc giả ủng hộ Vietweekly.

* Ông cũng là một ký giả?

– Thực tình, tôi không dám nhận hai chữ ký giả. Tôi không đi săn tin, thường chỉ nghiên cứu và viết bình luận cho những báo tiếng Anh vì đối tượng tôi nhắm đến là thế hệ thứ hai. Nhưng tôi cũng viết bằng tiếng Việt vì có những vấn đề chung cả người trong và ngoài nước cùng quan tâm.

* Có khi nào bài ông viết bị từ chối không đăng?

– Có chứ. Nhưng cũng còn nhiều diễn đàn để bày tỏ quan điểm của mình. Có những bài viết báo Việt Nam không đăng, báo bên Mỹ cũng từ chối, thì tôi gửi tới những tờ báo của nước thứ ba, chẳng hạn như BBC.

* Ông vừa đưa những sinh viên của mình về Việt Nam trong ba tuần. Mục đích của chuyến đi này là gì, thưa ông?

– Tôi dùng Việt Nam làm thí điểm để dạy về bang giao quốc tế và dẫn nhập xã hội học trong học kỳ mùa hè. Cũng như những lần trước, trong những sinh viên của tôi có một số là người Việt. Đây cũng là cơ hội để các em tìm hiểu về cội nguồn dân tộc.

Tôi cố gắng tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với nhiều thành phần trong nước, kể cả những người Việt định cư ở Mỹ đã về nước làm ăn, đồng thời gặp gỡ, giao lưu với một số sinh viên Đại học Hoa Sen (TP.HCM). Người thật, việc thật, rồi để tự mỗi người sẽ có chủ kiến của mình.

Chuyến đi lần này, chúng tôi đi từ Bắc vào Nam, leo lên Yên Tử chiêm bái cái nôi của thiền phái Trúc Lâm, qua Sapa xem ruộng bậc thang, ghé Hà Nội, nơi sẽ diễn ra đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, vào Huế thăm kinh đô cuối cùng của triều đình phong kiến, đi Mỹ Sơn tìm hiểu về văn hóa Chăm… rồi xuống đồng bằng sông Cửu Long xem vựa lúa, vựa tôm, vựa cá…

* Cái vựa lớn này đang gặp một nguy cơ rất lớn từ việc ngăn đập trên thượng nguồn sông Mê kông?

– Đó chỉ là một trong những chủ đề chính mà sinh viên của tôi muốn tìm hiểu. Dạy về Việt Nam không thể không nhắc đến những quần đảo của tổ quốc ngoài khơi xa, đường lưỡi bò Trung Quốc vẽ trên biển Đông… Sinh viên cần phải biết cương thổ, biển đảo của Việt Nam đến đâu và sẽ tự nghiên cứu và tự đưa ra đánh giá của mình.

* Từ giác độ của một giảng viên xã hội học, ông thấy đời sống xã hội thay đổi như thế nào?

– Đời sống vật chất có khá hơn nhiều. Quanh Hồ Gươm, Hà Nội không còn người ăn xin như lúc tôi về nước lần đầu tiên năm 1994. Về tinh thần, tôi có cảm giác ngày xưa mọi người đùm bọc nhau nhiều hơn, nghĩ đến cái chung nhiều hơn. Nay thì đèn nhà ai, nhà nấy rạng. Tinh thần hy sinh cho lợi ích đất nước vẫn còn, nhưng tôi có cảm giác dường như nhiều người đã bớt lửa.

* Đã có rất nhiều lời phàn nàn về sự tụt hậu của giáo dục Việt Nam hiện nay. Từ góc nhìn của một nhà giáo dục, ông nghĩ sao về tương lai của ngành này?

– Đây là vấn đề lớn, không thể chủ quan duy ý chí. Nếu chính sách rõ ràng, tôi nghĩ chúng ta tối thiểu cũng cần một thế hệ nữa để bắt kịp thế giới. Hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay chưa khuyến khích học sinh, sinh viên có được tư duy độc lập.

Sáu mươi năm sau khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Quốc Tử Giám, “trường đại học đầu tiên” của Việt Nam được dựng lên. Kể từ đó, chúng ta “nhập khẩu” toàn bộ lối giáo dục từ chương theo chủ trương của Khổng Tử. Gần một ngàn năm nay, nhân tài của nước ta học đi học lại Tứ thư, Ngũ kinh…, cứ ba năm lại lều chõng đi thi, ai sáng tác thơ Đường hay, làm bài luận tư tưởng Khổng Tử giỏi, thì được thăng quan, tiến chức…

Sang thế kỷ XX, khi chuyển sang chữ quốc ngữ, các môn học có thay đổi, nhưng cách học vẫn không thay đổi. Đa số học trò vẫn xem lời thầy, cô là khuôn vàng thước ngọc. Trả bài trúng ý thầy cô thì dễ được điểm cao, lên lớp, khen thưởng khiến học trò không cần đầu tư sáng tạo, lâu dần hình thành tâm lý bầy đàn, đánh mất cái tôi. Ở trường làm bài đón ý thầy cô, đến khi đi làm đón ý lãnh đạo.

Khi nam ca sĩ Michael Jackson qua đời, tôi thấy một số bạn trẻ khóc sướt mướt. Không phải tôi tị hiềm gì với nam ca sĩ quá cố này, nhưng tôi cảm thấy chuyện này có vẻ hơi xu thời. Cuộc sống còn nhiều chuyện đáng phải khóc hơn.

* Vậy theo ông, điều gì đáng để nhỏ nước mắt lúc này?

– Ngoài cái giáo dục ở trên, cũng đáng khóc là tham nhũng. Chính phủ Việt Nam đã rất đúng đắn khi tuyên bố xếp tham nhũng vào danh sách quốc nạn. Nếu không quyết tâm cải tổ hệ thống làm việc thì đất nước không thể nào khá lên được.

Nói tiếp chuyện giáo dục từ chương. Lối suy nghĩ thầy giỏi hơn trò biến giáo dục trở thành một thứ tôn giáo. Mới đây, tôi có dịp tham gia một buổi nói chuyện về tư duy phản biện trong giáo dục, thấy một số ý kiến vẫn còn lòng vòng, tranh luận về định nghĩa của cụm từ này, khiến vấn đề trở nên phức tạp.

* Vậy nên “đơn giản hóa” nó như thế nào, thưa ông?

– Tư duy phản biện (critical thinking) không phải là một triết lý, mà là công cụ để người học mạnh dạn đi xa hơn trong hành trình kiếm tìm chân lý. Thí dụ, khi tiếp nhận một vấn đề do người khác tìm tòi, sáng tạo, học sinh cần được khuyến khích tìm tòi thêm. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, các em có thể tự do phản biện.

Nhiều thầy cô nên tập cách lắng nghe những ý kiến trái chiều, khích lệ đối thoại và sẵn sàng chấp nhận có những khía cạnh trò giỏi hơn mình, sâu sắc hơn mình. Đương nhiên, không phải tất cả học sinh sinh viên đều ngoan ngoãn như một bầy cừu, nhưng số đông là như vậy.

Tôi nghĩ cả gia đình và nhà trường đều có trách nhiệm về thực trạng này. Ở nhà, cha mẹ dạy con rằng Con cãi cha mẹ trăm đường con hư. Trong một chừng mực nhất định, câu nói này đã trở thành một cái vòng kim cô, gắn lên đầu trẻ thơ. Đến trường, vừa vào lớp một, học trò được dạy là “tiên học lễ, hậu học văn”, rồi “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Năm này qua năm khác, các em tự đúc rút ra “im lặng là vàng”.

Tôi nghĩ ngành giáo dục nên cải sửa “tiên học lễ, hậu học văn” thành “tiên học phản biện, tiếp đến là học lễ, rồi mới tới học văn”. Trong xã hội loài người, những người làm nên sự nghiệp thường là những người có tư tưởng dám phản biện, dám chống đối cái sai.

Ở Mỹ có một nhân vật khá nổi tiếng là Ralph Nader. Sau khi tốt nghiệp ngành luật, thay vì hành nghề luật sư, ông ấy tự nguyện bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bằng cách truy tìm những bằng chứng cho thấy nhiều công ty cố tình bán ra thị trường những sản phẩm kém chất lượng, gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong bối cảnh luật pháp chưa bảo vệ quyền lợi của họ.

Dần dần, nhiều người ủng hộ ông ấy, hình thành phong trào bảo vệ người tiêu dùng ở nước Mỹ. Vấn đề là ông đã làm thay đổi tư duy của cả một nước. Một trường hợp khác là mục sư Martin Luther King đấu tranh cho phong trào nhân quyền thập niên 1950-1960.

* Hình như ông đánh giá rất cao vai trò của những người dám bơi ngược dòng?

– Đúng vậy. Trong nhiều trường hợp, vai trò của họ còn quan trọng hơn nhà cầm quyền. Sự phát triển của nước Mỹ có phần đóng góp không nhỏ của những con người như Ralph Nader, Martin Luther King. Một điểm chung giữa hai nhân vật này là chấp nhận đặt cược sinh mạng mình vào một mục đích mà họ tin là đúng và không tư lợi cá nhân. Nhờ vậy, nên họ tập hợp được quần chúng.

Ở Việt Nam đầu thế kỷ XX thì có Nguyễn Tất Thành. Vì theo đuổi mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc mà người thanh niên xứ Nghệ không an phận với nghề dạy học. Người Việt mình hay nói “một điều nhịn, chín điều lành”. Nhưng cũng có những trường hợp càng nhịn thì người ta càng lấn tới. Bằng chứng là trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946, Nguyễn Tất Thành, lúc đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tuyên bố rõ ràng rằng chúng ta càng nhân nhượng thì kẻ địch càng lấn tới.

* Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này.

Theo THƯỢNG TÙNG
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Xây Nhịp Cầu Cuộc Sống

Ngày xửa ngày xưa có hai anh em ở hai trang trại liền kề. Một hôm họ gây gổ. Đó là vết rạn nứt nghiêm trọng đầu tiên trong suốt 40 năm cùng làm ruộng, cùng chia sẻ máy móc, cùng trao đổi công lao động và hàng hóa cần thiết trong yên bình.

farm1

Thế rồi, sự hợp tác lâu dài sụp đổ. Nó bắt đầu từ một hiểu lầm nhỏ và phát triển thành sự xa cách lớn, và cuối cùng bùng nổ thành những lời sỉ vả nặng nề, tiếp theo sau là nhiều tuần im lặng.

Một buổi sáng, có ai đó gõ cửa nhà John. Anh ta mở cửa và thấy một người đàn ông với hộp đồ nghề thợ mộc.
“Tôi đang tìm việc làm trong vài ngày”, ông ta nói, “Có lẽ anh có vài việc vặt đâu đó mà tôi có thể làm chứ?”

“Vâng, ” người anh nói, “Tôi có việc cho anh đây.”

“Hãy nhìn cái trang trại bên kia con lạch. Hàng xóm của tôi đấy, thực ra, đó là em trai tôi. Tuần trước, giữa chúng tôi là một đồng cỏ và nó đã cho ủi đến đê sông và giờ đây có một con lạch giữa chúng tôi. Ồ, nó có lẽ làm thế để chọc tức tôi, nhưng tôi đã có cách cho nó biết tay. ”

“Anh nhìn thấy đống gỗ cạnh kho thóc chứ? Tôi muốn anh đóng một hàng rào – cao chừng 2 m 7 – che đi để tôi khỏi phải thấy mặt nó lẫn đất của nó nữa.”

fence_

Người thợ mộc nói: “Tôi hiểu ý anh rồi. Đưa tôi đinh và cuốc thuổng, tôi sẽ làm anh hài lòng. ”

Người anh có việc phải ra thị trấn cả ngày, nên anh ta giúp người thợ mộc chuẩn bị những vật liệu cần thiết. Cả ngày, người thợ mộc miệt mài đo đạc, cưa xẻ, đóng đinh. Khi người anh trở về lúc mặt trời lặn, người thợ mộc đã hoàn thành công việc.
Người anh mở tròn mắt, há hốc miệng. Ở đó chẳng có hàng rào nào cả. Đó là một cây cầu – một cây cầu nối liền hai bờ của con lạch. Một cây cầu có tay vịn đẹp tuyệt – và người hàng xóm, người em trai, đang giang rộng tay tiến về phía họ :

“Anh ơi, anh thật tuyệt vời khi xây chiếc cầu này sau những gì em đã nói và làm.”
Hai anh em đứng ở mỗi đầu cầu, rồi họ gặp nhau ở giữa cầu, tay nắm chặt tay.

Họ quay lại nhìn người thợ mộc nhấc hộp đồ nghề lên vai.
Người anh nói, “Không, chờ đã! Hãy ở đây thêm vài ngày. Tôi có nhiều việc khác để anh làm”.

“Tôi rất muốn ở lại,” người thợ mộc trả lời, “nhưng tôi còn nhiều cây cầu khác phải xây nữa”.

CAU_GO

Hoàn cảnh bên ngoài của chúng ta như thế nào không quan trọng, bởi vì Thiên đàng ở bên trong tâm hồn mỗi chúng ta. Vì thế đừng phung phí phần đời còn lại tìm kiếm hạnh phúc trên thế giới.

Chỉ nhìn vào gương và mỉm cười. Hãy để dòng chảy hạnh phúc tuôn trào từ trái tim, từ trí tuệ, và tâm hồn cho đến khi nó tràn ngập cuộc sống của bạn và mọi người xung quanh.

Quang Nguyễn – Thảo Uyên

BUILDING BRIDGES OF LIFE

Once upon a time two brothers, who lived on adjoining farms, fell into conflict. It was the first serious rift in 40 years of farming side by side, sharing machinery, and trading labor and goods as needed without a conflict.

Then the long collaboration fell apart. It began with a small misunderstanding and it grew into a major difference, and finally it exploded into an exchange of bitter words followed by weeks of silence.

One morning there was a knock on John’s door. He opened it to find a man with a carpenter’s tool box. “I’m looking for a few days’ work” he said. “Perhaps you would have a few small jobs here and there I could help with? Could I help you?” “Yes,” said the older brother. “I do have a job for you.”

“Look across the creek at that farm. That’s my neighbor; in fact, it’s my younger brother. Last week there was a meadow between us and he took his bulldozer to the river levee and now there is a creek between us. Well, he may have done this to spite me, but I’ll do him one better.”

wooden fence_

“See that pile of lumber by the barn? I want you to build me a fence –an 8-foot fence — so I won’t need to see his place or his face anymore.”

The carpenter said, “I think I understand the situation. Show me the nails and the post-hole digger and I’ll be able to do a job that pleases you.”

The older brother had to go to town, so he helped the carpenter get the materials ready and then he was off for the day. The carpenter worked hard all that day measuring, sawing, nailing. About sunset when the farmer returned, the carpenter had just finished his job.

The farmer’s eyes opened wide, his jaw dropped. There was no fence there at all. It was a bridge — a bridge stretching from one side of the creek to the other! A fine piece of work, handrails and all — and the neighbor, his younger brother, was coming toward them, his hand outstretched.

“My brother! You are quite a fellow to build this bridge after all I’ve said and done.” The two brothers stood at each end of the bridge, and then they met in the middle, taking each other’s hand.

holding-hands-

They turned to see the carpenter hoist his toolbox onto his shoulder.

“No, wait! Stay a few days. I’ve a lot of other projects for you,” said the older brother.

“I’d love to stay on,” the carpenter said, but I have many more bridges to build.

It doesn’t matter what our outer circumstances are either, because the Kingdom of Heaven is within us. Don’t spend the rest of your life searching the world for happiness then.

Just look in the mirror and laugh. Just let the happiness flow from your heart, mind, and soul until it fills your life and the lives of all those around you.

(Unknown Author)

The Night They Drove Old Dixie Down

500 Greatest Songs of All Times

Chào các bạn,

Công viên Quốc gia Gettysburg ngày nay
Công viên Quốc gia Gettysburg ngày nay

Chủ nhật tuần vừa rồi, ngày 6/9/2009 mình có dịp được đến thăm vùng Gettysburg ở tiểu bang Pennsylvania, Mỹ. Mình đến thăm nghĩa trang tưởng niệm cuộc nội chiến của Mỹ và lịch sử của thị trấn Gettysburg, nơi tổng thống Abraham Lincoln đọc bản diễn văn lịch sử Gettysburg Address. Đọt Chuối Non cũng đã đăng bản diễn văn Gettysburg. Mình post lại bài diễn văn đó cuối phần mình viết ở đây.

Hôm nay mình muốn giới thiệu với các bạn bài hát “The Night They Drove Old Dixie Down” (“Đêm Họ Cán Bẹp Dixie Xa Cũ”) – bài hát nói về những ngày cuối cùng của trận nội chiến Nam – Bắc, hậu quả và tình cảm sau cuộc chiến tranh. Dixie là tên cúng cơm của phần đất miền nam, các tiểu bang miền Nam nước Mỹ, thất trận trong cuộc chiến. Bài hát được tạp chí Rolling Stone bình là “bài hát đem đến một cảm giác con người tràn ngập về lịch sử” vào tháng 10 năm 1969. Báo nhạc Rolling Stone xếp bài hát này hạng 249 trong 500 Bài hát hay nhất trong mọi thời đại.

Tổng thống Lincoln tại Gettysburg
Tổng thống Lincoln tại Gettysburg

Bài hát được sáng tác bởi nhạc sĩ người Canada Robbie Robertson và được thu âm bản đầu tiên bởi “The Band” năm 1969. Sau đó Joan Baez hát bài hát này và đó là bản thu âm thành công nhất tới nay, đạt tới thứ hạng 3 trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở Mỹ năm 1971.

Bài hát hát về một người lính quân phía Nam tên là Virgil Caine phục vụ trên chuyến tàu Danvill bảo vệ thủ phủ miền nam ở Richmond, Virginia và gặp sức tấn công của quân ở phía bắc lãnh đạo bởi tướng Robert E. Lee.
gettysburg battle
Miền Nam bị thua. Và người miền Nam nước Mỹ  đau buồn và có những phản ứng lẫn lộn vì lý tưởng khác với miền Bắc. Ở miền Bắc, Lincoln không chấp nhận một quốc gia “nửa nô lệ, nửa tự do” và miền Nam chấp nhận điều đó.

Chiến tranh để lại bao hậu quả thật nặng nề. Ở Gettysburg hậu quả là nặng nề nhất vì trận chiến đấu ác liệt nhất đã diễn ra ở đó. Gettysburg được coi là bước ngoặt của cuộc chiến tranh, diễn ra từ mùng 1 tới mùng 3 tháng 7 năm 1963, nơi 160,000 lính Mỹ đánh nhau trên một thị trấn gồm 2,400 dân thường.

Luật sư 32 tuổi David Wills ở Gettysburg lúc đó đã chứng kiến tất cả những tang thương của cuộc chiến tranh. Một tấm biển trong ngôi nhà tưởng niệm David Wills có dòng chữ:

“Sau cuộc chiến, Gettysburg trở thành một bệnh viện và nhà xác khổng lồ: những người lính chết và bị thương vượt quá số dân thường 11 lần”.

Ngay sau cuộc chiến ở Gettysburg, David Wills đã đề nghị ý tưởng về khu đất làm Nghĩa trang tưởng niệm Tử sĩ chiến tranh cho thống đốc của bang Pennsylvania lúc đó là Andrew Gregg Curtin.

Nhà của luật sư David Wills
Nhà của luật sư David Wills

Ông Wills sau đó đã được ủy quyền để mua khu đất làm nghĩa trang bằng tiền của chính quyền liên bang.

David Wills đã thiết kế ra buổi lễ để tôn vinh những người chiến sĩ Mỹ trong cuộc nội chiến. Tổng thống Abraham Lincoln, theo lời mời, đã tới làm khách ở nhà ông Wills một buổi tối, nơi Lincoln hoàn thành phiên bản cuối cùng của bản diễn văn Gettysburg, hôm 18/11/1863, hôm trước của buổi lễ Gettysburg vào 19/11/1863.

David Wills dàn dựng buổi lễ với 2 tiếng diễn văn dành cho thượng nghị sĩ Edward Everett phát biểu và sau đó khoảng mấy phút để tổng thống Lincoln “nói vài lời” (“few appropriate remarks”).

Ai ngờ đâu, bài phát biển 10-câu 2-phút Gettysburg Address của Lincoln ngay lập tức đi sâu vào lịch sử và nói lên tất cả tinh thần của cuộc chiến và khát vọng của người dân Mỹ cũng như mọi dân tộc trên thế giới.

Sau đây là bài Diễn văn Gettysburg Address của tổng thống Lincoln.
Tiếp theo sau là lời bài ca “The Night They Drove Old Dixie Down”, song ngữ Anh trước Việt sau. Trong bản dịch có thêm vài lời giải thich [để trong ngoặc như thế này].

Và sau đó là 2 videos: Video đầu là Joan Baez trình bày bản nhạc, video thứ hai do ban nhạc The Band trình bày.

Diễn văn Gettysburg của Tổng thống Lincoln

Gettysburg, Pennsylvania
Tháng 11, ngày 19, năm 1863

Tám mươi bẩy năm về trước, cha ông chúng ta đem đến trên lục địa này, một quốc gia mới, thai nghén trong Tự Do, và dâng hiến cho nguyên l‎y’ rằng mọi người được sinh ra bình đẳng.

Bây giờ chúng ta đang ở trong một cuộc nội chiến lớn, thử nghiệm xem quốc gia đó, hay bất kỳ quốc gia nào khác, thai nghén như vậy và dâng hiến như vậy, có thể tồn tại lâu dài. Chúng ta gặp nhau trên một bãi chiến trường lớn của cuộc chiến tranh đó. Chúng ta đã đến để hiến dâng một phần của bãi chiến trường này làm nơi an nghỉ cuối cùng cho những người hy sinh đời mình ở đây để tổ quốc có thể sống. Thật là thích hợp và thỏa đáng để chúng ta làm thế.

Nhưng, ở một ý nghĩa rộng lớn hơn, chúng ta không thể dâng hiến – chúng ta không thể thánh hóa – chúng ta không thể linh thiêng hóa – bãi đất này. Những người anh dũng, đang sống cũng như đã chết, những người đã đấu tranh ở đây, đã thánh hóa mảnh đất này, cao xa hơn năng lực yếu kém của chúng ta có thể thêm hay bớt điều gì. Thế giới không để y’, và không nhớ được lâu điều chúng ta nói ở đây, nhưng thế giới không bao giờ quên được điều các anh hùng đã làm ở đây. Chúng ta, những người còn đang sống, nên được dâng hiến ở đây cho công việc còn dang dở mà những người liệt sĩ nơi đây đã oanh liệt tiến đẩy cho đến mức này. Chúng ta nên được dâng hiến ở đây cho nhiệm vụ to lớn còn lại trước chúng ta – từ tay những anh hùng liệt sĩ, chúng ta chấp nhận hiến thân nhiều hơn cho sự nghiệp họ đã hiến thân, đến mức thành tâm tối hậu– chúng ta quyết tâm không để những người chết ở đây chết đi vô ích – quốc gia này, trong Chúa, sẽ tái sinh trong tự do—và chính phú của dân, do dân và vì dân sẽ không biến mất trên trái đất này.

.

The Night They Drove Old Dixie Down
Lyrics: Robbie Robertson
Music: Robbie Robertson

Virgil Caine is the name and I served on the Danville train
‘Til Stoneman’s cavalry came and tore up the tracks again
In the winter of sixty-five
We were hungry just barely alive
By May tenth Richmond had fell
It was a time I remember oh so well

Chorus:
The night they drove old Dixie down
And the bells were ringing
The night they drove old Dixie down
And the people were singing, they went
La la la la la la, la la la la la la la la, la

Like my father before me I will work the land
And like my brother above me who took a rebel stand
He was just eighteen, proud and brave
When a Yankee laid him in his grave
I swear by the mud below my feet
You can’t raise a Cain back up when he’s in defeat

[chorus]

Back with my wife in Tennessee when one day she called to me
Virgil, quick come see, there goes Robert E Lee
Now I don’t mind choppin’ wood
And I don’t care if the money’s no good
You take what you need and you keep the rest
But they should never have taken the very best

[chorus]

.

Đêm họ cán bẹp Dixie xưa cũ

Virgil Caine là tên tôi và tôi phục vụ trong tuyến xe lửa Danville
Đến khi kỵ binh của đám Người Thời Đồ Đá đến và phá hủy đường sắt lần nữa.
Mùa đông 65 [1865]
Chúng tôi đói và sống rất mong manh
Đến 10 tháng 5 thì Richmond [thủ phủ của Nam quân]đã mất
Đó là thời gian tôi nhớ rất rõ

Điệp khúc:

Đêm họ cán bẹp Dixie [miền Nam] xưa cũ
Chuông kêu vang lừng
Đêm họ cán bẹp Dixie xưa cũ
Và mọi người ca hát, họ ca
La la la la la la, la la la la la la la la, la

Như ba tôi trước tôi, tôi sẽ cày bừa
Và như anh tôi trên tôi đã thành phiến loạn
Anh chỉ 18, hào hùng và can đảm
Khi Bắc quân bỏ anh vào mộ
Tôi thề trên vũng bùn dưới chân tôi
Bạn không thể làm người họ Caine đứng dậy khi đã thất trận

[Điệp khúc]

Trở về với vợ ở Tennessee, một ngày nọ nàng gọi tôi
Virgil, nhanh lên ra xem, [tướng] Robert E. Lee [của Bắc quân] đó
Tôi không ngại chặt củi
Và tôi không quan tâm nếu không có đủ tiền
Bạn lấy bao nhiêu bạn cần và để lại phần kia
Nhưng họ đã không nên lấy hết những gì tinh túy nhất

[Điệp khúc]
.

Joan Baez


.

The Band

Thiền Thi (Lý – Trần 900 CE – 1400 CE)

Chào các bạn,

Mình mới làm xong slideshow này có 32 ảnh bonsai, 30 bài thơ thiền Hán Việt của hai đời Lý Trần (năm 900 đến 1400 sau công nguyên), và 30 bài thơ dịch tiếng Việt của các anh Nguyễn Duy, Nguyễn Bá Chung và Trần Đình Hoành. Bản nhạc nền Rejuvenation cũng rất thiền. Post đây để chia sẻ với các bạn.

Chúc các bạn một ngày tĩnh lặng !

Túy-Phượng

Click vào ảnh dưới đây để xem và download slideshow

bonsai-tree

Những cơn bão đời

Chào các bạn,

Rất thường xuyên cuộc đời đang sáng sủa vui vẻ của ta bỗng nhiên bị một đám mây đen bao phủ kín mít, giông bão, sấm sét, cuồng phong, mưa dầm, ngập lụt, nhức nhối, lắng lo, sợ hãi, trầm uất bao trùm cả con người mình và cả thế giới của mình. Và mình chới với, ngợp thở, tê liệt, không suy nghĩ gì được, không thiết ăn uống, không thiết làm việc, người cứ rũ liệt, tê liệt hoàn toàn.
storm
Có hàng nghìn l‎y’ do trong đời sống có thể mang đến mây đen và bão tố–mất việc, mất tình, mất tiền, mất danh, mất địa vị, đụng chạm với bạn, lục đục trong gia đình, lủng củng trong tình cảm… Dù là l‎y’ do gì đi nữa thì hậu quả cũng như nhau—cái nhìn của ta về thế giới bỗng nhiên xoay 180 độ, như đang trong phòng sáng đột nhiên bị tắt hết đèn.

Đây là hiện tượng chúng ta đối diện thường xuyên trong đời sống. Không thể tránh được, vì có việc là có thể mất việc, có tiền là có thể mất tiền, có tình là có thể mất tình, có hạnh phúc là có thể mất hạnh phúc… Cho nên, dù chúng ta cố sống càng ít mất mát càng tốt, nhưng tránh mất mát không thể là trọng tâm hàng đầu của nỗ lực, vì ta không thể tránh hết được. Trọng tâm hàng đầu của nỗ lực sống phải là làm thế nào để ta không bị tê liệt mỗi khi bị mất mát.

Vấn đề chính của khủng hoảng là mỗi khi đụng khủng hoảng ta có cảm tưởng là bị bẹp dí dưới ngọn núi khổng lồ–cơn khủng hoảng thấy nặng nề như ngọn Hoàng Liên Sơn. Nhưng sự thật thì đó chỉ là một ảo tưởng, vì đa số mọi cơn khủng hoảng đều nhỏ xíu. Ví dụ, ta bị một cơn nhức đầu như vỡ não, chẳng làm ăn gì được, nhưng rất có thể là chỉ 2 viên aspirin có thể giải quyết vấn đề. Hoặc, chỉ một cơn nhức răng có thể làm ta lăn lộn sõng soài, nhưng rất có thể chỉ cần 2 viên aspirin nữa là xong. Đang đi thoải mái, đạp ngay một gai hoa hồng sâu vào lòng bàn chân, rút ra không được, thế là không đi đứng gì được nữa, cứ phải ngồi đó khóc, cho đến khi lấy được gai ra.
underamountain
Thế nghĩa là gì? Thưa, nghĩa là chỉ một vấn đề nhỏ như chiếc gai hoa hồng, có thể làm toàn thân ta rũ liệt như bị ngọn núi đè. Nhưng gai hoa hồng vẫn không phải là ngọn núi, và thực sự là nó không thể đè bẹp ta được, phải không các bạn?

Trẻ em ở nhà quê quen đi chân không, dẫm gai hàng ngày là chuyện tự nhiên. Chẳng chết chóc ai cả. Thế thì quả núi sinh ra từ cái gai bé tí của ta là thật hay giả? Ta rũ liệt vì ta chưa quen dẫm gai, chưa quen chịu đựng dẫm gai, hay gai là núi?

Đây là điều quan trọng nhất cho cách sống tích cực trong khủng hoảng. Đa số mọi vấn đề, nếu không phải là tất cả mọi vấn đề, thực ra rất nhỏ so với ảnh hưởng của chúng trên tâm ta. Ta có cần một chiếc màn bao trùm cả thế giới để mắt ta không còn thấy thế giới? Không, ta chỉ cần hai hại bụi ớt rơi vào hai mắt thì ta không thể thấy thế giới được nữa. Bản chất của khủng hoảng là thế, chỉ cần hai, hay một, hạt bụi là có thể làm cho tâm ta hoàn tòan mù mịt, không còn thấy gì, không còn thấy hạnh phúc, hy vọng, yêu đời, tích cực, hăng hái, tĩnh lặng, an lạc…

thorn
Đọc báo hàng ngày ta thấy thiên hạ giết nhau vì mấy chuyện “ruồi bu” hàng ngày—em gái nói anh xấu trai, mẹ la con lười biếng, bạn bè chê nhau dốt, vợ chê chồng bất tài, chó nhà này chạy qua nhà kia tiểu bậy, mất 10 ngàn đồng và nghi là bạn mình lấy… Nói chung là đa số các chuyện giết người trên báo chí hàng ngày chỉ vào hàng “xe đạp cán chó.” Nhưng những cái gai nhỏ xíu, như mất 10 nghìn đồng, vẫn có thể làm cho một người hoàn toàn mù quáng và trở thành điên rồ.

Vì vậy, khi ta gặp vấn đề, gặp khủng hoảng, nằm dưới đáy núi thở không được, sắp ngợp thở, sắp chết, sợ hãi, tê liệt, tuyệt vọng, nhúc nhích không được… thì hãy nằm yên đó và suy nghĩ… từ từ…. tĩnh lặng… logic… thoải mái… xem quả núi đang đè mình thực ra có phải là quả núi hay không, vấn đề mình đang gặp phải có phải là quả núi hay không, hay đó chỉ là ảo tưởng của tâm trí, chỉ là cái gai tí ti của người chưa quen đạp gai. Nếu không nhúc nhích tay chân được thì cứ nằm yên và nhúc nhích tư tưởng một tí như thế… Biết đâu môt lúc sau thấy dễ thở hơn, thoải mái hơn, mở mắt ra thì thấy trái núi đã biến đâu mất. Và trong tay mình chỉ có một chiếc gai hồng.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use