“Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Mới ngày nào còn chửa biết cái chi chi
Mười năm năm thấm thoắt có xa gì
Ngoảnh mặt lại đã đến kì tơ liễu”
Khi tiếng hát của nghệ sĩ nhân dân, nghệ nhân Quách Thị Hồ (1909-2001) vang lên, không gian xung quanh như lắng lại. Trong tiếng ngân nga, ậm ừ của câu hát ta thấy khung cảnh thời xa xưa như chợt hiện về ngay trước mắt. Một đào (người hát), một kép (người đánh đàn), một quan viên (người xem đánh trống), cùng bao kẻ sĩ đang ngồi nhâm nhi chén rượu, thả hồn bay theo khói thuốc và tiếng nhạc. Ca trù có “phép màu” như vậy đó. Ca trù thổi hồn vào những vần thơ đang ngủ quên, những câu nói tưởng như rất tầm thường nhờ tính nghệ thuật âm nhạc, thanh nhạc tinh tế, đặc sắc và khác biệt của nó.
Xuất hiện sơ khai vào khoảng thế kỷ XI ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, bắt đầu thịnh hành ở thế kỷ thứ XV, và trải qua một thời kỳ ảm đạm sau năm 1945 do hiểu lầm là một loại hình văn hóa không lành mạnh. Năm 1976 giáo sư Trần Văn Khê đã giới thiệu Ca trù với cả thế giới qua tiếng hát của nghệ nhân Quách Thị Hồ. Và ngày 1 tháng 10 năm 2009, UNESCO đã công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp. Ca trù bắt đầu hồi sinh.
Ca trù có thể biểu diễn tại năm không gian khác nhau:
Hát cửa quyền – hát cung đình – đây là hình thức được coi là danh giá nhất của nghệ thuật Ca trù thường hát vào những dịp khánh tiết. Hát cửa quyền sử dụng các nhạc cụ như Trúc sinh, Đàn cầm, Đàn chín dây, Đàn bảy dây hòa với các tiếng nhạc khác gọi là bát âm. Theo Vũ trung tùy bút, hát cửa quyền tiếng “uyển chuyển, dịu dàng, thanh nhã hơn giọng ở ngoài chốn giáo phường. Nhưng âm luật cũng không khác mấy” .
Hát cửa đình – hát thờ – thường được hát phục vụ cho các nghi lễ phụng thờ thánh thần ở các đình hay đền làng sở tại trong các lễ nhập tịch thường niên hay các ngày lễ hội làng. Hát cửa đình thường là một cuộc diễn xướng qui mô, kết hợp giữa hát, múa và nghệ thuật sân khấu. Mỗi giáo phường thường phải cử tới hai ba chục đào, kép cả già lẫn trẻ thay nhau biểu diễn kéo dài trong hai tới ba ngày. Do đặc thù của môi trường tế lễ tín ngưỡng, nên hát cửa đình có những lề lối, hình thức riêng với hệ thống bài bản chuyên dùng, giọng hát phải nghiêm trang, đĩnh đạc, rõ ràng sao cho tất cả khán giả đều có thể nghe thấy.
Hát thờ tổ là hình thức hát phục vụ tế lễ của tổ nghề, sinh hoạt thường niên của nội bộ giới nghề. Nghi thức hát Thờ tổ cũng tương đối giống như hát cửa đình nhưng có qui mô nhỏ hơn. Thường được tổ chức tại các nhà thờ tổ, hoặc nhà thờ họ của một ông trùm.
Hát chơi – hát ca quán – đây là một hình thức phục vụ nhu cầu thụ cảm nghệ thuật âm nhạc hơn là nhu cầu về tín ngưỡng tâm linh. Do vậy tính âm nhac, thanh nhạc và hình thức biểu diễn cũng được nâng lên ở mức nghệ thuật tối đa. Với những âm luật nghiêm ngặt, những tiêu chuẩn về thanh, sắc và đạo đức của người hát cũng như phép tắc và phương tiện hành nghề qui định rất khắt khe – ví như hát có 5 giọng, đàn có 5 cung, phách có 5 khổ, điểm trù có 5 phép. Một dàn nhạc thu gọn lại chỉ có 3 người là Ả đào vừa hát vừa gõ phách, Kép gảy đàn đáy, và Quan viên cầm trống chầu. Hát chơi thường được sinh hoạt trong các đám mừng thọ, khao vọng, hay đám cưới tại các tư gia của những người có quyền thế.
Hát thi là hình thức sinh hoạt nghệ thuật nhằm sát hạch và nâng cao tay nghề cho các đào kép. Hát thi thường do các cộng đồng làng xã sở tại tổ chức. Trong cuộc thi mỗi thí sinh phải thể hiện tài năng toàn diện và trình diễn gần như toàn bộ bài bản của nghệ thuật ca trù. Có một số qui định đặc biệt như cấm chồng đàn vợ hát, anh đàn em hát tránh việc nâng đỡ nhau. Bên cạnh tài năng nghệ thuật, các đào nương còn được xét tuyển cả về mặt nhan sắc và đức hạnh.(theo Ca trù Thăng Long).
Ca trù còn có một hệ thống các làn điệu âm nhạc rất phong phú, trong 99 thể cách khác nhau (làn điệu, tiết mục múa hoặc nghi lễ) có tới 66 làn điệu – hát, đọc, nói, ngâm, thổng, 19 thể cách kết hợp hát-múa-biểu diễn, và 14 thể cách trình diễn trong nghi lễ và thi cử. Trong đó hát nói là một làn điệu có số lượng bài phong phú nhất, với sự hòa quện thăng hoa của thơ văn và âm nhạc, của thi sĩ và ca sĩ đã góp phần lớn nâng cao giá trị nghệ thuật của Ca trù. Như ai đó đã nói Ca trù của Việt Nam giống như nhạc thính phòng của phương Tây vậy.
Khí nhạc của ca trù cũng rất đặc biệt và độc đáo. Phách có âm sắc lúc trong lúc đục, lúc giòn lúc bẹt làm nhiệm vụ giữ nhịp cho dàn nhạc và người múa. Đàn đáy có âm sắc trầm, đục có thể diễn tả tình cảm sâu lắng và là loại đàn duy nhất trên thế giới không có đáy. Trống chầu có âm sắc thanh gọn, tùy thuộc vào kỹ thuật cầm trống diễn tả sắc thái tình cảm và khen chê khác nhau (theo Cinet).
Cho đến bây giờ người được coi là có giọng hát lạ lùng, và có sức lôi cuốn nhất chính là nghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ . Bà sinh ra tại làng Ngọc Bộ, xã Long Hưng, huyện Văn Giang, Hưng Yên, là người có công lớn trong việc bảo tồn và đưa ca trù trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. “Có người ví tiếng hát của Quách Thị Hồ đẹp và tráng lệ như một tòa lâu đài nguy nga, lộng lẫy, mà mỗi một tiếng luyến láy cao siêu tinh tế của bà là một mảng chạm kỳ khu của một bức cửa võng trong cái tòa lâu đài ấy. Tiếng hát ấy vừa cao sang bác học, vừa mê hoặc ám ảnh, diễn tả ở mức tuyệt đỉnh nhất các ý tứ của các văn nhân thi sĩ gửi gắm trong các bài thơ” Vũ Khang (theo Wikipedia).
Đào Hồng Đào Tuyết
(Thơ Dương Khuê)
“Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Mới ngày nào còn chửa biết cái chi chi
Mười năm năm thấm thoắt có xa gì
Ngoảnh mặt lại đã đến kì tơ liễu
Ngã lãng du thời quân thượng thiếu
Quân kim hứa giá ngã thành ông
Cười cười nói nói sượng sùng
Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại
Riêng một thú thanh sơn đi lại
Khéo ngây ngây, dại dại với tình
Đàn ai một tiếng Dương tranh”
Mời các bạn cùng nghe nhé.
Đào Hồng Đào Tuyết – thơ Dương Khuê do nghệ nhân Quách Thị Hồ biểu diễn.
Ca trù trên đất thăng long. Giáo sư Trần Văn Khê tâm sự: “Nếu ngày hôm nay mà chúng ta không giữ lại được, có lẽ rằng sẽ có tội với đời sau, có thể cứu vãn được mà không cứu vãn được, thì có tội với cả lịch sử, có tội với cả dân tộc Việt Nam”
http://www.youtube.com/watch?v=ZIT1vFeUGX4
Nguồn tham khảo:
1. Nghệ sĩ nhân dân, nghệ nhân Quách Thị Hồ: http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A1ch_Th%E1%BB%8B_H%E1%BB%93
2. NSND Quách Thị Hồ: Giọng ca trù đẹp nhất trời Nam: http://www.cand.com.vn/vi-VN/nguoinoitieng/2008/7/94273.cand
3. Ca trù – Wikipedia: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_tr%C3%B9
4. Nhạc cụ ca trù – nét độc đáo không trùng lặp – Cinet: http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=64867&sitepageid=49
5. Ca trù – di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp: http://www.vietnamtourism.com/disan/index.php?catid=16
6. Ca trù: nghệ thuật của âm thanh đồng vọng – Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: http://baotangnhanhoc.org/vi/index.php?option=com_content&view=article&id=151%3Aca-tru-ngh-thut-ca-am-thanh-ng-vng-&catid=33%3Abai-nghien-cu-nhan-hc-vn-hoa-hc&Itemid=37
7. Ca trù và nguy cơ bị rút danh hiệu di sản thế giới: http://www.cand.com.vn/vi-VN/vanhoa/2012/10/181980.cand
8. Ca trù Thăng Long: http://catruthanglong.com/vi/
Nguyễn Chí Thuận
