Thảm họa đã lộ diện

 
Thứ Hai, 25/11/2013 21:07
NLD Những năm gần đây, lượng mưa ít dần làm thiếu nước ở ĐBSCL; mùa khô thì dài hơn làm xì phèn trong đất, gây khó khăn trong việc nuôi thủy sản hoặc trồng trọt… Thảm họa từ biến đổi khí hậu đã lộ diện

Vùng nông nghiệp trọng điểm, vựa lúa – cá ĐBSCL của Việt Nam đang gánh chịu tác động nặng nề do hậu quả của biến đổi khí hậu (BĐKH).

10°C “đốt” 10% sản lượng lúa

Trong 2 tháng vừa qua, khu vực bến Ninh Kiều, đường Nguyễn Văn Linh, các hẻm trên đường 3-2…, TP Cần Thơ, ngập rất nặng, ảnh hưởng lớn đến đời sống và sinh hoạt của người dân trong nội ô. Điều này rất lạ so với trước đây.

Nội ô TP Cần Thơ bị ngập nặng trong đợt triều cường tháng 9 vừa qua Ảnh: CA LINH

Ông Kỷ Quang Vinh, Chánh Văn phòng BĐKH thuộc UBND TP Cần Thơ, cho biết: “Theo quan trắc, trong 30 năm qua tại TP Cần Thơ, số lượng và cường độ mưa ít nhưng ngập nhiều. Nhiệt độ cao nhất không tăng nhiều nhưng nhiệt độ thấp nhất trong ngày tăng 1,40°C. Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân và sản xuất.

Theo nghiên cứu của Viện Lúa quốc tế, nếu nhiệt độ tăng 10°C thì năng suất lúa sẽ giảm 10%”. Trong 30 năm qua, lưu lượng nước sông Mê Kông không tăng, vào khoảng 22.000 m³/giây nhưng lưu lượng từ biển vào gia tăng rất lớn, từ 13.000 m³/giây đã lên 15.500 m³/giây”.

Mực nước tự nhiên ngày càng tăng đang “cướp” mất nhiều diện tích đất và nhà dân ở tỉnh Cà Mau Ảnh:DUY NHÂN

Ông Vinh cảnh báo trong tương lai, lưu lượng nước sông Mê Kông có khả năng cân bằng với nước biển nên có thể nước biển sẽ tấn công đến vùng Châu Đốc, tỉnh An Giang hoặc xa hơn.

Trong khi đó, ThS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập, phản ánh: “Nông dân một số tỉnh ven biển cho biết những năm gần đây, mưa ngắn hơn làm thiếu nước, đặc biệt là nguồn nước ngầm suy giảm trầm trọng. Mùa khô dài hơn làm xì phèn trong đất, khó nuôi thủy sản hoặc trồng trọt. Nắng nóng kéo dài làm nghêu, heo chết. Vùng ven biển, nước biển tấn công khiến nước ngọt yếu đi gây khó cho sản xuất”.

Vào mùa khô, thiếu nước ngọt, người dân ở những huyện ven biển của tỉnh Bến Tre phải mua nước ngọt với giá 120.000 đồng/m³ để sinh hoạt và tưới tiêu.

Biểu hiện rõ nhất của BĐKH trong những năm gần đây, theo PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH của Trường ĐH Cần Thơ, là vào năm 2010, ĐBSCL khô hạn và nắng nóng tăng bất thường, không khí ngoài trời từ 39-40°C.

Nhiều vùng ven biển khô hạn kéo dài hơn 6 tháng, nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, chỉ còn cách TP Cần Thơ từ 20-30 km. Năm 2011, lũ cao bất ngờ và chảy xiết hơn làm nhiều nơi sạt lở nặng. Năm 2012-2013, xuất hiện mưa đá ở 2 tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu. Nhiều trận mưa lớn vào cuối mùa gây thiệt hại rau màu…

Nước dâng, đất lún

Theo một nghiên cứu của TS Dương Văn Ni, Trường ĐH Cần Thơ, ĐBSCL hình thành trên nền đất yếu.

“Năm nay, không chỉ riêng TP Cần Thơ mà nhiều đô thị ở ĐBSCL như Long Xuyên (An Giang), Vĩnh Long… đều ngập nặng hơn trước dù cao độ mực nước hiện thời chỉ hơn mức trung bình nhiều năm trước. Sự khác biệt về cao độ (so với mực nước biển) không lớn nhưng độ sâu ngập nặng hơn. Một số quan trắc của các nhà khoa học trong và ngoài nước gần đây ghi nhận nền đất đô thị vùng này đang có dấu hiệu chìm xuống” – PGS-TS Lê Anh Tuấn phân tích.

Theo ông Tuấn, đồng thời với sự dâng lên của mực nước biển, vùng đô thị ở ĐBSCL đang có dấu hiệu lún, nguyên nhân được nhiều nhà khoa học nghĩ đến có thể là do áp lực công trình đè xuống nền địa chất đồng bằng vốn rất yếu. Song song, tình trạng khai thác nước ngầm đang gia tăng cũng khiến mực thủy cấp dưới đất tụt giảm.

TS Dương Văn Ni đề cập đến vấn đề đã cũ nhưng ảnh hưởng rất lớn tới ĐBSCL là gần như các sông, kênh đang phát triển hệ thống kè, đê ngăn lũ. Việc này làm diện tích tràn của sông vào mùa lũ thu hẹp lại và khiến lũ dâng cao hơn. “Trong dự án quy hoạch tổng thể ĐBSCL do Hà Lan thực hiện có nói đến việc xây đê bao lớn quanh vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau, trở thành một hệ thống kiểm soát nước để tăng sản xuất nông nghiệp. Việc này sẽ tạo ra bất cập” – TS Ni nhận định.

Để thích ứng với những gì đã xảy ra, PGS-TS Lê Anh Tuấn khuyến cáo chính quyền cần tiếp tục theo dõi diễn biến thủy văn nước mặt và nước ngầm, nâng cao độ các vị trí bị ngập nặng, khu dân cư và trục giao thông quan trọng. “Khôi phục các vùng trũng trữ nước, điều tiết nước. Kiểm soát và hạn chế việc khai thác nước ngầm, cương quyết không để tình trạng người dân tự ý lấn chiếm và san lấp sông rạch trái phép là những việc mà chính quyền cần làm ngay” – ông Tuấn nói.

Kỳ tới: “Méo mặt” vì nước

Tần suất mưa lớn ngày càng rõ rệt

TS Y.Ghi Niê, Chủ tịch Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk, cho biết trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình của Việt Nam đã tăng 0,5°C; mực nước biển đã dâng 20 cm. Bên cạnh đó, thiên tai, bão lũ và hạn hán ngày càng khắc nghiệt. Các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ ngày càng tăng về số lượng và tần số ở các vùng miền trên cả nước khiến con người không lường trước được.

Theo thống kê gần nhất của Chi cục Bảo vệ tài nguyên và môi trường TP Đà Nẵng, trong giai đoạn 1976-2009, nhiệt độ thường ở mức 25-26°C. Trong đó, nhiệt độ của những năm sau cao hơn các năm trước khoảng 0,5°C và có dấu hiệu tiếp tục tăng. Lượng mưa trung bình tại TP Đà Nẵng từ năm 2005-2010 lớn hơn rất nhiều so với lượng mưa trung bình của các năm trước.

Xu hướng về tần suất xuất hiện các năm mưa lớn ngày càng rõ rệt. Giai đoạn 19 năm (1976-1994), chỉ 3 năm có lượng mưa trung bình năm đạt trên 2.500 mm nhưng 15 năm sau (1995-2009) đã có 6 năm lượng mưa đạt trên 2.500 mm. Trong đó, năm có lượng mưa lớn nhất là 1999 với 3.895 mm, tiếp theo là năm 2009 với 3.018 mm.

B.Vân
CA L­­­­­INH

 

THẢM HỌA ĐÃ LỘ DIỆN (*)

“Méo mặt” vì nước

Thứ Ba, 26/11/2013 22:14
NLD – Theo Đài Khí tượng Thủy văn Khu vực Nam Bộ, nhiệt độ của TP HCM thời điểm này khoảng 34-37 độ C, thậm chí có lúc lên đến gần 38 độ C, trong khi nhiệt độ trung bình năm chỉ dao động từ 26-27 độ C

TP HCM được đánh giá là 1 trong 10 TP trên thế giới chịu tác động nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu và cũng là nơi gánh chịu nhiều ảnh hưởng sau ĐBSCL.

Đỉnh triều liên tục lập kỷ lục

Cứ mỗi lần triều cường là nhiều khu vực của TP HCM biến thành “sông” Ảnh: Thành Đồng

Nhiều báo cáo trong lĩnh vực khí tượng – thủy văn cho thấy xu hướng gia tăng của đỉnh triều tại TP do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) thể hiện rõ rệt khoảng từ năm 2006 trở đi. Đến năm 2010, triều cường tại TP bất ngờ lên cao đến 1,58 m đã cuốn trôi đê bao Rạch Đỉa ở quận Thủ Đức khiến hàng ngàn hộ dân không kịp trở tay.

Lãnh đạo Sở NN-PTNT TP cho biết đó là đỉnh triều cao nhất trong vòng 50 năm qua. Cả TP phập phồng, UBND TP phải cử người lên hồ Dầu Tiếng để cùng phối hợp, ngăn chặn việc xả lũ vì sẽ khiến TP gặp nguy hiểm. Từ đây, TP bắt đầu chứng kiến những mốc “lịch sử” mới của triều cường. Năm 2011, mức triều đạt đỉnh 1, 59 m. Năm 2012, đạt đỉnh 1,61 m và đến tháng 10-2013, đỉnh triều đã phá mức kỷ lục với 1,68 m.

Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, BĐKH là nguyên nhân những diễn biến bất thường của thời tiết. Theo thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), chỉ 15%-20% diện tích TP HCM nằm cao hơn mực nước biển từ 1-2 m, 45%-50% diện tích cao hơn từ 0-1 m. Vì thế, phần lớn diện tích của TP sẽ bị tổn thương nặng nề khi nước biển dâng.
Kịch bản BĐKH mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy nếu mực nước biển dâng 1 m thì 20% diện tích TP sẽ ngập và 9% dân số bị ảnh hưởng. Các quận 2, 9, Bình Tân và các huyện Cần Giờ, Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi là những địa bàn ngập sâu nhất.
Ngoài đỉnh triều liên tục phá vỡ mốc lịch sử, TP cũng chứng kiến hiện tượng thời tiết cực đoan bằng những cơn nắng nóng bất thường vào tháng 4-2013 cũng như cùng kỳ năm 2012. Nhiều trẻ em và cả người lớn phải nhập viện vì nắng nóng.
Theo Đài Khí tượng Thủy văn Khu vực Nam Bộ, nhiệt độ của TP vào thời điểm này khoảng từ 34-37 độ C, thậm chí có lúc lên đến gần 38 độ C, trong khi nhiệt độ trung bình năm chỉ dao động từ 26-27 độ C, tháng nóng nhất cách tháng lạnh nhất khoảng 4-5 độ C.

Nước biển “tấn công” nước sông

BĐKH với hiện tượng nước biển dâng dẫn đến xâm nhập mặn và đẩy ranh mặn dần lên cao hơn về phía thượng nguồn sông Đồng Nai. Liên tục nhiều năm qua, các nhà máy nước ở TP HCM phải “kêu cứu” vì hiện tượng xâm nhập mặn ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp và chi phí xử lý.

Giai đoạn năm 2010-2011 được xem như đỉnh điểm khó khăn của ngành cấp nước TP vì xâm nhập mặn. Có những thời điểm độ mặn lên đến 270 mg/lít (tiêu chuẩn Việt Nam quy định độ mặn trong nguồn nước cấp sinh hoạt không vượt quá 250 mg/lít) khiến 2 nhà máy nước Tân Hiệp và Thủ Đức hoạt động cầm chừng và đứng trước nguy cơ đóng cửa.

Để giải quyết tình trạng này, Nhà máy Nước Tân Hiệp đề nghị Công ty TNHH một thành viên Khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa (Công ty Dầu Tiếng) xả nước từ hồ Dầu Tiếng để đẩy mặn ra khỏi các cửa sông. Hơn 25 triệu m3 nước từ hồ Phước Hòa được xả cho khu vực hạ lưu sông Sài Gòn nên độ mặn tạm thời bị đẩy lùi.

Khó tránh thiếu nước ngọt

Hiện nay, dù Tổng Công ty Cấp nước TP đã ký hợp đồng với Công ty Dầu Tiếng để xả nước đẩy mặn nhưng đây vẫn được xem là giải pháp tình thế. Bởi lẽ, với những diễn biến bất thường của thời tiết khiến lượng mưa ngày càng giảm, các hồ chứa trên thượng nguồn trữ nước khiến lượng nước về hồ Dầu Tiếng có xu hướng giảm. Chưa kể tình trạng xâm nhập mặn ngày càng sâu của nước biển thì nguồn nước chi viện của hồ Dầu Tiếng để rửa mặn cũng chỉ là hữu hạn. Ngoài ra, chất lượng nước hồ Dầu Tiếng cũng đang ô nhiễm nghiêm trọng. Vì thế, thiếu nước ngọt là điều khó tránh khỏi nếu TP không có một kế hoạch tìm kiếm những nguồn nước thay thế.

Theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Anh, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam, hiện nay ranh mặn đã đến cửa Hóa An trên sông Đồng Nai. Chất lượng nước của hồ Trị An khá tốt và có thể lấy nguồn nước cấp cho sinh hoạt.

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 26-11

Mới đây, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) nhận định: Năm 2013 sẽ là năm tiếp tục có những diễn biến khí hậu bất thường, thể hiện xu hướng gia tăng quá trình ấm lên toàn cầu và tăng nồng độ CO2 trong khí quyển. Năm 2013 được xếp thứ 7 trong danh sách 10 năm nắng nóng kỷ lục nhất trên thế giới kể từ năm 1850 đến nay.

Việt Nam dẫn đầu về thiệt hại thủy sản

Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) cho thấy đến năm 2015, Việt Nam có thể sẽ có khoảng 135.000 hộ dân phải tái định cư vì lý do môi trường. Riêng tại ĐBSCL, đến năm 2050 có thể có tới 1 triệu người phải di dời do những yếu tố lũ lụt và hạn hán lặp lại nhiều lần. Những người dân ở trong các khu vực có hệ thống thoát nước kém chất lượng, cơ sở hạ tầng yếu kém trong phòng chống lũ lụt dễ bị tổn thương buộc phải di dời tạm thời hoặc vĩnh viễn, các TP và KCN ở đây cũng bị ảnh hưởng không nhỏ.

Việt Nam hiện đứng đầu trong danh sách các nước có mức thiệt hại ngành thủy sản do BĐKH ở mức nguy cấp, tức là mức báo động đỏ, mức thiệt hại khoảng 1,5 tỉ USD năm 2010 và có thể tăng tới 25 tỉ USD vào năm 2030.

Minh Khanh

 

THẢM HỌA ĐÃ LỘ DIỆN (*)

Hậu quả ngày càng nặng nề

Thứ Năm, 28/11/2013 23:45
NLD  – TS Phạm Đức Thi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, khẳng định Việt Nam là một trong số ít quốc gia phải gánh chịu hậu quả tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu

Phóng viên: Báo Người Lao Độngvừa có loạt bài phản ánh về những hậu quả đã lộ diện của biến đổi khí hậu (BĐKH). Theo ông, đâu là nguyên nhân chính gây ra những tình trạng này?

 

 

– Ông Phạm Đức Thi:
Nguyên nhân chủ yếu làm thay đổi khí hậu là sự tăng nồng độ các nhà kính gây nên nóng tầng đối lưu và nguội tầng bình lưu. Chỉ từ sau cách mạng công nghiệp (1965) đến nay, nồng độ nhiều loại nhà kính trong khí quyển mới tăng lên và tăng liên tục. Lượng CO2 tăng 31%, mê-tan tăng gấp 2 lần và N2O tăng 17%.
TS Phạm Đức Thi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam

Nguyên nhân chủ yếu tăng CO2 là do đốt các loại nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, khí và phá hủy rừng. Trong đó, việc sử dụng các nhiên liệu đóng góp 80%-85% lượng khí CO2 tăng thêm trong khí quyển khiến tổng lượng CO2 trong bầu khí quyển tăng 0,5%-1%/năm. Đốt các loại nhiên liệu, sử dụng phân hóa học, sản xuất các chất hóa học, tiêu thụ nhiên liệu, phá rừng… làm tăng khoảng 15% lượng N2O vốn có trong khí quyển. Đó là hệ quả của quá trình phát triển công nghiệp gây nên sự thay đổi môi trường lớn nhất mà con người phải chịu đựng.

Những biểu hiện nào chứng tỏ khí hậu đã biến đổi mạnh?

– Nhiệt độ trung bình của trái đất đã tăng lên rõ rệt trong giai đoạn 1920-1940, giảm dần khoảng giữa những năm 1960 và ấm lên từ sau năm 1975 đến nay. Đây là thời kỳ nhiệt độ ấm nhất trong vòng 600 năm trở lại đây. Mưa cũng có những biến động đáng kể, tuy xu thế không rõ rệt như nhiệt độ.

Tương ứng với sự tăng của nhiệt độ toàn cầu, mực nước trung bình của đại dương cũng tăng lên 10-25 cm. Xu thế tăng của mực nước như vậy là lớn. Sự tan băng ở các vùng núi cao, giảm tuyết ở Bắc bán cầu và tăng nhiệt độ đã làm cho mực nước biển dâng cao. Cùng với xu thế tăng nhiệt độ toàn cầu là sự phân bố các dị thường của nhiệt độ.
Một trong những căn nhà của người dân miền Trung bị san phẳng trong cơn bão số 10 vừa qua Ảnh:HỮU TÀI

Riêng Việt Nam, BĐKH sẽ ảnh hưởng ở mức độ nào?

– Theo dự đoán, Việt Nam là một trong số ít nước phải chịu hậu quả tác động nặng nề nhất của BĐKH. Riêng ĐBSCL, nếu mực nước biển dâng như dự báo vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% diện tích đất có nguy cơ nhiễm mặn nặng, mùa màng thiệt hại nghiêm trọng do lũ lụt và úng ngập. Nếu mực nước biển dâng 1 m mà không có các hoạt động ứng phó, phần lớn diện tích ĐBSCL sẽ bị ngập nhiều thời gian trong năm, thiệt hại tài sản ước tính lên tới 17 tỉ USD.

Những biểu hiện cụ thể nào về hiện tượng BĐKH ở Việt Nam?

– BĐKH đã khiến thiên tai – đặc biệt là bão lũ, hạn hán – ngày càng ác liệt. Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra bất thường với sự gia tăng tần suất xuất hiện và cường độ.

Nhiệt độ trung bình/năm trong vòng 50 năm qua đã tăng khoảng 0,5%. Theo dự báo, vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình/năm có thể tăng lên 2,6 độ C ở Tây Bắc, 2,5 độ C ở Đông Bắc, 2,4 độ C ở đồng bằng Bắc Bộ, 2,8 độ C ở Bắc Trung Bộ, 1,9 độ C ở Nam Trung Bộ, 1,6 độ C ở Tây Nguyên và 2 độ C ở Nam Bộ so với trung bình của thời kỳ 1980 -1999.

Lượng mưa gia tăng vào mùa mưa và giảm vào mùa khô, số ngày mưa phùn giảm rõ rệt. Cuối thế kỷ XXI, lượng mưa có thể tăng khoảng 7%-8%/năm ở Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và 2%-3% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980-1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng 10%-15% ở phía Bắc và Nam Trung Bộ. Trong khi đó, lượng mưa mùa khô sẽ giảm 4%-7% ở Tây Bắc, Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ; khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ và các vùng khí hậu phía Nam giảm tới 10%-15% so với thời kỳ 1980-1999. Mưa trái mùa và mưa lớn dị thường xảy ra nhiều hơn.

Tần số hoạt động của không khí lạnh ở Bắc Bộ giảm rõ rệt trong 3 thập kỷ, từ 288 đợt giai đoạn 1971-1980 xuống còn 249 đợt giai đoạn 1991-2000. Tuy số ngày rét đậm, rét hại trung bình giảm nhưng có năm xảy ra đợt rét đậm kéo dài với cường độ mạnh kỷ lục (đầu năm 2008).

Số đợt nắng nóng trong thập kỷ 1991-2000 nhiều hơn, nhất là ở Trung Bộ và Nam Bộ. Hai đợt nắng nóng kéo dài giữa tháng 6 và đầu tháng 7-2010 làm nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt trên 40 độ C trên diện rộng là một ví dụ.

Đường đi của bão có xu hướng dịch chuyển về phía Nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm. Lũ đặc biệt lớn xảy ra thường xuyên hơn ở miền Trung và miền Nam.

Vậy Việt Nam sẽ phải đối mặt với những hệ quả gì do ảnh hưởng của BĐKH?

– Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thiếu nước, trong khi lượng bốc hơi nước của các hồ ao, sông suối tăng. Hậu quả là sự suy thoái tài nguyên nước cả về lượng và chất sẽ trầm trọng hơn.

Sự gia tăng thiên tai và các hiện tượng cực đoan của thời tiết sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới nông, lâm nghiệp, thủy hải sản. Nhiều loại bệnh sẽ gia tăng dưới tác động của sự thay đổi chế độ nhiệt độ, độ ẩm và môi trường.

Ngoài ra, BĐKH còn tác động tiêu cực đến cơ sở hạ tầng, an ninh môi trường, an ninh quốc gia, làm xuất hiện khả năng có làn sóng tị nạn môi trường, sự xâm lấn của sinh vật lạ và sinh vật biến đổi gien…

Con người tác động đến 90%

Theo ông Phạm Đức Thi, BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Nguyên nhân là do các quá trình tự nhiên hoặc do con người gây ra đối với các thành phần khí quyển.

Tác động của con người đóng góp đến 90% vào tình trạng BĐKH hiện nay. Riêng năm 2012, con người

đóng góp 50% vào việc xuất hiện các hiện tượng khí tượng cực đoan.

Thùy Dương thực hiện

Leave a comment