All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

George Friedrich Handel – Hallelujah và Water Music

Chào các bạn.

Trong không khí lễ hội tưng bừng, mời các bạn nghe vài đoản khúc vui tươi hùng mạnh của George Frideric Handel.

George Friedrich Händel (23 February 1685 – 14 April 1759) là một nhạc sĩ người Anh gốc Đức, với giáo dục âm nhạc ờ Ý. Sau khi học xong ở Ý ông qua Anh lập nghiệp và trở thành công dân Anh. Ông là nhạc trưởng của ban nhạc thường trình diễn cho hoàng gia Anh.

Handel làm nhiều đoạn nhạc ngắn và một số tập nhạc opera dài rất nổi tiếng, như Messiah và Water Music. Nhạc của Handel được các nhạc sĩ nổi tiếng khác như Beethoven, Mozart, Bach, Haydn ưa chuộng.

Sau đây mời các bạn nghe dàn nhạc trình tấu 3 bản:

Hallelujah: do ca đoàn the Ambrosian singers, với nhạc trưởng Charles Mackerras

Hoàng Hậu sheba đến (The arrival of Queen Sheba), trong tập Water Music,

Water Music, Allegro Maestoso, trong tập 2

.

Handel – Hallelujah – Perfomed by the Ambrosian singers. Directed by Charles Mackerras

.

Handel – Water Music – The Arrival of the Queen of Sheba

.

Handel’s Allegro Maestoso (Water Music Suite 2)

Shoun và mẹ

Shoun là một vị thầy về thiền Tào Động. Khi còn là học trò, bố của Shoun qua đời, Shoun phải chăm sóc mẹ.

Mỗi khi vào phòng thiền, Shoun luôn luôn mang mẹ đi theo. Vì có mẹ đi theo, mỗi khi Shoun viếng một tu viện, ông không thể sống chung với các vị sư khác. Vì vậy Shoun xây một nhà nhỏ để lo cho mẹ. Shoun chép lại kinh sách, và thi ca nhà Phật, và nhờ đó nhận được ít tiền mua thực phẩm.

Khi Shoun mua cá cho mẹ, người ta chế giễu ông, vì người tu hành không được ăn cá. Nhưng Shoun không màng. Tuy nhiên, mẹ của Shoun thì buồn, thấy con mình bị cười chê. Cuối cùng bà nói với Shoun: “Mẹ nghĩ là mẹ sẽ thành ni cô. Mẹ cũng có thể ăn chay được.” Bà thành ni cô, và mẹ con nghiên cứu chung với nhau.

Shoun yêu nhạc và là nhạc sĩ giỏi về đàn hạc, Mẹ shoun cũng chơi đàn hạc. Những đêm trăng tròn hai mẹ con chơi đàn với nhau.

Có một đêm một cô gái trẻ đi ngang nhà và nghe nhạc. Cảm xúc quá, cô bèn mời Shoun đến nhà cô đêm hôm sau và đánh đàn. Shoun đồng ‎ý. Vài ngày sau Shoun gặp lại cô ấy ngoài phố và cám ơn lòng hiếu khách của cô. Mọi người cười chê, vì Shoun đã đến nhà một cô gái làng chơi.

Ngày nọ Shoun đi thuyết giảng ở một chùa xa. Vài tháng sau ông trở về nhà và biết mẹ vừa chết. Các bạn không biết tìm ông ở đâu, nên tang lễ đã bắt đầu.

Shoun bước lên, dùng gậy gõ vào quan tài. “Mẹ, con đã về đây,” ông nói.

“Mẹ mừng con đã về,” ông trả lời thế cho mẹ.

“Vâng, con cũng mừng,” Shoun trả lời. Rồi ông nói mới mọi người quanh ông: “Lễ tang đã xong. Các bạn có thể hỏa táng.”

Khi Shoun đã rất già, ông biết ngày cuối đã gần kề. Một buổi sáng, ông gọi các đệ tử lại quanh ông, nói cho họ biết ông sẽ ra đi vào lúc trưa. Thắp nhang trước ảnh mẹ và thầy cũ, ông viết một bài thơ:

Năm mươi sáu năm gắng sống tử tế
Đi đường tôi trong thế giới này
Giờ mưa đã ngừng, mây đã hết
Trời trong xanh một mảnh trăng đầy

Các đệ tử đứng quanh ông, tụng kinh, và Shoun ra đi khi kinh còn đang tụng.
.

Bình:

• Người ta nghĩ rằng xuất gia là “ra khỏi nhà”, bỏ cha bỏ mẹ đi tu. Nhưng đâu có Phật nào cản con lo cho mẹ từng ngày, ngay cả lúc ngồi thiền là lúc cần yên tĩnh nhất, cũng mang mẹ theo bên cạnh để chăm sóc.

Ngoài gánh nặng tiền bạc và công khó, còn gánh nặng bị người đời cười chê. Mang gánh nặng để lo cho mẹ, đó chính là bằng chứng cụ thể nhất của tình yêu.

• Không chỉ lo về thể chất, mà Shoun còn lo về phát triển tinh thần của mẹ–chơi nhạc cùng mẹ, nghiên cứu Phật pháp cùng mẹ, và mẹ rốt cuộc cũng thành ni cô, mở rộng tâm mẹ trên đường tu học. Còn cái lo nào lớn cho bằng.

• Vì yêu mẹ, nên Shoun kính trọng phụ nữ, kể cả gái làng chơi. Và kính trọng phụ nữ, ngay cả khi người khác cười mình là giao du với người xấu.

• Khi mẹ chết Shoun thay mẹ để nói chuyện với mình, đó là do cảm thấy gần gũi mẹ đến mức thấy có mẹ trong mình, và mẹ nói được lời mẹ qua miệng mình.

• Thực sự thì, trong ta có cha mẹ và tất cả tổ tiên ta.

Bởi vì Shoun biết mẹ đã ở trong Shoun, nên Shoun chẳng buồn gì cả. Nói chuyện với mẹ xong là điềm tĩnh bảo mọi người có thể hỏa táng xác mẹ.

• Cho đến ngày cuối đời, vẫn không quên mẹ và thầy.

• Đến ngày cuối đời, Shoun mới xác nhận là mình đã giác ngộ–Giờ mưa đã ngừng, mây đã hết, trời trong xanh môt mảnh trăng đầy.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Shoun and His Mother

Shoun became a teacher of Soto Zen. When he was still a student his father passed away, leaving him to care for his old mother.

Whenever Shoun went to a meditation hall he always took his mother with him. Since she accompanied him, when he visited monasteries he could not live with the monks. So he would build a little house and care for her there. He would copy sutras, Buddhist verses, and in this manner receive a few coins for food.

When Shoun bought fish for his mother, the people would scoff at him, for a monk is not supposed to eat fish. But Shoun did not mind. His mother, however, was hurt to see the others laugh at her son. Finally she told Shoun: “I think I will become a nun. I can be a vegaterian too.” She did, and they studied together.

Shoun was fond of music and was a master of the harp, which his mother also played. On full-moon nights they used to play together.

One night a young lady passed by their house and heard music. Deeply touched, she invited Shoun to visit her the next evening and play. He accepted the invitation. A few days later he met the young lady on the street and thanked her for her hospitality. Others laughed at him. He had visited the house of a woman of the streets.

One day Shoun left for a distant temple to deliver a lecture. A few months afterwards he returned home to find his mother dead. Friends had not known where to reach him, so the funeral was then in progress.

Shoun walked up and hit the coffin with his staff. “Mother, your son has returned,” he said.

“I am glad to see you have returned, son,” he answered for his mother.

“Yes, I am glad too,” Shoun responded. Then he announced to the people about him: “The funeral ceremony is over. You may bury the body.”

When Shoun was old he knew his end was approaching. He asked his disciples to gather around him in the morning, telling them he was going to pass on at noon. Burning incense before the picture of his mother and his old teacher, he wrote a poem:

For fifty-six years I lived as best I could,
Making my way in this world.
Now the rain has ended, the clouds are clearing,
The blue sky has a full moon.

His disciples gathered about him, reciting a sutra, and Shoun passed on during the invocation.

#15

Greensleeves – Tà Áo Xanh

Chào các bạn,

Giáng Sinh là không thể thiếu Silent Night. Và Greensleeves – Tà áo xanh.

My Lady Greensleeves, họa sĩ Danta Gabriel Rossetti 1864

Nhưng Greensleeves không phải là một thánh ca. Greensleeves là tình ca. Người ta không hát Greensleeves, nhưng người ta luôn luôn trình tấu Greensleeves với organ, piano hay harp trong nhà thờ.

Greensleeves là một dân ca Anh quốc, viết theo thể điệu trữ tình gọi là Romanesca. Năm 1560 một bản nhạc ballad đã được đăng ký với London Stationer’s Company, công ty độc quyền xuất bản nhạc của Anh, dưới tên “A New Northern Dittye of the Lady Greene Sleeves”. Continue reading Greensleeves – Tà Áo Xanh

Giáng Sinh đầu

Giáng Sinh đầu trên đất lạ
Tay nách con tay xách giỏ
Phố nhỏ lạnh vắng
Tuyết trắng cả trời đêm
Em vượt nghìn dặm tìm
Về anh
Mùa thánh
Mắt em sao trời
Long lanh
Chuyến xe khuya lẻ loi
Mang nỗi mừng hội tụ
Đôi mái đầu xanh
Ngờ nghệch
Yêu nhau nồng nhiệt cả trời đông
Lạc lỏng
Giữa ngã tư đời mờ mịt

*

Hơn ba mươi năm đã trôi qua
Giáng sinh lại đã trở về
Ngồi ôn chuyện cũ
Mang mang tấc dạ
Thật là huyền diệu
Làm sao hai đứa khờ
Lại có thể vượt qua nghìn bão tố

*

Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời
Bình an dưới thế cho người yêu nhau

TĐH

Lake of the Woods, Virginia, USA
4:16 PM, Dec. 24, 2009
For my wife Túy-Phượng

Con người Giêsu

Chào các bạn,

Nhân mùa Giáng Sinh,  tức là mùa mừng sinh nhật Chúa Giêsu, mình muốn chia sẻ với các bạn một tí về con người hấp dẫn này.  Đây là một trong hai người có ảnh hưởng mạnh nhất trên tư duy của mình.  Người kia là Phật Thích Ca.  Các điều thú vị về Chúa Giêsu mình sắp chia sẻ ở đây là lấy trực tiếp từ Thánh Kinh, mặc dù có một số điều rất ít người để ý đến và nhắc đến.

Bài này đặc biết chú trọng đến khía cạnh con người của Chúa Giêsu.  Khía cạnh Con Chúa hay Chúa Con thì ta tạm gác qua một bên, vì  thực sự là chẳng có gì hấp dẫn để bàn.  Đã là Chúa rồi thì có 5 ngàn cánh tay, 10 ngàn con mắt, đi một giây 20 triệu năm ánh sáng, cũng chỉ là chuyện thường, chẳng có gì đáng ngạc nhiên. 🙂

Cuộc đời con người của Chúa Giêsu là một cuộc đời nhiều hấp lực.  Đó là cuộc đời của một người rất người, với đầy đủ những vết bùn trong gia phả, cùng những xúc cảm, khổ đau, và nước mắt của con người.  Và là một người rất gần gũi với những người ở tận đáy xã hội.

Từ phần này về sau, chúng ta chỉ dùng tên Giêsu trong bài, như cách dùng trong các bản Thánh Kinh nguyên thủy tiếng Hebrew và Hy Lạp, để nhấn mạnh tính cách “con người” của Chúa Giêsu.

Tổ tiên mờ ám

Phúc Âm của Matthew ghi lại chi tiết gốc gác của  Giêsu, bắt đầu từ Abraham, tổ phụ của dân Do Tháí, đến  Giêsu, 42 đời cả thảy.  (Matthew 1:1-17)  Trong gia phả của chế độ phụ hệ này, theo truyền thống Do Thái thời đó, chỉ có tên đàn ông, và đương nhiên là đàn ông Do Thái.  Thuở đó, và ngay cả đến ngày nay cũng vẫn còn khá đúng, người Do Thái chỉ lập gia đình với người Do Thái và bị cấm lấy người “ngoại đạo”, cho nên gia phả chỉ có người Do Thái là chuyện đương nhiên.  Tuy nhiên trong số 42 đời trong gia phả Giêsu, Matthew có kèm theo tên 4 người phụ nữ được xem là có ảnh hưởng quan trọng trong lịch sử Do Thái: Tamar, Rehab, Ruth và Bathsheba.  Điều thú vị về các phụ nữ này được giải thích trong phiên bản Thánh Kinh cho Sinh Viên (Student Bible), New International Version:

“Tổ Tiên Mờ Ám:  Gia phả Matthew ghi lại khác với nhiều gia phả Do Thái vì có ghi tên phụ nữ, mà đó lại là chọn lựa một nhóm phụ nữ đáng ngạc nhiên.  Tamar, không phải người Do Thái, lừa và quyến rũ bố chồng, rồi sinh ra cặp con song sinh ngoài hôn thú (Genesis 38);  Rahab, cũng không phải người Do Thái, đã từng là một gái làng chơi (Joshua 2:6); Ruth, không phải người Do Thái, lớn lên như là một người theo tà đạo (Ruth 1-4); và vợ của Uriah, bà Bathsheba, phạm tội ngoại tình với vua David (2 Samuel 11-12).   Nhiều người đàn ông trong gia phả cũng có dĩ vãng   đen tối; nói chung tổ tiên của  Giêsu biểu lộ rất rõ rằng Thượng đế có thể dùng đủ mọi loại người để làm việc.”

Con hoang

Thánh Kinh nói Mary, mẹ  Giêsu, thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần,  khi còn đồng trinh.  Và  Giêsu không phải là con thật của Joseph, chồng của Mary.  (Matthew 1:18-21).

Nói theo thói thường của trần thế, đó gọi là con hoang, không có cha.

Kẻ tị nạn từ lúc mới sinh ra

Vừa mới sinh ra, đã bị vua Do Thái là Herod tìm giết, vì Herod nghe nói đất Do Thái mới sinh ra một vị vua, và Herod không muốn ai tranh giành ngôi vua với mình.  Thế là Joseph và Mary phải khăn gói quả mướp, nửa đêm mang Giêsu chạy sang Ai Cập tị nạn.  (Matthew 2:13-15).

Nghèo và thất học

Joseph và Mary nghèo đến nỗi phải sinh  Giêsu trong chuồng gia súc và đặt con trên máng cỏ của gia súc.  (Luke 2:6-7).  Bố Joseph làm thợ mộc.  (Matthew 13:55). Và  Giêsu cũng theo bố làm nghề thợ mộc (Mark 6:3).  Chẳng ở đâu trong Thánh Kinh nói  Giêsu có học hành bằng cấp gì cả.

Ưu ái với người thất học,  người xấu , người tội lỗi, người thù địch

  • Trong số 12 người đệ tử thân cận nhất, 4 người đầu tiên là ngư phủ–Peter, Andrew. James, John (Mattew 4:18-22).  Matthew là người thu thuế.  (Matt 9:9-13)  Vào thời đó, người thu thuế còn thấp hơn cả gái làng chơi, vì bị xem là phản quốc.  Những người thu thuế làm việc cho chính quyền La Mã, tức là chính quyền thực dân đô hộ, thu thuế của dân Do Thái tức là đồng bào họ, giữ lại một phần huê hồng bỏ túi, phần còn lại chuyển cho nhà nước La Mã.
  • Giêsu ăn uống trong nhà của chàng thu thuế Matthew, với các người thu thuế khác và “ những người tội lỗi”.  Thánh Kinh chỉ nói “người tội lỗi” mà không nói rõ tội gì, nhưng ta có thể mường tượng được trộm cắp, lừa bịp, lưu manh, bỏ nhà thờ, chống Thượng đế, không theo lề luật đạo đức…  (Matthew 9:9-13).

Đây là những loại người mà người đứng đắn không được chung đụng, đến nỗi các lãnh đạo tôn giáo buộc tội  Giêsu là “ăn uống với những kẻ thu thuế và người tội lỗi”.  Và  Giêsu trả lời: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, nhưng người bệnh cần.” (Matthew 9:12).

  • Một lần khác  Giêsu gặp một người phụ nữ Samaritan cạnh giếng nước và nói chuyện với bà ta.  Người Samaritan và người Do Thái không liên hệ nhau.  Người Do Thái xem người Samaritan là ngoại đạo tội lỗi và không nói chuyện với người Samaritan.  Hơn nữa, các vị thầy tôn giáo Do Thái thường không nói chuyện riêng với phụ nữ ngoài đường.  Vì vậy đệ tử  Giêsu ngạc nhiên khi thấy  Giêsu nói chuyện riêng với phụ nữ, mà lại là phụ nữ Samaritan .  (John 4:27)

Và bà này lại là một người có vấn đề rất lớn theo tiêu chuẩn thời đó, vì  Giêsu biết bà ta đã có đến 5 đời chồng, và hiện đang sống với một ông không phải là chồng!

Dù vậy  Giêsu vẫn ưu ái bà ta đên mức đứng giảng cho bà ta một lúc, rồi sau đó tiết lộ với và ta: “Ta là Đấng Cứu Thế [mà dân Do Thái đang mong đợi]” (John 4:26).   Đây là người duy nhất Giêsu nói câu đó, cho đến  khi bị đưa ra tòa.

  • Người La Mã, nhất là lính La Mã, được xem là kẻ thù của dân Do Thái.  Nhưng khi một sĩ quan La Mã đến nhờ  Giêsu cứu người nhà đang bị bệnh nặng, Giêsu liền chữa người đó.  (Matt 8:5-13)

  • Một người phụ nữ bị bắt về tội ngoại tình, phải bị xử tử bằng cách ném đá theo luật Do Thái.   Giêsu đã cứu bà ta bằng cách hỏi những người sửa soạn ném đá: “Ai là người không có tội thì hãy ném viên đá đầu tiên.”  Nghe câu hỏi, mọi người bỏ ra về.  (John 8-5-11)

Trọng phụ nữ

Vào thời mà phụ nữ bị coi thường,  Giêsu rất tôn trọng và ưu ái phụ nữ,  và xử với phụ nữ bình đẳng với đàn ông.  Điều này hầu như không thể có vào thời đó.

  • Khi một người đàn bà góa ở Nain khóc lóc vì con vừa chết, Giêsu thương tình và cứu con bà sống lại. (Luke 7:11-15).
  • Vào một ngày Sabbath, tức là ngày nghỉ hàng tuần dành riêng cho Thượng đế, mà ngày nay ta gọi là ngày Chúa Nhật, ngày không ai được phép làm việc gì cả,  Giêsu chữa bệnh khòm lưng cho một người phụ nữ đã bị bệnh đó 18 năm, ngay trong đền thờ Do thái giáo, trước mặt bao nhiêu giáo dân và giáo sĩ.  Đây là phạm luật Do Thái công khai trước mắt toàn thể mọi người. (Luke 13:10-17). (Vậy thì bị xử tử đóng đinh cũng là phải!).
  • Hai chị của  Lazarus, người đã chết và được Giêsu cứu sống lại, là Martha và Mary rất thân với Giêsu.  Khi Giêsu đến nhà thăm, Martha thì nấu nướng, nhưng Mary thì ngồi ngay dưới chân  Giêsu để nghe nói chuyện.   (John 11:5, Luke 10:38-39).
  • Chúng ta đã nói đến thái độ đặc biệt của  Giêsu với người phụ nữ Samaritan bên giếng nước bên trên.
  • Một người đàn bà bị bệnh xổ huyết 12 năm, sờ vào người  Giêsu và được Giêsu chữa lành, dù là với thời đó bà ta được xem là “không sạch” và không ai nên đụng bà ta hoặc cho bà ta đụng vào.  (Mark 5:22-34)
  • Tương tự như vậy,  Giêsu sờ vào xác đứa con gái của Jairus, được xem là “không sạch” vì là xác chết, để cứu cô bé sống lại.  (Mark 5:41).
  • Rất nhiều phụ nữ theo nghe  Giêsu giảng đạo và dùng tiền của họ để lo cho  Giêsu.  Trong số đó có   “Joanna vợ của  Cuza, quản gia của vua Herod; Susanna; và nhiều phụ nữ khác.” (Luke 8:3)
  • Khi  Giêsu bị bắt và bị hành hình, hầu hết môn đệ nam biến mất, nhưng một số phụ nữ đi theo cho đến nơi hành hình, tận chân thánh giá trên đồi Golgotha, gồm:

1. Mary Magdalene (theo phúc âm Matthew, Mark, and John)

2. Mary mẹ của James and Joses (phúc âm  Matthew and Mark)

3. Mẹ của các người con của Zebedee (phúc âm Matthew)

4. Salome (phúc âm Mark) – Nhiều học giả cho rằng Salome có lẽ là phụ nữ số 3, mẹ của các người con của Zebedee.

5. Mary, mẹ  Giêsu (phúc âm John)

6. Mary, vợ của Clophas (có lẽ là anh em của  Joseph, ba dượng của  Giêsu) (phúc âm của John)

7. Chị/em (không tên) của Mary, mẹ của  Giêsu  (phúc âm của John) – Nhiều học giả cho rằng đây có lẽ cũng là người số 6, vợ của Clophas.

8. “Người Môn Đệ Được Yêu Mến”, không tên, nhưng đa số người tin rằng đó chính là John (phúc âm John)

(Xin xem Who Was At The Cross?)

Tức là 7 người phụ nữ và một môn đệ nam.

  • Trong số các môn đệ nữ, đặc biệt nhất là Mary Magdalene, người đứng tên số một trong danh sách 8 người trên, ngày nay là nữ thánh trong giáo hội công giáo và chính thống giáo, với ngày 22 tháng 7 là ngày lễ thánh.  Đây là người phụ nữ nổi bật nhất trong số những người theo  Giêsu .

Mary Magdalene ngồi xem một môn đệ Giêsu tên Joseph tẩn liệm Giêsu vào mồ (Matthew 27:61).  Ba ngày sau, sáng chúa nhật, Mary Magdalene dẫn vài phụ nữ đến mộ để xức dầu cho Giêsu (Mark 16:2) và một thiên thần cho họ biết Giêsu đã sống lại (Mark 16:6).  Mary và các phụ nữ về kể lại với các đệ tử của Giêsu (Luke 24;10).   Sau đó Giêsu hiện ra, lần đầu tiên, với Mary Magdalene (John 20-14) và bảo nàng về báo cho các môn đệ khác.

Đây là một việc rất lạ thường, vì thời đó tiếng nói của đàn bà không có giá trị và đàn bà không được phép làm nhân chứng, nhưng  Giêsu  lại nhờ Mary làm nhân chứng việc mình sống lại với các đệ tử khác.

Các học giả nghiên cứu về Mary Magdalene cho thấy nhiều bằng chứng Mary là môn đệ rất quan trọng của  Giêsu, hơn tất cả các môn đệ khác, và cao hơn hay ít ra là cũng đồng hàng với đại đệ tử Phêrô.  Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng vài trăm năm sau khi Giêsu chết, giáo hội trọng nam đã làm một cuộc cách mạng đưa Mary và phụ nữ xuống hàng thứ yếu.  Xem Mary Magdalene cùa Susan Haskins

Trong các phúc âm thời giáo hội Thiên chúa giáo mới khai sinh, các “Phúc âm Gnostic” (Gnostic Gospels) đã bị giáo hội loại bỏ như là không chính thống.  Một trong những Phúc âm Gnostic là Phúc âm của Mary Magdalene.  Theo phúc âm này thì Mary Magdelene là môn đệ gần gũi và học được nhiều nhất từ  Giêsu, trên cả Phêrô. (Xem Phúc âm Mary Magdalene).

Nhiều tình cảm, dễ khóc

Khi Giêsu thấy hai bạn Mary và Martha, hai chị của Lazarus, và gia tộc, buồn khóc vì Lazarus đã chết, Giêsu khóc.  Và sau đó cứu sống Lazarus.  (John 11:35)

Khi nhìn Jerusalem và tiên đoán Jerusalem sẽ bị trừng phạt và phá rụi vì đã không chấp nhận mình, Giêsu khóc.  (Luke 19:41).

Trước giờ bị bắt, Giêsu cầu nguyện một mình trong vườn Gethsemane, muốn các đệ tử cùng thức với mình vì “thầy buồn đến mức có thể chết được” (Matthew 26:38), nhưng các đệ tử ngủ hết!  Giêsu buồn đến nỗi máu rỉ ra từ chân lông trên hai tay. (Luke 22:44)

Trước lúc tắt thở trên thập tự giá, Giêsu than lớn: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao người lại bỏ rơi con?” (“Eloi, Eloi,lama sabachthani?”) (Matthew 27:46)

Thường đến nơi thanh vắng cầu nguyện một mình

“Rất sớm vào buổi sáng, khi trời còn tối, Giêsu thức dậy, ra khỏi nhà và đến một nơi thanh vắng, cầu nguyện.  Simon và các bạn đi tìm, và khi họ tìm thấy Giêsu, họ la lên: ‘Mọi người đang đi tìm thầy!’” (Mark 1:35-37).

“Giêsu lùi vào nơi hoang dã cầu nguyện.”  (Luke 5:17)

Đêm trước ngày giảng Bài Giảng Trên Đồi, “Giêsu lên núi cầu nguyện, và liên tục cầu nguyện cả đêm với Thượng đế.”  (Luke 6:12)

Tình yêu là cốt tủy của lời giảng

Giêsu giảng:

  • “Yêu Chúa, Thượng đế của bạn, với cả trái tim, cả linh hồn, cả khối óc của bạn… Và yêu láng giềng của bạn như yêu chính bạn.”  Matthews 22:37-38.
  • “Yêu kẻ thù của bạn và cầu nguyện cho những người bắt bớ bạn, để bạn có thể là con của Cha ở trên trời.”  (Matthew 5:44-45).


Tha thứ

Trên thập giá, Giêsu cầu nguyện cho những kẻ hành hình mình, “Lạy cha, tha thứ cho họ, vì họ không biết họ làm gì.”  (Luke 23:33-34)

Con người của Giêsu là đó.

Một con người với tất cả những tâm tình yếu kém của con người.  Một con người rất người, và một tình yêu mênh mông vô tận, tự mang trên vai trọng trách làm  sạch mọi quả tim của nhân loại…

Với lời than cuối cùng vọng vang qua hơn 2 ngàn năm lịch sử:  “Chúa ơi, Chúa ơi, sao người lại bỏ rơi con?”

Đó là người mà mình cảm thấy rất gần gũi, rất gần hơn một thần linh.

TĐH

Lời nguyện Giáng Sinh của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII

Ôi Hài Nhi dịu ngot của Bethlehem

Hãy cho chúng con chia sẻ với cả con tim của chúng con
điều kỳ diệu thẳm sâu của Giáng Sinh.

Hãy đặt vào quả tim của mọi người niềm an bình
mà đôi khi họ đi tìm một cách tuyệt vọng
và chỉ có Ngài mới có thể cho họ.

Giúp họ hiểu nhau nhiều hơn,
và sống như anh chị em,
con cùng Cha.

Cho họ thấy điều đẹp, điều thánh, điều tinh khiết của Ngài.

Đánh thức trong lòng họ
tình yêu và lòng biết ơn về thiện tâm vô tận của Ngài.

Hãy nối kết họ với nhau trong tình yêu của Ngài.

Và cho chúng con an bình thiên đàng của Ngài.

Amen

(Trần Đình Hoành dịch)

.

Christmas Prayer of Pope John XXIII

O sweet Child of Bethlehem,
grant that we may share with all our hearts
in this profound mystery of Christmas.
Put into the hearts of men and women this peace
for which they sometimes seek so desperately
and which you alone can give to them.
Help them to know one another better,
and to live as brothers and sisters,
children of the same Father.
Reveal to them also your beauty, holiness and purity.
Awaken in their hearts
love and gratitude for your infinite goodness.
Join them all together in your love.
And give us your heavenly peace. Amen.

Pope John XXIII

Thánh ca Giáng Sinh Việt

Chào các bạn,

Hôm qua chi Huỳnh Huệ cho chúng ta nghe 13 bản nhạc Giáng Sinh quốc tế bất tử.  Đương nhiên là các bản này chúng ta cũng ca hát thường xuyên ở VN.  Hôm nay thêm vào nhạc xanh Giáng Sinh, mời các bạn nghe vài bản thánh ca Việt.  Các thánh ca này thường chỉ hát trong nhà thờ.

Dưới đây là bài

Hang Bê Lem, bản thánh ca Giáng Sinh số 1 của Việt Nam, của nhạc sĩ Hải Linh, do nhóm MTG trình bày. MTG có lẽ là các xơ Dòng Mến Thánh Giá.

Cao Cung Lên, do ca sĩ Mỹ Huyền và các bạn trình bày.

Mùa Đông Năm Ấy, của nhạc sĩ Hoài Đức, biểu diễn bởi các ca sĩ Mai Hậu và Xuân Trường, và các xơ Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi.

Sau đó là hai bản nhạc quốc tế lời Việt:

Đêm Thánh Vô Cùng, tức Silent Night, do Hoàng Châu hát.

Mùa Sao Sáng, tức bản dân ca nổi tiếng của Anh từ thế kỷ 16, Greensleeves.

Chúc các bạn một Giáng Sinh an lành.
.

Hang Bê Lem – Nhạc: Hải Linh, biểu diễn: Nhóm MTG

.

Cao Cung Lên – Mỹ Huyền

.

Mùa Đông Năm Ấy – Nhạc Hoài Đức, biểu diễn ca sĩ Mai Hậu & Xuân Trường trình bày, và các chị em Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi

.

Đêm thánh vô cùng – Ca sĩ Hoàng Châu

.

Mùa sao sáng (Greensleeves)

.

Giêsu trong Thánh Kinh Koran của Hồi giáo

Chào các bạn,

Với lịch sử đánh nhau đẫm máu giữa Hồi Giáo và Thiên chúa giáo, và các cuộc thánh chiến Hồi giáo đang xảy ra trên thế giới ngày nay, đa số người trên thế giới không biết là hai tôn giáo này là anh em. Đó là một đại họa cho hòa bình thế giới, tạo ra bởi chẳng mấy ai chịu đọc cả Thánh Kinh và Kinh Koran.

Nhân dịp Giáng Sinh, chúng ta nên suy tư về thảm trạng này một tí, và nhớ rằng chiến tranh Hồi giáo trên thế giới ngày nay sẽ không chấm dứt cho đến khi có sự đối thoại anh em giữa khối Hồi giáo và khối Thiên chúa giáo. Và đối thoại đó khộng có nghĩa là các chính trị gia chơi trò chính trị với nhau quanh bàn tròn, mà là sự hiểu biết và tương kính giữa các dân tộc của hai khối.

Kinh Koran gọi Giêsu (Eesa trong tiếng Ả-rập) là Messiah (Đấng Cứu Thế), cùng danh xưng với Messiah Muhammad, giáo chủ Hồi giáo. Theo Kinh Koran, Giêsu là một trong những tiên tri lớn nhất của Thượng đế.

Bản Kinh Koran tiếng Anh tại website Hồi giáo http://islamworld.net cho thấy Kinh Koran nhắc đích danh tên Jesus (Giêsu) tổng cộng 28 lần, không phải chỉ một hai lần.

Và website Thiên chúa giáo http://www.ways-of-christ.net/topics/islam.htm nói những dòng sau đây về Giêsu trong Kinh Koran của Hồi giáo:

Giêsu Kitô trong Kinh Koran

Kinh Koran chấp nhận Giêsu là một tiên tri, và là người truyền tin của Thượng Đế, và là “Lời” Thượng đế, và là “thánh linh của Thượng đế”, được tạo ra như Adam. Các điều này còn nhiều hơn các điều được một số các nhà thần học Thiên chúa giáo ngày nay chấp nhận, vì các nhà thần học này chỉ xem Giêsu như là một nhà cải cách xã hội.

Duy chỉ có điều Giêsu là Con Thượng Đế – như người Thiên chúa giáo thời Muhammad tưởng tượng một cách rất rõ ràng về thể xác – trong tín điều Một Chúa Ba Ngôi của Thiên Chúa Giáo, là không được Kinh Koran chấp nhận.

Theo Kinh Koran, Giêsu có nói đến việc Ngài sẽ sống lại, nhưng có lẽ đó là Kinh Koran nói về việc Giêsu sẽ trở lại lần thứ hai trong Ngày Phán Xét, khi tất cả mọi tín đồ đều sống lại, như được nhắc đến thường xuyên trong Kinh Koran. Kinh Koran nói là Giêsu đã được đưa về với Thượng đế khi còn sống. Khác với niềm tin của tín đồ Thiên chúa giáo là Giêsu đã chết, sau đó sống lại, và về trời với Thượng đế.

Cả Kinh Koran và Thánh Kinh đều đồng ý là có Ngày Phán Xét khi tất cả tín đồ được sống lại và Giêsu sẽ đến để phán xét.“

(TĐH dịch và tóm lược)

Nói chung là chỉ với vài tí ti khác biệt đó, chúng ta đã có bao nhiêu cuộc chiến đẫm máu trong vòng mấy trăm năm.

Sự điên rồ đã đến, đang đến, và sẽ tiếp tục đến, nếu người ta thích mặc áo tôn giáo, nhưng không nghe lời dạy của chính người mình gọi là thầy, là Chúa: “Hãy yêu cả kẻ thù của con.”

Thế giới của chúng ta đang đối diện với những thảm họa chiến tranh lớn. Và những khủng hoảng về môi trường, khí hậu, tài nguyên thiên, và những bất bình đẳng giàu nghèo quá lớn trên thế giới, sẽ làm cho những cuộc chiến tranh chấp tôn giáo, tranh chấp văn hóa, và tranh chấp kinh tế, có cơ hội phát triển dữ dội hơn.

Hãy suy niệm về những điều này, và hiệp lòng cầu nguyện cho sự mở rộng của đầu óc và trái tim con người, và cho hòa bình thế giới.

Bình an của Thượng đế ở cùng tất cả chúng ta.

Mến,
Hoành

Lời nguyện Giáng Sinh

Hỡi Chúa Hài Đồng,

Tạ ơn Người đã đến
và sống giữa chúng con
để sẻ chia với chúng con nhân tính của chúng con
và an bình của Người.
Hãy ban bình an cho chúng con.
Hãy làm sạch quả tim của chúng con.
Làm sạch trí óc của chúng con.
Làm sạch linh hồn của chúng con.
Làm sạch tâm linh của chúng con.
Hãy làm lành quả tim của chúng con.
Làm lành trí óc của chúng con.
Làm lành linh hồn của chúng con.
Làm lành tâm linh của chúng con.
Hãy xua khốn khổ đi khỏi thế giới này,
khỏi hành tinh của chúng con, khỏi quả tim của chúng con.
Hãy mang chúng con vào tình yêu vô biên của Người.
Hãy nắm các quả tim của chúng con trong tay Người
và ban phúc cho chúng với bình an vô tận của Người.
Amen

Trần Đình Hoành (nguyên tác Anh ngữ, và Việt dịch)


Dear little Jesus,

Thank you for coming
and living among us
to share with us our humanity
and your peace.
Grant us peace.
Cleanse our hearts.
Cleanse our minds.
Cleanse our souls.
Cleanse our spirits.
Heal our hearts.
Heal our minds.
Heal our souls.
Heal our spirits.
Drive miseries off this world,
off our planet, off our hearts.
Bring us all into your infinite love.
Hold our hearts in your hands
and bless them with your everlasting peace.
Amen

Ông Tàu Vui Tính

Ai đi trong các Phố Tàu ở Mỹ đều thấy ảnh tượng một ông mập mang một bao vải. Thương nhân Trung Hoa gọi ông ấy là Ông Tàu Vui Tính hay Ông Phật Cười.

Ông Hotei này sống thời nhà Đường. Ông chẳng muốn ai gọi mình là thiền sư hoặc tụ tập học trò đông đúc quanh mình. Thay vì vậy, ông đi đọc đường phố với một bao lớn trong đó ông mang các món quà như kẹo, trái cây, bánh ngọt. Đây là quà ông cho các em bé thường chơi đùa với ông. Ông tạo ra lớp vườn trẻ trên đường phố.

Lúc nào gặp một thiền nhân ông cũng xòe tay và nói: “Cho tôi một xu.”

Có một lần ông đang sửa soạn chơi/làm-việc, một thiền sư khác đi ngang và hỏi: “Yếu tính của thiền là gì?”

Hotei vất ngay bao vải xuống đất, trả lời thầm lặng.

“Vậy,” vị thiền sư hỏi tiếp, “thế nào là đạt được Thiền?”

Ông Tàu Vui Tính lập tức xách bao mang lên vai và đi tiếp.
.

Bình:

• Hotei chính là Phật Di Lặc, và có nhiều tên khác nhau như Phật Mập, Phật Cười, Phật Vui, Phật Tình Yêu, Phật Phát Tài…

Theo kinh sách thì Phật Di Lặc là Phật tương lai, Phật cuối cùng của thế giới ta bà này, có lẽ phải khoảng 30 ngàn năm nữa mới đến.

Tuy nhiên, theo truyền thuyết dân gian thì Bố Đại Hòa Thượng thời nhà Đường là hóa thân của Phật Di Lặc, như trong truyện này.

• Yếu tính của Thiền là gì?

Là không vướng mắc, không vướng bận, không chấp. Như Hotei vất bao xuống đất.

• Thế nào là đạt được Thiền?

Là sống, là làm mọi điều mình vẫn làm thường ngày, với tâm không vướng mắc. Như Hotei mang bao quà đi chơi/dạy con nít.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Happy Chinaman

Anyone walking about Chinatowns in America will observe statues of a stout fellow carrying a linen sack. Chinese merchants call him Happy Chinaman or Laughing Buddha.

This Hotei lived in the T’ang dynasty. He had no desire to call himself a Zen master or to gather many disciples around him. Instead he walked the streets with a big sack into which he would put gifts of candy, fruit, or doughnuts. These he would give to children who gathered around him in play. He established a kindergarten of the streets.

Whenever he met a Zen devotee he would extend his hand and say: “Give me one penny.”

Once as he was about to play-work another Zen master happened along and inquired: “What is the significance of Zen?”

Hotei immediately plopped his sack down on the ground in silent answer.

“Then,” asked the other, “what is the actualization of Zen?”

At once the Happy Chinaman swung the sack over his shoulder and continued on his way.

#12

Không trộm được mặt trăng

Thiền sư Ryokan sống cuộc đời đơn giản nhất trong một căn chòi nhỏ dưới chân núi. Buổi tối nọ một tên trộm vào chòi chỉ để khám phá ra là chẳng có gì trong đó để trộm.

Ryokan trở về, bắt gặp tên trộm, “Có lẽ anh đã đi một quãng đường dài để thăm tôi,” thiền sư nói với tên trộm, “và anh không nên về không. Vậy hãy nhận áo quần của tôi làm quà tặng.”

Tên trộm sửng sốt. Hắn nhận áo quần và lẩn đi.

Ryokan ngồi trần truồng, ngắm trăng. “Tội nghiệp,” thiền sư nghĩ thầm, “Ước gì mình có thể cho anh ta mặt trăng đẹp đẽ này.”

Bình:

• Gặp trộm thì la hét, đánh đập, chưởi bới. Đó là phản ứng của đại đa số người. Đại đa số được “lập trình” như thế, và các phản ứng như vậy chỉ là lập trình máy móc như robot. “Phản ứng” là bị động. “Phản ứng theo lập trình” là nô lệ của lập trình.

Thiền sư hoàn toàn chủ động tâm mình. Xử với mọi người như khách quý, dù hắn là ai. Đó là một tâm thức hoàn toàn tự do, hoàn toàn do chính mình làm chủ.

Thiền sư cũng chẳng buồn hỏi “Tại sao anh làm thế?” để nghe giải thích hợp lý như là “Con tôi đang bị bệnh, cần tiền mua thuốc.” Mọi người là khách quý của thiền sư, thế thôi—không điều kiện, không ràng buộc. Một tâm thức hoàn toàn tự do.

• Cũng như vị linh mục trong Les Miserables của Victor Hugo, dùng tình yêu và ân cần mà xử với kẻ trộm, có thể làm cho người đó sửng sốt đến độ sẽ không muốn làm sai nữa và chỉ muốn làm điều thiện.

• Còn cái đáng giá hơn cả bộ áo quần của thiền sư cả muôn nghìn lần—cái đẹp hiền dịu của ánh trăng và những phút giây hạnh phút nhìn ngắm nó. Đó mới là quà quý để tặng khách. Nhưng đương nhiên là không được.

• Thực ra, anh trộm cũng đã có mặt trăng rồi, và cũng đã có thể ngắm trăng sung sướng rồi. Nhưng nếu anh không biết ngắm trăng thì đành chịu. Người khác không thể cho anh mặt trăng và sự ngắm trăng.

• Mặt trăng là biểu tượng của tâm tĩnh lặng, tâm trong sáng, tâm giác ngộ, tâm Phật—ai cũng đã có hết rồi. Thấy được hay không, hưởng nó được hay không, là do chính mình. Chẳng ai có thể giúp mình làm được điều đó.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Moon Cannot Be Stolen

Ryokan, a Zen master, lived the simplest kind of life in a little hut at the foot of a mountain. One evening a thief visited the hut only to discover there was nothing in it to steal.

Ryokan returned and caught him. “You may have come a long way to visit me,” he told the prowler, “and you shoud not return emptyhanded. Please take my clothes as a gift.”

The thief was bewildered. He took the clothes and slunk away.

Ryokan sat naked, watching the moon. “Poor fellow, ” he mused, “I wish I could give him this beautiful moon.”

#9

Đạo khả đạo phi thường đạo

Chào các bạn,

Ai đó đã nói “Một phương pháp bất di bất dịch thì không phải là một phương pháp.” Bất kỳ người nghệ sĩ nào cũng hiểu được câu này, dù đó là ca sĩ, văn sĩ, họa sĩ, thi sĩ hay chi chi sĩ… Đó nghĩa là, tất cả mọi định nghĩa, mọi công thức, mọi phương pháp, mọi lề luật, cứng ngắc, về bất cứ điều gì trên đời, đều không dùng được cho người bậc thầy, bậc “sĩ”. Chúng chỉ có thể dùng cho môn sinh nhập môn, hàng “sinh” mà thôi.

Lão tử gói ghém đời sống và nghệ thuật sống như thế trong hai câu đầu tiên của Đạo Đức Kinh, vang vọng qua hơn 25 thế kỷ của triết lý‎ Đông phương:

Đạo khả đạo phi thường đạo
Danh khả danh phi thường danh

Tạm dịch:

Đạo có thể coi là đạo thì không là đạo vĩnh viễn
Tên có thể gọi là tên thì không là tên vĩnh viễn

“Đạo” của Lão tử là nguyên lý tối hậu, Sự Thật tối hậu, của vũ trụ–tương tự như “Không” của nhà Phật, hay Thượng đế của Thiên chúa giáo.

Đạo mà có thể nói rõ ra được Đạo là gì, thì Đạo không còn là Đạo nữa. Cũng như nếu ta có tả rõ được Thượng đế thế nào thì không còn là Thượng đế nữa, hoặc nói được Không là gì thì Không không là Không nữa.

Nguyên lý vận hành vũ trụ là thế, cho nên mọi sự trên đời cũng đều là thế. Ví dụ “tên” Hằng. Hằng là một cô gái ai cũng biết. Nhưng hỏi mọi người biết Hằng, ghi xuống giấy Hằng thế nào, thì mỗi người sẽ có một danh sách các đặc tính của Hằng, và chẳng danh sách nào giống danh sách nào. Có những danh sách còn chỏi nhau dữ dội nữa là khác—như là thiên thần một bên và bên kia là phù thủy.

Tức là cùng người tên Hằng, nhưng ý ‎ nghĩa đối với mỗi người thì khác nhau. Cho nên nếu ta dùng một danh sách “chuẩn” kể ra mọi thứ về Hằng và nói “đây là Hằng”, thì tất nhiên sẽ có người đọc và nói “Đây không phải là cô Hằng tôi biết.” Tức là, “Tên có thể gọi là tên thì không là tên vĩnh viễn.”

Tên Hằng có thể tạm dùng được với mọi người mà không gây tranh cãi nếu ta cứ để chữ Hằng mù mờ như thế, đừng định nghĩa nó quá rõ, và hiểu nó theo nghĩa tương đối thôi—tức là mỗi người hiểu khác một tí, chẳng ai đúng chẳng ai sai.

Đó là: Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh.

Nhưng, mấy câu tiếng Hán rắc rối hai ngàn năm trăm tuổi này có liên hệ gì đến tư duy tích cực của chúng ta?

Thưa, có rất nhiều: Chúng muốn nói, Đừng lệ thuộc vào ngôn từ, công thức, luật lệ cứng ngắc để phán đoán và chia cách nhau.

Tất cả các thứ đó đều không chính xác, và dùng chúng cứng ngắc là phản lại nguyên lý sống, phản lại “Đạo” sống.

Ví dụ: Thằng này Đảng viên đừng chơi vói nó. Anh kia Công giáo, nguy hiểm. Ông này là thiền sư, tin được. Tên này chống cộng, phản động nguy hiểm. Tên nầy thân Mỹ, không tin được. Tên này theo Tàu, đáng nghi.

Hay là: Chuyện này để nhà nước lo. Dân không nên bàn chuyện này. Vấn đề này nhậy cảm không bao giờ nên nói.

Nếu chúng ta sống với các nhãn hiệu và công thức như thế, dòng sông sáng tạo của chúng ta sẽ tuôn chảy tươi mát như sa mạc Sahara. Và chúng ta sẽ chia năm xẻ bảy về những vấn đề lớn của xã hội, cũng như trong liên hệ giữa các cá nhân chúng ta.

Sống lệ thuộc vào “danh”, lệ thuộc vào nhãn hiệu như thế , nhà Phật gọi là “chấp vào danh sắc”, tức là ôm cứng vào tên và hình bên ngoài.

Và trong Thánh Kinh Thiên chúa giáo có chuyện này. Bà nọ bị bắt về tội ngoại tình, theo luật Do Thái thời đó, bà ta phải bị tử hình bằng ném đá (Ngày nay vài nơi theo Hồi giáo trên thế giới vẫn còn luật ném đá này. Somali mới tử hình bằng ném đá một phụ nữ bị tố cáo ngoại tình, tháng 11/2009 vừa rồi). Các giáo sĩ Do Thái, có lẽ muốn gài Chúa Giêsu vào tội phá luật, bèn hỏi, “Ngài nghĩ nên làm gì với bà này?” Sau một lúc yên lặng, Giêsu nói, “Ai là người không có tội trong số các vị, xin hãy ném viên đá đầu tiên.” Mọi người lần lượt bỏ đá ra về.

Chúng ta thấy mọi người hành xử dã man theo nhãn hiệu và công thức: Có tội, bị ném đá, ta vô tội ta ném đá. Nhưng nếu suy nghĩ sâu một tí vào tâm ta, thì ta biết ta cũng có khối tội chẳng hơn gì ai cả, đâu có tốt lành gì hơn đâu mà kiêu căng hợm hĩnh, đáng để ném đá ai.

Nhãn hiệu, công thức, tự cao tự đại, cái tôi lớn… là những bức màn vô minh che tối tâm thức con người. Chúng ta phải vượt qua chúng.

Nói thế không có nghĩa là chúng ta bỏ hết ngôn từ, tên và công thức. Ngôn từ, tên và công thức làm nên cuộc đời. Chỉ là, ta cần uyển chuyển dùng chúng với một con tim khiêm tốn yêu ái và một tâm thức sáng láng. Chạy xe thì phải biết thắng, biết rồ ga. Nhưng khi nào thắng khi nào rồ ga, đó là nghệ thuật. Người lái giỏi, người lái dở, là ở đó.

Và đừng nên dùng suy tư của ta mà kết án người khác. Dùng lòng mình mà đo lòng người khác, hầu như là 100 lần thì sai hết 99 lần. Nếu có hai cách kết luận khác nhau về một người nào đó—một tốt một xấu– kết luận tốt về người đó thường là đúng hơn là kết luận xấu, vì kết luận tốt thường phù hợp với suy nghĩ sâu sắc trong lòng người đó hơn.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Sóng Lớn

Vào đầu thời Minh Trị Thiên Hoàng có một võ sĩ đánh vật tên là O-nami, tức là Sóng Lớn.

O-nami rất mạnh và giỏi về nghệ thuật đánh vật. Trong những trận đấu riêng, O-nami thắng cả thầy của mình, nhưng khi ra trước đám đông O-nami lại quá rụt rè đến nỗi chính học trò của anh cũng vật anh được.

O-name nghĩ là mình nên tìm một thiền sư giúp đở. Hakuju, một thiền sư lang thang, đang dừng chân tại một chùa gần đó, nên O-nami đến gặp và kể về khó khăn lớn của mình.

“Sóng Lớn là tên của anh,” thiền sư tư vấn, “vậy thì ở lại chùa tối nay. Tưởng tượng anh là những ngọn sóng lớn đó. Anh không còn là võ sĩ đánh vật hay sợ nữa. Anh là những đợt sóng vĩ đại quét sạch tất cả những gì đứng trước mặt, nuốt sạch tất cả những gì sóng đi qua. Tưởng tượng thế và anh sẽ là võ sĩ đánh vật siêu đẳng nhất nước.”

Vị thầy lui về. O-nami ngồi thiền cố gắng tưởng tượng mình là sóng. Anh nghĩ đến rất nhiều chuyện. Rồi dần dần cảm giác là sóng tăng thêm. Càng về đêm những lọn sóng càng lớn hơn. Sóng cuốn trôi những cánh hoa trong các lọ hoa. Ngay cả tượng Phật trên bàn thờ cũng bị ngập nước. Trước khi trời hừng đông, cả ngôi chùa chẳng còn là gì nữa ngoại trừ sóng lên sóng xuống của đại dương.

Sáng ra vị thầy thấy O-nami vẫn còn thiền định, với nét cười thoáng hiện trên mặt. Thiền sư vỗ vai chàng võ sĩ. “Bây giờ chẳng còn điều gì có thể làm phiền anh,” thầy nói. “Anh là những đợt sóng đó. Anh sẽ quét sạch mọi thứ trước mặt anh.”

Ngày đó O-nami thi đấu và thắng. Từ đấy, không còn ai ở Nhật có thể thắng O-nami.

Bình:

• Tất cả các võ sư đều biết rằng, khi đấu, nếu tài và sức chỉ hơn nhau một 8 một 10, thì quyết tâm và bình tĩnh quyết định thắng bại đến 70%, 20% là may rủi, và 10% là tài và sức.

Đa số mọi phấn đấu của ta về mọi vấn đề trên đời cũng đều như thế.

• O-nami ra trước đám đông bị “cái lo” về đám đông làm tư tưởng không tập trung được—Không biết họ có cười mình mập quá không? Hay là họ chê mình đấu dở?

• Thiền sư chỉ O-nami cách tập trung tư tưởng vào MỘT điều duy nhất—hình ảnh các đợt sóng. Đây là bước căn bản đầu tiên của thiền định–tập trung vào MỘT điều duy nhất: hơi thở, hay bước đi, hay các hành động rửa bát, hoặc quét nhà, v.v… Tư tưởng tập trung vào một điều sẽ không chạy tán loạn.

• Dùng hình ảnh Sóng Lớn ở đây để tập trung tư tưởng còn có thêm hai điều lợi. Thứ nhất, đây là tên của O-nami, rất quen thuộc với anh, dễ tập trung tư tưởng. Thư hai, đây là hình ảnh mạnh mẽ chiến thắng. Tốt cho võ sĩ xông trận. Vị thiền sư này đúng là thầy rất giỏi về thiền định, nên cho bài học một công hai ba chuyện.

• Ngồi thiền thường là như thế: Ban đầu cứ “nghĩ đến rất nhiều chuyện”, rồi tư tưởng mới tập trung vào hình ảnh mình đang “quán” từ từ, càng lâu càng mạnh và càng rõ.

• Ảnh hưởng đổi đen thành trắng trong chỉ một đêm như ở đây, thì hơi hiếm. Thông thường ta cần nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm… tùy theo vấn đề, mức độ, và cơ duyên.

• Việc O-nami “quán” mình thành sóng đánh trôi hoa trên bàn thờ và nhận chìm luôn cả tượng Phật là một căn bản triết l‎ý rất quan trọng của Phật học: Phật ở trong ta, không có Phật ở ngoài. Câu của ngài Lâm Tế “phùng Phật sát Phật” (gặp Phật giết Phật) có nghĩa là thế: Không có Phật ngoài ta. (Nếu có vị Phật sống đi ngoài đường thì điều đó cũng chẳng quan trọng và ăn nhập gì tới mình cả).

Phật sống còn không có ngoài ta, huống chi là tượng Phật. Tượng để thờ tự chỉ là tượng gỗ giúp ta tập trung tư tưởng thôi, chẳng nghĩa lý gì cả. Thiền tổ Đơn Hà bảo một vị sư chẻ tượng Phật làm củi sưởi ấm, là để đánh đổ cái “chấp” vào tượng của sư.

Đừng hướng ý ra tượng ảnh hay Phật ở ngoài. Phật là tâm ta. Hướng vào tâm ta để tâm thanh tịnh thành Phật.

• Giác ngộ như là một cơn sóng thần dánh dạt tất cả vướng mắc trong tâm–hoa trên bàn thờ, tượng Phật, chùa chiền, đền đài lăng tẩm, tất cả thế giới, tất cả vũ trụ…

Không một mảy may vướng mắc sót lại. Tâm rỗng lặng hoàn toàn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Great Waves

In the early days of the Meiji era there lived a well-known wrestler called O-nami, Great Waves.

O-nami was immensly strong and knew the art of wresting. In his private bouts he defeated even his teacher, but in public was so bashful that his own pupils threw him.

O-nami felt he should go to a Zen master for help. Hakuju, a wandering teacher, was stopping in a little temple nearby, so O-nami went to see him and told him of his great trouble.

“Great Waves is your name,” the teacher advised, “so stay in this temple tonight. Imagine that you are those billows. You are no longer a wrestler who is afraid. You are those huge waves sweeping everything before them, swallowing all in their path. Do this and you will be the greatest wrestler in the land.”

The teacher retired. O-nami sat in meditation trying to imagine himself as waves. He thought of many different things. Then gradually he turned more and more to the feeling of waves. As the night advanced the waves became larger and larger. They swept away the flowers in their vases. Even the Buddha in the shrine was inundated. Before dawn the temple was nothing but the ebb and flow of an immense sea.

In the morning the teacher found O-nami meditating, a faint smile on his face. He patted the wrestler’s shoulder. “Now nothing can disturb you,” he said. “You are those waves. lYou will sweep everything before you.”

The same day O-nami entered the wrestling contests and won. After that, no one in Japan was able to defeat him.

#8

Lời nguyện Giáng Sinh

Chào các bạn,

Còn một tuần nữa là Giáng Sinh, nhưng mùa Giáng Sinh đã bắt đầu từ hôm Lễ Tạ Ơn ngày 26 tháng 11.

Để không khí mùa tình yêu thấm đượm Vườn Chuối, hôm nay chúng ta hãy cũng chia sẻ hai lời nguyện Giáng Sinh, một của thi sĩ lớn của thế giới người Scotland, Robert Louis Stevenson, và bài kia là của Martin Luther, vị linh mục ly khai, khởi xướng luồng tư tưởng mới trong Thiên chúa giáo ở thế kỷ 16, lập nên nhánh Thiên chúa giáo mới, gọi là Tin Lành ngày nay. Nhánh Tin Lành trực tiếp đến từ Martin Luther là Lutheran. Mình đã dịch hai bài này sang tiếng Việt.

Chúc các bạn và gia đình một mùa Giáng Sinh an hòa.

Mến,

Hoành

.

Lời Nguyện Giáng Sinh của Robert  Louis Stevenson

Hỡi chúa từ nhân, giúp chúng con nhớ ngày sinh của Chúa Giêsu
để chúng con có thể cùng hát ca với các thiên thần,
cùng mừng vui với những mục đồng,
và cùng thờ phụng với các hiền triết.
Hãy đóng cánh cửa thù hận
và mở cánh cửa tình yêu khắp thế giới.
Hãy cho nhân ái đến với mỗi món quà và thiện tâm đến với mỗi lời chúc tụng.
Hãy cứu chúng con khỏi sự dữ bằng hồng ân Chúa Kitô mang đến,
và dạy chúng con biết sướng vui với quả tim tinh khiết.
Xin buổi sáng Giáng Sinh sẽ làm chúng con mừng vui được là con của Chúa,
và đêm Giáng Sinh đưa chúng con vào giường với tâm ý tạ ơn,
thứ tha, và được tha thứ,
vì danh chúa Giêsu.
Amen

(Trần Đình Hoành dịch)

A Christmas Prayer by Robert Louis Stevenson

Loving God, Help us remember the birth of Jesus,
that we may share in the song of the angels,
the gladness of the shepherds,
and worship of the wise men.
Close the door of hate
and open the door of love all over the world.
Let kindness come with every gift and good desires with every greeting.
Deliver us from evil by the blessing which Christ brings,
and teach us to be merry with clear hearts.
May the Christmas morning make us happy to be thy children,
and Christmas evening bring us to our beds with grateful thoughts,
forgiving and forgiven, for Jesus’ sake. Amen.

Robert Louis Stevenson

Lời Nguyện Giáng Sinh của Martin Luther

Ô Giêsu dấu yêu, con thánh,
Hãy làm giường ngài sạch và êm
Trong tim con để tim trở thành
Phòng tĩnh lặng cho ngài ngày đêm

Tim con nhảy với từng niềm vui
Môi con không còn yên được nữa
Con phải hát với lời vui sướng
Bài hay nhất từ thuở nghìn xưa

Vinh danh Chúa trên các tầng trời
Giao hài nhi cho người trần trế
Thiên thần ca thánh hạnh muôn nơi
Năm mới vui cho toàn thế giới

(Trần Đình Hoành dịch)

Christmas Dinner prayer by Martin Luther

Ah, dearest Jesus, holy Child,
Make thee a bed, soft, undefiled,
Within my heart, that it may be
A quiet chamber kept for Thee.

My heart for very joy doth leap,
My lips no more can silence keep,
I too must sing, with joyful tongue,
That sweetest ancient song,

Glory to God in highest heaven,
Who unto man His Son hath given
While angels sing with pious mirth.
A glad new year to all the earth!