Category Archives: trà đàm

Phong trào Vòng đai xanh và giải Nobel Hòa Bình

Chào các bạn,

Trước chúng ta là một bãi đất khô cằn tại một làng ở Kenya, châu Phi, cách đây 33 năm.
đatkho
Những người đàn ông Kenya sống manh mún làm ăn nhỏ, trong những bộ lạc khác nhau, dưới một chính quyền Kenya hà khắc và tham nhũng cực độ, có rất nhiều người dưới mức nghèo khổ và hỗn loạn.

Chẳng có gì nhiều ở đó, thỉnh thoảng mọi người xô xát vì những thứ lặt vặt, tranh đấu nhau vì không đủ ăn và tài nguyên để sống. Người này hơn thì người kia thiệt.

cayxanh
Các bạn nghĩ sao, nếu giữa bãi đất khô cằn kia bỗng mọc lên những cây xanh, cung cấp lương thực và bóng cây xanh mát cho cả làng?

Cải thiện đất bị xói mòn? Cung cấp không khí để thở? Cung cấp gỗ để làm củi?

Làm mát dịu những con người nóng tính, tác động đến hòa bình cho khu vực?

Ai nghĩ đến việc này? Ai sẽ làm những việc này?

Năm 1976, một người phụ nữ bản địa tên là Wangari Maathai hàng ngày bước chân đi trên mảnh đất khô cằn ở Kenya đó.

Tên chị Wangari Maathai nghe có quen không nhỉ? 🙂

Chị bắt đầu trồng cây.

Chị thành lập phong trào những người dân cùng trồng cây. Phong trào Green Belt Movement ở Kenya.

Chị dẫn dắt phong trào liên tục. Phong trào Green Belt Movement đã trồng được hơn 40 triệu cây trải khắp đất nước Kenya cho tới nay.

Phong trào phát triển thành Pan Africa Green Belt Network, cả châu Phi cùng trồng cây, và giúp những đất nước ở các châu lục khác trồng cây.

Khơi nguồn cảm hứng từ chị, chương trình môi trường của liên hợp quốc vận động phong trào trồng hàng tỉ cây xanh. Kế hoạch là nội trong năm 2009, trồng 7 tỉ cây xanh.

“The billion tree campaign enters a second wave
Together, let’s plant 7 billion trees by the end of 2009!”
(website của Liên Hợp Quốc)

Hành động của chị suốt hơn 30 năm được kính trọng khắp thể giới và đã đem đến cho chị thật nhiều niềm vui.

Nhận giải Nobel Hòa Bình năm 2004
Nhận giải Nobel Hòa Bình năm 2004

Năm 2004, chị nhận giải Nobel về Hòa Bình.

Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu về chị Wangari cùng phong trào Green Belt nhé.

Wangari Maathai – Cảm hứng và hành động

Chị Wangari sinh năm 1940 giữa vùng cao nguyên của Kenya, vào thời mà sự thiếu hụt hoàn toàn thức ăn rất hiểm khi xảy ra. Chị nhớ và yêu tuổi thơ chị với đất đai xanh tươi và màu mỡ, với “những mùa thật thường xuyên đến nỗi mà bạn có thể hầu như đoán chắc chắn được mùa mưa ngâu sẽ đến vào giữa tháng ba”.

Vào cuối thời thuộc địa ở Đông Phi, năm 1959, chị là một trong 300 sinh viên Kenya được chọn qua Mỹ học đại học theo học bổng của quỹ Joseph F. Kennedy. Chị học chuyên về sinh học. Chị theo học tiếp thạc sĩ về sinh học và sau đó trở lại Kenya làm nghiên cứu ở trường đại học Naibori.

Năm 1971, chị là người Đông Phi đầu tiên nhận bằng tiến sĩ ở đại học Naibori ở Kenya.

Ngoài làm công việc nghiên cứu, chị làm tình nguyện cho các tổ chức dân sự vào đầu những năm 1970s ở Kenya – Hội chữ thập đỏ Kenya, Chủ tịch của Environment Liaison Centre và mở rộng sự liên kết giữa các tổ chức dân sự với các chương trình của liên hợp quốc, Hội đồng quốc gia về phụ nữ ở Kenya.
greenbeltmovement
Qua nhiều vị trí làm tình nguyện như vậy, chị Wangari hiểu rằng cội rễ của hầu hết các vấn đề ở Kenya là do suy thoái về môi trường. Chị hiểu rằng các chính phủ nước ngoài và chính phủ Kenya rất hư hỏng, họ khai thác kinh tế bừa bãi chẳng quan tâm đến nhu cầu của người dân, cũng như vấn đề về tăng dân số. Một chút cảm xúc cá nhân, chị nhận thấy những mùa mưa ngâu trong tuổi thơ yêu dấu của chị không còn đều như trước.

Năm 1977, chị giới thiệu với Hội phụ nữ Kenya về ý tưởng cộng đồng trồng cây.

Tiền để cho sứ mệnh chị đưa ra rất đơn giản: ở Kenya và ngay cả nhiều nước trên thế giới ngày nay, đất đai bị xói mòn bởi sự phá hủy rừng. Ít đất đai có nghĩa là vụ mùa nghèo nàn hơn. Nghèo nàn hơn dẫn đến đói nghèo. Đói nghèo dẫn đến bất ổn về chính trị và bạo loạn. Hơn nữa, những khí thải carbon từ những nhà máy công nghiệp tạo ra ô nhiễm môi trường. Trong cả hai trường hợp, Green là câu trả lời. Trồng cây để hấp thụ khí thải carbon và chống xói mòn đất.

Đầu ra của phong trào trồng cây sẽ rất có lợi? Tại sao? Chữa lành cho môi trường và tạo việc làm cho người dân – những người phụ nữ. Ở hầu hết khắp châu Phi, đàn ông nắm giữ của cải và phụ nữ trông nom gia đình và trồng trọt. Và phụ nữ cũng là người gánh chịu hậu quả đầu tiên vì các vấn đề về môi trường. Tạo việc làm cho những người phụ nữ cho họ có thu nhập tốt hơn, giúp gia đình và chữa lành cho quê hương.

Thật là một ý tưởng đơn giản và mạnh mẽ!

Green Belt có những ngày tháng khó khăn. Bởi lẽ, đối với những người nghèo, họ đã tin rằng bởi họ nghèo, họ không chỉ thiếu tư bản, mà cả kiến thức và kỹ năng để đối mặt với những thử thách của họ. Những người nghèo đã quá quen với suy nghĩ rằng giải pháp cho những vấn đề của họ phải đến từ “bên ngoài”. Họ không thế thấy được những vấn đề vĩ mô.

Để hỗ trợ cộng đồng hiểu được những liên hệ, Green Belt đã tạo ra chương trình giáo dục người dân, trong đó, người dân nhận ra vấn đề của họ, các nguyên nhân, và những giải pháp có thể. Sau đó, họ liên kết những hành động của cá nhân họ với những vấn đề họ thấy được ở môi trường và xã hội.

Trong quá trình đó, những người tham gia khám phá ra rằng họ phải ra một phần của giải pháp. Họ nhận ra năng lực của mình. Họ nhận ra năng lực chưa khai phá của họ và được tiếp năng lực để vượt qua sự ì ạch và hành động. Họ nhận ra rằng họ chính là những người làm vườn và người hưởng lợi từ chính môi trường nuôi dưỡng họ.

Tất cả những cộng đồng nhỏ như nhà thờ, trường học, khu chợ, bộ lạc đã nhận ra rằng, trong khi thật cần thiết để bắt chính phủ của họ có trách nhiệm, điều cũng thật quan trọng, mà còn quan trọng hơn trong đất nước Kenya nghèo đói là, trong quan hệ của những người dân bình thường với nhau, họ làm gương bằng những giá trị lãnh đạo mà họ mong muốn thấy ở chính những người lãnh đạo của họ, có nghĩa là công lý, trung thực và đáng tin tưởng.
greenbeltmovement1
Mặc dù lúc đầu hoạt đồng trồng cây không nói gì đến vấn đề dân chủ và hòa bình, rất sớm sau đó, câu chuyện rõ như dưới ánh sáng mặt trời là việc quản lý môi trường có trách nhiệm không thể xảy ra được nếu không có “không gian mang tính dân chủ”. Do đó, cây xanh trở thành một biểu tượng của sự tranh đấu cho dân chủ ở Kenya. Những người dân bình thường được huy động để thách thức sự lạm dụng quyền lực, tham nhũng và quản lý môi trường cẩu thả.

Qua phong trào Green Belt, hàng ngàn người dân hàng ngày cầy ruộng lên nương được huy động và tiếp năng lượng để hành động và tác động tới thay đổi. Họ đã học được cách vượt qua nỗi sợ hãi và cảm giác tuyệt vọng và hành động để bảo vệ quyền lợi của họ.

Có những ngày tháng khó khăn, khi chị Wangari bị bắt, bỏ tù và đánh đập khi phong trào trồng cây từ người dân cày của chị chạm vào sự tham nhũng và lạm dụng quyền lực của chính phủ. Nhưng, cám ơn Chúa, chị vượt qua tất cả.

Theo thời gian, cây xanh đã trở thành biểu tượng của hòa bình và giải quyết mâu thuẫn, đặc biệt là mâu thuẫn sắc tộc ở Kenya, khi phong trào Green Betl dùng “cây xanh hòa bình” để giải quyết mâu thuẫn giữa các cộng đồng. Trong suốt quá trình viết lại hiến pháp Kenya, những “cây xanh hòa bình’ tương tự cũng được trồng khắp các vùng của đất nước để phát triển văn hóa hòa bình. Dùng cây xanh để giữ hòa bình cũng là tập tục lâu đời của Châu Phi.

Vào năm 2002, sự can đảm, kiên tâm, kiên nhẫn và cam kết cao của những thành viên của phong trào Green Belt, và những tổ chức dân sự khác, và công chúng Kenya đã đem đến cuối cùng sự chuyển tiếp hòa bình của đất nước Kenya thành một đất nước dân chủ trong thực tế, và tạo ra nền tảng cho một xã hội ổn định.

Chị được bầu vào quốc hội của Kenya và hiện nay chị phục vụ ở vị trí phó bộ trưởng về môi trường, tài nguyên thiên nhiên và cuộc sống hoang dã.

Trong hơn 30 năm phong trào Green Belt hoạt động, những hoạt động tàn phá môi trường vẫn tiếp tục không ngưng nghỉ.
Chị Wangari, nhóm Green Belt và những nhà môi trường kêu gọi, rằng nhân loại cần chuyển đổi lối tư duy, dừng lại việc đe họa hệ thống duy trì sự sống của hành tinh này. Chúng ta được kêu gọi, để giúp Mẹ Đất chữa lành vết thương của mẹ, và trong quá trình đó, chữa lành vết thương của chính chúng ta – thật ra là vậy, để ôm lấy tạo vật trong toàn bộ sự đa dạng, vẻ đẹp và kỳ diệu của nó.

Điều này sẽ xảy ra nếu chúng ta nhìn thấy sự cần thiết để làm sống lại cảm giác thuộc về của chúng ta về một gia đình lớn hơn.

Hội đồng Nobel ở Na Uy đã thách thức thế giới mở rộng hơn sự hiểu biết về Hòa bình: chẳng thể có hòa bình nếu không có phát triển đồng đều, và chẳng thế có phát triển mà không có sự quản lý bền vững về môi trường trong một không gian dân chủ và hòa bình. Suy thay đổi tư duy này là một ý tưởng mà thời gian của nó đến rồi đó. Chị Wangari chia sẻ như vậy ở Hội đồng giải Nobel.

Những năm gần đây, chị đi khắp thế giới để nói chuyện chia sẻ những kinh nghiệm của chị và giúp đỡ cho phong trào hòa bình và môi trường ở các đất nước đang phát triển và phát triển.

Sẽ chẳng thể đủ để nói hết về chị Wangari, người phụ nữ của niềm cảm hứng bất tận này. Các bạn có thể tìm hiểu thêm về chị ở trang web của Green Belt Movement: http://greenbeltmovement.org/
Hay tìm kiếm tên chị “wangari maathai” qua một cỗ máy tìm kiếm Internet.

Ở đây, mình chia sẻ với các bạn cảm xúc của chị khi nhận được giải Nobel:
greenbeltmovement2
Những cây Hy vọng

Giải Nobel đã cho tôi một cơ hội để bàn luận về những vấn đề mà tôi đã làm 30 năm qua. Tôi đã nói liên tục cho tới khi tôi khản cả giọng. Nó (giải Nobel) cũng đã cho tôi cơ hội để nói tới một khán giả rộng lớn hơn. Điều này tôi thấy thật rất tuyệt vời. Những người Kenya đã thực sự rất hạnh phúc, từ chủ tịch nước tới những người dân làng. Mọi người thực sự thực sự hạnh phúc. Tôi thấy thật khó có thể xử lý với những cảm xúc này, vậy tôi vội vã lấy một cái cây, đào một cái lỗ, và trồng nó. Tôi nghĩ quan trọng là chúng ta không cân bằng một cây xanh như là một cây xanh cho hòa bình. Điều tôi muốn mọi người hiểu là cây xanh là một biểu tượng. Rất nhiều cuộc chiến tranh chúng mà chúng ta đang tranh đấu trên hành tinh ngày hôm nay liên quan tới tài nguyên thiên nhiên. Cuộc vận động (Green Belt) cố gắng tiếp năng lực cho các cơ sở địa phương, người phụ nữ, và mọi người trong cộng đồng để làm điều gì đó với môi trường. Cây xanh đối với tôi là hy vọng, nó là tương lai. Khi tôi nhìn thấy một cây xanh, tôi nhìn thấy sự hứa hẹn. Nó bắt đầu bằng một cái hạt. Cuối cùng nó trở thành một cái cây to. Nó trở thành một hệ sinh thái trong chính nó. Nó là nhà cho những sinh vật. Nó là biểu tượng của nhiều thứ. Một cái cây là mọi thứ đối với tôi.
.

Trees of Hope

The Nobel Prize gives me an opportunity to discuss these issues that I have been working on for 30 years. I have been talking until I am hoarse. It has also given me the opportunity to speak to a large audience of people. This I find very very wonderful. Kenyans were really happy, from the president to the people in the villages. Everyone was really, really happy. I found it very difficult to deal with those emotions, so I hurried to get a tree, dug a hole, and planted it. I think it is important for us not to equate the tree as a tree to peace. What I would like people to understand [is] the tree is a symbol. A lot of wars that we are fighting on the planet today have to do with these national resources. The campaign tries to empower the grass roots, women, then every person in the community to do something about their environment. The tree for me is hope, it is the future. When I look at the tree I see promise. It starts from a seed. Eventually it becomes a huge tree. It becomes an ecosystem in itself. It is a home for other species. It is a symbol of many things. A tree is everything to me.

Lời kết

Khi chị Wangari Maathai chia sẻ những kinh nghiệm của chị ở Bảo tàng Tự Do, thành phố Chicago, Mỹ tháng Tư vừa rồi, điều kinh ngạc nhất từ khán giả không chỉ là sự cảm thông sâu sắc của những người đặt câu hỏi, mà bởi con số kinh ngạc của những câu hỏi bắt đầu với “Tôi có thể làm gì để giúp đỡ?” (What can I do to help?) và “Chị có lời khuyên nào cho một ai đó muốn thuộc về phong trào hơn” (What advice would you give someone who wants to get more involved?) – không chỉ sự đa dạng về màu da và văn hóa, mà cả độ tuổi. Những gia đình, trẻ em, người lớn tuổi – họ đều đến nghe những chia sẻ đầy cảm hứng từ chị.

Chúng ta sẽ làm gì để tiếp thêm sức cho “tinh thần xanh” ở Việt Nam?
Chúng ta sẽ làm gì để tiếp thêm sức cho  Hà Nội Xanh, Nhiệt Huyết, Làm Việc Tốt và các nhóm dân sự khác?

Tất cả công việc chị Wangari Maathai làm đều bắt nguồn từ tình yêu và niềm cam kết vô hạn của chị cho sứ mệnh. Khi chị nhìn thấy bãi đất cằn khô, chị thấy một rừng cây xanh. Khi chị nhìn thấy sự chết chóc và héo tàn, chị thổi làn gió sự sống vào khoảng không. Khi chị nghe thấy âm thanh của xung đột, chị hát lên thứ âm nhạc của hòa bình.

Bạn sẽ thổi làn gió gì vào một khoảng không khô cằn?

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

Văn hóa đưa mọi người lại gần nhau

Chào các bạn,

Tuổi Trẻ mới đăng lại bài interview của anh Vũ Đức Vượng, giáo sư Đại học De Anza, California, về vài vấn đề xã hội văn hóa. Hồi tháng 7 chúng ta có đăng tin là Bộ Ngọai Giao Việt Nam gởi Bằng Khen đến anh Vũ Đức Vượng về những thành tích xuất sắc trong công cuộc xây dựng đất nước.

Mời các bạn đọc bài phỏng vấn chia sẻ cùng anh Vượng.

Mến,

Hoành

.

Văn hóa đưa mọi người lại gần nhau

Giáo sư Vũ Đức Vượng là một trong số những du học sinh miền Nam qua Mỹ từ năm 1968. Trong hơn 40 năm định cư tại Hoa Kỳ, ông được xem là một trí thức có tiếng nói độc lập.

Tham gia công tác thiện nguyện giúp đỡ những người Việt sang Hoa Kỳ từ sau 1975 hội nhập vào một môi trường văn hóa mới, lên tiếng kêu gọi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, thực hiện nhiều hoạt động quảng bá văn hóa Việt tại nước này là những công việc ông làm không mệt mỏi. Tháng 11-1995, ông là người đưa đoàn múa rối Việt Nam đầu tiên qua Mỹ trình diễn sau khi Mỹ và Việt Nam nối lại bang giao.

Tranh: Hoàng Tường

Hơn mười năm nay, ông chuyển sang làm công tác giảng dạy tại Trường đại học De Anza, bang California. Ba năm trở lại đây, cứ đến học kỳ mùa hè, ông lại đưa những sinh viên của mình về Việt Nam. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi diễn ra vào một buổi chiều cuối tháng 8, cũng là ngày cuối cùng trước khi ông lên đường trở lại nước Mỹ. Ông nói:

– Sau ngày Việt Nam thống nhất, năm 1975, tôi vào làm việc cho một tổ chức thiện nguyện ở Saint Louis, bang Missouri vì tin rằng mình có thể làm được điều gì đó cho những người Việt chân ướt chân ráo qua Mỹ. Lúc đó, công ăn việc làm, chỗ ở, tiếng Anh… là những nhu cầu bức bách đối với họ.

Nhận thấy cộng đồng người Việt có xu hướng định cư ngày càng nhiều tại Mỹ, năm 1977, tôi học thêm ngành luật và công tác xã hội, bởi đây là hai phương tiện hữu dụng để tổ chức cộng đồng người Việt và hỗ trợ họ hội nhập vào xã hội Mỹ.

Sở dĩ tôi quyết tâm làm việc này vì không muốn đồng bào mình rồi sẽ như cộng đồng người Cuba. Sau 50 năm ở Mỹ, cộng đồng này vẫn còn sinh hoạt trong một môi trường biệt lập với xã hội mạch chính của Mỹ và vẫn còn tự coi mình như là những người tị nạn.

* Năm 1990, ông đã tham gia tranh cử hội đồng thành phố San Francisco nhưng thất bại?

– Khi ra tranh cử, tôi đã biết trước là mình không có cơ hội thắng. Việc tôi đi trước một bước cũng không ngoài mục đích muốn người Việt thấy được chỗ đứng của mình trong xã hội Mỹ, đồng thời thay đổi nhận thức của những người xem nước Mỹ chỉ là chỗ trú chân tạm thời. Chúng tôi vận động mọi người nhập quốc tịch Mỹ khi có cơ hội. Bởi nếu trông vào trợ cấp xã hội thì suốt đời chỉ có xin xỏ. Còn khi đã trở thành công dân Mỹ, cầm trên tay lá phiếu đi bầu cử, họ mới có quyền đòi hỏi.

* Ông đã có nhiều đóng góp tích cực đối với cộng đồng người Việt ở Mỹ gần 35 năm qua, vậy nhưng vẫn có những người công khai tỏ thái độ hằn học với ông?

– Đúng là có một số người không ưa tôi. Người ta cho rằng việc tôi đã kêu gọi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam trên nhiều diễn đàn là ủng hộ chính quyền cộng sản. Về phần mình, tôi chỉ nghĩ đất nước Việt Nam mới là điều quan trọng.

* Vì nhà nước có nhiều, nhưng tổ quốc thì chỉ có một?

– Đúng vậy. Lịch sử đã cho thấy triều đại nào cũng có lúc hưng thịnh và suy vong, Vua sáng suốt thì dân được nhờ, nước mạnh, còn thiển cận thì dân khổ, nước nguy, ngai vàng cũng chẳng giữ được. Đội thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân. Nhà nước hữu hạn, nhưng nhân dân trường cửu. Nhân dân cũng chính là lực lượng chủ chốt đứng lên giành lại độc lập chủ quyền cho đất nước khi có họa ngoại xâm. Thế nên, quan điểm của tôi là nếu làm được một điều gì đó hữu ích cho nhân dân thì phải làm.

Thực tế là ở bên Mỹ vẫn còn những người chống đối đến mức nhất quyết không sử dụng hàng Việt Nam, cho rằng mua hàng Việt Nam là gián tiếp giúp đỡ nhà cầm quyền trong nước. Tại sao không nghĩ rằng việc mình mua gạo, mua cá tôm, quần áo… của Việt Nam là tạo thêm công ăn việc làm cho đồng bào, giúp bà con cải thiện thu nhập. Tích tiểu thành đại, dân có mạnh, nước mới bền.

* Một chân của ông đi lại không được bình thường. Có những lời đồn đãi rằng ông đã bị “đòn hội đồng” vì tổ chức phát hành báo chí Việt Nam ở Mỹ cách nay nhiều năm. Chuyện này thực hư ra sao, thưa ông?

– Hoàn toàn là tin vịt. Cái chân của tôi không dính dáng gì đến chính trị. Nước Mỹ là một xã hội dân chủ, ở đó, ai chống đối cứ chống đối, nhưng việc ai thì người ấy cứ làm. Cách nay ít tháng, có một nhóm anh chị em nghệ sĩ miền Nam California cũng bị chống đối vì tổ chức triển lãm một số hình ảnh chụp từ trong nước.

Nhưng khi những người phản đối dấn thêm bước nữa, đòi đóng cửa triển lãm thì không được, vì khi ấy lại trở thành một hình thức bịt miệng. Nếu muốn phản đối, những người này có thể tổ chức song song một cuộc triển lãm với những hình ảnh khác, hoặc kêu gọi tẩy chay. Việc xã hội có nhiều luồng ý kiến khác nhau là chuyện hết sức bình thường, chỉ khi mọi người đồng ý 100% mới là bất bình thường.

* Từ năm 1975 đến nay đã được 34 năm, một khoảng thời gian đủ dài để thế hệ người Việt thứ hai trưởng thành trên đất Mỹ. Ông nhận xét như thế nào về nhóm người này?

– Điểm nổi bật ở thế hệ này là suy nghĩ độc lập. Một phần vì họ được đào tạo trong một nền giáo dục cởi mở hơn ở Việt Nam. Tôi thấy còn một số người thuộc thế hệ thứ nhất cương quyết không về thăm quê hương, một phần vì còn mang trên vai gánh nặng quá khứ, phần khác vì không tin tưởng vào chính quyền trong nước.

Thậm chí, có những người do thiếu thông tin nên ngăn cản con cái của mình trở về, sợ thân nhân bị tẩy não… thành cộng sản. Nhưng rồi họ cũng không thể ngăn cản mãi được. Nhiều gia đình thế hệ thứ hai về trước, chứng kiến hiện tình đất nước, sau khi về Mỹ đã thuyết phục được thế hệ thứ nhất về thăm quê hương.

* Người ta nói rằng “Tiếng Việt còn, nước Việt còn”. Nhưng thực tế là một số người thuộc thế hệ thứ hai (sinh ra và lớn lên tại Mỹ) về nước làm ăn đã không còn nói được tiếng Việt. Nghĩ đến thế hệ thứ ba, nhiều người không khỏi cảm thấy băn khoăn, lo lắng…

– Từ năm 1983, chúng tôi đã tổ chức các lớp dạy tiếng Việt dành cho thế hệ thứ hai. Mặc dù giờ đây ở Mỹ có rất nhiều trung tâm dạy tiếng Việt nhưng đúng là những người thuộc thế hệ này thành thạo tiếng Việt không nhiều. Trừ một số người có điều kiện về nước, thấm nhuần văn hóa Việt, còn lại đa số muốn tìm hiểu về quá khứ của chính mình đều phải vật lộn với sách vở, tư liệu do người ngoại quốc viết.

Thiết nghĩ, Chính phủ Việt Nam cần chú trọng đến hoạt động quảng bá văn hóa Việt ra thế giới, thậm chí phải xem việc này như một chiến lược quốc gia. Nhiều quốc gia khác đã lập các phòng văn hóa chuyên trách ở những nơi kiều dân của họ sinh sống.

Một số nước đã theo đuổi chính sách xuất khẩu văn hóa khá bền bỉ và hiệu quả từ nhiều năm nay, chẳng hạn Nhật Bản đã xây dựng hàng loạt vườn Nhật tại nhiều thành phố lớn trên thế giới, Đức thành lập những viện Goethe, Pháp có Alliance Française, Trung Quốc cũng đang mở các viện Khổng Tử học…

Cần lưu ý là những nhân viên làm việc tại các phòng văn hóa phải có đủ trình độ để “đem chuông đi đấm xứ người” và được đãi ngộ tương xứng. Bằng không, lợi bất cập hại.

* Nước Mỹ rất rộng. Theo ông, nên đặt bao nhiêu phòng văn hóa là hợp lý?

– Vấn đề này tôi đã đặt ra trong hội thảo “Trí thức người Việt ở nước ngoài với sự nghiệp xây dựng quê hương” tổ chức tại Hà Nội năm 2005. Theo đó, Việt Nam nên thành lập từ bốn đến sáu phòng văn hóa tại những vùng có nhiều người Việt cư trú trong vòng mười năm. Tôi nghĩ cộng đồng người Việt sẵn lòng hỗ trợ để các cơ sở này phát triển.

Hiện nay, trong số gần ba triệu người Việt đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài thì ở Mỹ đã chiếm hơn nửa. Đây là một con số đáng kể, có tiếng nói nhất định đối với chính quyền địa phương. Nếu gầy dựng được thiện cảm với lực lượng này, khiến mọi người cùng hướng về quê hương thì rất có lợi về chính trị và kinh tế.

Làm được điều đó phải sử dụng văn hóa. Chỉ có văn hóa mới đưa mọi người lại gần nhau. Mười năm trước, những ca sĩ về nước biểu diễn là bị tẩy chay liền. Bây giờ tình hình đã khác xa. Nếu các nghệ sĩ làm được thì Nhà nước Việt Nam cũng có thể làm được.

* Nhưng như ông đã nói ở trên, vẫn còn những người chưa quên được quá khứ?

– Đó chỉ là một bộ phận thiểu số. Những năm gần đây, người Việt ở Mỹ về quê ăn Tết vẫn chiếm số lượng quan trọng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Vì vậy, khi cộng đồng này đồng lòng lên tiếng thì sức lan tỏa với chính quyền sở tại sẽ có hiệu quả. Tiếng nói ấy chưa chắc Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có được.

* Tức là có một bộ phận người Việt thầm lặng hướng về quê hương, tổ quốc nhưng còn ngại ngần bày tỏ thái độ?

– Nhiều, rất nhiều. Cách nay mười lăm năm, những người về thăm quê nhà thường đưa ra lý do thăm cha mẹ già, đau yếu, hoặc về chịu tang người thân. Nay thì việc đi về đã trở thành chuyện bình thường.

Cách nay hai năm, sau khi phỏng vấn cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ban biên tập tờ Vietweekly cũng chịu nhiều sóng gió. Những người cực đoan biểu tình phản đối, tẩy chay, đòi đóng cửa tạp chí này. Nhưng tờ báo vẫn sống đến giờ. Nghĩa là vẫn còn nhiều độc giả ủng hộ Vietweekly.

* Ông cũng là một ký giả?

– Thực tình, tôi không dám nhận hai chữ ký giả. Tôi không đi săn tin, thường chỉ nghiên cứu và viết bình luận cho những báo tiếng Anh vì đối tượng tôi nhắm đến là thế hệ thứ hai. Nhưng tôi cũng viết bằng tiếng Việt vì có những vấn đề chung cả người trong và ngoài nước cùng quan tâm.

* Có khi nào bài ông viết bị từ chối không đăng?

– Có chứ. Nhưng cũng còn nhiều diễn đàn để bày tỏ quan điểm của mình. Có những bài viết báo Việt Nam không đăng, báo bên Mỹ cũng từ chối, thì tôi gửi tới những tờ báo của nước thứ ba, chẳng hạn như BBC.

* Ông vừa đưa những sinh viên của mình về Việt Nam trong ba tuần. Mục đích của chuyến đi này là gì, thưa ông?

– Tôi dùng Việt Nam làm thí điểm để dạy về bang giao quốc tế và dẫn nhập xã hội học trong học kỳ mùa hè. Cũng như những lần trước, trong những sinh viên của tôi có một số là người Việt. Đây cũng là cơ hội để các em tìm hiểu về cội nguồn dân tộc.

Tôi cố gắng tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với nhiều thành phần trong nước, kể cả những người Việt định cư ở Mỹ đã về nước làm ăn, đồng thời gặp gỡ, giao lưu với một số sinh viên Đại học Hoa Sen (TP.HCM). Người thật, việc thật, rồi để tự mỗi người sẽ có chủ kiến của mình.

Chuyến đi lần này, chúng tôi đi từ Bắc vào Nam, leo lên Yên Tử chiêm bái cái nôi của thiền phái Trúc Lâm, qua Sapa xem ruộng bậc thang, ghé Hà Nội, nơi sẽ diễn ra đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, vào Huế thăm kinh đô cuối cùng của triều đình phong kiến, đi Mỹ Sơn tìm hiểu về văn hóa Chăm… rồi xuống đồng bằng sông Cửu Long xem vựa lúa, vựa tôm, vựa cá…

* Cái vựa lớn này đang gặp một nguy cơ rất lớn từ việc ngăn đập trên thượng nguồn sông Mê kông?

– Đó chỉ là một trong những chủ đề chính mà sinh viên của tôi muốn tìm hiểu. Dạy về Việt Nam không thể không nhắc đến những quần đảo của tổ quốc ngoài khơi xa, đường lưỡi bò Trung Quốc vẽ trên biển Đông… Sinh viên cần phải biết cương thổ, biển đảo của Việt Nam đến đâu và sẽ tự nghiên cứu và tự đưa ra đánh giá của mình.

* Từ giác độ của một giảng viên xã hội học, ông thấy đời sống xã hội thay đổi như thế nào?

– Đời sống vật chất có khá hơn nhiều. Quanh Hồ Gươm, Hà Nội không còn người ăn xin như lúc tôi về nước lần đầu tiên năm 1994. Về tinh thần, tôi có cảm giác ngày xưa mọi người đùm bọc nhau nhiều hơn, nghĩ đến cái chung nhiều hơn. Nay thì đèn nhà ai, nhà nấy rạng. Tinh thần hy sinh cho lợi ích đất nước vẫn còn, nhưng tôi có cảm giác dường như nhiều người đã bớt lửa.

* Đã có rất nhiều lời phàn nàn về sự tụt hậu của giáo dục Việt Nam hiện nay. Từ góc nhìn của một nhà giáo dục, ông nghĩ sao về tương lai của ngành này?

– Đây là vấn đề lớn, không thể chủ quan duy ý chí. Nếu chính sách rõ ràng, tôi nghĩ chúng ta tối thiểu cũng cần một thế hệ nữa để bắt kịp thế giới. Hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay chưa khuyến khích học sinh, sinh viên có được tư duy độc lập.

Sáu mươi năm sau khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Quốc Tử Giám, “trường đại học đầu tiên” của Việt Nam được dựng lên. Kể từ đó, chúng ta “nhập khẩu” toàn bộ lối giáo dục từ chương theo chủ trương của Khổng Tử. Gần một ngàn năm nay, nhân tài của nước ta học đi học lại Tứ thư, Ngũ kinh…, cứ ba năm lại lều chõng đi thi, ai sáng tác thơ Đường hay, làm bài luận tư tưởng Khổng Tử giỏi, thì được thăng quan, tiến chức…

Sang thế kỷ XX, khi chuyển sang chữ quốc ngữ, các môn học có thay đổi, nhưng cách học vẫn không thay đổi. Đa số học trò vẫn xem lời thầy, cô là khuôn vàng thước ngọc. Trả bài trúng ý thầy cô thì dễ được điểm cao, lên lớp, khen thưởng khiến học trò không cần đầu tư sáng tạo, lâu dần hình thành tâm lý bầy đàn, đánh mất cái tôi. Ở trường làm bài đón ý thầy cô, đến khi đi làm đón ý lãnh đạo.

Khi nam ca sĩ Michael Jackson qua đời, tôi thấy một số bạn trẻ khóc sướt mướt. Không phải tôi tị hiềm gì với nam ca sĩ quá cố này, nhưng tôi cảm thấy chuyện này có vẻ hơi xu thời. Cuộc sống còn nhiều chuyện đáng phải khóc hơn.

* Vậy theo ông, điều gì đáng để nhỏ nước mắt lúc này?

– Ngoài cái giáo dục ở trên, cũng đáng khóc là tham nhũng. Chính phủ Việt Nam đã rất đúng đắn khi tuyên bố xếp tham nhũng vào danh sách quốc nạn. Nếu không quyết tâm cải tổ hệ thống làm việc thì đất nước không thể nào khá lên được.

Nói tiếp chuyện giáo dục từ chương. Lối suy nghĩ thầy giỏi hơn trò biến giáo dục trở thành một thứ tôn giáo. Mới đây, tôi có dịp tham gia một buổi nói chuyện về tư duy phản biện trong giáo dục, thấy một số ý kiến vẫn còn lòng vòng, tranh luận về định nghĩa của cụm từ này, khiến vấn đề trở nên phức tạp.

* Vậy nên “đơn giản hóa” nó như thế nào, thưa ông?

– Tư duy phản biện (critical thinking) không phải là một triết lý, mà là công cụ để người học mạnh dạn đi xa hơn trong hành trình kiếm tìm chân lý. Thí dụ, khi tiếp nhận một vấn đề do người khác tìm tòi, sáng tạo, học sinh cần được khuyến khích tìm tòi thêm. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, các em có thể tự do phản biện.

Nhiều thầy cô nên tập cách lắng nghe những ý kiến trái chiều, khích lệ đối thoại và sẵn sàng chấp nhận có những khía cạnh trò giỏi hơn mình, sâu sắc hơn mình. Đương nhiên, không phải tất cả học sinh sinh viên đều ngoan ngoãn như một bầy cừu, nhưng số đông là như vậy.

Tôi nghĩ cả gia đình và nhà trường đều có trách nhiệm về thực trạng này. Ở nhà, cha mẹ dạy con rằng Con cãi cha mẹ trăm đường con hư. Trong một chừng mực nhất định, câu nói này đã trở thành một cái vòng kim cô, gắn lên đầu trẻ thơ. Đến trường, vừa vào lớp một, học trò được dạy là “tiên học lễ, hậu học văn”, rồi “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Năm này qua năm khác, các em tự đúc rút ra “im lặng là vàng”.

Tôi nghĩ ngành giáo dục nên cải sửa “tiên học lễ, hậu học văn” thành “tiên học phản biện, tiếp đến là học lễ, rồi mới tới học văn”. Trong xã hội loài người, những người làm nên sự nghiệp thường là những người có tư tưởng dám phản biện, dám chống đối cái sai.

Ở Mỹ có một nhân vật khá nổi tiếng là Ralph Nader. Sau khi tốt nghiệp ngành luật, thay vì hành nghề luật sư, ông ấy tự nguyện bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bằng cách truy tìm những bằng chứng cho thấy nhiều công ty cố tình bán ra thị trường những sản phẩm kém chất lượng, gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong bối cảnh luật pháp chưa bảo vệ quyền lợi của họ.

Dần dần, nhiều người ủng hộ ông ấy, hình thành phong trào bảo vệ người tiêu dùng ở nước Mỹ. Vấn đề là ông đã làm thay đổi tư duy của cả một nước. Một trường hợp khác là mục sư Martin Luther King đấu tranh cho phong trào nhân quyền thập niên 1950-1960.

* Hình như ông đánh giá rất cao vai trò của những người dám bơi ngược dòng?

– Đúng vậy. Trong nhiều trường hợp, vai trò của họ còn quan trọng hơn nhà cầm quyền. Sự phát triển của nước Mỹ có phần đóng góp không nhỏ của những con người như Ralph Nader, Martin Luther King. Một điểm chung giữa hai nhân vật này là chấp nhận đặt cược sinh mạng mình vào một mục đích mà họ tin là đúng và không tư lợi cá nhân. Nhờ vậy, nên họ tập hợp được quần chúng.

Ở Việt Nam đầu thế kỷ XX thì có Nguyễn Tất Thành. Vì theo đuổi mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc mà người thanh niên xứ Nghệ không an phận với nghề dạy học. Người Việt mình hay nói “một điều nhịn, chín điều lành”. Nhưng cũng có những trường hợp càng nhịn thì người ta càng lấn tới. Bằng chứng là trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946, Nguyễn Tất Thành, lúc đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tuyên bố rõ ràng rằng chúng ta càng nhân nhượng thì kẻ địch càng lấn tới.

* Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này.

Theo THƯỢNG TÙNG
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Xây Nhịp Cầu Cuộc Sống

Ngày xửa ngày xưa có hai anh em ở hai trang trại liền kề. Một hôm họ gây gổ. Đó là vết rạn nứt nghiêm trọng đầu tiên trong suốt 40 năm cùng làm ruộng, cùng chia sẻ máy móc, cùng trao đổi công lao động và hàng hóa cần thiết trong yên bình.

farm1

Thế rồi, sự hợp tác lâu dài sụp đổ. Nó bắt đầu từ một hiểu lầm nhỏ và phát triển thành sự xa cách lớn, và cuối cùng bùng nổ thành những lời sỉ vả nặng nề, tiếp theo sau là nhiều tuần im lặng.

Một buổi sáng, có ai đó gõ cửa nhà John. Anh ta mở cửa và thấy một người đàn ông với hộp đồ nghề thợ mộc.
“Tôi đang tìm việc làm trong vài ngày”, ông ta nói, “Có lẽ anh có vài việc vặt đâu đó mà tôi có thể làm chứ?”

“Vâng, ” người anh nói, “Tôi có việc cho anh đây.”

“Hãy nhìn cái trang trại bên kia con lạch. Hàng xóm của tôi đấy, thực ra, đó là em trai tôi. Tuần trước, giữa chúng tôi là một đồng cỏ và nó đã cho ủi đến đê sông và giờ đây có một con lạch giữa chúng tôi. Ồ, nó có lẽ làm thế để chọc tức tôi, nhưng tôi đã có cách cho nó biết tay. ”

“Anh nhìn thấy đống gỗ cạnh kho thóc chứ? Tôi muốn anh đóng một hàng rào – cao chừng 2 m 7 – che đi để tôi khỏi phải thấy mặt nó lẫn đất của nó nữa.”

fence_

Người thợ mộc nói: “Tôi hiểu ý anh rồi. Đưa tôi đinh và cuốc thuổng, tôi sẽ làm anh hài lòng. ”

Người anh có việc phải ra thị trấn cả ngày, nên anh ta giúp người thợ mộc chuẩn bị những vật liệu cần thiết. Cả ngày, người thợ mộc miệt mài đo đạc, cưa xẻ, đóng đinh. Khi người anh trở về lúc mặt trời lặn, người thợ mộc đã hoàn thành công việc.
Người anh mở tròn mắt, há hốc miệng. Ở đó chẳng có hàng rào nào cả. Đó là một cây cầu – một cây cầu nối liền hai bờ của con lạch. Một cây cầu có tay vịn đẹp tuyệt – và người hàng xóm, người em trai, đang giang rộng tay tiến về phía họ :

“Anh ơi, anh thật tuyệt vời khi xây chiếc cầu này sau những gì em đã nói và làm.”
Hai anh em đứng ở mỗi đầu cầu, rồi họ gặp nhau ở giữa cầu, tay nắm chặt tay.

Họ quay lại nhìn người thợ mộc nhấc hộp đồ nghề lên vai.
Người anh nói, “Không, chờ đã! Hãy ở đây thêm vài ngày. Tôi có nhiều việc khác để anh làm”.

“Tôi rất muốn ở lại,” người thợ mộc trả lời, “nhưng tôi còn nhiều cây cầu khác phải xây nữa”.

CAU_GO

Hoàn cảnh bên ngoài của chúng ta như thế nào không quan trọng, bởi vì Thiên đàng ở bên trong tâm hồn mỗi chúng ta. Vì thế đừng phung phí phần đời còn lại tìm kiếm hạnh phúc trên thế giới.

Chỉ nhìn vào gương và mỉm cười. Hãy để dòng chảy hạnh phúc tuôn trào từ trái tim, từ trí tuệ, và tâm hồn cho đến khi nó tràn ngập cuộc sống của bạn và mọi người xung quanh.

Quang Nguyễn – Thảo Uyên

BUILDING BRIDGES OF LIFE

Once upon a time two brothers, who lived on adjoining farms, fell into conflict. It was the first serious rift in 40 years of farming side by side, sharing machinery, and trading labor and goods as needed without a conflict.

Then the long collaboration fell apart. It began with a small misunderstanding and it grew into a major difference, and finally it exploded into an exchange of bitter words followed by weeks of silence.

One morning there was a knock on John’s door. He opened it to find a man with a carpenter’s tool box. “I’m looking for a few days’ work” he said. “Perhaps you would have a few small jobs here and there I could help with? Could I help you?” “Yes,” said the older brother. “I do have a job for you.”

“Look across the creek at that farm. That’s my neighbor; in fact, it’s my younger brother. Last week there was a meadow between us and he took his bulldozer to the river levee and now there is a creek between us. Well, he may have done this to spite me, but I’ll do him one better.”

wooden fence_

“See that pile of lumber by the barn? I want you to build me a fence –an 8-foot fence — so I won’t need to see his place or his face anymore.”

The carpenter said, “I think I understand the situation. Show me the nails and the post-hole digger and I’ll be able to do a job that pleases you.”

The older brother had to go to town, so he helped the carpenter get the materials ready and then he was off for the day. The carpenter worked hard all that day measuring, sawing, nailing. About sunset when the farmer returned, the carpenter had just finished his job.

The farmer’s eyes opened wide, his jaw dropped. There was no fence there at all. It was a bridge — a bridge stretching from one side of the creek to the other! A fine piece of work, handrails and all — and the neighbor, his younger brother, was coming toward them, his hand outstretched.

“My brother! You are quite a fellow to build this bridge after all I’ve said and done.” The two brothers stood at each end of the bridge, and then they met in the middle, taking each other’s hand.

holding-hands-

They turned to see the carpenter hoist his toolbox onto his shoulder.

“No, wait! Stay a few days. I’ve a lot of other projects for you,” said the older brother.

“I’d love to stay on,” the carpenter said, but I have many more bridges to build.

It doesn’t matter what our outer circumstances are either, because the Kingdom of Heaven is within us. Don’t spend the rest of your life searching the world for happiness then.

Just look in the mirror and laugh. Just let the happiness flow from your heart, mind, and soul until it fills your life and the lives of all those around you.

(Unknown Author)

The Night They Drove Old Dixie Down

500 Greatest Songs of All Times

Chào các bạn,

Công viên Quốc gia Gettysburg ngày nay
Công viên Quốc gia Gettysburg ngày nay

Chủ nhật tuần vừa rồi, ngày 6/9/2009 mình có dịp được đến thăm vùng Gettysburg ở tiểu bang Pennsylvania, Mỹ. Mình đến thăm nghĩa trang tưởng niệm cuộc nội chiến của Mỹ và lịch sử của thị trấn Gettysburg, nơi tổng thống Abraham Lincoln đọc bản diễn văn lịch sử Gettysburg Address. Đọt Chuối Non cũng đã đăng bản diễn văn Gettysburg. Mình post lại bài diễn văn đó cuối phần mình viết ở đây.

Hôm nay mình muốn giới thiệu với các bạn bài hát “The Night They Drove Old Dixie Down” (“Đêm Họ Cán Bẹp Dixie Xa Cũ”) – bài hát nói về những ngày cuối cùng của trận nội chiến Nam – Bắc, hậu quả và tình cảm sau cuộc chiến tranh. Dixie là tên cúng cơm của phần đất miền nam, các tiểu bang miền Nam nước Mỹ, thất trận trong cuộc chiến. Bài hát được tạp chí Rolling Stone bình là “bài hát đem đến một cảm giác con người tràn ngập về lịch sử” vào tháng 10 năm 1969. Báo nhạc Rolling Stone xếp bài hát này hạng 249 trong 500 Bài hát hay nhất trong mọi thời đại.

Tổng thống Lincoln tại Gettysburg
Tổng thống Lincoln tại Gettysburg

Bài hát được sáng tác bởi nhạc sĩ người Canada Robbie Robertson và được thu âm bản đầu tiên bởi “The Band” năm 1969. Sau đó Joan Baez hát bài hát này và đó là bản thu âm thành công nhất tới nay, đạt tới thứ hạng 3 trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở Mỹ năm 1971.

Bài hát hát về một người lính quân phía Nam tên là Virgil Caine phục vụ trên chuyến tàu Danvill bảo vệ thủ phủ miền nam ở Richmond, Virginia và gặp sức tấn công của quân ở phía bắc lãnh đạo bởi tướng Robert E. Lee.
gettysburg battle
Miền Nam bị thua. Và người miền Nam nước Mỹ  đau buồn và có những phản ứng lẫn lộn vì lý tưởng khác với miền Bắc. Ở miền Bắc, Lincoln không chấp nhận một quốc gia “nửa nô lệ, nửa tự do” và miền Nam chấp nhận điều đó.

Chiến tranh để lại bao hậu quả thật nặng nề. Ở Gettysburg hậu quả là nặng nề nhất vì trận chiến đấu ác liệt nhất đã diễn ra ở đó. Gettysburg được coi là bước ngoặt của cuộc chiến tranh, diễn ra từ mùng 1 tới mùng 3 tháng 7 năm 1963, nơi 160,000 lính Mỹ đánh nhau trên một thị trấn gồm 2,400 dân thường.

Luật sư 32 tuổi David Wills ở Gettysburg lúc đó đã chứng kiến tất cả những tang thương của cuộc chiến tranh. Một tấm biển trong ngôi nhà tưởng niệm David Wills có dòng chữ:

“Sau cuộc chiến, Gettysburg trở thành một bệnh viện và nhà xác khổng lồ: những người lính chết và bị thương vượt quá số dân thường 11 lần”.

Ngay sau cuộc chiến ở Gettysburg, David Wills đã đề nghị ý tưởng về khu đất làm Nghĩa trang tưởng niệm Tử sĩ chiến tranh cho thống đốc của bang Pennsylvania lúc đó là Andrew Gregg Curtin.

Nhà của luật sư David Wills
Nhà của luật sư David Wills

Ông Wills sau đó đã được ủy quyền để mua khu đất làm nghĩa trang bằng tiền của chính quyền liên bang.

David Wills đã thiết kế ra buổi lễ để tôn vinh những người chiến sĩ Mỹ trong cuộc nội chiến. Tổng thống Abraham Lincoln, theo lời mời, đã tới làm khách ở nhà ông Wills một buổi tối, nơi Lincoln hoàn thành phiên bản cuối cùng của bản diễn văn Gettysburg, hôm 18/11/1863, hôm trước của buổi lễ Gettysburg vào 19/11/1863.

David Wills dàn dựng buổi lễ với 2 tiếng diễn văn dành cho thượng nghị sĩ Edward Everett phát biểu và sau đó khoảng mấy phút để tổng thống Lincoln “nói vài lời” (“few appropriate remarks”).

Ai ngờ đâu, bài phát biển 10-câu 2-phút Gettysburg Address của Lincoln ngay lập tức đi sâu vào lịch sử và nói lên tất cả tinh thần của cuộc chiến và khát vọng của người dân Mỹ cũng như mọi dân tộc trên thế giới.

Sau đây là bài Diễn văn Gettysburg Address của tổng thống Lincoln.
Tiếp theo sau là lời bài ca “The Night They Drove Old Dixie Down”, song ngữ Anh trước Việt sau. Trong bản dịch có thêm vài lời giải thich [để trong ngoặc như thế này].

Và sau đó là 2 videos: Video đầu là Joan Baez trình bày bản nhạc, video thứ hai do ban nhạc The Band trình bày.

Diễn văn Gettysburg của Tổng thống Lincoln

Gettysburg, Pennsylvania
Tháng 11, ngày 19, năm 1863

Tám mươi bẩy năm về trước, cha ông chúng ta đem đến trên lục địa này, một quốc gia mới, thai nghén trong Tự Do, và dâng hiến cho nguyên l‎y’ rằng mọi người được sinh ra bình đẳng.

Bây giờ chúng ta đang ở trong một cuộc nội chiến lớn, thử nghiệm xem quốc gia đó, hay bất kỳ quốc gia nào khác, thai nghén như vậy và dâng hiến như vậy, có thể tồn tại lâu dài. Chúng ta gặp nhau trên một bãi chiến trường lớn của cuộc chiến tranh đó. Chúng ta đã đến để hiến dâng một phần của bãi chiến trường này làm nơi an nghỉ cuối cùng cho những người hy sinh đời mình ở đây để tổ quốc có thể sống. Thật là thích hợp và thỏa đáng để chúng ta làm thế.

Nhưng, ở một ý nghĩa rộng lớn hơn, chúng ta không thể dâng hiến – chúng ta không thể thánh hóa – chúng ta không thể linh thiêng hóa – bãi đất này. Những người anh dũng, đang sống cũng như đã chết, những người đã đấu tranh ở đây, đã thánh hóa mảnh đất này, cao xa hơn năng lực yếu kém của chúng ta có thể thêm hay bớt điều gì. Thế giới không để y’, và không nhớ được lâu điều chúng ta nói ở đây, nhưng thế giới không bao giờ quên được điều các anh hùng đã làm ở đây. Chúng ta, những người còn đang sống, nên được dâng hiến ở đây cho công việc còn dang dở mà những người liệt sĩ nơi đây đã oanh liệt tiến đẩy cho đến mức này. Chúng ta nên được dâng hiến ở đây cho nhiệm vụ to lớn còn lại trước chúng ta – từ tay những anh hùng liệt sĩ, chúng ta chấp nhận hiến thân nhiều hơn cho sự nghiệp họ đã hiến thân, đến mức thành tâm tối hậu– chúng ta quyết tâm không để những người chết ở đây chết đi vô ích – quốc gia này, trong Chúa, sẽ tái sinh trong tự do—và chính phú của dân, do dân và vì dân sẽ không biến mất trên trái đất này.

.

The Night They Drove Old Dixie Down
Lyrics: Robbie Robertson
Music: Robbie Robertson

Virgil Caine is the name and I served on the Danville train
‘Til Stoneman’s cavalry came and tore up the tracks again
In the winter of sixty-five
We were hungry just barely alive
By May tenth Richmond had fell
It was a time I remember oh so well

Chorus:
The night they drove old Dixie down
And the bells were ringing
The night they drove old Dixie down
And the people were singing, they went
La la la la la la, la la la la la la la la, la

Like my father before me I will work the land
And like my brother above me who took a rebel stand
He was just eighteen, proud and brave
When a Yankee laid him in his grave
I swear by the mud below my feet
You can’t raise a Cain back up when he’s in defeat

[chorus]

Back with my wife in Tennessee when one day she called to me
Virgil, quick come see, there goes Robert E Lee
Now I don’t mind choppin’ wood
And I don’t care if the money’s no good
You take what you need and you keep the rest
But they should never have taken the very best

[chorus]

.

Đêm họ cán bẹp Dixie xưa cũ

Virgil Caine là tên tôi và tôi phục vụ trong tuyến xe lửa Danville
Đến khi kỵ binh của đám Người Thời Đồ Đá đến và phá hủy đường sắt lần nữa.
Mùa đông 65 [1865]
Chúng tôi đói và sống rất mong manh
Đến 10 tháng 5 thì Richmond [thủ phủ của Nam quân]đã mất
Đó là thời gian tôi nhớ rất rõ

Điệp khúc:

Đêm họ cán bẹp Dixie [miền Nam] xưa cũ
Chuông kêu vang lừng
Đêm họ cán bẹp Dixie xưa cũ
Và mọi người ca hát, họ ca
La la la la la la, la la la la la la la la, la

Như ba tôi trước tôi, tôi sẽ cày bừa
Và như anh tôi trên tôi đã thành phiến loạn
Anh chỉ 18, hào hùng và can đảm
Khi Bắc quân bỏ anh vào mộ
Tôi thề trên vũng bùn dưới chân tôi
Bạn không thể làm người họ Caine đứng dậy khi đã thất trận

[Điệp khúc]

Trở về với vợ ở Tennessee, một ngày nọ nàng gọi tôi
Virgil, nhanh lên ra xem, [tướng] Robert E. Lee [của Bắc quân] đó
Tôi không ngại chặt củi
Và tôi không quan tâm nếu không có đủ tiền
Bạn lấy bao nhiêu bạn cần và để lại phần kia
Nhưng họ đã không nên lấy hết những gì tinh túy nhất

[Điệp khúc]
.

Joan Baez


.

The Band

Thiền Thi (Lý – Trần 900 CE – 1400 CE)

Chào các bạn,

Mình mới làm xong slideshow này có 32 ảnh bonsai, 30 bài thơ thiền Hán Việt của hai đời Lý Trần (năm 900 đến 1400 sau công nguyên), và 30 bài thơ dịch tiếng Việt của các anh Nguyễn Duy, Nguyễn Bá Chung và Trần Đình Hoành. Bản nhạc nền Rejuvenation cũng rất thiền. Post đây để chia sẻ với các bạn.

Chúc các bạn một ngày tĩnh lặng !

Túy-Phượng

Click vào ảnh dưới đây để xem và download slideshow

bonsai-tree

Những cơn bão đời

Chào các bạn,

Rất thường xuyên cuộc đời đang sáng sủa vui vẻ của ta bỗng nhiên bị một đám mây đen bao phủ kín mít, giông bão, sấm sét, cuồng phong, mưa dầm, ngập lụt, nhức nhối, lắng lo, sợ hãi, trầm uất bao trùm cả con người mình và cả thế giới của mình. Và mình chới với, ngợp thở, tê liệt, không suy nghĩ gì được, không thiết ăn uống, không thiết làm việc, người cứ rũ liệt, tê liệt hoàn toàn.
storm
Có hàng nghìn l‎y’ do trong đời sống có thể mang đến mây đen và bão tố–mất việc, mất tình, mất tiền, mất danh, mất địa vị, đụng chạm với bạn, lục đục trong gia đình, lủng củng trong tình cảm… Dù là l‎y’ do gì đi nữa thì hậu quả cũng như nhau—cái nhìn của ta về thế giới bỗng nhiên xoay 180 độ, như đang trong phòng sáng đột nhiên bị tắt hết đèn.

Đây là hiện tượng chúng ta đối diện thường xuyên trong đời sống. Không thể tránh được, vì có việc là có thể mất việc, có tiền là có thể mất tiền, có tình là có thể mất tình, có hạnh phúc là có thể mất hạnh phúc… Cho nên, dù chúng ta cố sống càng ít mất mát càng tốt, nhưng tránh mất mát không thể là trọng tâm hàng đầu của nỗ lực, vì ta không thể tránh hết được. Trọng tâm hàng đầu của nỗ lực sống phải là làm thế nào để ta không bị tê liệt mỗi khi bị mất mát.

Vấn đề chính của khủng hoảng là mỗi khi đụng khủng hoảng ta có cảm tưởng là bị bẹp dí dưới ngọn núi khổng lồ–cơn khủng hoảng thấy nặng nề như ngọn Hoàng Liên Sơn. Nhưng sự thật thì đó chỉ là một ảo tưởng, vì đa số mọi cơn khủng hoảng đều nhỏ xíu. Ví dụ, ta bị một cơn nhức đầu như vỡ não, chẳng làm ăn gì được, nhưng rất có thể là chỉ 2 viên aspirin có thể giải quyết vấn đề. Hoặc, chỉ một cơn nhức răng có thể làm ta lăn lộn sõng soài, nhưng rất có thể chỉ cần 2 viên aspirin nữa là xong. Đang đi thoải mái, đạp ngay một gai hoa hồng sâu vào lòng bàn chân, rút ra không được, thế là không đi đứng gì được nữa, cứ phải ngồi đó khóc, cho đến khi lấy được gai ra.
underamountain
Thế nghĩa là gì? Thưa, nghĩa là chỉ một vấn đề nhỏ như chiếc gai hoa hồng, có thể làm toàn thân ta rũ liệt như bị ngọn núi đè. Nhưng gai hoa hồng vẫn không phải là ngọn núi, và thực sự là nó không thể đè bẹp ta được, phải không các bạn?

Trẻ em ở nhà quê quen đi chân không, dẫm gai hàng ngày là chuyện tự nhiên. Chẳng chết chóc ai cả. Thế thì quả núi sinh ra từ cái gai bé tí của ta là thật hay giả? Ta rũ liệt vì ta chưa quen dẫm gai, chưa quen chịu đựng dẫm gai, hay gai là núi?

Đây là điều quan trọng nhất cho cách sống tích cực trong khủng hoảng. Đa số mọi vấn đề, nếu không phải là tất cả mọi vấn đề, thực ra rất nhỏ so với ảnh hưởng của chúng trên tâm ta. Ta có cần một chiếc màn bao trùm cả thế giới để mắt ta không còn thấy thế giới? Không, ta chỉ cần hai hại bụi ớt rơi vào hai mắt thì ta không thể thấy thế giới được nữa. Bản chất của khủng hoảng là thế, chỉ cần hai, hay một, hạt bụi là có thể làm cho tâm ta hoàn tòan mù mịt, không còn thấy gì, không còn thấy hạnh phúc, hy vọng, yêu đời, tích cực, hăng hái, tĩnh lặng, an lạc…

thorn
Đọc báo hàng ngày ta thấy thiên hạ giết nhau vì mấy chuyện “ruồi bu” hàng ngày—em gái nói anh xấu trai, mẹ la con lười biếng, bạn bè chê nhau dốt, vợ chê chồng bất tài, chó nhà này chạy qua nhà kia tiểu bậy, mất 10 ngàn đồng và nghi là bạn mình lấy… Nói chung là đa số các chuyện giết người trên báo chí hàng ngày chỉ vào hàng “xe đạp cán chó.” Nhưng những cái gai nhỏ xíu, như mất 10 nghìn đồng, vẫn có thể làm cho một người hoàn toàn mù quáng và trở thành điên rồ.

Vì vậy, khi ta gặp vấn đề, gặp khủng hoảng, nằm dưới đáy núi thở không được, sắp ngợp thở, sắp chết, sợ hãi, tê liệt, tuyệt vọng, nhúc nhích không được… thì hãy nằm yên đó và suy nghĩ… từ từ…. tĩnh lặng… logic… thoải mái… xem quả núi đang đè mình thực ra có phải là quả núi hay không, vấn đề mình đang gặp phải có phải là quả núi hay không, hay đó chỉ là ảo tưởng của tâm trí, chỉ là cái gai tí ti của người chưa quen đạp gai. Nếu không nhúc nhích tay chân được thì cứ nằm yên và nhúc nhích tư tưởng một tí như thế… Biết đâu môt lúc sau thấy dễ thở hơn, thoải mái hơn, mở mắt ra thì thấy trái núi đã biến đâu mất. Và trong tay mình chỉ có một chiếc gai hồng.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Lời nguyện cho đêm tối và ánh sáng

Chúa ơi,

Con gửi cho Chúa buổi tối này.
Hãy gửi thiên thần tới quanh căn nhà của con,
chiếc giường của con,
con cái của con,
tình yêu của con,
và tất cả mọi người.
Hãy gửi thiên thần đi khắp thế giới tối hôm nay,
để chữa lành người ốm
và thức tỉnh người chết.
darknessandlight
Hãy để phép lạ
thay thế cho đau đớn
trong tất cả chúng con.
Hãy đặt tay Chúa lên mắt của chúng con,
để cuối cùng
chúng con có thể nhìn thấy.
AMEN.

.

Dear God,

I give to you this night.
Post angles round my home,
my bed,
my children,
my loves,
and everyone.
Send angles through the world tonight,
to heal the sick
and awaken the dead.

Let miracles
replace the pain
in all of us.
Lay your hands on our eyes,
that we might see
at last
AMEN.

(Marianne Williamson
Nguyễn Minh Hiển dịch)

Yêu Thương và Tha Thứ

Nếu ai đó hỏi tôi rằng theo bạn điều gì cần nhất trong thế giới tình cảm của con người, tôi sẽ trả lời rằng YÊU THƯƠNG.
Và điều gì không thể thiếu để cuộc sống trở thành thân ái, câu trả lời của tôi là THA THỨ.

yeuthuong1

Vâng, yêu thương và tha thứ.
Yêu thương và tha thứ quan hệ mật thiết như thế nào? Ta hãy cùng nghe một đoạn kinh văn:

Tình yêu thương hay nhịn nhục, tình yêu thương hay nhân từ.
Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín nhịn mọi sự.

(Cô- rinh- tô I đoạn 13)

Như vậy, đã yêu thương thì phải biết tha thứ.
Và tha thứ là bằng chứng thật của yêu thương, như là vàng ròng làm mệnh giá cho đồng đô la vậy.
Ai cũng biết đời sống cần yêu thương, bởi cuộc sống còn nhiều người cơ nhỡ, bởi xã hội còn lắm đói nghèo, bởi con người rất sợ sự cô đơn…và bởi con tim sợ ngày ghẻ lạnh!
Ai cũng biết yêu thương là hồng cầu nuôi dưỡng sự sống xã hội.
Nhưng có điều không phải ai cũng can đảm biết:

Cuộc sống còn nhiều lầm lạc, còn lắm cơ cầu, con người còn nhiều phần trăm bản năng động vật… còn lần tìm những khúc quanh kín đáo để đắp điếm cho cái phần tư kỉ của mình! Và còn nhiều tội lỗi.

Không phải là tội lỗi của ý thức, mà là một thứ tội lỗi bản năng.
Tôi không phân ra thành nguyên tội hay kỉ tội.
Và chắc gì trên con đường tội lỗi ấy không in dấu chân của chính mình với cái tôi vọng ngã?

tha thu

Nếu là tôi, là em, là bạn…Chúng mình cầu mong điều gì?
Sẽ có những lúc tức tửi, thương thân xót phận, sẽ là những giọt nước mắt ăn năn.
Con đường tội lỗi dẫn cá nhân về phía cô đơn, phía hắt hủi, phía lạnh căm mắt nhìn, phía nụ cười rẻ rúng…

Cần biết bao nhiêu lòng tha thứ của con người?
Như bàn tay mẹ cha ân cần dắt đứa con hoang đàng về với chính ngôi nhà của mình, tha thứ cũng sẽ làm cho con người ấm lòng, hồi sinh, tìm lại ý nghĩa thật của sự sống.

Mỗi một lầm lạc được thứ tha, xã hội có thêm một con người có cơ hội làm lại đời mình.
Yêu thương sinh ra cái đẹp.
Thì tha thứ là sự hồi sinh cái đẹp.
Mà sinh thành và tái tạo, nào ai biết rằng trọng rằng khinh?
Và bạn, và tôi còn ngần ngại so đo gì với lòng tư kỉ?
Ta hãy nhủ nhau đãi người bằng yêu thương và tha thứ!

Nguyễn Tấn Ái

Looking for Used Things

Dear Everyone,

Today I post the poem Tìm Đồ Cũ and my English translation in the bilingual poetry category. In this English discussion section, let’s use this opportunity to discuss about that poem and its translation.

You are free to ask me why I use a certain word and not another word, why I have written in a certain way and not another way. You also can propose a change in the translation. We are working with art, not with right-wrong formulas. So we can be as creative and as artistic as we want, within the limit of the original poem.

Here they are again below, for your analysis.

Have a great day!

Hoanh
.

Tìm Đồ Cũ

    – Duy Định –

fleamarket
Tôi tìm một mảnh đời,
…trong chợ trời,
……Golden West
Giữa những ve chai,
…những nồi niêu rỉ xét
Tôi đi tìm khuôn mặt người,
…của một thời,
……giữa chợ chiều sắp dẹp
Khi mặt trời,
…dưới chân đồi,
……khi nắng vàng lịm chết
Tôi đi tìm một nụ cười …
…ai chào mời …
……xa vời và mỏi mệt
Những gian hàng …
…dòm vào,
…thấy người con gái Việt,
…buồn vui
Tôi đi tìm một bờ môi,
…mất rồi,
…bây giờ hối tiếc
Chiếc nón bài thơ,
…bày bán,
…rách nát, tóc bạc rồi …..

.

Looking for Used Things
fleamarket1
I look for a piece of life,
…in the flea market,
……Golden West
Among empty bottles,
…rusted pans and pots
I look for the human face,
…of a time,
……in the closing afternoon market
When the sun,
…at the foot of the hill,
……when the yellow light is dying
I look for a smile…
…someone solicits…
……distant and tired
The selling booths…
…I look in,
…see the Viet girl,
…happy and sad
I look for the lips,
…already lost,
…now regretful
The nón bài thơ,
…for sale
…tattered, the hair has turned gray …

(Translated by TDH, 9/30/2000 , 9/9/2009)

Không Đến Nỗi Tệ

Cuộc sống không ngừng biến đổi, vận động, có lúc không ít cam go, nỗi khổ, đắng cay, thất bại, nhưng cũng nhiều thành công, niềm hân hoan, hạnh phúc tràn đầy. Chúng ta có thể cảm nhận cái đẹp ở khắp nơi, trong thiên nhiên, mây núi, rừng cây, đồi cỏ, hoa lá, trong bảy sắc cầu vồng sau cơn mưa, trong làn sương sớm, trong sắc chiều, trong tiếng chim hót líu lo….

rainbow_path

Cái đẹp vô cùng phong phú trong nghệ thuật: điêu khắc, hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương, sân khấu, và điện ảnh. Cái đẹp cũng hiện diện trong tình yêu, tình người. Cuộc sống đẹp muôn màu, muôn vẻ như thế đó, nhưng vẫn có một số người không biết ngắm nhìn và tận hưởng vẻ đẹp ấy. Vì sao? Vì họ luôn thấy bất mãn với cuộc đời, với chính mình; cái tâm so bì làm họ nặng nề, đố kị và thấy mình bất hạnh, thua chị kém em. Thế là đau khổ triền miên. Thử hỏi đời còn chi vui sống khi ngày nào cũng hát “Chủ Nhật Buồn đi lê thê ”

Tất nhiên, trong cuộc đời ai chẳng gặp lúc khó khăn, nhất là trong thời buổi suy thoái kinh tế, cuộc sống còn lắm đảo điên, và thế sự có khi rối ren, thế giới cũng như quanh ta nhiều người đói khổ. Người xưa vẫn nói: “Sông có khúc, người có lúc”. Vậy nên
” Chớ để nỗi đau của một mùa hủy hoại niềm vui của những mùa còn lại; hãy kiên trì vượt những lúc khó khăn, rồi những ngày đẹp chắc chắn sẽ đem cho bạn nụ cười.”

Vấn đề là mỗi chúng ta phải biết tự rèn luyện cho mình ý chí, chống đỡ với những những khó khăn và vượt qua chướng ngại để tìm được niềm vui và hạnh phúc cho cuộc sống. Muốn vậy cách tốt nhất là tự trang bị cho mình một tâm thế thích hợp sẵn sàng trong hành trình tìm hạnh phúc. Tâm thế thích hợp ấy sẽ đến từ đâu? Các bạn thử nghĩ xem, giữa một người tư duy tích cực và một người tư duy theo hướng ngược lại, tiêu cực, ai trong hai người có được chìa khóa để mở cánh cửa an bình, lạc quan, thành công, và hạnh phúc?

Chắc các bạn còn nhớ câu nói ứng xử rất hay của hoa hậu hoàn vũ 2005, Natalie Glebova, Miss Universe 2005 trong đêm chung kết cuộc thi khi cô được hỏi:

missuniverse2005

” What is the biggest challenge in your life?”

Điều gì là thử thách lớn nhất trong cuộc sống của bạn?

Câu trả lời của Natalie Glebova là

“The biggest challenge of my life is always trying to stay positive. I consider myself the kind of person who always looks at the glass half-full, instead of half-empty. And even though sometimes in difficult times it’s hard to look at life this way, I always try to maintain a positive outlook on life.”

Thử thách lớn nhất trong cuộc sống đối với tôi là luôn cố gắng sống lạc quan. Tôi xem mình là mẫu người luôn nhìn vào phần nửa đầy của ly nước, thay vì nửa vơi. Và dù đôi khi trong lúc khó khăn, thực chẳng dễ nhìn cuộc sống theo cách này, tôi vẫn luôn cố gắng giữ quan điểm sống tích cực.”

Và tất nhiên, cô gái 23 tuổi gốc Nga sống ở Toronto, Canada, với nét đẹp cổ điển tỏa sáng ở tất cả vòng thi trình diễn và trả lời lưu loát bằng câu nói tiêu biểu của tư duy tích cực này đã chiếm được điểm cao nhất của ban giám khảo. Cô đã khiến các thí sinh dối thủ khác tâm phục, chinh phục lòng tin yêu của 17.000 khán giả xem trực tiếp ở Impact Arena, cũng như cảm tình các khán giả truyền hình quốc tế.

glass-half-full

Câu nói trên tiêu biểu cho tư duy tích cực, chính là ví dụ sống động và thuyết phục của cách sống lạc quan, yêu đời. Dù nước trong ly chỉ còn một nửa, nhưng người có tư duy tích cực sẽ nhìn vào phần còn của ly thay vì là phần vơi. Và như thế người có tư duy tích cực có thể làm gì với nửa li nước ấy? Uống tiếp hay làm đầy bằng cách phát huy nội và ngoại lực?

Một người sau khi chia tay với người mình yêu, không phải do lỗi của người yêu, nếu là người có tư duy tích cực, chắc chắn sẽ bằng lòng với tình bạn của hai người ( “Đem tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ”, Kiều ), và sẽ quý những tháng ngày dấu yêu ấy, với suy nghĩ rằng “ Dẫu gì ta cũng đã yêu, và đã từng hạnh phúc. Giờ đây tuy không sống cùng nhau, nhưng ta vẫn còn yêu, còn một khung trời kỉ niệm đẹp, và mong nàng sẽ sống bình an, hạnh phúc. Ngược lại người có tư duy tiêu cực luôn dằn vặt, tự đày đọa mình và đem lòng thù hận, oán trách người yêu cũ.

Tư duy tích cực mang lại sức mạnh, sự bình an và thăng hoa cho tâm hồn. Đó là bí quyết sống vui của những người biết cách sống, biết cách yêu thương, biết buông xả, tha thứ cho mình và cho người. Tất nhiên họ cũng luôn tươi cười, đối mặt với khó khăn, xắn tay áo và hành động, thay vì tự giam mình trong ngục tù của nhăn nhó, rầu rĩ , chê bai, phàn nàn…
positive-thinking-2

Theo số liệu thống kê của một nghiên cứu khoa học, trung bình mổi ngày trí óc chúng ta sản sinh ra từ 30.000 đến 50.000 ý nghĩ có thể phân thành 4 nhóm sau ;

Tư duy Tích cực: gồm những suy nghĩ có lợi cho mình và cho cả người khác như: tự tin, lạc quan, vui tươi, yêu thương, bao dung, trung thực, đoàn kết, tha thứ, an bình … Những đặc điểm của cách tư duy như thế sẽ khiến giúp người ta tích cực , lạc quan, tránh được nhiều stress và dễ thành công hơn, sống an vui và hạnh phúc.

Tư duy Tiêu cực: là những suy nghĩ có hại cho mình và người khác như: tự ti, ganh tỵ, mặc cảm, ích kỷ, sân hận, nghi ngờ, tuyệt vọng… Hậu quả của kiểu tư duy này, các bạn có thể tưởng tượng, giống kiểu nhân vật Macbeth là tên sát nhân ham hố quyền lực khiến vương quốc của mình rơi vào đau khổ và sụp đổ, trong vở kịch cùng tên của Shakespeare, hay như những người buồn chán, mượn men rượu, hay ma túy giải sầu, và dưới tác dụng của men say, của chất kích thích đã gây bao hành vi điên cuồng, làm tổn hại mình và người.
( xin đọc bài Hạt giống tâm hồn – Quyền lực đích thực ngày 23/ 3/ 2009, và Khắc phục những suy nghĩ tiêu cực , ngày 22/ 2/ 2009)

Tư duy Lãng phí: những suy nghĩ “rác”, chỉ đáng bỏ đi, nghĩ vơ vẩn về những gì đã qua trong vô vọng của một thời hoàng kim xa lắc xa lơ, hoặc chưa đến về những tai ương hay những khó khăn, làm tiêu hao năng lượng, khổ tâm, và mất thời gian quý giá của hiện tại, không biết tận hưởng món quà của hiện tại.

Tư duy Cần thiết: những suy nghĩ cần thiết về chiến lược, kế hoạch, công việc phải làm, đang phải giải quyết. Chẳng hạn thầy cô giáo thì phải suy nghĩ về bài giảng, soạn giáo án, nhà văn nghĩ đến cốt truyện, nhân vật, bố cục, người nông dân nghĩ đến giống, cây , làm cỏ, bón phân…

I can

Cách ta tư duy chắc chắn tác động và góp phần quyết định chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta. Tất cả các ý nghĩ sản sinh dù thuộc loại nào, cần thiết hay lãng phí, dù tiêu cực hay tích cực cũng ảnh hưởng đến cảm xúc, lời nói và hành động của ta.
Hạnh Phúc là trạng thái tinh thần, bất kể mục tiêu trong đời bạn là gì, hay bạn đang làm gì, đang ở đâu. Bạn làm chủ cuộc đời mình và tự do chọn lựa cách sống, có quyền thực hiện hành trình của đời bạn theo cách mình muốn và cảm thấy sướng vui, hạnh phúc hay đau khổ, bất hạnh chủ yếu do mình.

Sau đây mời các bạn xem một video có tên là “ Không Đến Nỗi Tệ “ , với những hình ảnh vui về các kiểu tư duy:

Chúc các bạn thấy mình giàu có niềm vui, hạnh phúc trong từng ngày, với tư duy tích cực

Click vào ảnh để xem và download video:

animal2

Kinh doanh từ niềm đam mê trà

Chào các bạn, hôm nay mình rất muốn chia sẻ với các bạn về chuỗi franchise Dobra Tea.
dobratea1
Trong chuyến đi đến bang Vermont cách đây mấy hôm, mình có dịp ghé vào thưởng thức một tách trà Nhật tại quán Dobra, 80 phố Nhà thờ, Burlington, Vermont. Đây là một quán trà tương đối nhỏ, diện tích cũng chỉ bằng một quán trà cỡ trung bình ở Việt Nam, sức chứa tầm 40-50 khách. Tuy vậy cách bài trí của quán khiến mình đặc biệt ấn tượng, từ bức tường ốp gỗ, đến cách sắp xếp các ấm trà, tách trà đủ các kiểu mà mình đoán là được mua hoặc làm đúng nguyên bản từ các vùng khác nhau trên thế giới. Lạc vào đây như là bạn được đi du lịch khắp các vùng trồng trà trên thế giới, với các bức ảnh chụp các cánh đồng trà, cảnh một cụ già đang cười rất hạnh phúc với cốc trà nóng trên tay, cho đến một cái bao tải đưng trà khô cũng được treo ngay ngắn trên tường như một tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Các thiết kế tỉ mỉ này là chủ ý của những người thực hiện ý tưởng muốn cho khách đến uống trà thực sự thấy mình sống trong thế giới của trà, từ quá trình trồng cây, hái búp trà, phơi sấy, tẩm ướp, bảo quản và thưởng thức.
tea

Mình còn ngạc nhiên hơn với hai cái nón lá Việt Nam hiện diện trong quán, và đoán là chủ quán đã từng đến Việt Nam ít nhất một lần rồi. Việt Nam cũng là nước trồng trà và có truyền thống uống trà mà.

Quả đúng là như vậy. Trong menu của quán với khoảng 60 loại trà khác nhau từ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Braxin, Nepal…có cả món trà xanh (green tea) của Việt Nam đấy. Quyển menu khá là dày, khoảng 120 trang, giống như một cuốn từ điển về trà. Các mô tả về quy trình trồng trà, đặc điểm của từng loại trà, cách pha trà và uống trà được viết rất chi tiết, kĩ lưỡng và thiết kế trang nhã. Mỗi loại trà được phục vụ cùng với các bộ ấm chén riêng dành cho nó theo đúng cách uống của người bản địa. Hình ảnh của bộ ấm chén cũng được vẽ rất đẹp bên cạnh giải thích về xuất xứ và các đặc điểm của từng loại trà. Vì thế khi uống tách trà ở đây, bạn không chỉ đơn giản là uống vì khát nữa mà uống để thưởng thức, để tìm hiểu về văn hóa trà và cảm nhận về ý nghĩa mỗi tách trà nóng mang lại. Gói gọn trong diện tích thu hẹp của một quán trà nhỏ mà bạn có thể cảm nhận được văn hóa trà ở khắp nơi trên thế giới và thấy mình như đang sống cùng với những người làm ra cốc trà. Điều đó đủ để thấy được niềm đam mê và tình yêu đối với trà của những người thực hiện ý tưởng lớn đến thế nào và họ thực sự muốn truyền tải tình yêu đó đến với mỗi một người khách ghé thăm.

Chuỗi franchise Dobra Tea được sáng lập bởi Alain Larocque và Jirka Simsa. Từ niềm đam mê trà, hai người đã thành lập công ty Tea-Devotees và phong cách quán trà Dobra Tea, từ đó đã franchise thành 22 quán ở Cộng hòa Séc, Slovakia, Hungary và Mỹ. Alain Larocque sinh ra ở Montreal, Cannada nhưng đã dành nhiều năm đi du lịch ở các nước châu Á trong khi Jirka Simsa đã từng làm việc trong quân đội, sống tại Séc, và anh là người đã nhận ra sự khác biệt của trà trong một đất nước chuộng uống bia như nước Séc quê hương anh.
dobratea2
Cuối năm 1989 Jirka mở quán đầu tiên ở Prague có tên là Dobra Cajovna có nghĩa là Trà ngon, và đã phát triển lên 17 quán trên khắp Cộng hòa Séc. Và sau đó cùng với hai người bạn cũng là nhà đầu tư của công ty là Ales Jurina và Jan Rak, họ đã quyết định phát triển chuỗi cửa hàng của mình sang thị trường Mỹ. Sau khi khảo sát 10 thành phố trên khắp nước Mỹ, họ dừng lại tại thành phố Burlington, bang Vermont và khai trương quán trà Dobra Tea đầu tiên ở Mỹ vào tháng 11 năm 2003. Lí do mà họ lựa chọn thành phố vùng núi phía Bắc nước Mỹ này đó là người dân khá cởi mở, có khá đông sinh viên và khách du lịch, thời tiết lạnh khá phù hợp cho văn hóa trà và một đặc điểm cũng không kém phần quan trọng là dân trí cao.

Theo Jirka thì các quy định về franchise ở Mỹ chặt chẽ hơn ở Séc, và bang Vermont cũng có một số quy định khá nghiêm ngặt về giờ mở cửa, chỗ ngồi ngoài trời vv. Vốn là kĩ sư, Jirka phụ trách phần thiết kế cho quán, bắt chước phong cách kiến trúc nhà thờ, khách có thể ngồi ghế mây hoặc trên phản như kiểu uống trà Nhật. Anh đã mất 4 tháng ở Vermont để đào tạo nhân viên với các bài test lý thuyết và thực hành rất cẩn thận để đảm bảo mỗi tách trà ở Mỹ cũng như ở Séc đều có chất lượng như nhau. Trà các trang thiết bị nội thất cho quán đều được chở trực tiếp từ Séc. Giá bán mỗi tách trà cho 2 đến 4 người khoảng từ 3.25$ đến 6$. Ngoài trà, quán còn phục vụ một số loại bánh nhỏ ăn cùng khi uống trà như bánh pita vùng Trung Đông hay món bánh ngọt kiểu Séc với giá từ 5$-7$. Giá này được coi là khá phải chăng ở Mỹ. Hiện nay mỗi năm quán đem lại mức doanh thu khoảng 200,000$. Jirka đã mở thêm một quán nữa tại Madison, bang Wisconsin và đang có ý định mở rộng thêm tại thành phố Boston.
teaestate
Ý tưởng kinh doanh trà của anh Jirka Simsa ban đầu bị coi là rất khó thành công vì dân Séc vốn chuộng uống bia và cafe. Nhưng Jirka cho rằng nếu như bia và cafe như một sự giải phóng năng lượng, thì uống trà là một cách để thư giãn và dịu nhẹ lại. Có lẽ chính vì nhìn thấy sự khác biệt đó mà chuỗi quán trà của anh đã phát triển rất nhanh, và sau khi anh mở quán trà đầu tiên ở Prague thì cũng có rất nhiều người bắt chước anh mở quán trà.

Quán trà ở Burlington thì làm cho mình ấn tượng nhất ở sự hiểu biết của người chủ quán về văn hóa trà trên thế giới và sự tỉ mẩn trong cách bài trí quán. Xuất phát từ niềm đam mê và sự nhạy bén khi nhìn thấy một thị trường tiềm năng là thưởng thức trà chưa được khai thác, Jirka Simsa và những người bạn của mình đã thực sự biến niềm đam mê thành một ý tưởng kinh doanh thành công.

Các bạn có thể tìm hiểu thêm về Dobra Tea tại địa chỉ www.dobratea.com.

Chúc các bạn một ngày sáng tạo!

Hoàng Khánh Hòa

Đi xe đạp, tại sao không?

Chào các bạn,

Hôm nay mình rất vui giới thiệu với các bạn bài viết “Đi xe đạp, tại sao không?” của anh Ngô Xuân Trường.
hnx1
Anh Trường hiện nay đang học sau đại học tại trường đại học Leipzig, cộng hòa liên bang Đức.

Đồng thời, anh là người sáng lập và quản lý của nhóm Hà Nội Xanh – “Hành động vì môi trường Hà Nội” nhằm kêu gọi và xắn tay áo thực hiện các hành động cụ thể để làm Hà Nội xanh, sạch, đẹp trước sức ép của phát triển và sự vô ý thức của người dân.

Địa chỉ website của nhóm Hà Nội Xanh ở dưới đây.
http://hanoigreen.wordpress.com

Nhóm Hà Nội Xanh mới thành lập nên cần rất nhiều sự giúp đỡ, chúng ta hãy giang tay, làm những gì có thể, vì môi trường chung cùng Hà Nội Xanh.

Chúc các bạn một ngày ý thức môi trường,

Hiển.

.

Đi xe đạp, tại sao không?

hnx2
Tại nơi tôi sống, cũng như tại rất nhiều thành phố khác ở châu Âu, xe đạp là phương tiện đi lại chính của sinh viên, học sinh và thanh niên nói chung. Nhân viên công sở cũng hay đạp xe đi làm nếu như chỗ làm cách nơi ở không quá xa. Hầu như ai cũng có ô tô, nhưng tranh thủ đi xe đạp được lúc nào, họ sẽ đi lúc ấy. Ở nhiều thành phố, người ta vạch riêng một con đường cho xe đạp, bên cạnh làn đường dành cho ô tô và người đi bộ.
hnx3
Tôi nhớ có một lần chúng tôi than vãn về chuyện giữa hai tiết học nghỉ có 30 phút mà phải di chuyển từ một giảng đường nọ sang giảng đường kia cách nhau 3,4 km. Ông giáo sư cười haha, nói “Già như tôi mà vẫn có thể đạp xe chéo thành phố trong 30 phút, anh chị đừng có kêu!”. Quả thực là các thầy cô dạy tôi đa số đều đạp xe hoặc đi bộ đi làm, mặc dù thu nhập của họ rất cao.

Ở đây khi bạn đạp xe ngoài đường, chẳng ai coi bạn là nghèo. Bản thân những người đạp xe ra đường đều rất thích thú và tự hào với việc họ làm. Họ đã ngồi trong công sở kín bưng cả ngày trời, sau đó lại phải chui vào trong cái hộp thiếc di động nữa thì thật là tội nghiệp. Nhất là những hôm trời đẹp, từng đoàn từng đoàn người nối đuôi nhau qua các con phố.
hnx4
Các thành phố của VN thực ra không lớn, vì người người sống chen chúc nhau. Tôi tin rằng nếu như có đường riêng cho xe đạp (và người ta chịu đạp xe) thì tốc độ di chuyển có lẽ không thua gì xe máy, nếu không muốn nói là hơn. Đạp xe thì không có gì lợi bằng, vừa khỏe, vừa rẻ, vừa tiết kiệm xăng, vừa giảm khói bụi cho thành phố, đỡ phải nhập khẩu xe cộ, xăng dầu, giảm thâm hụt thương mại vv
hnx5
Cứ thử tưởng tượng người ta bỏ hết xe máy và ô tô trong nội đô, chuyển sang dùng xe đạp và tàu điện, chúng ta sẽ có một thành phố trong veo.

Tôi nghĩ ở phương Tây toàn đi ô tô xịn mà họ còn bỏ để đi xe đạp được, thì vứt cái xe máy còm ở nhà để đạp xe ra đường thì có gì khó khăn đâu nhỉ?

Ngô Trường

Khói khuynh diệp

Lam đứng trên lầu ba, trước phòng máy vi tính của trường. Cô thích đứng ở đây, giữa lồng lộng gió, và chỉ cần với tay ra một chút, Lam đã có thể hái vài chiếc lá khuynh diệp tươi, vò vò rồi đưa lên mũi để nghe một mùi thơm thanh thanh, tinh khiết thoang thoảng lan nhẹ ra, bám vào trên tóc. Mười năm rồi còn gì. Sau khi tốt nghiệp sư phạm, Lam cũng đã mất mấy năm lăng quăng ở thành phố, dạy tin học tại một trung tâm, cho đến khi mẹ viết thư vào: ”Về đi con, trường cấp hai của mình vừa có một phòng máy vi tính, khang trang lắm. Lương có thể không cao nhưng dù sao cũng ở quê nhà, dù sao cũng thân con gái.” côgiáoThế là Lam về, không cần phải xin xỏ nhiều để trở về trường cũ, ngôi trường đang thiếu giáo viên cho môn tin học. Trường thay đổi nhiều, mới toanh, cửa kính, đèn điện, căng tin. Và những thầy cô già. Nhưng Lam có cảm giác như lớp 9A mà Lam phụ trách cũng giống y như lớp 9A của cô hồi đó, cũng nhí nhố, cũng những đứa con gái rất ngoan, thậm chí bẽn lẽn, những đứa con trai nghịch ngợm, cũng một cô bé lớp trưởng kiêm bí thư đoàn trường, thông minh, học giỏi và nhanh nhẹn, cũng một học sinh được giáo viên xếp vào loại cá biệt, mặt lì lì, bơ bơ. Lam luôn có sự chú ý đặc biệt đến những học sinh cá biệt, không phải để theo dõi, cảnh giác, mà là để yêu thương chăm sóc nhiều hơn một chút, có lẽ, tại chuyện của Khánh ngày xưa.

Lam hình dung lại khuôn mặt của Quý “heo”, đứa học trò mà hôm Lam nhận lớp cô hiệu phó đã nhắc khẽ:”Thằng này học sinh cá biệt nghen, nó quậy lắm”

– Quậy sao cô ?

– Trời ơi, nó lì lắm, nói gì nó cứ cười cười, mặt trơ trơ phát bực. Có hôm còn mang cưa lên cưa chân ghế cho các bạn ngồi sụm chơi.

Lam hỏi mấy đứa học trò :

– Sao gọi bạn là Quý”heo” ?

Học trò cười hì hì :

– Tại ở nhà nó mổ heo mà cô ?

Nhưng Quý ít khi “quậy” trong giờ của Lam, chỉ duy có một lần, cô bé lớp trưởng lên nói nhỏ với cô là Quý mang dao găm vô lớp, lận trong lưng quần, cho nó lòi cái chuôi ra ngoài.

– Quý, sao em mang dao găm vô lớp ?

– Chơi mà cô.

– Không được, nguy hiểm lắm. Em cất vào cặp đi, mai để ở nhà không mang lên lớp nữa, lỡ đâm trúng mấy bạn thì sao ?

– Em đâu có đâm, em đem theo để phòng thân mà cô .

Lam thật kêu trời không thấu.

– Không phòng thân phòng thiếc gì hết, đua dao đây cho cô rồi về chỗ ngồi.

Quý “heo” nhe răng cười, ngoan ngoãn rút con dao găm có chuôi chạm trổ khá đẹp đặt lên bàn:

– Nhưng mà lát nữa cô trả em nghen, cái này của ba em .

– Được rồi, nếu em hứa không đem lên trường nữa.

Lam gật đầu.

– Hôm nay các em tạo một cây thư mục của lớp mình, mỗi tên học sinh là một tên file, tên tổ trưởng là tên thư mục…

Quý “heo” giơ tay :

– Cô ơi, em lấy tên cô đặt tên thư mục được không?

– Cô nói rồi, tên tổ trưởng làm tên thư mục, sao đặt tên cô làm chi?

– Tên đẹp mà cô – Quý lẩm bẩm – Hải Lam. Cô ơi, tên cô có nghĩa gì vậy ?

– Không có nghĩa gì cả ?
lớphọc
– Phải có nghĩa chớ. Ba em đặt tên em là Phú Quý, em em là Kim Ngân, Kim Hoàn… Phú Quý là giàu, Ngân là tiền, Hoàn là hột xoàn. Má em mỗi lần khùng lên chửi là tại ba em đặt tên giàu nên nhà em mới nghèo xơ vậy…hì hì…tên ai cũng có nghĩa chớ. Tên cô không có nghĩa gì hả, lạ quá ha ?

Lam cười thầm, học trò thật lạ, rất nhiều khi chúng có thể yêu quý mình chỉ vì một cái tên, có điều, nếu cảm tình mất đi thì đừng hòng lấy lại. Những ấn tượng ban đầu thật khó xóa nhòa, nhất là khi người ta 15 tuổi.

– Thôi, lo làm bài tập đi, nếu cả lớp làm xong sớm thì cô kể chuyện cho nghe.

Và từ đó Lam tìm được cách chinh phục đám học trò lau nhau. Học trò trường làng, ít đọc sách nên mê nghe truyện cổ tích. Quý cũng mê. Kỳ lạ, thế giới tuổi mới lớn thích nghe những câu chuyện phiêu lưu, nguy hiểm, những cuộc đối địch gay go giữa thiện và ác, nhưng phải có hậu, luôn luôn có hậu. Lam nhớ ngày xưa, khi đọc một câu chuyện đến những phút gay cấn thì cô không chịu được, phải lật trang cuối để xem kết cục thế nào, số phận nhân vật chính ra sao rồi mới có can đảm đọc tiếp. Ba cô cười, “ Đọc thế thì còn gì hay”. Nhưng biết làm sao, khi người ta mới mười bốn, mười lăm tuổi và tâm hồn cơ hồ chưa chịu nổi những nỗi buồn dù rất xa xăm, và những thương tổn dù rất nhẹ. Lam kể đủ thứ chuyện, phiêu lưu, trinh thám, cổ tích mà cô đã từng nghe, từng đọc, từng thích thú, say mê.

Mắt học trò đứa nào đứa nấy tròn xoe, khi Lam kể những chuyện tình lãng mạn thì con gái cúi mặt, mắt long lanh, con trai nhìn nhau cười khúc khích. Quý thì khác, lúc nào cũng nhe răng cười, mặt bơ bơ nhưng khi ra cửa bao giờ nó cũng quay lại: ”Bữa nào cô kể tiếp, nghen cô ?”

Một hôm, Lam gọi Quý lại sau giờ học :

– Nè, tặng em, hôm nay sinh nhật em phải không?

– Ngày sinh của em hả cô?

– Ừ.

– Sao phải tặng quà ?

– Để nhớ, ngày sinh nhật mình phải kỷ niệm chớ.

Quý lại nhe răng cười, Lam muốn làm nó cảm động, nhưng cuối cùng chính Lam lại cảm động vì thấy nó chẳng suy suyển gì sất. Quý có quan tâm đến ngày sinh nhật của nó đâu, kể cả khi Lam nhắc, nó chỉ sung sướng vì được tặng quà, một cuốn truyện cổ Andecxen.

– Trong đó có chuyện cô kể không cô ?

– Có. Nhiều lắm.

Thế là Quý nhét cuốn sách vào bụng, hí hửng ra về. Lam tự hỏi có nên gọi nó lại, để nhắc nó phải cám ơn khi được tặng quà hay không, rồi cô nghĩ để đến lúc khác cũng được.

Một ngày cuối tuần, Lam tổ chức cho lớp cắm trại đêm ở trường. Cô gom lá và cành khuynh diệp khô, đốt một đống lửa nhỏ. Học trò ngồi vây quanh.

– Khói thơm quá hả cô?

– Ừm…

– Hồi xưa cô cũng học trường mình hả cô?

– Ừm…

– Cô kể chuyện hồi cô đi học đi cô ? Cô nhớ nhất là cái gì ?

– Cô nhớ nhất mùi khói khuynh diệp.

Có nên kể cho các em nghe không, chuyện của một người kể chuyện cổ tích. Lần đầu tiên Lam kể cho học trò nghe một câu chuyện không có hậu. Nhưng cuộc đời đâu phải bao giờ cũng có hậu, phải vậy không ?

– Ngày xưa, ở đây có một ông lão cai trường…

– Ông khác ông bây giờ ân3

– Ừ, ông khác. Già rồi, tóc ông bạc hết, dài dài gần bằng tóc cô, búi lại thành một búi nhỏ xíu, tròn tròn sau ót…

Học trò cười khúc khích….:

– Ổng hiền không cô ? Ông cai bây giờ dữ thấy sợ.

– Hiền lắm, và hay kể chuyện cổ tích cho cô nghe.

***
khóibếp
Chiều chiều. Ông lão ngồi trước căn chòi lá dựng ở góc sân, thổi phù vào đám lửa nhỏ, làn khói mỏng manh nhẹ nhàng uốn mình bay lên và tan dần ra trước khi chạm đến những chiếc lá khuynh diệp màu xanh bạc ở trên cao. Lửa cháy tí tách và thơm thơm mùi bạc hà của lá khuynh diệp khô. Ông lão nói:“ Ông đốt để đuổi muỗi, và ông thích mùi lá khuynh diệp.”

Chiều chiều, sau khi tan học Lam thường ghé vào nghe ông kể chuyện , những câu chuyện mà ông đọc từ lúc còn nhỏ, rất nhỏ. Sinbad, Aladin, những chú lính chì dũng cảm. Lam chống cằm nghe say sưa.

Thỉnh thoảng ông ngừng kể, nhìn Lam thở dài, tựa như những câu chuyện cổ tích và cô bé này làm ông chạnh lòng.

– Cháu sẽ là một người tốt.

– Sao ông biết?

– Vì cháu thích nghe chuyện cổ tích. Khi người ta tin vào những câu chuyện cổ tích, người ta còn tin vào những điều tốt đẹp…

– Ông cũng là một người tốt.

Ông lão bật cười, lắc đầu. Lam cũng cười :

– Cháu nói thật mà, vì ông có thể kể được bao nhiêu là chuyện cổ tích.

Ông trầm ngâm nghĩ đến Khánh, cháu ngoại của ông, học cùng lớp với Lam. Ngày xưa, Khánh cũng từng tròn xoe mắt hinh hích cười khi nghe ông kể chuyện. Còn bây giờ, nó là học sinh cá biệt của lớp 9A, lầm lì, hằn học. Nó đen đúa, gầy còm, ngoài giờ học chỉ thích lê la ngoài đường, tối về ăn cơm với ông rồi lăn ra ngủ, có đêm theo đám bụi đời ra nằm ngoặt nghẹo trên những sạp hàng ở chợ. Mỗi lần ông lân la đến gần, định tâm sự hay nói chuyện là nó lại nhìn ông chòng chọc với vẻ đầy cảnh giác và thù hận làm ông chùng lòng, quay đi. Cùng một nỗi đau, nhưng ông không tài nào chia sẻ được.

– Ở lớp Khánh có phá phách không ? Ông hỏi. Lam bảo :

– Bạn ấy không quậy phá, nhưng lầm lì quá ông à. Cháu sờ sợ.

– Cháu có nói chuyện với Khánh không?

– Có, cháu là lớp trưởng mà. Cháu nói Khánh đừng đi chơi nhiều nữa, ở nhà với ông và lo học đi. Khánh nói Khánh không cần ai quan tâm đến Khánh hết…

Ông lão thở dài.

– Cháu là bạn Khánh, thỉnh thoảng cháu nhắc nhở Khánh giúp ông.

Lam gật đầu, thấy mình cũng có trách nhiệm, không phải chỉ vì cô là lớp trưởng, mà còn vì mỗi chiều cô lại ngồi bên đống lửa khuynh diệp để nghe ông lão kể chuyện cổ tích. Lam chú ý đến Khánh nhiều hơn, nói chuyện với Khánh nhiều hơn, dù chỉ là những câu hỏi vớ vẩn. Có hôm, khi Lam ngồi kể chuyện vui trong giờ ra chơi, Lam thấy Khánh phì cười. Nhưng rồi một ngày, khi Lam đến lớp thì thấy túm tụm một đám ầm ĩ. Khánh và Thái, một học sinh khác lớp, đang quấn lấy nhau, đứa này cố đấm vào mặt đứa kia. Khánh nghiến răng, mắt đỏ ngầu, túm đầu Thái lụi vào tường:

– Đ.M mày !

Lam túm lấy tay Khánh :

– Dừng lại ngay, tui đi méc thầy hiệu trưởng bây giờ . Dừng lại, mấy trò muốn bị đuổi học không ?

Khánh quay ngoắt lại, trợn trừng mắt, thét vào mặt Lam :

– Đ.M đi méc đi, kệ mày. Tao đếch thèm học nữa…

Lam sững sờ, hét :”Bạn…bạn ăn nói mất dạy vừa vừa thôi”.

Khánh nghiến răng, đấm mạnh nắm tay xuống bàn, tiện chân đá luôn chiếc cặp của Lam ra cửa, rồi chạy vụt đi. Thầy hiệu trưởng gọi Thái lên phòng, Lam đi theo ;

– Tại sao hai em đánh nhau ?

– Em không biết, tự nhiên nó nhào vô đánh em.

– Sao tự nhiên được?

Thái vẫn cẳn nhẳn, hai tay xoa xoa vết trầy đỏ trên trán :

– Em chỉ hỏi có phải ba nó đốt mẹ nó chết không, tự nhiên nó nhào vô đánh em…

Lam lặng người đi, sững sờ còn hơn lúc Khánh quăng vào mặt Lam tiếng chửi thề thô tục. Chiều, Lam chạy ra căn nhà nhỏ của ông lão, và thút thít nghe ông kể một câu chuyện, không phải là cổ tích.
cháynhà
– Ngày xưa, khi Khánh còn nhỏ, nó thông minh, lanh lợi và ngoan như cháu vậy, ông cũng thường kể chuyện cổ tích cho nó nghe. Nhưng chỉ một que diêm đã phá tan tất cả. Nhà Khánh khó khăn, ba Khánh ở nhà, làm ruộng, mẹ Khánh di theo xe hàng, rồi tiếng vào tiếng ra, ghen tuông, cãi vã thường xuyên. Hôm đó, ba Khánh say rượu đòi đốt vợ, mẹ Khánh bực mình nên thách thức, và thùng xăng hắt ra, và que diêm bật lên. Có những sai lầm mà khi phạm phải người ta không bao giờ có thể sữa chữa được, đôi khi, chỉ từ một que diêm. Con gái ông quằn quại, mê sảng vì bỏng nặng toàn thân suốt một tuần thì mất, con rể ông đi tù. Ông đưa Khánh về sống với mình, hai em gái Khánh thì vào Biên Hòa ở với gia đình chú ruột. 15 tuổi, Khánh bỗng dưng trở nên lầm lì, mặt xám xịt, tối tăm. Và bây giờ…Ông không trách Thái, có lẽ nó quá vô tư. Nhưng Hải Lam à, cháu biết không, sự vô tư đôi khi …

Khánh bỏ đi từ ngày đó, ông lão đi tìm, năn nỉ, nó không về. Lam nghe phong thanh Khánh nhảy xe đò vào Biên Hoà tìm hai đứa em gái, nghe phong thanh nó nhập băng xã hội đen, nghe phong thanh có lần nó đến nhà giam tìm ba, rồi lại nghe nó ăn cắp xe đạp bị bắt vô tù, nghe nó chết bụi chết bờ ở đâu đó để ông lão phải đi nhận xác. Nghe phong thanh nhiều, không có tin nào là tốt đẹp. Và mỗi lần có ai kể chuyện nhắc tên Khánh, tim Lam lại nhói lên. Ông lão cũng không về nữa. Vài năm sau, Lam được tin ông mất, ở một nơi nào đó ngoài miền Trung.

***

Đêm dịu dàng với những vì sao nhấp nháy, tiếng gió thì thào trên những cành khuynh diệp rủ lá xuống từ trên cao. Có một vài tiếng thút thít, còn lại là sự im lặng. Lam đã kể, không lấy tên thật của một vài nhân vật. Lam cũng không biết mình kể ra để làm gì, có lẽ chỉ để bớt day dứt hơn, nỗi day dứt vẫn dậy lên mỗi khi Lam ngửi thấy mùi lá khuynh diệp làm trái tim cô đau nhói, cũng có lẽ để nhắn nhủ với những đôi mắt trong veo này một điều gì đó, rằng tâm hồn con người mong manh biết bao, ai cũng vậy, và đôi khi ta có thể vô tình làm tổn thương nhau, đôi khi, sự vô tình của ta có thể làm hại cả một cuộc đời. Mắt học trò long lanh. Không biết tại câu chuyện hay tại khói. Khói khuynh diệp thơm thơm một mùi thanh khiết, và đôi khi cũng làm cay mắt người…

Đông Vy