Category Archives: Chuyện phố

Bài Văn Tả Cây Mai Nhân Dịp Xuân Về

Mấy tuần trước, khi tôi đang lặt lá Mai, bé Út (Hồng Ân, 3 tuổi) hỏi “tại sao?”. Tôi trả lời lặt lá đi cho Mai ra hoa. Bé cũng muốn lặt lá và sau vài lần thử tay nghề bằng cách bứt lá, tôi phải nói ngay rằng con làm vậy cây Mai đau. Bé hiểu ra và thì thầm xin lỗi cây Mai, còn dỗ dành ráng chút cho có hoa, rồi cẩn thận lặt ngay cuống từng chiếc lá. Tôi chợt nhớ bài văn tả cây Mai dịp Xuân về do chị Hồng Phúc của bé viết năm lớp 6:

“… Cả nhà vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây …”.

Tết này, mẹ gửi bài văn tả cây Mai của chị Hồng Phúc lên ĐCN và sẽ đọc cho Hồng Ân nghe nhé (vì con còn chưa biết chữ mà)

Mùa xuân đã về. Chẳng thua gì miền Bắc với hoa Đào sặc sỡ, miền Nam cũng tưng bừng đón Tết với hoa Mai rực vàng. Mai từ lâu đã trở thành một hình ảnh không thể thiếu trong ngày Tết, Mai – loài hoa đặc trưng của miền Nam- mang một bổn phận thiêng liêng là đem hết vẻ đẹp của mình làm đẹp cho miền Nam, cho đất nước trong những ngày xuân về.

Nhà em có một cây Mai. Ngày thường, Mai đứng một mình trong góc vườn, lặng lẽ giữa bao nhiêu là Quỳnh Anh, Lan, Cúc, Vũ Nữ… Ấy vậy mà Mai vẫn ung dung, thản nhiên lớn lên với dáng vẻ đơn sơ và giản dị. Cây Mai cao hơn em đến hai cái đầu. Nó khoác trên mình một chiếc áo xanh đậm điểm vài bông hoa vàng hoe.

Đến rằm tháng Chạp, Mai được đem ra giữa sân nhà. Nó bắt đầu được chú ý đến. Mai được mọi người chăm sóc, bón phân, tỉa cành và đặc biệt lặt lá – một công việc mà em rất thích. Vào sáng Chủ Nhật, cả nhà em vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây cho những nụ hoa mở mắt hé nhìn trời đất.

Khi tất cả những chiếc lá đã rời cành mẹ, cây Mai trở nên trơ trụi, khẳng khiu. Những cành cây tia ra như những nét phác thảo bằng bút kim của một bức tranh. Nhưng chính sự trơ trụi ấy lại mang một vẻ háo hức và tưng bừng, đem đến cho mọi người cảm giác mùa xuân về.
Không phụ lòng người chăm sóc, không để cành phải đợi lâu, những nụ hoa li ti đã bắt đầu xuất hiện. Thân cây trơ trụi được tô điểm bằng những chấm xanh non của mầm hoa, mầm lá.
Gần đến Tết, những nụ hoa lớn lên, phình tròn, nhõ bằng chiếc móng tay út. Nhìn cây Mai như có hàng trăm con bọ xanh âu yếm bám chặt vào cành, cố gắng làm đẹp cho cây và hứa hẹn một sự đơm hoa rực rỡ ngày Tết

Tết tới, Mai được đặt chễm chệ ở một vị trí trang trọng trong nhà. Mọi người lo đi sắm đồ Tết, chẳng để ý đến Mai nhiều. Hôm mồng Một Tết, mọi người vui vẻ trong những bộ đồ mới. Đến lúc này, nhìn qua cây Mai, ai cũng ngạc nhiên khi thấy nó cũng đã sẵn sàng trong bộ trang phục truyền thống của mình. Mai phủ hắp người một chiếc áo vàng rực rỡ của hoa, điểm thêm vài màu xanh non của lá. Chúng em trang trọng treo những lời chúc “ An khang thịnh vượng”, “ Vạn sự như ý”, … và những bao lì xì lên cây, chia sẻ lời chúc năm mới với loài hoa tuyệt đẹp này. Vậy là chiếc áo vàng của Mai còn được điểm những món đồ trang sức màu đỏ, thể hiện may mắn và tình thương yêu

Hoa Mai vàng tươi, rất đẹp. Cánh hoa mềm, mịn như nhung. Nhưng chỉ sau một vài ngày, những cành hoa ấy héo dần và từ từ rời cành xuống điểm tô cho đất. Đất trong chậu đầy một màu vàng của cánh Mai.
Hoa Mai rụng đi nhường chỗ cho những nụ hoa con con bung mình hé nở. Những cái nụ xanh be bé, điểm vài màu vàng ở đỉnh. Chúng em thay nhau đoán xem đâu là nụ hoa, đâu là nụ lá, nụ nào nở trước, nụ nào nở sau. Những chiếc nụ lá không được quan tâm nhiều nhưng vẫn hồn nhiên nở cánh trước cả nụ hoa

Sau tết, Mai vẫn cố gắng thể hiện hết vẻ đẹp còn lại của mình, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng được giao. Dưói đất, hoa vàng rụng nhiều. Trên cây, lá xanh lớn lên . Hết Tết, hết mùa hoa Mai, đến lượt lá đua nhau trang trí cho cành. Mai lại khoác lên mình chiếc áo màu xanh thẫm.
Mai cũng “ điệu” như con người, cứ đến Tết là xúng xính trong bộ quần áo đẹp. Mai như một người bạn quen thuộc, chia sẻ ngày Tết với mọi người. Mai gắng sức mình tô đẹp cho ngày Tết. Mọi người quan tâm, làm đẹp cho Mai. Em yêu Mai, gia đình em yêu Mai, miền Nam này yêu Mai, cả đất nước Việt Nam cũng yêu Mai. Cây Mai- biểu tượng của may mắn, vui vẻ và hạnh phúc.

Hồng Phúc viết năm lớp 6 ( 2 năm trước )

Hoa mai sáu cánh

Trước đây hầu như nhà nào ở Huế cũng trồng mai trước sân- một hoặc nhiều cây tùy theo sở thích chủ nhân và diện tích đất. Nhà tôi cũng có hai cây. Và hai cây mai nầy đã chứng kiến bao buồn vui của gia đình tôi suốt mấy chục năm nay.

Hai cây mai được Ba tôi trồng trước khi có tôi hay ai trồng trước đó nữa thì tôi không rõ và cũng chưa lần hỏi, chỉ biết khi quan sát được đã thấy trước sân nhà, một bên phải và một bên trái. Cây bên trái có vẻ bị lấn át bởi cây bên trái về chiều cao, số nhánh và hoa nhưng cả hai đều có dáng đẹp với cành vươn cao, cành nghiêng nghiêng , cả cành ngang bướng bỉnh và cho hoa đẹp. Hoa năm cánh vàng rực với nhụy vàng lộng lẫy kết vòng tròn tròn như vương miện, tỏa hương dìu dịu trong nắng sớm ngày xuân. Ba tôi rất quí hai cây mai. Không kể mùa, ngày nào ông cũng để mắt tới. Khi thì vừa thức dậy; khi thì đi làm về; khi thì đang bế em tôi, ông đều nhìn hai cây mai với vẻ trìu mến.

Hai cây mai hình như cũng hiểu được tình cảm ông nên xanh tốt suốt mùa hè dể rồi đến hết mùa thu thì dần rụng lá và phô vẻ phong sương trụi trần cho đến quá giữa tháng chạp thì nhu nhú nụ xanh, cần mẫn đợi chờ và nở đúng vào dịp tết. Cũng đôi khi do thời tiết thế nào đó lá không rụng đúng chu kỳ, ông lại tự tay trảy bỏ. Chị em tôi thắc mắc thì được giải thích là làm vậy để cây ra hoa đúng tết. Tôi cũng phụ ông trảy những cành thấp với niềm hân hoan tỏ lộ. Ông hướng dẫn tỉ mỉ từ cách cầm cành đến cách trảy lá . Tay trái cầm từng nhánh nhỏ, tay phải cầm lá đưa ngược về sau để không làm trầy lớp vỏ ở mắc lá. Ông bảo đó là nơi chồi sẽ nứt ra với hoa và lá. Chồi hoa tròn, mọc hai bên. Chồi lá nhọn, mọc đầu nhánh. Ông dạy chúng tôi cách phân biệt như vậy Tôi và em trai lớn phụ giúp ông trong khi các em khác của tôi thi nhau nhặt lá làm tiền chơi mua bán. Mặt đứa nào đứa nấy hí hửng vì tiền có nhiều mà không phải hái ( Để chơi trò mua bán trẻ con như chúng tôi thường hái lá giả làm tiền). Tôi thường được ba khen vì không làm gãy nhánh trong khi thằng em thỉnh thoảng bị nhắc ( chả là cậu ta chưa cao bằng tôi nhưng lại ưa với cành cao nên mới vậy).

Trong tiết lạnh của mùa đông Huế nhìn cây mai trơ trụi thấy thương lắm. Những ngày mưa dầm trông càng thương hơn với vẻ cam chịu nhưng không ẻo lả khuất phục như các loại cây khác. Em tôi thường hỏi “ Cây lạnh không Ba” thì được nghe trả lời là “ Cây mai giỏi lắm, lạnh nhưng không kêu ca, còn lo tích nhựa để cho hoa đúng tết” khiến chị em tôi vừa phục Ba vừa phục cây mai. Tôi và em trai cũng bắc chước ông, ngày ngày săm soi ngó nghiêng và vui vẻ thông báo về tiến triển đâm chồi nẩy lộc cho Ba thường xuyên cứ như là ông không biết vậy .

Hai cây mai này có vẻ rất muốn làm vui lòng ba tôi nên lúc nào cũng nén lại chờ đúng sáng mồng một Tết mới xòe cánh, không phải đồng loạt mà rón rén trên từng chùm từng chùm nhỏ trong khi mai hàng xóm đã bung đầy từ nhiều ngày trước.Sỡ dĩ nói vậy vì ba tôi thích trò bói hoa mai với các con. Thành lệ từ bao giờ, sáng sớm mồng một là ông kêu chị em tôi ra sân bảo “ đố đứa mô tìm được hoa sáu cánh ba sẽ lì xì nhiều hơn” vì ông cho rằng mai sáu cánh báo hiệu sự may mắn cho cả nhà trong năm mới.Cả mấy đứa thi nhau ùa ra, thi nhau săm soi mong mình là người thấy. Mấy đứa em sau còn thấp bé nên ra sức nhón chân nhón gót tranh giành chỉ trỏ, chỉ tôi thường hay thấy trước vì có lợi thế chiều cao. Qua mồng hai hoa nở nhiều, hoa sáu cánh vì thế cũng dễ có nhưng ba tôi bảo chỉ linh nghiệm trong ngày mồng một. Mấy đứa em tôi không chịu, theo bắt đền ba cho bằng được. Trò bói hoa thật vui, đem lại bao nhiêu tiếng cười trong căn nhà đơn sơ.

Có một năm chúng tôi không bói mai được.

Từ giao thừa tiếng súng rộ khắp nơi. Sáng mồng một mẹ tôi líu ríu hớt hải đắt chúng tôi đến một nhà khác trong xóm kiên cố hơn để tránh đạn, không ai kịp thấy có hoa nào sáu cánh không. Chuyến đi đó không ngờ thành dài ngày với nhiều địa điểm khác nhau đến khi trở về mai đã rụng đầy sân , vàng xuộm một màu trên đất dưới mưa phùn ảm đạm. Chúng tôi mất ba từ những ngày đó, ngẩn ngơ mồ côi.

Mẹ tôi một mình chống chèo nuôi chúng tôi. Hai cây mai vẫn nở tàn nở tàn trước sân. Nhớ ba mấy chị em tôi lại ngắt lá, chờ hoa, tìm hoa sáu cánh với niềm hy vọng ba sẽ về đem theo tiếng cười và ánh nhìn ấm áp. Nhiều năm mai đơm nụ nhiều vô kể. Bao nhiêu người đi dạo tìm mua mai đã trả giá cao mong mẹ tôi bán nhưng bà đều từ chối. Bà giữ mai như giữ vật lưu niệm của ba tôi để tưởng nhớ ông.

Theo thời gian hai cây mai cao dần, muốn hái lá phải bắt thang nên chúng tôi chỉ trông chờ
vào trời đất và sân nhà lại vàng tươi khi tết đến xuân về.Rồi chị em lần lượt có vợ có chồng, lận đận mưu sinh, bận bịu con cái. Trò bói mai trở thành kỷ niệm.

Năm 1993, gia đình nhỏ của tôi chuyển đến Buôn Ma Thuột sinh sống. Tết đến dạo chợ hoa hoặc đến thăm nhà ai toàn thấy mai không phải năm mà là sáu, tám, hoặc mười hai cánh, chi chit chen nhau . Cây trồng trong sân thì tỏa nhánh tròn đều, vươn cả lên,dáng na ná đào, ít có cành ngang như mai nhà tôi xưa nên không có ý trồng dù công nhận rằng chúng đẹp.

Vài năm sau có người đem từ Huế vào tặng tôi một cây mai nhỏ. Hóa ra người nầy cũng như tôi, chỉ thích mai năm cánh nên đã nâng niu suốt hai ngày trời trên xe khách ( trước đây xe cộ không như bây giờ) để có mai Huế trên đất bazan.

Chính tay tôi trồng cây mai này ở mé sân trái, hồi hộp theo dõi mấy năm để rồi mừng vui khôn xiết khi lứa đầu tiên rụt rè khoe những hoa năm cánh tươi vàng.

Từ đó mẹ con tôi có thêm niềm vui chờ mai nở. Cũng thường đúng vào sáng mùng một tết hoa mới bung cánh dịu dàng. Nhớ ngày xưa lại săm soi tìm hoa sáu cánh như một hy vọng về sự may mắn có từ bé thơ bởi ba tôi. Kể lại với các con để cười để nhớ để rưng rưng…

Đất Ban Mê rất tốt, mưa nắng khác Huế nên mai thường ít rung lá đúng thời điểm. Các con tôi, đăc biệt là cô con gái lại cùng mẹ trảy lá. Có khi mẹ bân lại lụi hụi bắt ghế trảy một mình. Không có ai giành lá làm tiền như ngày tôi thơ bé bởi trẻ con không còn chơi trò mua bán như thế hệ chúng tôi thưở nào. Năm nay, thằng út lo việc thay mẹ và chị. Khi nụ hoa đầu tiên he hé chút vàng, cu cậu í ới gọi mẹ chỉ trỏ , hí hửng khoe thành tích. Đáng tiếc là hoa nở không đợi tết do năm nhuận – từ 20 tháng chạp – trước cả ngày ông Táo về trời. Sáng sáng tôi tranh thủ nghiêng ngó trước khi đến lớp, thong thả tí chút thì tìm góc đẹp đợi nắng đẹp chụp hình, loay hoay cành thấp cành cao ngắm ngắm tìm tìm bấm bấm. Vậy mà cũng đành chịu lọt mất vài thế hoa đẹp vì giờ giấc không cho phép.

Tết là mùa khô ở cao nguyên. Hiếm khi mưa, mưa phùn càng không có. Mai vườn nở trong ngọn nắng chói chang trông thật lạc lõng. Lại nhớ ngày xưa ở Huế, dưới màn xám nhạt mưa phùn màu vàng của mai thành ngọn lửa ấm áp, cháy trong tĩnh lặng.

Tiếc cái đẹp bị chìm lấp. Dù là chìm lấp dưới nắng trời.

Tôn Nữ Ngọc Hoa
Xuân con cọp.

Đường hoa Nguyễn Huệ

Từ trước đến nay, Nguyễn Huệ vốn là một trong những con đường đẹp nhất thành phố. Trong hồi ức của tôi, đường Nguyễn Huệ gắn liền với bao kỷ niệm dễ thương của tuổi học trò. Trước giải phóng, đây là một con đường tuyệt vời với thật nhiều kiosque, chủ yếu là kiosque hoa và kiosque nhạc. Nhưng đặc biệt vào dịp cuối năm, đường Nguyễn Huệ biến thành một chợ hoa khổng lồ. Nhờ lợi thế nằm sát bến Bạch Đằng, nơi thuyền hoa, ghe hoa từ các tỉnh miền tây có thể dễ dàng cập bến và chuyển hoa lên bờ, suốt dọc chiều dài đường Nguyễn Huệ được bày bán đủ các loại hoa kiểng. Khi ba tôi mê mẩn với những chậu mai, má tôi tỉ mỉ chọn những chậu vạn thọ, cúc đại đoá, những chậu tắc dày đặc trái… tôi và lũ em thường tha thẩn vừa ăn kẹo kéo, vừa ngó nghiêng chỗ này chỗ nọ… Sau này, chợ hoa Nguyễn Huệ là nơi tôi điệu đàng làm dáng cùng hoa cỏ mùa xuân, ghi dấu tuổi hoa niên mơ mộng…

Mấy năm gần đây, Nguyễn Huệ là một địa chỉ không thể thiếu của người dân thành phố trong mấy ngày Tết. Đường hoa Nguyễn Huệ đã trở thành một thương hiệu, một biểu trưng cho văn hoá Sàigòn. Chắc không chỉ có tôi chờ đợi ngày đường Nguyễn Huệ bị phong toả làn xe hơi, quây kín lại để thực hiện đường hoa. Thỉnh thoảng, tôi lại cố tình chạy chầm chậm qua đường hoa, tò mò nhìn sâu vào bên trong qua những khe hở, ngắm lén, ngắm sớm đường hoa trước ngày khai mạc … Càng ngày đường hoa Nguyễn Huệ càng chuyên nghiệp hơn, thật sự là nét văn hoá- du lịch gắn liền với các hoạt động lễ hội ngày Tết phong phú. Ngoài hoa được tạo hình đa dạng bằng nghệ thuật sắp đặt, cả phong cảnh, sinh hoạt, đời sống đời thường cũng được thể hiện trên đường hoa. Những chú nông dân trong bộ bà ba đen ngồi xếp những chú cào cào bằng lá dừa nước, những câu đối được thầy đồ nắn nót trên giấy dó, những cụ già ngồi nắn tò he sặc sỡ, những quán chè tươi bày đâu đó dọc đường hoa.. luôn thu hút sự thích thú và chú ý của nhiều người, đặc biệt là du khách nước ngoài.

Năm nay là năm thứ chín, kể từ tết Giáp Thân 2004, đường hoa Nguyễn Huệ là địa chỉ được mong đợi, là một trong những điểm vui chơi giải trí của người dân thành phố. Chiều mai, 28 âm lịch, đường hoa mới hoàn tất những công đoạn cuối cùng để cống hiến vẻ đẹp tuyệt vời cho người dân thưởng lãm. Mình chưa có trong tay những bức ảnh của một đường hoa hoàn thiện. Tuy nhiên, hôm nay, chiều 27 tết, đến đường hoa vào ngày trước ngày khai mạc này, biết rằng đèn đã sáng 24/24 liên tục mấy ngày liền cho các anh chị công nhân làm việc quên ngày đêm trong khu vực đường hoa, rằng các anh chị nghệ nhân và công nhân đã phải ngủ lây lất trong những chòi tạm để kịp hoàn thành công trình, rằng có nhiều bác công nhân đang tranh thủ chợp mắt ngay trong cái nắng nóng sau bao giờ vất vả, tôi thật sự cảm kích những giọt mồ hôi đã âm thầm đổ xuống cho đường hoa lộng lẫy. Từ công sức của người nông dân tính toán, chăm chút  sao cho hoa nở vừa kịp tết, đến những thương nhân (đa phần là chính các chủ vườn) chèo chống con thuyền đưa hoa từ quê lên thành, từ  các nhà thiết kế hình dung một đường hoa trong mơ, đến các công nhân thực hiện từng thao tác chi tiết để giấc mơ đó thành hiện thực.

Với những tấm hình dưới đây, mình muốn giới thiệu với các bạn nét đẹp (tuy chưa hoàn chỉnh) của đường hoa, cùng nỗi vất vả của các anh chị nghệ nhân và công nhân củà Sàigòn Tourist, đơn vị chủ quản thực hiện đường hoa Nguyễn Huệ. Mình rất tự hào là những người dân thành phố, cũng như tất cả các bạn tỉnh khác về thăm đường hoa Nguyễn Huệ, đều biết yêu cái đẹp và biết trân trọng công sức của những người làm ra cái đẹp, nên chỉ có hoa bị héo tàn sau mấy ngày dãi nắng dầm sương, chứ chưa bao giờ có ai nhẫn tâm vùi hoa dập liễu…

Phó nháy này đang trong giai đoạn thực tập, mong cả nhà rộng lòng bỏ qua nếu chất lượng hình ảnh chưa vừa ý. Chúc cả nhà một mùa Xuân tràn ngập hoa và niềm vui.. 😆 😀 😛

Phạm Kiêm Yến

Chùm ảnh đường hoa Nguyễn Huệ (một ngày trước ngày khai mạc):

Thăm chùa Bửu Thắng

Những ai đang làm cha, làm mẹ của những đứa con mạnh khỏe, hẳn đều cảm phục tấm lòng của các sư cô chùa Bửu Thắng (Buôn Hồ), đặc biệt là sư cô Thích Nữ Huệ Hướng, người đã và đang nuôi dạy những trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, người già neo đơn và cả những người bị bệnh tâm thần.

Hôm nay, ngày 30.1.2010, Mina và những người bạn của Daklak24g đã đi thăm các em mồ côi và người già ở chùa Bửu Thắng. Và không quên, Mina xin cám ơn những tấm lòng của các anh, các bạn đã ủng hộ để có được chuyến đi này. Với số tiền ủng hộ là 4.600.000 đồng, có thể đối với ai đó là không nhiều, nhưng đối với những con người đơn côi, bệnh tật thì thật ý nghĩa biết bao, cái Tết Canh Dần đang đến gần sẽ thêm vui.

Đến đây mình được sư cô trụ trì chia sẻ. Bao năm qua, kể từ ngày đầu đặt chân đến ngôi chùa hoang sơ, cho đến nay tuy đã tốt hơn phần nào nhưng không khi nào sư cô hết lo lắng. Sư cô lo lắm, lo không biết làm sao để chăm sóc cho các em các cụ ngày càng tốt hơn. Và với nỗi lo đó, sư cô biết mình không thể cứ mãi trông chờ sự giúp đỡ, sư cô đã bắt tay vào làm kinh tế. Mina lại càng khâm phục sư cô!

Thật có duyên, Mina và những người bạn được mời cơm chay ở chùa và thưởng thức sản phẩm của chùa làm ra, đó chính là Nước tương Bửu Thắng. Vị nước tương đặc biệt lắm, không như nước tương đen ta hay ăn. Nước tương Bửu Thắng thơm và trong như nước mắm của mình nhưng lại được làm từ đậu nành và muối phơi trong 6 tháng và được chiết xuất rất công phu. Sư cô mong là sản phẩm sẽ được bán rộng rãi để có thêm thu nhập cho chùa.

Và có một sự cố thật đáng nhớ. Đó là, chiếc xe tải chở giúp hàng từ thành phố Buôn Ma Thuột, trên đường đi về, đi qua km9, đoạn đường đang làm rất khó đi thí đột nhiên thấy một bánh xe chạy trước mũi xe. Anh vội phanh xe, thì thấy một bánh xe bị rớt ra. Thật kỳ lạ là không sao và không có tai nạn xảy ra! Có lẽ, có vị thần linh độ trì cứu giúp cho những tấm lòng thành…

Đến đây Mina nhớ đến một câu nói  mà Mina rất tâm đắc đó là: “Hãy cho đi những gì bạn muốn nhận”.

Dưới đây là những hình ảnh của chuyến đi:

Gói bánh chưng

Nhớ ngày nào khi nó còn đang học cấp 2, năm đó nhà quyết định tự nấu bánh chưng chứ không nhờ họ hàng nấu hộ như mọi năm nữa.

Đó cũng là lần đầu tiên nó biết các công đoạn làm bánh từ mua lá dong, đến ngâm gạo, ngâm đỗ, ướp thịt và thú vị nhất là gói bánh. Đứa lít nhít nhất nhà như nó thì chưa đủ tin tưởng để người lớn giao cho ngồi gói bánh mà chỉ làm chân phụ vặt, đưa lá cho mẹ, đưa lạt cho bố gói, hô gì làm đó thôi. Như thế là nó cũng thích lắm rồi. Cứ nhìn mọi người ai cũng vừa làm chăm chú vừa cười nói vui vẻ, thấy không khí ngày Tết sao mà ấm cúng đến thế.

Năm đó nhà gói gần 20 cái thì phải. Thấy mẹ cứ gói được hai cái thì chập lại làm một cặp. Cả bố, mẹ và anh đều gói nên nhanh lắm, nó lau lá còn thấy không kịp nữa. Thấy tay mẹ thoăn thoắt đổ một lớp gạo nếp trắng thơm, một lớp đỗ xanh đã đãi vỏ vàng ươm, rồi đặt một miếng thịt ướp gia vị và hạt tiêu to ơi là to vào giữa, rồi lại thêm một lớp đỗ, một lớp gạo nếp nữa. Thế rồi mẹ làm thế nào đó mà chỉ một lát sau là dựng được bốn góc bánh vuông vắng thẳng tưng cứ như là cho vào khuôn.

Đến gần khuya ngày hôm đó thì công đoạn gói bánh cũng xong. Chỉ còn lại một ít nguyên liệu, mẹ bảo anh gói cho nó hai cái bánh chưng cua. Chu choa, cái này là nó mong nhất đấy. Ngày trước về quê nội năm nào bà cũng làm cho nó một cặp bánh chưng cua, chỉ nhỏ bằng một phần ba cái bánh bình thường thôi. Nó thích đến nỗi mà cứ cầm cặp bánh đi chơi khắp các nhà hàng xóm mà chẳng dám ăn. Rồi cứ để dành chơi mãi đến mấy ngày bà giục ăn kẻo hỏng, mới dám bóc ra thưởng thức. Hôm nay thì được tận tay xem gói bánh, lại có bánh chưng cua anh gói cho nữa. Thế là chẳng lo bị lẫn với đám bánh chưng to kia, mà có khi bánh của nó lại được cho “ra lò” đầu tiên ý chứ. Ôi thích quá thích quá.

Bố bảo luộc bánh mất hơn một ngày gì đó. Nhà có cái nồi quân dụng chắc là để lại suốt từ hồi bố đi bộ đội, cả năm cứ để đựng đồ linh tinh, bữa nay được đưa ra kì cọ sạch sẽ. Nó cảm thấy anh chàng nồi quân dụng có vẻ khoái chí lắm khi được tắm táp sạch sẽ như thế, lại chả mấy khi đang ở trong góc nhà tối om nay lại được chịu một trọng trách đặc biệt. Ai cũng phải quây quần xung quanh anh ta mà bàn tán. Chắc là anh sẽ làm rất tốt nhiệm vụ giữ nhiệt cho nồi bánh đây.

Củi thì bố đã chuẩn bị đây rồi. Mấy cây gỗ khô từ hồi làm nhà còn sót lại được đem ra trưng dụng hết. Hôm đó mệt quá rồi nó ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Sáng dậy thấy bố và anh vẫn đang thức trông. Lửa đỏ rực dưới đáy nồi. Nó nghe tiếng nước sôi ùng ục, khói từ nắp bốc lên nghi ngút, và mùi thơm của lá dong và bánh đang chín tới lan khắp cả nhà.

Sáng sớm ngày 30, bánh chín. Mẹ gắp từng cặp bánh ra, xếp lên tấm phản rộng dưới bếp thành từng hàng ngay ngắn, rồi sau đó bố lấy thêm một tấm gỗ lớn đặt lên, rồi tiếp tục cho cả cái thớt gỗ lim và cái cối đá mẹ hay giã cua đè lên tấm gỗ để ép bánh ra hết nước. Nó thắc mắc “Sao con thấy nhà bạn Ánh luộc xong là đem đi cúng luôn được rồi, mà bố phải ép bánh nữa”. Bố giải thích với nó là “Ép thế thì bánh mới chắc và ngon. Nếu không ép thì bánh sẽ nhão nhìn xấu lắm”.

Năm đó là năm nó ăn nhiều bánh chưng nhất. Sáng nào nó cũng đòi mẹ cắt nguyên một cái bánh mới ra thành 5-6 lát rồi cho vào chảo rán vàng hai mặt. Đó là kiểu ăn bánh chưng mà nó vẫn thích đến giờ. Cứ triền miên như thế suốt mấy ngày Tết mà không biết chán. Không biết có phải vì năm đó bánh do nhà làm nên thấy ngon hơn hẳn hay không nữa.

Mấy năm sau kinh tế khá hơn, nhiều dịch vụ cung cấp bánh chưng ngày Tết nở rộ nên bố mẹ cũng không nấu bánh mà chỉ đặt khoảng chục cái ở chỗ quen. Thi thoảng về quê ngày cuối năm lại được các ông chú bà thím gói cho mấy cái làm quà ăn chẳng xuể. Bánh chưng quê vì cứng ơi là cứng, ít đỗ, nhiều gạo, nói chung là chẳng thể so với bánh ở thành phố làm được. Có lần nó nháy bố “Thôi bố đừng có lấy về làm gì nữa, của nhà ăn còn chẳng hết mà”. Nhưng bố nhắc khẽ: “Đối với những người ở quê, chiếc bánh chưng ngày Tết vẫn còn quí giá lắm con ạ. Khách xa đến họ quí nên là kiểu gì cũng phải gửi cho được một hai cặp bánh chưng đem về làm quà. Mình không thích đi nữa cũng phải trân trọng mà nhận lấy tình cảm của họ, con hiểu không?”. Nó không cự nự chuyện cái bánh chưng quê nữa. Giờ nghĩ lại, nó hiểu ra có lẽ vì các gia đình ông chú bà thím ở quê vẫn duy trì việc gói bánh ngày Tết, nên chiếc bánh với họ là biết bao tình cảm, niềm vui ngày Tết được sum vầy, nên quí giá lắm.

Giống như nó năm nào, cũng thấy chiếc bánh nhà mình bỗng ngon một cách lạ thường, mấy năm sau nữa thì nó chẳng còn có được sự hào hứng khi ăn bánh chưng nữa.

Lại một cái Tết nữa sắp đến rồi, nó thèm được gói bánh chưng biết bao nhiêu.

Hoàng Khánh Hòa

Vẫn còn có người tốt

Báo chí và mọi phương tiện thông tin đại chúng lâu nay phản ảnh nhiều về sự xuống cấp của đạo đức. Trong những cuộc “ trà dư tửu hậu” người ta cũng đua nhau kể những chuyện buồn lòng về sự thờ ơ giữa con người với nhau…Những chuyện ấy dường như thường trực ở mọi lúc, mọi nơi. Vậy mà nữ sỹ Huyền Trang ở Hội Văn học nghệ thuật Bình Định lại kể với tôi một câu chuyện, mà ngay chính chị cũng bị bất ngờ :

Huyền Trang ra Hà Nội sớm hơn một ngày ghi trên giấy mời đón tiếp đại biểu tham dự Hội nghị quốc tế về quảng bá văn học Việt Nam với thế giới. Chị đành lên nghỉ tạm tại Nhà sáng tác của Hội Nhà Văn Việt Nam tại Quảng Bá – Tây Hồ.

Buổi chiều đúng ngày hẹn, sau khi nhận phòng ở khách sạn Tây Hồ, nữ sỹ định đi bộ sang Nhà sáng tác để lấy đồ đạc còn để lại đó. Hai địa điểm cách nhau không bao xa. Không ngờ vì không rành đường, nên chị quanh quẩn mãi vẫn không tìm được cả đường về khách sạn Tây Hồ lẫn Nhà sáng tác Quảng Bá.

Thấy Huyền Trang đi ngang qua quán nước mấy lần, một người phụ nữ ngồi trong quán đã gọi chị lại hỏi han. Biết đang bị lạc, chị ấy nhờ ngay người đàn ông ngồi trên xe máy cạnh đó, đưa Huyền Trang sang nhà sáng tác lấy đồ đạc, rồi lại chở nữ sỹ về lại khách sạn. Khi Huyền Trang ngỏ ý thanh toán tiền xe đi – về, người đàn ông này từ chối, và nói “ chỉ là giúp chị thôi mà ”.

Kể cho tôi nghe chuyện này, Huyền Trang cứ tấm tắc mãi “ Đời vẫn còn nhiều người tốt chị nhỉ ”.

Tôi vừa chia sẻ với Huyền Trang niềm vui ấy, vừa nghĩ đến một việc đã diễn ra ở Trung tâm đào tạo của chính tôi : có một nữ sinh lớp Trung cấp Quản lý văn hóa bị bệnh máu trắng. Nhà em rất nghèo. Cha mẹ đều nguyên là thanh niên xung phong thời kháng chiến chống Mỹ, ngày chỉ đi làm thuê để kiếm tiền nuôi các con ăn học. Đến nhà cũng phải ở thuê trong huyện Buôn Đôn. Hôm em bị cấp cứu, 12 sinh viên trong lớp đã tình nguyện hiến máu để bạn vượt qua được ca mổ. Ngày bạn mất,cả lớp còn đóng góp mỗi em một khoản tiền nhỏ giúp gia đình lo tang lễ cho bạn. Cũng vẫn là do các em tự bàn nhau, thày cô chưa phải động viên câu nào.

Trong năm học, có những lúc tôi buồn lòng vì các em chưa chăm, ngoan. Và ai cũng biết, sinh viên đi học xa, ăn uống tiết kiệm, học phí và ở trọ hàng tháng đã là những khoản kinh phí phải tính toán chi li. Nhưng trước khó khăn của bạn, các em đã biết cùng sẻ chia.

Vậy đó, xin đừng ai bi quan quá, lòng tốt, tính hướng thiện của con người vẫn còn đó lấp ánh saáng trong cuộc sống hôm nay. Nghĩ thế mà trái tim ấm hẳn lên.

Linh Nga Niê Kdăm

Cho chim ăn trong công viên

bầy chim trong công viên

Chào các bạn,

Sau lần tình cờ đi dạo và gặp ông già thuộc về công viên với đàn chim và sóc, khi đi dạo thỉnh thoảng mình mang theo khi thì mấy hạt thóc, khi thì ổ bánh mỳ để cho bầy chim ở công viên ăn 🙂 Thường thì mình không mang theo máy ảnh vì đối với mình, đi dạo và cho chim ăn như một hình thức thiền và xả x-trét nên không muốn phân tâm vào chụp ảnh, nhưng vào thứ bảy vừa rồi, ngày 23/1/2010 mình mang theo máy ảnh để chụp thiền 🙂

Hôm nay, mình rất vui chia sẻ với các bạn thú vui cho chim ăn, một số kiểu ảnh mình chụp được và quan sát của mình về quá trình “bắt tần số với thiên nhiên” 🙂

Thời tiết vùng Bắc Mỹ vẫn rất lạnh. Hôm đó mình tưởng mặt hồ vẫn đóng băng nên đi người không vào công viên Bearsley. Nhưng khi đi vào trong công viên, òa, mặt hồ đã tan băng và  đàn chim đáng yêu đang đứng ở đó một mình. Ồ, vậy là có thể cho chim ăn và chơi với chúng. Thế là mình đi bộ quay về nhà và mang theo một ổ bánh mì xinh xinh 🙂

bầy chim trên bãi cỏ
bầy chim trên bãi cỏ

Bọn chúng đứng yên ở đó, vì có người nên cũng hơi xào xạc chạy một chút. Tuy nhiên, chúng chạy đi cũng không đến nỗi hớt hải, có lẽ vì biết rằng có ai ăn thịt chúng đâu 🙂

Mình lấy ổ bánh mỳ ra, bẻ nhỏ và thả xuống đất, chúng ào tới tức thì 🙂 Mình tuy không biết chim này là loại gì nhưng phản ứng của chúng khác hẳn lũ bồ câu 🙂 Bọn chúng nhào tới gắp thức ăn rồi bay nhanh ra chỗ khác ăn. Bồ câu thì khác, chúng ăn luôn tại chỗ không sợ con người gì cả 🙂 Phải chăng biết thế giới xung quanh hiền hòa mà chim bồ câu đại diện cho hòa bình thế giới?

Bầy chim vừa măm măm vừa kêu chíu chít cả góc công viên 🙂

xà xuống ăn bánh mỳ

Sau khi gắp được hết bánh mỳ trên mặt đất, vù một cái, bầy chim bay đi thành từng đàn ra xa xa phía mặt hồ 🙂

bay òa ra xa

Nhưng khi mình thả tiếp bánh mỳ, chúng lại bay ào tới. Mỗi lần bay ra xa và xà xuống, bầy chim vỗ cánh đẹp lắm. Khi này, mình đang ngồi bệt xuống vạt cỏ và một tay bánh mỳ một tay máy ảnh chụp thiền bầy chim 🙂

mời các bạn ăn 🙂
bay lên
bay lên
Vỗ cánh bay

Sau khi cho bầy chim ăn hết một tổ bánh mỳ, mình đứng dậy từ vạt cỏ và trở lại thế giới “vĩ mô” 🙂

trở lại thế giới vĩ mô

Công viên vắng lặng gần như không có người, chỉ có lũ chim và mình. Âm nhanh chỉ có tiếng gió và tiếng kêu chíu chít của chúng trong cái rét giá lạnh của mùa đông. Chỉ thoáng chốc mình thấy mình hòa mình vào với thiên nhiên và quên đi những gì gây ưu tư lo lắng. Mình cảm giác được sự thanh bình yên ả khó diễn tả và được nạp lại năng lượng sáng tạo vào một ngày thứ 7 hơi nắng lên của mùa đông.

Ở trong cảm giác thiên nhiên như thế mình chợt tỉnh, như được kéo ra khỏi cửa sổ,  quan sát và thấy được nhiều thứ. Ở bài viết này mình muốn chia sẻ với các bạn về quá trình “hòa mình” hay “bắt tần số” với thiên nhiên một chút 🙂

– Bình thường mình đi bộ trong thiên nhiên chầm chậm và quan sát cây cối, hồ nước và lắng nghe tiếng chim để hòa nhịp vào với thiên nhiên như một hình thức xả xì trét. Mình để ý là mình cần khoảng 45 phút đi bộ để mình có cảm giác “bắt tần số”, có nghĩa là đầu óc không nghĩ vẩn vơ, hết mệt mỏi, được tiếp thêm sinh khí từ tự nhiên. Mình đã nói tới ý này ở bài viết “Sáng tạo“.

Ở đây, mức độ chủ động của mình ít nhưng thiên nhiên chủ động giúp mình  🙂

– Nhưng về sau, khi mình cảm thấy “quen” với thiên nhiên, mình bắt đầu quan sát tới những “chuyển động” của thiên nhiên. Có lần mình ngắm nhìn cũng ở công viên Bearsley này mấy người ở nhà thờ Mỹ thả bánh mỳ cho bầy ngỗng ăn. Mình để ý được là mình “bắt nhịp” với thiên nhiên nhanh hơn 🙂

Hôm đó khi đi dạo về sau khi ngắm nhìn mấy người nhà thờ cho bầy ngỗng ăn, mình chủ động chạm tay vào lá cây, nhặt mấy cành lá rơi ở dưới đất lên với cả ý thức và vô thức 🙂 Ấy, ấy, các bạn đừng bảo mình là “chân nhặt lá tay đá ống bơ” nhé 😀

– Sau khi mình thấy công viên đúng là bạn tốt, mình quyết định “chơi với công viên”, chơi với sự chuyện động của thiên nhiên bằng cách mang ổ bánh mỳ đi cho bầy chim ăn 🙂

Ôi chao, chỉ phút chốc khoảng 5 – 10 phút mình đã hòa nhịp với thiên nhiên ở mức độ thiền rất cao 🙂 Hiệu quả lớn hơn và nhanh hơn so với  “thiền” đi dạo và ngắm chuyển động nhiều lắm 🙂 Có một sự an lạc diệu kỳ trong hài hòa với thiên nhiên 🙂

Các bạn à, vườn chuối cũng như công viên Bearsley trên Internet vậy 🙂

Chúc các bạn một ngày an lạc,

Hiển.

PS: Mình  sau đó được biết tên loại chim này là herring gulls. Đặc điểm của chúng được mô tả  ở trang Wikipedia 🙂

Lễ rước dâu độc nhất vô nhị bằng 20 chú voi

Mời các bạn đọc một bài viết về một đám cưới với lễ rước dâu vô cùng độc đáo được tác giả Hoàng Thiên Nga tường thuật, với những hình ảnh minh họa đẹp của Kỹ sư Nguyễn Quyền.

Về kỹ sư Nguyễn Quyền, những người dân Balme không mấy ai chưa nghe đến tên ông như Ông chủ nhà máy điện tư nhân đầu tiên ở Việt Nam, được giới thiệu trên báo Tiền Phong (2006).Đài THVN đã làm 2 chương trình Phóng sự Nhân Vật & Người Đương Thời về ông, Đài PTTH DakLak cũng có mấy chương trình phỏng vấn ông.

Hiện tuổi gần 70, ông vẫn làm việc không ngưng nghỉ, giải trí bằng niềm đam mê nhiếp ảnh, với bốn cậu con trai thành đạt, giỏi giang.

Các bạn sẽ biết thêm về người kỹ sư là chuyên gia hàng đầu VN về thủy điện vừa và nhỏ một ngày gần đây trong Mục Chứng Nhân của ĐCN.

Huỳnh Huệ
.

Lễ rước dâu độc nhất vô nhị bằng 20 chú voi

Chủ nhật 24-1-2010, tức mồng mười tháng chạp âm lịch Kỷ Sửu, tại huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk đã diễn ra một lễ cưới với nghi thức đưa dâu rất đặc biệt.

Gái huyện Lăk trai Bảo Lộc rất đẹp đôi trên lưng voi

Cô dâu Đặng Thị Họa Mi – kiều nữ huyện Lăk, nay là nhân viên Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đà Lạt , chú rể Lê Mạnh Thắng – tài nam Bảo Lộc đang là cảnh sát giao thông tỉnh Lâm Đồng.

Cả hai đều là con đầu lòng, giỏi giang tài sắc, niềm tự hào của hai họ nên đã được cha mẹ đôi bên quyết định tổ chức một lễ cưới độc đáo, vui vẻ không đâu sánh bằng.

Đội voi đẹp nhất của tỉnh Đăk Lăk rước dâu

Bố của cô dâu in tên trên thiệp cưới là Đặng Vân Long, còn tên cúng cơm ít người biết là Đàng Năng Long, tổng quản 7 con voi trẻ khỏe, đàn voi gia đình hùng hậu nhất Việt Nam hiện giờ.

Ông nội cô dâu là Đàng Nhảy, chồng thứ hai của bà Sao Thong Chăn – người phụ nữ duy nhất làm nghề buôn voi (Phóng sự “Mỹ nhân buôn voi”), từng giúp Chính phủ Cách mạng mua voi tặng các nước có quan hệ ngoại giao. Gia phả phía cô dâu có hơn 5 đời làm nghề thuần dưỡng, nuôi dạy và mua bán voi.

Đoàn rước dâu diễu hành qua thị trấn Liên Sơn.

Chín giờ sáng, sau lễ gia tiên long trọng tổ chức tại nhà gái ở 27 N’Trang Lơng, thị trấn Liên Sơn, đoàn rước dâu khởi hành. Một đài voi chắc chắn được dựng sẵn trước sân, 20 con voi khỏe đẹp nhất của huyện Lăk xếp thẳng hàng, lễ phép cúi đầu chờ đợi.

Quan viên hai họ lần lượt thượng đài rồi từng đôi bước sang bành voi gắn trên chiếu lụa đỏ rực lộng lẫy.

Đoàn đưa dâu diễu hành hơn một cây số qua thị trấn, thẳng tiến tới khu du lịch buôn Jun ven hồ Lăk. Tại đó, phông rạp đã dựng sẵn, mâm bàn đã bày dưới gầm nhà sàn, âm thanh cồng chiêng tưng bừng rộn rã.

Trai tài gái sắc trong lễ cưới

Trong hơn 600 quan khách được mời dự tiệc, có Gru (thợ săn voi giỏi) Ay Ngơn xã Ea Rbin, huyện Lăk, Gru Ama Bích ở Buôn Đôn là rể trưởng thay mặt gia đình Vua Voi Ama Kông.

Còn ông Lê Văn Quyết người dân tộc M’Nông nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh về hưu ở huyện Lăk, hiện cũng là chủ sở hữu 2 con voi thì vui vẻ thay mặt nhà gái tiếp quan viên hai họ.

Ông cho biết đồng bào M’Nông từ xa xưa đã có tục đưa voi đi rước dâu, tuy nhiên chưa bao giờ có đám cưới nào huy động tới 20 voi đông đúc như thế này!

Cồng chiêng không thể thiếu trong tiệc cưới

Tiệc cưới diễn ra thân mật, đầm ấm, gọn ghẽ, mang ấn tượng đẹp về văn hóa độc đáo của cả xứ Voi Đăk Lăk lẫn xứ Hoa Lâm Đồng. Tan tiệc, hai họ lại lên lưng voi tiễn dâu đến hết thị trấn. Tại đó, đoàn ô tô phía đàng trai đã chờ sẵn để đón dâu qua vùng đất bạt ngàn trà Bảo Lộc.

Phía sau những du khách thích thú cưỡi voi dạo chơi bên hồ Lăk trong nắng gió cao nguyên hào phóng, thấm đẫm phong vị yên vui thời đất nước thanh bình.

Hoàng Thiên Nga

Ảnh chụp ở Hồ Lăk chia sẻ với Vườn Chuối

HTN và con gái Thiên Thảo, 13 tuổi
Bên cạnh cây Kơ-nia - Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Quyền và Thiên Hải, lớp 1, con trai của HTN
Thiên Hải và mẹ

Chuyện chiếc máy tái chế vỏ chai

Cửa hàng rau quả

Chào các bạn,

Mình kể với các bạn câu chuyện mình quan sát được về chiếc máy tái chế vỏ chai của cửa hàng rau quả Food World ngay trước cửa nhà mình nhé. Câu chuyện này phản ánh sự ý thức cao hơn về nếp sống hàng ngày của cả người dân lẫn giới kinh doanh. Họ đưa ý thức môi trường vào các sản phẩm kinh doanh để kiếm tiền và gìn gữ môi trường  🙂

Phân loại thùng rác

Thông thưởng dân chúng Mỹ vẫn dùng khoảng ba loại hộp rác: (1) Hộp rác đủ loại tả phí lù (2) Hộp rác chứa vỏ chai như Cocacola, vỏ hộp nước lọc Poland Spring và (3) Sách báo cũ, hộp các tông.

Họ để sẵn sàng mấy thùng rác trước cửa nhà, và hàng tuần vào một ngày cố định có chiếc xe đến lấy mấy thùng rác đi để xử lý. 🙂

Nhưng cách đây độ sáu tháng, một quái vật đã xuất hiện ở một gian của cửa hàng. Đó là một chiếc máy Tomra xấu xí đã qua sử dụng được đặt ở bên cạnh ngăn hàng chính. Rất tiếc là mình đã không chụp được chụp ảnh chiếc máy đó để post lên đây. Chi có chiếc ảnh của chiếc máy mới cách đây ba tháng ở dưới đây 🙂

Mình cũng không muốn nói tới chiếc máy cũ đó nếu không có lý do lịch sử sau đây: 🙂

Hộp nước– Mình vẫn chưa chăm lắm chuyện uống nước lọc chưa đun sôi nên mua hộp nước lọc Poland Spring để uống dần. Mình để ý là khi mua cửa hàng tính giá tiền đắt hơn tới gần gấp rưỡi giá rao ($6.99 thay vì $4.99). Hóa ra họ tính tiền deposit.

– Vậy là vào một buổi chiều đẹp trời mình hăm hở mang vỏ chai nước đi trả cho chiếc máy cũ đó để lấy lại tiền deposit 🙂

Máy tái chế vỏ chai Tomra mới

– Chiếc máy cũ đó thoạt trông thì giống chiếc máy mới. Có một đồng hồ đếm tiền dựa vào số vỏ chai trả lại. Có một lỗ trống để đẩy vỏ chai vào. Máy có camera bên trong để đọc mã vạch của vỏ chai và xác định là vỏ chai là vỏ Cô ca cô la, vỏ chai bia, vỏ nước lọc… để tính tiền trả lại. Đơn giản như vậy thôi 🙂

– Để cho vỏ chai vào máy, mình phải ném chúng vào qua lỗ hổng. Mình đẩy các vỏ chai vào nhanh chóng và  hàng loạt. Thình lình, máy bị tắc cơ khí ở trong do không nhận diện ra được cú ném bóng chuyền 🙂 Máy tắc và đứng yên tại chỗ kêu tu tu 🙂

Máy Tomra

– Một ông già xuất hiện, ông cũng là người trả vỏ chai như mình thôi. Nhưng ông yêu thích công việc trả lại vỏ chai này. Ông rất thạo chiếc máy này. Ông thò tay vào trong lỗ hổng của máy và khui móc gì đó định vị lại vỏ chai nhanh nhưng phức tạp. Ông lôi ra được chiếc vỏ chai mình đã ném vào máy và chiếc máy hoạt động lại được. 🙂 Điều đặc biệt là ông không cần chìa khóa của máy mà hoàn toàn dựa trên tay quen 🙂 Mình hôm đó cực kỳ ấn tượng 🙂

– Sau khi mình trả vỏ chai xong thì mấy người khác cũng tới trả. Có người mang mỗi chiếc vỏ Cô ca thôi, thối lại chừng được $0.2 nhưng cũng trả. Khi được hỏi sao mang ít thế này mà ông cũng đem ra trả, ông kia bảo mình là “Để đòi lại tiền!” 🙂 Đòi lại công lý 🙂 Nhưng mình biết là dân Mỹ kỷ luật tốt, có cầm chiếc vỏ chai đó cũng chẳng biết vứt đi đâu. Vứt vào thùng rác recycle thì ít qua không bõ. Lỡ bỏ ra ngoài đường mà người khác thấy họ cũng nhắc cho vì như thế là vô ý thức. Hay nếu được mấy anh cảnh sát thấy được thì dễ là người đó được giao cho nhặt rác trên đường cao lộ hay quét rác ở khu phố đó đền tội cũng nên 🙂

Hôm đó đi trả vỏ chai mình rất vui vì quan sát được những điều thú vị 🙂

Máy Tomra có băng truyền 🙂

Sau đợt đó độ ba tháng, có lẽ chủ cửa hàng rau quả thấy ba con yêu quý chiếc máy mới và nghịch hay quá nên đầu tư chiếc máy mới hơn. Mình ra thử và thấy ngay đặc điểm sáng tạo về kỹ thuật:

Chiếc máy mới có chiếc băng chuyền kéo nhẹ vỏ chai vào để máy đọc mã vạch nhẹ nhàng. Thiết kế như thế này thì không lo gì chuyện máy bị tắc do người trả phải ném vào. Rất nhẹ nhàng êm dịu.

Mình thấy hay nên chụp mấy kiểu ảnh để chia sẻ với các bạn chuyện đời thường. 🙂

Nếu trong cộng đồng bạn đang ở có gì hay, bạn cũng viết bài chia sẻ với vườn chuối nhé 🙂

Nếu kỹ sư của chúng ta thiết kế ra nhiều đồ tiện dụng thế này sản xuất ở trong nước tạo ra công ăn việc làm và xuất khẩu đi thì hay nhỉ?

Cảm ơn các bạn và chúc một ngày tốt lành,

Hiển.

Em phải đẹp hơn chính em mọi ngày….

Em báo tin 2 tuần nữa đám cưới. Giọng em bổng ngập ngừng nói qua điện thoại… Em sợ lắm, vì hôm ấy em sẽ là một chú rể khập khiễng bên đôi nạng…

Chúc mừng Hoàng Quốc Việt và Phương Chi, thành hôn vào ngày 23/1/2010

Em là một chàng trai khuyết tật đầy nghị lực. Em đã tạo cho mình một sự nghiệp đáng để ngẩng mặt với đời. Ngày ngày em đi qua bao con phố, liên hệ với bao cơ quan và tiếp xúc với bao đối tác. Mọi người chỉ nhìn thấy đôi nạng của em trong 5 phút đầu gặp gở. Sau 5 phút ấy, họ quên mất em là người khuyết tật-nkt. Họ chỉ nhớ đến công việc, đến câu chuyện giữa em và họ. Thế nhưng khi làm chú rể, họ nhà gái sẽ sửng sốt khi đón chàng rể này.

Những kẻ xấu miệng, những kẻ hiềm khích với cô dâu sẽ đem đôi nạng ấy ra làm chứng cứ hùng hồn nhất để bôi nhọ chăng? Ai cũng mong đợi điều hoàn hảo nhất đến với mình. Vậy nhà gái, bạn bè thân thích của cô dâu có đau lòng khi biết chàng rể sẽ là nkt hay không?

Tôi bỗng nhớ đến ngày tôi làm chú rể. Tôi cũng từng thao thức với những suy nghĩ như em. Con đường đi đến hôn nhân của nkt quả là cam go. Trước hết phải chăm chỉ cần mẩn để tìm một chỗ đứng với đời. Đợi đến lúc ổn định được thu nhập, nkt mới dám tính đến chuyện yêu và chuyện cưới.

Lại phải trải qua bao lần dang dở, bao lần gạt nước mắt chia tay vì bên ấy lo sợ con mình cưới phải nkt thì vất vả tấm thân. Chữ yêu khó học hơn cả những môn như toán, lý, ngoại ngữ… Giờ đến lúc “thi tốt nghiệp” chuẩn bị nhận tấm “bằng” kết hôn, em, như tôi, vẫn chưa yên tâm.

Có nhiều lần tôi đã tâm sự với các bạn khuyết tật-kt về nỗi lo ngày đám cưới. Không phải chuyện tiền cưới xin, chuyện tổ chức mà chỉ là chuyện hình tượng lệch chuẩn của những chú rể, cô dâu kt. Nhiều bạn tâm sự hôm đám cưới, họ chỉ biết cúi đầu nuốt nước mắt. Có lẽ nhiều người đang nhìn họ với ánh mắt thương hại. Kẻ ganh ghét sẽ khinh miệt, nhạo báng cái hạnh phúc trong tầm tay họ. Sau đám cưới, vài người thân kể rằng hôm ấy mặt chú rể buồn thiu, trong thật tội nghiệp. Những người ấy từng khuyên tôi nên làm đám cưới đơn giản kẻo biến thành trò cười cho thiên hạ, lại tội cho cô dâu và nhà gái.

Bên cạnh ấy, cũng có nhiều bạn kt kể rằng hôm ấy là ngày vui nhất đời mình, mình không được buồn. Một bạn nữ dõng dạc nói:

-Số mạng chỉ cho em nhan sắc thế này thôi. Nhưng hôm làm cô dâu, em phải đẹp hơn chính mình mọi ngày….

Tôi đã tin vào những lời ấy. Tôi đã hỏi người phụ nữ của đời tôi liệu hôm ấy em có e ngại gì không? Nàng khựng lại như thể tôi vừa nói ra một câu ngốc nghếch lố bịch gì vậy… Nàng trả lời tôi bằng câu hỏi khác:

-E ngại gì? E ngại thì sao phải cưới anh?

Thế là chỉ có mình tôi tự vẽ ra cái bi kịch thê thảm rồi tự nhấn chìm mình trong cái thung lũng đầy nước mắt đầy những lời chế giễu chưa hề xảy ra. Tôi thấy mình điên thật. Xin em đừng lập lại cái ý nghĩ điên khùng giống tôi. Hãy vui lên và hãy ngẩng cao mặt khi tay chống nạng tay bưng khay trầu. Hãy mỉm cười chào hỏi bà con nhà gái, bạn bè của cô dâu. Hãy vui hơn chính mình mọi ngày. Hãy đẹp hơn chính mình mọi ngày…

Vài tuần sau đám cưới, em sẽ nghe bạn bè nhận xét rằng:

-Ái chà! hôm ấy trông bạn thật hạnh phúc.
-Ôi sao hôm ấy bạn lại có thể đẹp trai đến bất ngờ như vậy!

Họ sẽ quên đôi nạng của em. Vì họ cũng đã từng quên đôi mắt tối tăm của tôi… Hỡi những chú rể và cô dâu, cho dù bạn có khuyết tật hay không, Xin hãy cười thật tươi và ăn mặc thật lộng lẫy trong ngày vui nhất đời mình nhé.

04-Jan-10 04:15 PM
Trần Bá Thiện

Đã đăng trên Tuổi Trẻ

Đà Lạt Trong Tôi Và Những Điều Đã Mất

1.

Có lần tôi và mấy người bạn đã tìm về quán cafe Tùng. Chúng tôi ngồi vào bộ bàn ghế nhỏ xíu dưới chân cầu thang cuối căn phòng. Nơi có cái rào chắn nho nhỏ, làm bằng gỗ thông sơn trắng, ngăn lối lên tầng hai của ngôi nhà. Nơi ngày xưa Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, trong thời gian ở Đà Lạt, vẫn ngồi uống cafe với nhau sau mỗi đêm đi hát về.

Chúng tôi đã ngồi vào bộ bàn ghế đó trong tâm trạng thật hoài nhớ. Lẽ ra trong không gian đó, ánh sáng đó, những hoài niệm đó, chúng tôi phải nói với nhau về những điều thật đẹp. Về những bài hát đã từng ám ảnh chúng tôi, về một thứ âm nhạc gần gũi mà chúng tôi vẫn nghe, như thể vẫn hít thở mỗi ngày. Lẽ ra chúng tôi phải nói về họ, về Khánh Ly, về Trịnh Công Sơn, về Từ Công Phụng, về Lê Uyên Phương… Lẽ ra chúng tôi phải nói về những điều kỳ diệu họ đã đem đến cho chúng tôi trong cuộc sống.

Quán cafe Tùng những năm đầu của thế kỷ này, giữa một khu phố có quá nhiều thay đổi, vẫn như xưa. Vẫn hai hàng ghế tựa bọc da chạy dài theo vách, những chiếc ghế nhỏ xinh rải rác, bức tranh treo tường, khung cửa kính nhìn ra phố.. Tất cả ấm cúng sang trọng theo một kiểu rất riêng. Ấm cúng và buồn bã khiến con người ngồi trong quán bỗng muốn gần nhau, thấy cần thiết phải có nhau. Vậy mà chúng tôi đã sai lầm, chúng tôi đã cãi vã vì một chuyện chẳng ra sao. Cãi nhau, khích bác nhau, giận dỗi nhau, làm tổn thương nhau chỉ vì vô tâm, ích kỷ chỉ vì không muốn chấp nhận nhau, dù chỉ là chấp nhận về cách nhìn những hoa rêu trên mái cũ nhà Đà Lạt.

Lẽ ra đã có một buổi tối khác, nhưng có cách gì để làm lại ? Có lẽ chẳng bao giờ chúng tôi lại có dịp cùng đi chung. Cùng xuýt xoa vì hơi sương lạnh buốt, cùng leo lên một chiếc xe ngựa, rồi cùng không nói gì, chỉ ngồi im nghe tiếng vó ngựa gõ vào đêm lốc cốc. Tiếng vó ngựa như đệm vào tiếng kể chuyện của người đánh xe. Bằng một giọng khàn mệt, ông kể về những con đường ông và con ngựa đã đi, kể về những ngôi nhà ma, những oan khuất trong cuộc đời của nhiều con người. Câu chuyện của ông huyền hoặc đến nỗi đêm Đà Lạt bỗng thâm u thêm, như thể tất cả sương mù đều tụ họp về đây, trong đêm nay, theo một tiếng gọi bí ẩn nào đó.

Chúng tôi đã mất một buổi tối Đà Lạt đẹp vô cùng chỉ vì hẹp hòi, dại dột, và vô tâm.

2.

Nhưng đó là mất mát của riêng chúng tôi, chúng tôi đã phải trả giá cho sai lầm của mình bằng những dằn vặt, nuối tiếc.

Còn Đà Lạt ?

Có quá nhiều thứ đã mất đi ở đây. Mất đi không chỉ do hẹp hòi, dại dột, và vô tâm. Mất đi do thời cuộc, thời gian, mất đi do những quyết định vội vàng, tư lợi, thiếu hiểu biết của một số người.

Mất đi trong xót xa, đắng chát nhưng hình như không một ai tự thấy mình có lỗi để ân hận, giày vò.

Những mất đi đó đã làm nên bao hệ luỵ đau đớn, nuối tiếc, buồn bã trong rất nhiều người. Những người đã gắn bó với Đà Lạt bằng một tình yêu máu thịt. Những người đã sống, và gửi gắm vào Đà Lạt cả một cuộc đời với bao kỷ niệm, mà thiếu nó người ta không làm sao thoát được cảm giác bị bứt khỏi mặt đất, bị quăng quật trong bão giông với những bất ổn kéo dài không ngưng nghỉ.

Tôi nhớ Đà Lạt những năm 80 của thế kỷ trước, vắng vẻ, nhiều sương mù, nhiều thông và hoa dại. Những đêm cuối năm nằm ở ký túc xá khoa Văn trên đồi thông khu Đa Thiện, chúng tôi nghe tiếng xe ngựa. Không phải những xe ngựa dành cho du khách bây giờ, mà là những chuyến xe rau củ đi về trong sương lạnh.

Con dốc rất cao từ quán cháo lòng La Si Mi Fa của Giáo sư- Tiến sĩ Sử học Nguyễn Hồng Giáp, đến bãi đất trống đối diện ký túc xá khoa Văn quả là một thách thức cho những con ngựa kéo xe luôn già và gầy yếu. Để tiếng lóc cóc mày (một) cắc / tao (một) cắc thêm rã rời mỏi mệt. Tiếng vó ngựa rời rạc và tiếng gió hú u u sau đồi thông khiến đêm như ướt mềm ra, dài mướt. Và chúng tôi khi đó chợt không thể vô lo, không thể không nghĩ đến gánh nặng cuộc đời với những buồn vui được mất.

Thầy Nguyễn Hông Giáp đã rời đại học Sorbonne để về quê hương, có một thời gian ông không được giảng dạy. Ông mở quán cháo bán cho sinh viên. Cháo lòng heo ăn kèm bánh tráng nướng. Và khoai lang Đà Lạt ruột đỏ au dẻo quẹo chấm muối ớt. Những bát cháo ở quán La Si Mi Fa đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm trí tôi, cũng như hình ảnh vị giáo sư đáng kính vẫn đi trên con đường từ ngả năm Phù Đổng Thiên Vương về ký túc. Ông mỉm cười chào, một tay ông xách chiếc xô thiếc, tay kia là cặp que ông dùng để gắp những tảng phân ngựa. Ông đi nhặt phân về bón cho cỏ hoa và cafe trong vườn nhà… Thầy Giáp giờ đã về sống ở Sài Gòn. Hồi đó tôi đã từng nhiều lần muốn hỏi mà không dám, vì biết vậy là quá táo bạo. Rằng có khi nào thầy nuối tiếc ? Vì đã rời Paris, xa người vợ lai Pháp xinh đẹp để về đây, để nấu cháo lòng và nhặt phân ngựa ? Để cười chào và đặt vào tâm trí những sinh viên chúng tôi một nỗi băn khoăn không nguôi về số phận con người ?

Quán cháo mất đi như là một tất nhiên, tôi không biết có bao nhiêu người khi nhớ về Đa Thiện – Đà Lạt lại nhớ đến cái không gian quán chật hẹp như chiếc hầm khoét sâu vào ngọn đồi, với những bộ bàn ghế bằng gỗ thông, và cái tên La Si Mi Fa reo vang những nốt nhạc. Còn tôi vẫn hình dung trọn vẹn nó, cũng như tôi vẫn hình dung rõ rệt cây thánh giá nằm bên trong ngôi sao, trên ngọn tháp tam giác cao vút trong khu Năng Tĩnh trường Đại Học Đà Lạt. Tôi nghe kể hồi đó thầy Giáp là một trong ba người đã leo lên đỉnh tháp cao 38 mét này, để lấy bù lon xiết các cánh ngôi sao ôm chặt cây thánh giá, và cây thánh giá vẫn nằm nguyên vẹn trong ngôi sao đó.

Không chỉ mình tôi hình dung. Tôi còn nhớ một buổi tối, Liêng Hót Ha Suê, người chơi guitar bass trong dàn nhạc của đội văn nghệ trường, đã đứng nguyện cầu giữa sân trường. Anh nhìn lên đỉnh tháp với đôi mắt thành kính, và lời cầu kinh, và bàn tay làm dấu thánh. Giờ khắc đó, anh đã không nhìn thấy ngôi sao, anh đã nhìn vào bên trong để chỉ thấy cây thánh giá. Niềm tin của anh đã làm cho khuôn mặt anh sáng rỡ đẹp đến kỳ lạ.

3.

Người Đà Lạt than rằng sương mù Đà Lạt đang ngày càng ít ỏi. Và đã có lý giải đó là một tất nhiên khi trái đất nóng dần lên, khi con người sinh sôi nẩy nở bung chiếm nhiều thêm ra.

Liệu có hoàn toàn đúng như vậy?

Vả lại không chỉ sương mù, Đà Lạt còn đang mất đi quá nhiều.

Những ngôi nhà gỗ đẹp như bài thơ đang mất dần. Những con đường quanh co uốn lượn theo các sườn đồi đang mất dần. Thông Đà Lạt đang mất dần không sao cầm giữ được. Không gian tĩnh lặng rất riêng của Đà Lạt cũng không còn như xưa. Và đồi Cù, từ lâu người Đà Lạt đã mất đồi Cù ngay trong lòng thành phố của mình.

Tôi nhớ lại cảm giác của mình khi nghe tin đồi Cù – Đà Lạt bị rào giậu vây bọc kín bưng để biến thành sân golf. Lúc đó tôi đã rời Đà Lạt được vài năm. Nhưng cũng như những người đã đến và yêu Đà Lạt, Đà Lạt luôn ám ảnh tôi. Thật lạ lùng cho mảnh đất này, bởi nhớ nhung một vùng đất mà như thể nhớ nhung một người tình, đã cùng đi với mình qua bao hoang tưởng kỳ diệu, thì tôi nghĩ chỉ có Đà Lạt mới làm được.

Khi nghe tin, tôi đau đến sững người, tôi đã có cảm giác của một người đi xa nghe tin căn nhà của mình bị bán, bị đập vỡ, bị cày nát mà mình không có cách gì quay về, để bảo vệ để chia sẻ, gánh vác. Và tiếp đó là cảm giác nuối tiếc, cay đắng tràn ngập tâm hồn tôi.

Cho đến bây giờ, sau mười mấy năm sử dụng, sân golf đồi Cù – Đà Lạt đã thu được lợi nhuận bao nhiêu? Và lợi nhuận đó có đáng không? Có là bao so với những ảnh hưởng của nó đối với môi trường? So với nỗi đau buồn của bao nhiêu con người đã từng gắn bó với đồi Cù bằng một tình yêu máu thịt?

Ngày đó, tôi đã đến Đà Lạt trong khao khát khờ dại của một người ở biển mà mải mê hoài vọng núi, mải mê mơ về những quả đồi, và tiếng reo thầm thĩ của loài thông. Đồi Cù đã là tất cả tưởng tượng của chúng tôi về thảo nguyên, những thảo nguyên vô cùng thanh sạch, phóng khoáng, đẹp đẽ trong sách vở. Nhất là vào buổi chiều khi đi ngược nắng, chúng tôi nhìn về chân trời xa rộng, để choáng ngợp trước đường chân trời vòng cong rực sáng. Những đôi tình nhân đan tay dạo trên đồi dưới mắt nhìn của chúng tôi khi đó đẹp như những thiên thần. Tôi đã mường tượng họ có thể bay lên trời nhờ đôi cánh, và sự nâng bổng của ánh sáng lộng lẫy trên đồi chiều.

Đồi Cù trở thành sân golf. Đã từ lâu người Đà Lạt và những người đã từng đến từng gắn bó với Đà Lạt đã không còn được tự do ra vào đồi Cù. Mà đồi Cù cũng đã khác, ngay cả màu cỏ trên đồi cũng đã khác xưa mất rồi. Những con người ngày xưa đã từng dạo chơi trên đồi, đã từng ngồi tựa vào những gốc thông cô độc trên đồi, đã từng hôn người mình yêu ở đó, làm sao họ còn tìm lại được dấu vết kỷ niệm. Mà không còn dấu vết kỷ niệm con người ta sống hụt hẫng ra sao ?

Tôi nhớ một lần Liêng Hot Ha Suê đưa tôi đến một góc đồi, nhìn về ngôi nhà ngày xưa của anh mà ngồi buồn suốt buổi. Anh đang nhớ người cha làm mục sư của mình và tuổi thơ với những tháng ngày vô tư, thánh thiện. Có lần, sau một tối tập văn nghệ ở trường Đại học, chúng tôi mang nhạc cụ trả về kho. Khi mọi người đã ra ngoài, và đèn điện đã tắt, từ bóng tối chúng tôi nghe tiếng dương cầm vang lên. Liêng Hót Ha Suê đang chơi đàn (cây dương cầm của trường đã hỏng nhiều phím và từ lâu không ai sử dụng). Tiếng đàn thanh thoát mà ám ảnh. Đó là giai điệu của một bài thánh ca. Tôi đã không còn nhớ tên bài hát, nhưng buổi tối đó và tiếng đàn như tiếng đập thổn thức của trái tim anh, vẫn trở về trong tôi, mỗi lúc tôi về lại Đà Lạt, đi trong sương lạnh nghe tiếng gió và tiếng thông reo. Liêng Hót Ha Suê đã mất ngôi nhà tuổi thơ của mình và không nguôi hoài nhớ. Còn bao nhiêu người Đà Lạt khác đã mất những gì yêu thương của họ theo những đổi thay dâu bể trong đời ?

4

Hôm nay, đọc bài Mãi mãi Đà Lạt của nhà văn Nguyễn Đạt tôi chợt quá nao lòng. Thực ra tôi đã biết quá ít về Đà Lạt, về những con người đã từng sống ở đây, đã làm nên những điều kỳ diệu đẹp đẽ cho văn chương, cho hội hoạ, cho âm nhạc… Những con người đã và đang tồn tại lặng lẽ để làm nên lịch sử Đà Lạt. Nhưng tôi đã yêu Đà Lạt bằng trái tim tuổi trẻ trinh nguyên, và thương yêu đó đã không nguôi ngoai dù theo thời gian bao nhiều điều khác đã như nước chảy dưới chân cầu. Thương yêu đó đã khiến tôi không thể không nuối tiếc, xót xa khi đi qua những mất mát của Đà Lạt trong cảm nhận của riêng tôi.

Tiếc nuối xót xa vì đã có quá nhiều những nói một đằng làm một nẻo, đã có quá nhiều những đập vỡ, giấu che. Như bức tượng Đức Mẹ tuyệt đẹp trước hội trường A1, hay cây thánh giá trên đỉnh tháp Sao trường Đại học. Và bao nhiêu điều khác nữa. Và ở nhiều nơi khác nữa. Những đập vỡ, giấu che xuất phát từ những quan niệm độc đoán, ấu trĩ đến đau lòng.

Đâu đó người ta đang nhìn vào festival hoa, đâu đó nhan nhản những lời kêu gọi vì tương lai thành phố. Đôi khi tôi mơ hồ rối rắm trước những lời kêu gọi ồn ào mà rỗng tuếch đó, trước những festival có quá nhiều sắc màu rực rỡ giả tạo đó. Tôi thấy mình như đang đi trong sương mù. Nhưng không phải sương mù thanh sạch mát lạnh của Đà Lạt xưa, mà là một thứ sương mù độc địa, có sức mê hoặc và giấu che bản chất. Tôi thấy mình mất phương hướng, và lại tràn ngập lòng tôi một cảm giác cay đắng, tiếc nuối.

Khi mất một đêm Đà Lạt đẹp vô cùng bên nhau, ít ra chúng tôi cũng biết mình đã đánh mất và không nguôi dằn vặt. Còn Đà Lạt với những cây thông chết, những ngôi biệt thự hoang tàn. Đà Lạt với những con đường, những trảng cỏ biếc xanh, những hiền lành chân chất mất đi, thì chẳng biết nhìn vào ai, nhìn vào đâu để thở than trách móc !

Ai đó đã nói tiếc nuối là một cảm giác vô ích, tôi nghĩ là tôi hiểu được điều đó, nhất là khi sự tiếc nuối đó lại là của những người dân với thân phận bé nhỏ, không chức quyền. Nhưng tôi đã không làm sao thoát được cảm giác đó, tôi cứ phải buồn thương, xót đắng mãi cho những mất còn. Có lẽ tôi phải tự an ủi mình như nhà văn Nguyễn Đạt, là Đà Lạt xưa vẫn còn trong ký ức của bao con người. Những con người tồn tại lặng lẽ khuất lấp đâu đó với một tình yêu chân thành vô vụ lợi dành cho Đà Lạt. Những con người đang sống với những khát vọng tự do và tình yêu dành cho cái đẹp. Đà Lạt đã có một lịch sử và lịch sử Đà Lạt vẫn còn đó. Có thể nhờ vậy mà chúng ta mãi mãi vẫn hình dung được trong tâm trí một Đà Lạt vẹn nguyên. Một Đà Lạt xưa với đồi Cù với thông và sương và hoa dại. Một Đà Lạt với quán cafe Tùng và những huyền thoại vô cùng đẹp.

Ngày xưa…

Đinh Thị Như Thúy

Người yêu đọc sách không bao giờ phải ngủ một mình

Book lovers never go to bed alone. ~Unknown.Người yêu đọc sách không bao giờ phải ngủ một mình.

Câu chuyện của tôi:

Tôi là một người học về kỹ thuật, nhưng tôi cũng rất thích đọc sách về chủ đề xã hội. Nhưng thói quen đọc sách của tôi, không đến một cách tự nhiên và liên tục. Tôi sinh ra trong gia đình mà bố mẹ tôi không có thói quen đọc sách. Một phần vì bố mẹ tôi là công nhân, lại thêm công việc buôn bán tạp hóa bận rộn, nên không có thời gian. Thời bố mẹ tôi đi học, sách vở đâu có nhiều và dễ mua như bây giờ. Tôi hiểu và thông cảm cho bố mẹ tôi, nên cho đến bây giờ, tôi vẫn nghĩ rằng mình phải đọc thêm phần cho bố mẹ nữa

Ngày tôi học cấp 1 và 2, tôi cũng rất mê đọc truyện.  Bác ruột tôi là giáo viên dạy văn, nên tôi có thể mượn được những cuốn như “Thép đã tôi thế đấy” của Nikolai Ostrovsky và “Những người khốn khổ” của Victor Hugo. Mẹ tôi thì lại không đồng ý vì không muốn tôi đọc truyện tiểu thuyết sớm. Còn tôi, càng thấy, đọc truyện, nhất là văn học, làm tôi hiểu hơn về con người và cuộc sống mà qua sách vở hay bài giảng trên nhà trường không đề cập đến. Tôi biết được đau khổ, chiến tranh,..để biết yêu hạnh phúc, hòa bình. Tôi biết được cuộc sống bình dị hiện tại của mình là ước mơ không có thật của những thế hệ trước.

Rồi thời gian đọc sách của tôi càng ngắn dần khi bước vào cấp 3 và đại học. Những kỳ thi, nhứng thú vui mới làm tôi bỏ bê thói quen đọc sách một cách dễ dàng. Bài vở ngày càng nhiều và kiến thức rộng lớn làm tôi đắm chìm trong bài thi, bài tập, hay những buổi lên phòng thí nghiệm. Ngoảnh lại, thời gian trôi thật nhanh, giờ tôi đã tốt nghiệp được vài năm rồi. Giờ tôi mới nhận ra, trong thời gian đó, cuộc sống tôi luôn cảm thấy thiếu vắng và trống rỗng. Hình như tôi mất đi một người bạn đường thủa nhỏ, chính là những quyển truyện hay sách báo. Điểm lại, tôi chưa học được gì mới về cuốc sống sau bao nhiêu năm cắp sách lên giảng đường.

Sau thời gian tốt nghiệp, tôi dành hầu hết thời gian ôn thi tìm học bổng học sau đại học. Và cũng chính nhờ đó, tôi có nhiều thời gian rỗi rãi hơn. Lúc đó, tôi mới nghĩ đến sách. Vậy là những quyển sách mà tôi chưa từng đọc như: “Đồi gió hú” của Emily Bronte hay “Tiếng chim hót trong bụi mận gai” của Colleen McCulough đã giúp tôi lấy lại được thăng bằng trong cuộc sống. Tôi mua nhiều sách hơn, và đọc như chưa bao giờ được đọc.

Giờ đây, tôi càng hiểu ra rằng, chính đọc sách đã và đang thay đổi con người tôi.

Nguyễn Văn Du.
3:34 AM Jan, 2010.
Rice University

Vua Voi trăm tuổi: Yêu, ai chả thích!

TP – Buôn Ko Tam, xã Ea Tu (TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk) ngày đầu năm mới tấp nập. Từ hai giờ sáng, bếp nhà Khăm Phết đã đỏ lửa. Một con trâu mộng dắt về từ Buôn Đôn được xẻ thịt mở tiệc đãi cả làng để mừng “đại thượng thọ” 100 tuổi của Vua Voi Ama Kông.

Tròn trăm tuổi Ama Kông vẫn đều đều cạn ly loại rượu tự tay pha chế – Ảnh: Hoàng Thiên Nga

Khỏi cãi nhau về tuổi Vua Voi!

Con, cháu, dâu, rể, chắt, chít của Ama Kông, nếu tính hết, phải tới cả trăm người, sống rải rác khắp các huyện thành ở Đăk Lăk. Hôm nay hơn nửa số đó kéo về mừng đại thượng thọ Vua Voi.

Khách quý thân hữu xa gần thuộc nhiều sắc tộc Kinh, Lào, M’Nông, Ê Đê, Jơ Rai, có cả ông bà thông gia người Khmer sang từ bên kia biên giới Campuchia. Rồi cán bộ các sở ban ngành, chính quyền địa phương, doanh nghiệp chế biến dược phẩm từ bài thuốc Ama Kông.

Căn nhà gỗ đơn sơ của Khăm Phết trải chiếu và bày ghế tràn ra sân vườn. Trưa, chiều, khách mừng thọ tới tấp nập kín cả 30 bàn.

Nhân vật chính vui vẻ ngồi khoanh chân dưới tấm phông nổi bật dòng chữ: Mừng Đại Trường Thọ Vua Voi Ama Kông. Sinh ngày 1-1-1910 – 1-1-2010.

Nhà chật, khách đứng phải xếp hàng luồn vào sau lưng khách ngồi, ai cũng muốn được nắm bàn tay rộng ấm của ông và mời ông rượu.

Như mọi cuộc vui khác từng diễn ra tại đây, loại rượu duy nhất được rót là rượu Ama Kông thơm nồng, ủ trong bồn lớn rồi chiết vào vỏ chai nước suối.

Ama Kông đón từng ly rượu đầy, nâng ngang mặt rồi ngửa cổ uống cạn. Sau vài lượt rượu, mặt ông hồng hào, cử chỉ nhanh nhẹn hẳn lên.

Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Nguyễn Hữu Vượng tặng quà mừng Vua Voi, cười lớn: Từ nay các báo đài khỏi phải cãi nhau về tuổi Ama Kông nữa nhé!

Giờ bố mới được quàng vai mẹ!

Vợ chồng  Khăm Phết Lào vui vì bố mẹ đã chịu cười với nhau

Trong 4 bà vợ chính thức mà Ama Kông từng được cưới, bà Nhất và bà Ba đã mất, bà Tư vừa ly hôn năm ngoái. Thật ý nghĩa trong ngày vui này, bà Hai có mặt để cùng đàn con cháu đông đúc hiếu thảo mừng tuổi Vua Voi.

Bà Hai tên thời con gái là H’Hốt, vừa là em vợ vừa là em họ con ông bác ruột của Ama Kông, cách đây gần 7 thập kỷ, khi mới 12 tuổi đã chịu theo tục nối dây, cưới anh rể để nhận trách nhiệm làm mẹ 2 đứa cháu nhỏ sớm mồ côi.

Lấy chồng, bà trở thành Amí Liêng – mẹ của 11 người con sinh chung với Ama Kông, trong đó có con trai thứ bảy Khăm Phết Lào nay là người thừa kế duy nhất các bài thuốc gia truyền từ Ama Kông.

Suốt những năm tháng vất vả cực nhọc vì Ama Kông đi rừng, theo gái biền biệt, Amí Liêng vừa quán xuyến việc nhà, vừa âm thầm góp công góp của giúp đỡ cách mạng.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông bà đều được trao Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, Ama Kông hạng Nhất, Amí Liêng hạng Nhì.

Cuộc giận Ama Kông của Amí Liêng đã kéo dài hơn bốn mươi năm. Kể từ cái ngày bà còn chưa ra khỏi ổ đẻ đứa thứ 11, ông đã dám dắt nhân tình với đứa con gái riêng 5 tuổi về xin cưới làm bà Ba.

Sau những cơn ghen hờn dữ dội của bà, Ama Kông may mắn được già làng phạt nhẹ, cho để lại mọi của cải, chỉ cưỡi một con voi sang nhà vợ mới…

Từ đó tới giờ, chưa một lần Amí Liêng chịu làm lành, chịu sang thăm Ama Kông dù nhà cách nhau có trăm bước chân, ngay cả những lần Vua Voi dưỡng thương cả tuần vì bị vợ Tư… say rượu đánh.

Thuyết phục để mẹ chịu hàn gắn, chịu ngồi xích lại gần và cười dàn hòa với bố là kỳ tích đàn con đã thực hiện được trong dịp vui này.

Tuổi gần tám mươi, Amí Liêng vẫn minh mẫn hài hước và ngúng nguẩy khi nhắc lại chuyện cũ. Bà oang oang: Ama Kông nhiều vợ nhiều con, nhưng ông ấy có nuôi đứa nào đâu. Ổng không thích nuôi con, chỉ thích yêu và nuôi… gái thôi!

Ama Kông tủm tỉm cười khi nghe bà kể tội, gật đầu: Amí Liêng nói có sai đâu, bà là vợ tốt nhất mà!

Nhìn bố mẹ sum họp bên nhau, thầy thuốc Khăm Phết Lào len lén ra sau nhà, đứng cạnh con voi giả ngậm chân bên hòn non bộ anh mới đặt thợ làm để chiều chiều Vua Voi ra ngồi ngắm cho đỡ nhớ rừng, khóc một mình vì…  sung sướng.

Vua voi ngắm con voi giả bên nhà cho đỡ nhớ rừng

Bị bắt gặp, anh mếu máo như trẻ nhỏ: Tôi mơ ước được thấy mẹ về bên bố từ lâu lắm rồi…

Yêu nhau, ai chả thích!

Có thể nói, hiếm có cuộc tụ tập nào ở xứ này mà người ta không nhắc đến Ama Kông. Tên ông từ lâu đã thành huyền thoại.

Ban đầu là huyền thoại về săn voi, về sau là huyền thoại về những thang thuốc cường dương bổ thận mà bản thân ông, cuộc đời ông chính là minh chứng sống động nhất.

Trong dòng đời bề bộn trắng đen phải trái, mọi huyền thoại về Ama Kông vẫn thuần khiết chất sinh tồn hồn nhiên, đem lại cho mọi người cảm giác thư nhàn vui vẻ.

Ngồi bên Vua Voi, người con trai đầu của Ama Kông ý tứ bớt những ly rượu khách mời đầy tràn khỏi tay bố, âu yếm gắp cho bố món này món nọ, ông gạt phắt: Không sao đâu, bố còn khỏe cả chục năm nữa mà!

Cách đây hai tháng, bố vợ Khăm Phết nhà ngay bên cạnh qua đời. Thương bố vợ cả đời hiền lành chăm chỉ, Khăm Phết cùng các anh chị em trong nhà làm đám tang thật lớn, thịt 2 con bò và 3 con heo.

Đồng bào xa gần gùi nếp, gùi chăn nườm nượp lên nhà sàn ngủ lại. Ama Kông là ông sui, cũng liên tục tiếp khách từ hàng xóm ghé qua.

Con dâu Amí Sumay ngồi cạnh xới cơm cho bố chồng, khoe: Mỗi bữa bố đều xơi hết hai bát đầy. Ông hay kể chuyện ngày xưa bằng tiếng Kinh và tiếng M’nông. Khi quên từ, ông lại chuyển qua… tiếng Pháp.

Hôm nay trăm tuổi, Ama Kông uống nhiều rượu với những người thân đến từ Buôn Đôn, Ea Súp và cũng dùng hết hai bát cơm với thịt trâu xào và canh cà đắng.

Ông lại kể về thời trai trẻ, mắt hấp háy vui khi nghe hỏi chuyện yêu đương. Ông cười lộ cả hàm răng xỉn màu rượu thuốc, nhấn mạnh từng tiếng rõ ràng: Chuyện yêu nhau, ai chả thích!

Hoàng Thiên Nga

Và để hiểu lai lịch chàng trai trăm tuổi này, cần đọc thêm :

35 Năm

Ngày mới quen
Tóc em demi-garçon
Bước em nhún nhẩy
Bà đầm hái nho
Như cô công chúa
Cười thơ trẻ
Nhưng mắt thiếu phụ
Thẳm thẳm buồn

H & P - 1975 Saigon


Đưa em đi lễ
Nhà thờ Ba Chuông
Tà muslin đen dài
Lộng gió
Nên nắng nao nao
Đầu cây ngọn cỏ

Em vào luật khoa
Nắng sáng sân trường
Quốc Tế Công Pháp
Thầy Châu Tiến Khương
Em nghe anh giảng

Qua Quốc Gia Hành Chánh
Hội quán vắng tanh
Gió lùa hàng cửa sổ
Chỉ em và anh
Ngồi nhìn nắng đổ
Nghiêng sân

Vào Nhà thờ Đức Bà
Dưới chân Đức Mẹ
Nguyện cầu cho những phong ba
Đang cuộn về trên Đất Mẹ

Thảo cầm viên
Những con đường đêm
Vắng lặng
Những quán cà phê
Những buổi xi nê
Những dãy phố trưa
Những chiều hè đổ lửa
Chiếc Rambler
Dọc ngang thành phố
Mondial
305

H & P - 2009 (Washington DC)


35 năm
Thăng trầm
Cơn mộng hoàng lương
Bóng câu vỗ cánh ngoài khung cửa
Trời rộng
Và xanh
Kê vàng chưa chín
Nắng vẫn mong manh
Và hai đứa
Vẫn còn đây
Chỉ chợp mắt vài giây
Trong buổi gặp đầu

35 năm
Những giọt đắng vẫn rơi
Xuống ly đời dịu ngọt
Mặt trời vẫn ấm
Trên những đồng cỏ
Và hai nhỏ
Vẫn nắm tay nhau chạy
Trên những đồi hoang

TĐH
Tuesday, Jan. 5th, 2010
35th Anniversary of Hoành & Phượng
Lake of the Woods, Virginia, USA

say đắm


bên nhau

Khoảnh Sân Nhà Tôi

Lúc tôi mới làm nhà trên phần đất được cấp, nhiều người “khuyên” nên làm chồm ra phía trước để tận dụng đất. Tôi chỉ lịch sự thưa không có tiền nên chỉ làm căn nhà nhỏ thôi. Thật ra lúc đó nhà hàng xóm bên phải tôi làm trước, đã chừa lề đường có đến 6,7 mét. Mình làm “chồm” ra trước nhà họ thì còn đạo lý gì. Nhưng tôi không dám nói thật vì sợ mọi người bảo là “hâm”. Nhưng cũng nhờ thế mà sau khi qui hoạch đường, tôi còn được khoảnh sân trước nhà để khách khứa khi đến chơi hay các cô cậu học trò khi đến học thêm có chổ để xe máy .

Khoảnh sân nhỏ thôi, nhưng có cả một khoảng không gian xanh mát mắt. Này nhé, sát tường là cây ngọc lan trắng. Đến mùa hoa, ngọc lan nở trắng và thoảng hương thơm ngát. Những đêm trăng, trời không lạnh, tôi thường mở toang cửa tận hưởng mùi hương thơm dịu nhẹ của hoa. Cây ngọc lan này do bố vợ tôi chiết và mang vào trồng từ khi nhà làm xong năm 1985. Lúc đầu cây ủ rũ, khu xóm mới lại chưa có nước máy nên bố vợ tôi hàng ngày phải đạp xe đèo hai can nước vào tưới cho cây. Có lẻ vì cảm tấm lòng của người, cây lớn dần, rồi phát tán che phủ cả một khoảng sân. Đến mùa nở hoa, hoa ra từng đợt e gần cả trăm hoa, trắng rực rồi cùng rủ nhau rụng trắng cả mặt đất. Có đợt vợ tôi đi công tác xa hơn hai tuần, đúng mùa hoa nở trắng. Buổi sáng quét sân, gom hoa rụng trắng sân vào gốc cây tôi chợt nghĩ ra mấy câu thơ ngắn:

Em đi nhà chợt vắng,
Hoa trắng rụng đầy sân.
Giường thì bổng rộng hơn.
Người ra vào ngơ ngẩn.

Năm bố vợ tôi mất, cũng vào mùa hoa nở, nhưng cây bổng dưng ủ rũ, lá quăn lại và hoa chưa nở bung đã teo lại rồi rụng. Con trai lớn tôi bảo “chắc nó đi theo ông ngoại quá , Ba à”. Tôi phải lén xé một mãnh khăn trắng, khấn trước di hài bố vợ tôi, rồi đem khăn về quấn quanh gốc cho cây chịu tang người. Mấy tuần sau khi bố vợ tôi mồ yên mả đẹp, lá tươi dần, rồi cây nứt nhiều cành con và dần dần hồi phục. Bây giờ đã gần 25 năm mà cây vẫn ngày càng phát triển. Đêm đêm tỏa hương ngát cả khu xóm.Vợ tôi mỗi khi có dịp lại khoe với mọi người, “Cây ngọc lan này cùng tuổi với Ti út nhà mình đấy”.

Sát trụ cổng bên trái, không hiểu từ đâu, mọc lên một cây vải thiều. Thưở cây còn nhỏ, tôi cột một khoanh thép vòng quanh thân và xâu vào đầu một sợi dây xích để xích con chó “nâu” mỗi khi nhà có khách hay khi chúng tôi có việc đi. Tối mồng 3 tết năm ấy, con trai tôi đi chơi về khuya, mở cổng để chó chạy ra đường mà quên gọi về. Sáng tìm khắp không thấy, biết chó bị bắt trộm, vợ tôi buồn suốt mấy tuần. Sợi xích vẫn để yên đấy. Không ngờ cây lớn nhanh, thân lấp cả khoanh thép rồi lấp cả 3, 4 vòng xích. Bây giờ sợi xích vẫn lủng la lủng lẳng với khoảng mươi vòng xích còn lại cứ như từ trong cây chui ra. Cây vải ngày càng lớn, phủ bóng che gần hết nữa khoảnh vườn, nhưng lại không ra quả. Tôi thường đùa với vợ, “tại nhà mình đẻ 3 thằng đực rựa, nên cây cũng là đực rựa luôn, không thèm ra trái.” Đã không trái thì chớ, đến mùa cây thay lá, lá rụng đầy sân, mỗi ngày quét ba, bốn lần vẫn không xuể. Nhiều người hàng xóm cứ bảo sao không chặt đi. Nhưng sao lại phải chặt đi chứ? Cây không chỉ che mát cho khoảnh sân nhà tôi mà còn là nơi lủ chim chóc hay bay về đậu, hót véo von. Nhiều nhất là lủ chim sẻ. Ríu ra ríu rít, đôi khi rượt nhau la chí chóe. Có hôm tôi còn nghe cả tiếng chim sơn ca du dương vào buổi sáng sớm, hay chim chào mào léo nhéo gọi bạn tình.

Cây còn là nơi tôi treo mấy chậu lan học trò tôi tặng mỗi dịp tết đến hay vào ngày nhà giáo Việt Nam. Hơn chục chậu lan được móc lủng lẳng trên mấy cành ngang thay nhau lần lượt ra hoa. Chậu lan này có lá to, hoa trắng muốt. Chậu lan kia chỉ có đúng ba lá, nhưng đã ra đến năm lượt hoa và mỗi lần đều ra hai nhánh. Những cánh hoa đã nở có màu vàng như nắng thu, rãi rác những mãng tím và nụ cũng màu tím. Những nụ chưa nở thì cánh cuộn tròn trông xa như hạt mù u.
Một chậu lan khác thì có hoa màu tím nhạt với những đường gân tròn trắng trông như những vòng tròn có chung một điểm tiếp xúc, vòng trong nhỏ, vòng ngoài lớn dần theo cánh hoa. Chậu lan phía trong cho hoa màu tím thẩm làm tôi nhớ những tà áo dài của các o Huế, à không, nhớ bảng tên các o đệ nhứt Đồng khánh Huế năm nào. Còn cây lan, không phải chậu, có hoa đặc biệt nhất là cây lan được con trai út tôi mang từ nhà ngoại về “cột” vào cây vãi thiều. Khách đến chơi cứ ngỡ là lan rừng. Hoa nhỏ, vàng điểm trắng, mọc thành chùm, thả xuống như là “cành liểu rũ bên bờ hồ Gươm”.
Tôi chẳng biết tên của các loài hoa, chỉ gọi chậu lan trắng là “Thùy Dung” (bởi do nhóm học thêm 12 có hai cô bé đều tên Thùy Dung tặng), chậu lan vàng là Thúy Muội (vì do hai cô sinh-viên-cô-giáo Thúy và Muội) tặng, chậu lan tím là Thu Hằng (vì do cô học trò cũ tặng vào ngày sinh nhật “bố” năm ngoái), chậu lan “liểu rũ” là Ngọc Kính (tên cậu út nhà tôi). Những chậu lan khác là chậu Bích Thành (chậu này năm nay ra hoa muộn), chậu Thanh Thảo (chậu này lá sum suê, chỉ ra hoa một lần lúc Thảo cùng chồng và con gái ghé thăm rồi không thấy ra hoa nữa), chậu Quế Lâm 18, chậu Quyên Quyên 31 v.v.. Mỗi chậu đều là một loài lan khác nhau, chẳng có chậu nào giống chậu nào.

Cũng trong khoảnh sân nhà tôi, cạnh cửa sổ phòng tôi còn có một cây hoa tím rất đẹp, từng nụ nhỏ mọc thành chùm, rụng dần từ dưới lên ngọn, Hôm bà tổ trường dân phố đến xin một nhánh về trồng vì thấy hoa “lạ và hay quá” hỏi tôi là cây hoa gì, tôi bảo là cây hoa “Huỳnh Huệ”. Bà tổ trưởng cứ ngẩn người ra bảo sao hoa thế này mà là huệ được. Tôi chỉ tủm tỉm cười nhưng không nói cho bà biết cây này do đích thân người đồng nghiệp thân thiết nhất của tôi đã ươm, nuôi lớn và mang vào tận nhà cho tôi. Lúc đầu tôi trồng trong chậu, nhưng thấy cây phát triển tốt, cậu Út nhà tôi bứng ra trồng vào bồn bên cạnh cửa sổ. Đối diện với cây “Huỳnh Huệ” ở bên trái là cây “lá lủng” vợ tôi lấy giống từ nhà cô bạn Quế Lan, mang về trồng. Lúc đầu tưởng không sống được, không ngờ cây vươn lên rất mạnh vào mùa mưa và nay leo quanh trụ trước mái hiên nhà, như những lá trầu to lủng lổ chổ. Hôm đầu tiên vào học thêm một đứa học trò nhỏ lớp 9, cứ xăm xoi rồi trầm trồ “Thầy ơi, thầy làm răng mà bấm cho mấy cái lá ni lủng lổ hay rứa?”. Giọng Huế chay của cô bé làm tôi nhớ quê chi lạ. Tôi trêu, “Ừ, cái lá ni tự nó có lổ như rứa rồi. Thầy đưa từ ngoài quê mình vô đó. Quê mình nghèo, người mặc áo không lành nên là cũng rách lổ chổ rứa đó con.” Vậy mà cô bé cứ tin là thật. Em xin mấy lá, ép vào bộ sưu tầm sinh vật của mình và ghi chú đúng những lời tôi nói. Hôm cô giáo dạy sinh vật của em, cũng là một học sinh cũ của tôi, điện hỏi có phải thế không, tôi vừa buồn cười, vừa cảm động. Và tôi tin rằng không phải “học sinh bây giờ ranh ma quá!!!” như mọi người vẫn than phiền. Ít nhất bên cạnh tôi vẫn còn những cô bé 15, 16 ngây thơ và biết rung động trước nỗi đau của những người nghèo khó như em.

Dọc bức tường ngăn nhà tôi và nhà cô giáo Hà hàng xóm, còn có một đôi mai: một cây mai rừng và một cây mai tứ quí vợ tôi đã lấy giống từ “nhà bà ngoại” vào trồng. Tết năm ngoái cây mai rừng đã cho những nụ hoa đầu tiên, còn cây mai tứ qúi thì từ ba năm nay đã điểm xuyết cho khoảnh vườn nhỏ của tôi những nụ mai vàng quanh năm.

Trong khoảnh vườn nhỏ của tôi còn có những chậu hoa dễ thương và ấm tình nghĩa. Chậu cây lá
“ Đoan Thư ” cô đồng nghiệp trẻ đã tặng tôi trước ngày em chuẩn bị đi học thạc sĩ như một lời hứa “con sẽ mãi xanh tươi và phát triển như chậu cây này”. Chậu lan “Thúy Hiền” mỗi dịp tết lại trổ một cành hoa đỏ thắm, vươn cao như lời hẹn “con sẽ mãi nối nghiệp của Thầy”. Chậu hồng “Thu Hà” tôi cắm từ bó hoa hồng hai mẹ con em đã mang đến mừng tuổi tôi lúc gần nữa đêm 30 tết trong những ngày em đang gặp đổ vở hạnh phúc riêng tư. Những bông hồng lúc em tặng tôi cũng chỉ nhỏ thôi, nhưng khi được cắm xuống đất, không hiểu sao cánh bổng nở to lạ thường. Mỗi lần hoa nở tôi nhìn nụ hồng lớn lên từng ngày và cầu mong cho cuộc đời em sẽ có một kết thúc có hậu. Đặc biệt nhất trong số các chậu cây này là chậu Hồng Môn, với bốn lá môn màu lục non ngã vàng khi nắng chiều chiếu xuống và cánh hoa màu đỏ hồng bao quanh, bảo bọc nụ hoa nhỏ như một nhánh thủy tiên hay phật thủ. Bảo Thùy, một học trò nhỏ của tôi ở Cao Đẳng Sư Phạm, trước khi từ giã Buôn Ma Thuột để xuống thành phố Hồ Chí Minh tìm cơ hội học tiếp, đã khệ nệ mang lên kèm lời nhắn “Ông nội con bảo đây là cây Hồng Môn. Ông biểu con mang lên biếu Thầy và xin phép Thầy cho con được gọi Thầy bằng ‘Bố’”. Tôi thật sự ngỡ ngàng và xúc động. Xúc động vì mỗi lần sửa bài trên mạng cho em, tôi vẫn gọi đùa em là “ Chổ này sai rồi ‘con gái’, phải sửa như thế này ..”. Không ngờ em đã tự nhận mình là con gái tôi, lại còn kể cho cả ông nội em, người mà tôi chưa từng gặp mặt, nghe chuyện này để ông gủi tặng tôi chậu Hồng Môn này. Phải chăng ông muốn gủi gắm với tôi rằng “Cổng trường sư phạm” phải luôn luôn là Cổng Đỏ và nhắn nhủ tôi hãy cố đi trọn con đường nghề tôi đã chọn và sống hết mình trong những tháng ngày cuối cùng của nghiệp giáo đã trót vương?

Khoảnh sân nhà tôi gắn bó với tôi không chỉ vì ở đó có những kỷ niệm của những người tôi yêu thương trong gia đình tôi, mà còn vì ở đó có những kỷ vật của những đồng-nghiệp-người-bạn-lớn và của những học-trò-đứa-con-nhỏ của tôi, những người đã làm cho tôi thêm tin hơn vào nghề dạy học và yêu thêm cuộc sống vô thường này.

Đặng Ngọc Thanh Hải