-
Cái sự tự tin ta, nói vậy mà không vậy, khó giữ vô chừng, vì cái quyền lực mặc áo thi vương, thi bá , tưởng ảo mà hóa thực, bởi chúng có đủ những nhân danh chẳng những chính trị mà cả đạo đức, luôn uốn bắt ta theo khuôn phép bầy đàn, nhắm mắt ngậm miệng bay theo chúng, thơ mà như thế được sao? Ta mà không theo, chúng chế nhạo, phổ biến nhất là chúng mím nụ cười “chuyên nghiệp” mỉa ta “nghiệp dư”, cao hơn chút là chúng bôi đen ta, vu khống ta, gán ghép đẩy ta vào thiên lạ chính trị, địa võng đạo người…
Tôi ơi, đừng bao giờ chán nản…
Tôi thói thường hay ngửa mặt hỏi trời. Lần ấy ngửa mặt chỉ thấy trời cười, cười chan hòa nắng, cười mãi không thôi, cưới đến ứa nước mắt để nắng vụt tắt nhường lại cho mưa, mưa phập phồng bọt, và tôi liền đọc thấy những phập phồng bot ấy chậm chạp từng lời trời: Đừng bao giờ chán nản. Bọt mưa viết lan man nhiều chữ lắm, nhưng tôi đọc mà chẳng hiểu nghĩa, liền vớt bọt uống mà ngẫm nghĩ.
Khi đã có niềm say mê chân chính thì thơ chính là cái bả tình yêu của phù thủy – là cái nghiệp mà mình càng muốn rũ ra thì như giây nó càng buộc lại. Đã là (sự) nghiệp, như đã nói, tất có chướng, nghiệp chướng, thì nhất định phải đuổi đeo, phải trả nợ, và luôn luôn phải tự nói với mình: Đừng bao giờ chán nản…
Tại sao lại chán nản?
Chán nản thật đấy, chán nản khi ta vừa viết thành công bài thứ nhất đã liền sụp đổ liên tiếp những bài tiếp theo. Cái ảo tưởng về tài năng vừa đến thì cũng liên tiếp xảy ra cái vỡ mộng. Tài hoa chăng hay ta chỉ họa tai? Bài thơ thứ nhất là bài thơ phải trả bằng bao nhiêu mộng mơ, ngẫm nghĩ, biến hóa thành ngôn tình lời lòng, nhưng đâu phải những bài thứ hai cũng dập khuôn giá ấy mà trả, là mua xong. Cũng có khi những bài tiếp sau vẫn thành công xuôi chèo mát mái, cái tên hình như quen với độc giả. Nhưng đùng một cái, buổi chiều kia ngồi đọc lại thơ mình, thấy nó viển vông bông phèng khôn tả xiết, nó cũng hệt như một cái tin rao vặt, có chăng được viết với điệu vần. Thế rồi chẳng dám đọc to cho chính trái tim mình nghe lại. Hoặc, ngược dòng, thảm thương cho ta, chỉ với bài thơ đầu đời tung lên cột báo đã khiến ta hoang tưởng bàng hoàng về giấc mộng tài năng. Sự ngộ nhận càng cao bao nhiêu thì sự chán nản càng sâu nặng bấy nhiêu, vì tiếp sau đó chẳng báo chí nào thèm đăng in thêm bài thứ hai, thứ ba của ta nữa. Thế là, suối chán nản bắt đầu rỉ chảy…
Có hai cách ngăn chặn sự rỉ chảy chán nản ấy.
Một là ta tự trách ta.
Tôi đưa tay tát lên má mình, thật mạnh, má phải, rồi má trái, rồi má phải, rồi ngưng, cộng là ba, bỗng ngộ được đôi dòng mưa bọt khi nãy mơ hồ chưa hiểu. Dẫu bay lên sao Hỏa, sao Kim cũng bay từ mặt đất/ Dẫu lớn tựa thiên thần cũng sữa ngọt mẹ ru/ Hãy chuyên cần như con ong làm mật/ Quả chín trên cây là quả chín dần dà… ( Bốn câu thơ tự răn này ảnh hưởng thơ Chế Lan Viên quá lậm, tỉnh ngay). Ta phải tự trách ta, là ta chưa đủ kiên trì, chưa đủ liên tục và quan trọng hơn cả là chưa đủ sự say mê, để hồn ta cuốn vào thơ, xác ta cuốn vào thơ, vô tự, tự nhiên như thế cái chướng yêu mà ta ngụp lặn mò tìm cái ta nợ phải trả, cái ta yêu phải sịnh, cái ta ghét phải diệt. Hỉ nộ ái ố cùng thăng hoa trong hồn ta, thành điệu vần làm ấm áp lòng ta, lòng người, thành mái nhà, thành cánh đồng hoa, thành buổi chiều lũ trẽ chăn trâu thả diều hát gió dọc triền đê. Ba đức: Say mê, kiên trì, liên tục chính là quá trình trồng cấy cây thơ cho mùa ra hoa kết trái. Chí có ba đức: Say mê, kiên trì, liên tục mới đủ sức khơi nguồn con suối chán nản, thành con suối nước chảy qua lòng đá cuội trong veo mà ngân nga …
Hai là ta tự tin ta.
Nói vậy có vẻ buồn cười. ta chẳng tin ta thì tin ai nhỉ? Vậy mà nhiều lúc (đôi khi cả đời) ta chẳng tin ta mà ta lại tin người, thứ tự tin a dua bầy đàn, thứ tự tin giết dần mòn cái tự tin ta để nhập vào cái tin người thành ra một thứ nước ao, nước sông chứ không phải thứ nước máu của riêng ta, nuôi cây ta sống mà đẻ ra cái hoa, cái trái tạ đời. Cái sự tự tin ta, nói vậy mà không vậy, khó giữ vô chừng, vì cái quyền lực mặc áo thi vương, thi bá , tưởng ảo mà hóa thực, bởi chúng có đủ những nhân danh chẳng những chính trị mà cả đạo đức, luôn uốn bắt ta theo khuôn phép bầy đàn, nhắm mắt ngậm miệng bay theo chúng, thơ mà như thế được sao? Ta mà không theo, chúng chế nhạo, phổ biến nhất là chúng mím nụ cười “chuyên nghiệp” mỉa ta “nghiệp du”, cao hơn chút là chúng bôi đen ta, vu khống ta, gán ghép đẩy ta vào thiên lạ chính trị, địa võng đạo người. Sức ta yếu nhát, thật khó lòng đượng cự lại chúng. Thôi thì đành nhường thi đàn cho chúng nhi nhăng, ta về với thi đàn của ta, của bằng hữu ta mà hát lời lòng cho nhau nghe. Tôi, giữa bốn bể anh em, tám phương bằng hữu thường hát hai câu Hoa Nhài về sự tư tin tôi: Ướp trà em. Cài tóc em. Mà vẫn khinh em. Hoa nở đêm / Em vẫn cứ nở đêm. Tắm mình trăng. Tắm mình sương. Cho ngon trà. Cho ngọt tóc. Em vẫn cứ là em. Hoa Nhài.
Nói thêm về sự chán nản đến từ những nguồn tưởng như vô lý khác.
Nguồn đến từ những cơn choáng, ví dụ choáng trước một câu thơ hay, một bài thơ hay hay một thủ pháp thơ hay của tây ta nào đó. Thế mơi là thi nhân, thi nhân là kẻ hay choáng nhất, thất thường nhất, mơ hồ nhất, trước bất kỳ mới lạ nào cũng choáng, khi choáng lập tức phủ nhận mình, và muốn được thành nỗi choáng. Trước mọi nỗi choáng mình sinh ra chán nản bi quan, dâng lên tột độ mối nghi ngờ mình và chán chính mình. Lại bảo, người làm thơ không có nỗi chán mình thì nhất định không thể thành nhà thơ được! Chán mình như thế nào và phải thường trực nỗi chán ấy ở đâu để biến nỗi chán thành một động lực xúc tác tài năng, câu trả lời đã thuộc một phàm trù luận bàn khác.
Viết như vậy hình như mâu thuẫn, vừa muốn phỉ báng nỗi chán lại vừa muốn ngợi ca mãnh lực của nó. Thực không có gì là mâu thuẫn. Nỗi chán nản cần tiêu diệt, để không mệt mỏi làm lụng và luyện rèn. Còn nỗi chán mình là nỗi chán cần thường trực để đừng bao giờ ngộ nhận mình trong suốt quá trình chuyển hóa từ hoa lên quả và dần dà quả chín.
Gặp khó khăn sinh chán nản không là phẩm hạnh thi nhân.
Nếu dễ dàng con đường lên núi, thì cần gìờ vinh quang chinh phục được non xanh? . Thiếu gì kẻ lắm bạc vàng, cao sang quyền chức, muốn nhúng năm ngón tay vào nghiên mực của thảo dân viết lên trang giấy xã tắc năm bài thơ run dế để lưu tên mình vào sử sách, thời gian. Những bài thơ run dế ấy nhất thời vang lên cùng gươm giáo, nhưng đã phải tắt lịm khi thơ nhạc của tình yêu và yên bình cất tiếng. Thơ cao quí như tên gọi của nó. Sự cao quí thần linh. Sự cao quí bất tử. Sự cao quí vốn chỉ trao cho những con người có đầy đủ tình yêu và nghị lực gieo trồng và thu hoạch nó. Sinh ra đất trời bèn sinh ra bể/ Có bể trời bèn sinh sông/ Chẳng để buồn sông trời bèn sinh cá/ Giận lũ trời bèn sinh rừng/ Có rừng trời bèn sinh cỏ/ Sinh cỏ trời bèn sinh voi/ Lúa trới người dưỡng thành lúa nước/ Sinh ra lúa người sinh ra nhà người sinh ra thuyền/ Sinh ra thuyền người cao hứng sinh thơ/ Thuyền thơ chở đầy trăng thơ/ Đầy trà đầy rượu đầy hoa/ Và đầy nhân tình…(Thơ BNN) Mình sinh được ra thơ, cớ chi mình lại chán nản?
Con đường thơ là một con đường chẳng những nhiều chông gai mà còn xa ngái, không thể đi một ngày, một năm, mười năm mà tới được , có khi đi cả đời đích vẫn xanh tận chân trời. Trên con đường xa ngái ấy, may thay, có hạnh phúc, có vui buồn, đã có vậy, chẳng lẽ lòng còn chán nản. Chỉ nguyên điều chấp nhận sự hiện diện của mình trên con đường ấy đó là một tự tin hạnh phúc. Đã tin vậy, thì cứ đi, đi mãi, đích đó luôn trước mặt, luôn xao xuyến tâm hồn ta và tôi thầm hiểu rằng đời mình còn duyên nợ với thơ.
Những thất bại ban đầu chính là những cái hôn của mối tình đầu tan vỡ. Nó còn lịm ngọt mê mẩn mãi trong lòng ta, vừa như một kỷ niệm, vừa như một trách móc, vừa như một háo hức, vừa như một bâng khuâng…Nếu mối tình đầu chẳng để lại trong ta một cảm động gì, thì còn gọi gì là mối tình đầu đáng nhớ. Trước đổ vỡ cần một tỉnh táo.
Nhiều cầu gãy trên đường đi, đây mới chỉ là một cầu gãy, nhưng có qua được cầu này thì mới mong qua được những cầu khác.
Khi đã qua được chiếc cầu gãy đầu tiên, ta bỗng mặc cảm một gắn bỏ không gì phá vỡ nổi giữa ta và thơ. Ta cứ ngỡ rằng mình sinh ra để phải trả món nợ đời bằng thơ. Thế là không chán nản nữa. Nhưng, muốn tiêu diệt tận gốc mọi chán nản thì phải có đường đi. Con đường đi của thơ. Có như thế mới không ăn sổi ở thì, có như thế mới nhận biết mọi thất bại như một thường tình. Có như thế mới có nỗi chán mình thường trực, tác phẩm hay nhất chưa phải là tác phẩm mình viết ra, bài thơ sắp viết còn nhiều hứa hẹn hay hơn. Đỉnh núi cao và nhọn đầu hình chóp, cho dẫu ta lên tới đỉnh thì ta cũng chỉ là một điểm nhó xíu của đỉnh núi mà thôi. Đỉnh núi thơ cớ chi xếp ghế thi vương, thi bá?
Hành trình lên núi thơ. Mỗi chặng nghỉ hay mỗi đỉnh nghỉ là một đỉnh tài hoa ta đấy, nhưng tuyệt nhiên không phải đích cuối cùng.
Không ai bắt ta phải leo lên núi thơ, con đường tự nguyện, và cũng có thể bỏ cuộc, nhưng nếu như giữa đường nản lòng thì âu thượng đế đã không cho người đó yêu một tình yêu.
Chiến thắng tuyệt đối sư chán nản như thế nào? Chỉ có thể chiến thằng tuyệt đối nỗi chán nản bằng một say mê phi thường, say mê vô tư, không đặt trước cho say mê mình một đời tự vẽ. Say mê thơ kỵ nhất danh vọng và tiền tài. Không có say mê, thì đừng bao giờ nghĩ rằng mình có thể đi trên con đường cheo leo, gập ghềnh lên đỉnh núi thơ.
Lại vẫn chưa đủ nếu chỉ có say mê. Thơ mãi mãi như miếng đất hoang, những miếng dễ người ta đã khai phá rồi, bây giờ chỉ còn những miếng xương xẩu, có khi ngay miếng xương cũng không còn, mà chỉ còn sự đi mót, sự cào xới lại, thâm canh lại…cho nên cũng khó lắm. Thơ được coi là nghệ thuật thứ nhất trong bẩy nghệ thuật của con người, cho nên nếu không quá lời nó cũng là sự khó thứ nhất. Đi mót cũng như đi câu – thứ nhất tốt mồi, thứ nhì ngồi dai – phải kiên trì và liên tục.
Tôi rèn luyện mình thói quen ngày nào cũng làm việc với thơ ca. Có thể là một chữ, có thể là một câu, có thể là một bài…ít hay nhiều cái đó tùy vào sức, nhưng đừng hôm nào nhãng quên công việc thơ ca. Thói quen lập đi lập lại nhiều lần tự gây ra hưng phấn, do vậy không hôm nào viết hết được những điều suy nghĩ, nên hôm nào cũng có thơ. Nhiều người hay nói đến cảm hứng. Cảm hứng là cái gì? Thần thánh nó quá. Cảm hứng chính là thói quen như buổi sáng dậy ăn lót dạ, và 12 giờ trưa, 6 giờ chiều dạ dày nhớ bữa ứa nước ở chân răng. Ngày nào cũng ngồi vào cái bàn chỉ còn lại 3 chân, ngày nào cũng viết trong càu nhàu của vợ, trong tiếng khóc của con…thế thôi, hôm nào không ngồi vào bàn, nhớ như đói vậy. Làm gì có cảm hứng bỗng nhiên nếu chẳng thấy thú vị phải có thơ, người thi sĩ nghèo càng cần phải loại bỏ lối cảm hứng của bọn giàu sang, chúng có cảm hứng bởi mùi bơ, sữa, thịt cá, trái thơm…Còn chúng ta chỉ có cảm hứng rau muống.
Biết rằng mỗi một ngày sự hủy hoại không biết bao nhiêu tế bào óc, mà rau muống không thể đắp bù lại được, nhưng biết làm thế nào, khi ta đã tình nguyện đi trên con đường thơ.
Nhưng cũng có khi hàng 5 – 6 tháng liền, cói khi cả năm trời không viết một dòng nào. Nhiên liệu đã hết và lò cũng đã ốm, tất nhiên cần phải lên rừng lấy củi hay ra mỏ lấy than. Sau những quãng nghỉ này thường là sức làm việc trở nên cường tráng lạ lùng. Bao nhiêu cái mới, bao nhiêu cái muốn viết, khi ấy một tập thơ ra đời chẳng còn khó khăn gì nữa.
Tôi không có thói quen chọn mùa làm việc, chọn tháng làm việc và chọn giờ làm việc. Với người nghèo thì phải tranh thủ, bất cứ lúc nào có thời gian cũng tự động làm việc. Cứ có 30 phút nhàn rỗi là có thể làm thơ! Đừng bịp đời và kiểu cách rằng trước lúc làm thơ phải hương khói, phải tắm rửa sạch sẽ, phai hút thuốc thơm, uống trà ngon, và sau khi làm việc xong phải được vợ vuốt ve, được bát cháo gà…Chẳng có đâu, chỉ có những cằn nhằn: Nếu cứ làm việc thế này thì anh chết mất! Mà để làm gì? Mai nhà không còn gạo, không một đồng keng nào để mua rau!…
Thực tế bao giờ cũng tàn nhẫn, chứ phải đâu thực tế đẹp như thơ!
Đã có những năm khổ sớ quá – như 1972 chẳng hạn, chúng vu cáo khốn nạn, 8 tháng không được làm việc – Tôi chuyển sang làm thợ may. Đồng tiền kiếm được không ít, nhưng lạ lùng sao cứ thiếp vào giấc ngủ là y như nàng thơ đến (như Đạm Tiên ấy!) và bảo: Nghiệp còn nặng chưa thể bỏ được đâu! Thế là lại gạt nước mắt, lại trút tất cả những khó khăn lên vai vợ và lại làm thơ. Nhiều người tỏ vẻ xót xa thương cảm, nhưng gánh nặng đời ai dễ sẻ cho ai.
Cái khó thực của thơ và cái khó ảo của thơ cứ luôn luôn dày vò, đã mấy ai vàng đá mà không chán nản bi quan. Nhưng ĐỪNG BAO GIỜ CHÁN NẢN là một điệp khúc thơ, vỗ về an ủi tôi. Tôi toát mồ hôi lưng, tôi run lên trước những thất bại, bởi liền sau đó biết chắc là thành công, một thành công không lớn, nhưng là một thành công đã được trả giá.
Đừng bao giờ chán nản – Điệp khúc ấy khi ngân lên thường có hồi âm, hồi âm của niềm vui chân chính, bởi lẽ khi đã không chán nản thì thế vào đó chỉ là niềm mê say lao động, thế vào đó chỉ là nghị lực sáng tạo không ngừng. Và cũng như sự duy trì đức kiêu ngạo cao cả đã đánh át đi những quyến rũ thấp hèn, sự chán nản chỉ còn dành cho chán chính mình, nói nhỏ lại, là không bao giờ bằng lòng với mình, luôn luôn đi về phía trước. Với hồi âm ấy, khi nhận được bao giờ cũng là những khích lệ rất đáng mừng.
Tôi đã viết trong 15 năm cuộc đời, nhưng kết quả còn lại chỉ là trong vòng từ 1970 đến nay, với 1 số lượng những trang viết khá lớn, cái đó đã thực sự tôi rèn nên tôi và đã thực sự làm tan biến đi những ảm đạm cuộc đời, mà động lực chính của nó là: Tôi đã KHÔNG BAO GIỜ CHÁN NẢN. Soi gương vui cả mặt gương/ Tình yêu nhón một cánh chuồn chuồn bay…(Thơ BNN)
Bay đi, bay đi, con chuồn chuồn chán nản.
Tôi là Nguyễn Tùng Bách, đã copy phần bình luận này dưới bài Thủng thẳng 3, trang vanthoviet.com
Mời bạn dọc DCN tham khảo.
.
Nội dung bình luận
.
Có một người tên Vinh đã khóc – Gởi bởi : Lâm Vinh – Vào lúc : (02-03-11 | 19:17)
.
Bẩy ơi, tôi gọi tên ông đấy, 1975 mà ông viết được như thế này thì đúng là thi dàn Việt nhất định không suy, cảm ơn ông đã nói thay chúng tôi những điều muốn nói.
Ông càng viết càng hay, Đọc đoạn này tôi đã khóc, khóc giận:
\”Nếu dễ dàng con đường lên núi, thì cần gìờ vinh quang chinh phục được non xanh? . Thiếu gì kẻ lắm bạc vàng, cao sang quyền chức, muốn nhúng năm ngón tay vào nghiên mực của thảo dân viết lên trang giấy xã tắc năm bài thơ run dế để lưu tên mình vào sử sách, thời gian. Những bài thơ run dế ấy nhất thời vang lên cùng gươm giáo, nhưng đã phải tắt lịm khi thơ nhạc của tình yêu và yên bình cất tiếng. Thơ cao quí như tên gọi của nó. Sự cao quí thần linh. Sự cao quí bất tử. Sự cao quí vốn chỉ trao cho những con người có đầy đủ tình yêu và nghị lực gieo trồng và thu hoạch nó. Sinh ra đất trời bèn sinh ra bể/ Có bể trời bèn sinh sông/ Chẳng để buồn sông trời bèn sinh cá/ Giận lũ trời bèn sinh rừng/ Có rừng trời bèn sinh cỏ/ Sinh cỏ trời bèn sinh voi/ Lúa trời người dưỡng thành lúa nước/ Sinh ra lúa người sinh ra nhà/ Sinh ra nhà người sinh ra thuyền/ Sinh ra thuyền người cao hứng sinh thơ/ Thuyền thơ chở đầy trăng thơ/ Đầy trà đầy rượu đầy hoa/ Và đầy nhân tình…Mình sinh được ra thơ, cớ chi mình lại chán nản?\”
.
Đọc đoạn này tôi đã khóc buồn:
\”Đã có những năm khổ sớ quá – như 1972 chẳng hạn, chúng vu cáo khốn nạn, 8 tháng không được làm việc – Tôi chuyển sang làm thợ may. Đồng tiền kiếm được không ít, nhưng lạ lùng sao cứ thiếp vào giấc ngủ là y như nàng thơ đến (như Đạm Tiên ấy!) và bảo: Nghiệp còn nặng chưa thể bỏ được đâu! Thế là lại gạt nước mắt, lại trút tất cả những khó khăn lên vai vợ và lại làm thơ. Nhiều người tỏ vẻ xót xa thương cảm, nhưng gánh nặng đời ai dễ sẻ cho ai.\”
.
Và đoạn này tôi khóc vì kính trọng khâm phục ông:
\”Cái khó thực của thơ và cái khó ảo của thơ cứ luôn luôn dày vò, đã mấy ai vàng đá mà không chán nản bi quan. Nhưng ĐỪNG BAO GIỜ CHÁN NẢN là một điệp khúc thơ, vỗ về an ủi tôi. Tôi toát mồ hôi lưng, tôi run lên trước những thất bại, bởi liền sau đó biết chắc là thành công, một thành công không lớn, nhưng là một thành công đã được trả giá.\”
.
Vấn đề không còn thuộc khu vực viết dở hay, mà vấn đề đã thuộc cốt tủy của đời người, đời thơ. Ông đã viết tới cốt tủy ấy. Nếu ông biết rằng, tôi chờ đọc khúc 3 này của ông nôn nao thao thức đến thế nào ? Có lẽ vì chờ đợi được đền đáp nên tôi đã trào nước mắt. Một lần nữa cảm ơn VanthoViet đã vươn tầm vóc.
.
Liệu tôi có lạc đề ? – Gởi bởi : CaoLan W.DC – Vào lúc : (03-03-11 | 06:33)
.
Bài giảng ngắn về cửa (phong thủy) của Đại sư Kinh dịch Nguyễn Nguyên Bảy tôi chép lại dưới đây, không biết có lạc đề với thảo luận về thơ của thầy? Tôi tự cho là không. Thông điệp của tôi là: Thầy đã giảng kinh dịch ( lĩnh vực cực khó) bằng những lời bình dị, nhân văn nhất, thì việc thầy chiếm được tình yêu mến của chúng ta đối với thơ của thầy cũng là điều dễ hiểu, tự nhiên. Thầy đã tới miền chói lòa để hát thơ.
.
Mời đọc đoạn ngắn dưới đây, \”Soi Gương Ngắm Mặt\” của thầy BNN
.
/…Một gương mặt đẹp là một gương mặt cân đối hài hòa. Mặt người có khác gì mặt tiền một ngôi nhà ? Trước hết là sự cân đối của gương mặt với toàn thân, vì gương mặt là 1/3 tam cương (đầu mình và tứ chi). Tiếp đến là sự cân đối giữa tóc và gương mặt (mái nhà và mặt tiền nhà). Sau hết là sự cân đối giữa miệng (cửa ra vào) với mắt, mũi và tai (cửa sổ). Chi tiết của miệng là môi và răng (cánh cửa và ổ khóa). Từ những xem xét cân đối này mà dân gian nói câu “Cái răng, cái tóc là gốc con người “ càng ngẫm càng thấy hay.
Người ta có thể có hai miệng được không ? Mặt tiền căn nhà cư ngụ chỉ nên có một cửa ra vào (môn tiền, cửa cái). Cần phân biệt sự khác nhau giữa cửa và cổng, cửa thuộc về nhà, cổng thuộc về cuộc đất trong đó có căn nhà xây cất. Căn nhà có hai cửa ra vào, dù một lớn, một nhỏ cũng là không nên, vì mọi người trong nhà hay cãi cọ, mất lòng nhau, phong thủy có câu “ đa môn tắc đa khẩu”. Miệng là cửa ra vào của thức ăn nước uống, cũng là nơi vào ra của lời nói, ngôn từ, vì vậy miệng cần sạch và đẹp. Môn tiền căn nhà cũng vậy. Từ ý nghĩa này mà xem xét môn tiền căn nhà có thông thoáng, có bị vướng víu, có bị cản trở hay uế tạp xung sát vào nhà ? Nói chung cổng và cửa nên mở vào là thuận cách (hiếu khách), cổng và cửa mở ra là không thuận cách (đuổi khách). Cánh cửa và ổ khóa nên như thế nào là đẹp xấu (môi cong môi hớt, môi dầy, môi mỏng, răng thưa răng đều răng quặp hay răng hô).
Từ cửa ra vào mà nhận biết các cửa sổ nơi mặt tiền. Cửa sổ mở hết (mắt), cửa sổ lật, cửa sổ chớp, cửa sổ thông khí (mũi), cửa sổ Long, Hổ (tai). Như vậy tổng số cửa sổ cho một không gian mặt tiền và hai bên vách Long, Hổ chỉ nên 6 là đủ, ít hơn vô hại, nhưng nhiều hơn là tham hung. Cánh cửa sổ nên mở ra để đón gió nắng, tiện dụng và không chiếm không gian nội ốc. Cánh cửa mở vào nhiều bất tiện, phong thủy gọi là cửa mời hung, xấu. Sự cân đối của các cửa sổ mặt tiền mang ý nghĩa hung cát và ý nghĩa thẩm mỹ rất nhiều, chúng cần cân xứng với cửa ra vào. Tính cân xứng này càng nên xem trọng với các cửa ra ban công các lầu nhà nhiều tầng.
Từ cửa ra vào mà xem xét cửa thoát (môn hậu). Miệng người mở về phía trước (hướng ra tiền tước), Hậu môn người thoát các chất thải ra ngoài, xuống dưới, hai hướng tiền và hậu không nằm trên một trục mà cách trục khoảng 45 o . Vì thế, với căn nhà cư ngụ, vị trí của môn hậu không được thẳng hàng cùng hướng với môn tiền. Nếu môn tiền căn nhà là vị trí 0 o thì môn hậu nên ở vị trí 135 o hoặc 225 o. Cửa hậu không nên rộng lớn hơn hoặc bằng cửa tiền, chỉ nên bằng 2/3 môn tiền là đủ. Cửa hậu cũng chỉ nên một, trường hợp cần thoát khí, thông gió nên xem xét cụ thể và tham khảo ý kiến các kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng.
Nhấn mạnh : Nhà ở nhất định nên có cửa hậu. Nếu đất xây dựng còn đủ, có nghĩa là không quá quan ngại sự chật hẹp của nội ốc, thì nên dành khoảng 54 cm hoặc 1 m phía sau cho sân để tìm giải pháp mở cửa hậu. Nếu cũng không thể thì nên có giải pháp giếng trời thay cửa thoát. Giếng trời không nhất thiết rộng lớn, chỉ cần áp tường vách bên Long hoặc bên Hổ 54 cm là đủ.
Xem xét môn tiền và môn hậu, sẽ hiểu ngay hành trình của thức ăn nước uống không thể vào từ miệng liền trôi tuột ra hậu môn, mà thức ăn nước uống cần được hấp thụ qua các cơ quan nội tạng, sau đó mới thải ra ngoài. Hành trình của khí trong căn nhà cũng như vậy. Nếu trên trục của môn tiền là các cửa thì khí sẽ trôi tuột ra sau nhà, do đó, trong căn nhà không nên có 3 cửa mở thông nhau, phong thủy gọi cách hung này là “ độc lộ xuyên tâm”. Cũng từ nhận xét này mà nên tránh việc các cửa phòng ngủ, phòng bếp, phòng xí tắm mở cùng hướng với cửa ra vào, hung nhất là cửa xí tắm mở cùng hướng với cửa ra vào, phong thủy cho rằng như thế là cách bôi lem mặt.
Soi gương ngắm mặt mình, tướng mạo mặt người thế nào thì phong thủy mặt tiền căn nhà cũng vậy./ (Nguồn phongthuybnn.com.vn)
Cảm ơn vanthoviet.com đăng bài vì không cho là tôi lạc đề.
Kính thầy – Gởi bởi : Julie Phạm UW. – Vào lúc : (03-03-11 | 16:43)
.
Kính thầy,
Con là Julie học trò UW của thầy và quái quỉ đã gửi thư phá thầy năm trước, thầy ơi. Nhờ CaoLan con mới vào được Website này, ở Mỹ, chưa quen link nên w này chậm, phải kiên nhẫn mới op được. Con mong thầy khỏe và tháng bảy lại gặp thầy ở UW thầy nhé.
Thưa VanthoViet.com, tôi đã từng giận thầy BNN tím ruột, nhưng sau đó thương yêu thầy vô cùng như một đứa con yêu cha mình vậy. Tôi dẫn lại thư đã gửi thầy hồi thầy mới ra sách dưới đây để được chia sẻ :
.
\” Duyên may tình cờ con được đọc thơ thầy,cũng tình cờ đọc ngay bài Tinh Tú Ngô Duyên (Trang 75),cảm giác đầu tiên quá tức giận, căm ghét thầy vì cảm giác bị xúc phạm,cắn răng đọc hết bài,rồi đọc sang bài khác,rồi đọc miên man,giận dữ tan biến và lòng bàng hoàng ngơ ngẩn,xót xa thương cảm thầy,xót thương số phận chúng ta,xót thương mà kiêu hành vì hồn Việt chúng ta trường tồn.Xin đặc biệt kiêu hãnh,tự hào vì được đọc thơ thầy,nhưng vần thơ con tạm gọi chữ là cứu giỗi các linh hồn bị đầy ải.Thật may, con đã không đứng trước mặt thầy, vì (nếu…) thì chắc chắn con đã gục đầu vai thầy khóc cạn nước mắt, thầy ơi!
Thầy đã không ở vào hoàn cảnh chúng con,nhưng thầy đã đúng khi nói về hoàn cảnh ấy, con xin lỗi vì đã phách giận thầy. Con người Huế nên hay mủi lòng, xin thầy cho con ghi lại khúc thơ mà vì hai câu cuối, con đã \”oán\” thầy, con bắt đầu rồi đây, thầy nghe con ngâm nhé:
Ly hương ư ?
Tóc bà heo may
Lưng còng ngôi se sợi gió
Nhà cha giột ai lên rừng tìm tre nứa
Canh bờ rào mẹ nấu để ai ăn
Hoa dại,dại tay ai cầm
Anh đi rồi anh tặng hoa em nhỉ ?
Kẻ chạy trốn bọc trăm trứng mẹ
Nở thành người được chăng ?
.
Vanthoviet tin đi, mỗi sáng thức dậy (là đêm bên ta) tôi sẽ vào trang web này, đúng chỗ nào. Thank very much
LikeLike
Hi Vũ,
Chú bình rồi, mà lại là “bình lớn” nữa. Chỉ vì Vũ không thấy thôi. 🙂
Các đoạn màu đỏ dẫn vào bài (như là đoạn Vũ vừa post lại trong comment) là chú chọn ra để post đó mà.
Vũ khỏe nhé.
LikeLike
“Cái sự tự tin ta, nói vậy mà không vậy, khó giữ vô chừng, vì cái quyền lực mặc áo thi vương, thi bá , tưởng ảo mà hóa thực, bởi chúng có đủ những nhân danh chẳng những chính trị mà cả đạo đức, luôn uốn bắt ta theo khuôn phép bầy đàn, nhắm mắt ngậm miệng bay theo chúng, thơ mà như thế được sao? Ta mà không theo, chúng chế nhạo, phổ biến nhất là chúng mím nụ cười “chuyên nghiệp” mỉa ta “nghiệp dư”, cao hơn chút là chúng bôi đen ta, vu khống ta, gán ghép đẩy ta vào thiên lạ chính trị, địa võng đạo người…”
Chú Hoành ơi, viết thế này nghe thật đã vì rất thuyết phuc, sao chú không có lời bình ? Chú bình rất chuẩn, cháu rất thích tác giả này và …chú.
LikeLike
Tôi võ vẽ làm thơ
vì một nỗi đam mê
Được trải lòng ra trên màn hình trắng toát
Vì một nỗi đam mê
Tôi lào khào viết nhạc
Để hát chơi
Đêm bù khú bạn bè…
.
Thơ viết nhiều
nhưng đọc có mấy người nghe
Ai cũng tất bật chải bươn
Hơi đâu nghe thằng Tín khùng nỉ non ai oán
Nhạc viết nhiều
Nhưng hát hoài một mình, phát chán
Ai cũng lo gạo ngày, lương tháng
Hơi đâu nghe thằng Tín khùng tích tịch tình tang…
.
Nhưng mà,
vì một nỗi đam mê
Tôi vẫn ngày đêm ngâm, hát rộn ràng…
.
Lê Trung Tín, 02 03 2009
LikeLike