Đám cưới Mnông Rlâm

Người Mnông Rlâm là một trong những nhánh Mnông cư trú ở Đak lăk ( Mnông Gar, Mnông Biet, Mnông Kuênh…). Có ý kiến cho rằng : người Mnông Rlâm là sự kết hợp hôn phối giữa nhóm Mnông Gar và nhóm Êđê Bih. Căn cứ xác thực của luận điểm này, về mặt dân tộc học, chưa có sự kiểm chứng. Ngưòi Mnông Rlâm cũng theo chế độ mẫu hệ như người Mnông Gar và Êđê cùng cư trú trong tiểu vùng vùng quanh bờ hồ Lăk.

Hôn nhân của tộc ngưòi Mnông Rlâm quy định anh em trong cùng một bào hệ không được phép kết hôn với nhau (như ba họ Long Jing, Đăk Cắt, Buôn Krông là một dòng). Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành các lễ thức cưới hỏi, có sự uyển chuyển hơn so với các dân tộc khác. Chàng trai được tự do đến nhà cô gái mình yêu thích để trò chuyện tìm hiểu nhau, nhưng nếu cô gái tỏ thái độ không ưng thuận, anh ta sẽ không lui tới nữa. Còn đến khi tình cảm hai bên đã thật sự gắn bó, nếu được sự đồng ý của nhà gái, nhà trai cũng có thể đi hỏi vợ.

Trong trường hợp nhà trai đi hỏi, ông mối sẽ mang theo một bộ váy áo, chiếc vòng đồng, chuỗi hạt cườm và một con gà (nếu nhà gái đi hỏi thì thay bằng bộ áo khố nam). Sau khi đã được báo trước, nhà gái buộc sẵn một ghè rượu, đổ đầy nước và ngồi chờ. ông mối vào nhà, đặt lễ vật xuống một chiếc mâm giữa nhà rồi ngỏ lời. Người mẹ nhận vòng, trao cho con gái nắm tay vào rồi gửi lại cho ông mối (nghi lễ cầm vòng). Như vậy là thông qua ông mối, người con gái đã đồng ý nhận lời cầu hôn của người con trai. Ông mối đưa cho nhà gái con gà đã mang theo để làm thịt, cúng báo cho các Yang biết hai họ đã bằng lòng để đôi trai gái chính thức quan hệ với nhau.

Cần rượu lúc này mới được cắm và trao chuyền tay. Mẹ uống trước, đến ông mối, cha, rồi cô gái và lần lượt từng người thân trong gia đình đang có mặt, theo thứ bậc lớn nhỏ, nữ nam.Thế là coi như xong lễ hỏi. Hai bên gia đình vừa uống rượu, và trao đổi, bàn định ngày cưới chính thức cho đôi trai gái. Không câu nệ ngày tháng, miễn mùa màng thu hoạch xong xuôi, đủ lương thực để đãi đằng họ hàng,buôn làng và bè bạn. Quan trọng nhất là rượu cần, dù nghèo cũng phải có từ 3-5 ché. Giàu thì hàng chục ché là chuyện bình thường.

Lễ cưới, sau khi đã thoả thuận được ngày, sẽ tổ chức ở cả hai bên gia đình, bên nào tự lo chi phí của bên ấy. Phía bên kia có tự nguyện đóng góp nhiều hay ít, tuỳ theo từng hoàn cảnh, không bên nào đòi hỏi, không có cũng không bị phiền trách gì. Nếu chỉ một bên có đủ điều kiện tổ chức lễ cưới, đôi trai gái vẫn được cùng chung sống, sau này khi có điều kiện thì tổ chức cũng được. Có những cặp vợ chồng làm đám cưới khi đã có vài mặt con, cũng vẫn được cả bon chúc mừng.

Như mọi tộc người Tây Nguyên, các lễ lạt của người Mnông cùng thường được tổ chức vào dịp cuối mùa khô trong năm, cuối ngày và tối có trăng, để không làm phiền bận gì tới công việc làm ăn của các gia đình khác trong bon. Khách mời cứ xong việc rẫy nương rồi tới dự đám cưới cũng được. Trong bon lan (thôn xóm) ai có đóng góp gì cho gia đình, dù chỉ một lon gạo, vài trái đu đủ xanh, bó rau môn, con gà hay ché rượu… đều được gia đình chân thành cảm ơn và vui vẻ đón nhận. Thông thường thì họ hàng và bè bạn sẽ góp những ghè rượu cần để chung vui.

Chiều ngày đã định, khách kéo đến nhà, đàn ông lên thang đằng trước, ngồi gian ngoài. Đàn bà theo cầu thang sau vô nhà trong, gia chủ dọn cơm đãi khách. Phần ăn bày riêng cho từng người, dọc theo chiếc chiếu trải giữa sàn, gồm : tô cơm, tô canh, chén cháo, chén huyết trộn thịt luộc băm nhỏ, bên cạnh thêm một bầu nước suối.Khách ăn uống xong xuôi mới đến phần lễ nghi.

Đồ ăn dọn đi, rượu cần cột một dãy dài giữa sàn. Con trai lo kiếm slá lèn chặt vô ché, để lúc đổ nước đầy “ cái” rượu không bị nổi lên. Dàn đồng la (goong) gồm ba chiếc lớn nhỏ (Cher, Goong, goong pe) và trống Gơr nổi lên một hồi dài, báo tin cho các thần linh, gia đình, bon lan và bè bạn, đồng thời bày tỏ nỗi vui mừng của đôi bạn trẻ.Tiếng chiêng dứt, nghi lễ chính thức bắt đầu. Thày cúng hút rượu từ chiếc ché lớn nhất ra hai ống nứa, trao cho hai cậu (anh hoặc em của mẹ) của cô dâu và chú rể. Hai người này trân trọng bưng ống rượu ra khỏi nhà, tưới lên mặt đường đi, và những cây to ở gần quanh nhà. Họ đang cầu xin trười đất, cỏ cây phù hộ cho cặp vợ chồng trẻ làm ăn phát đạt, chung sống hoà thuận, hạnh phúc. hai cậu về chỗ ngồi trước mặt ghè rượu và thày cúng, ông mối thông báo cho hai họ biết đôi trai gái đã thuận tình lấy nhau, không có ai phản đối, nên hôm nay hai họ làm lễ cưới cho họ.

Hai đại diện của hai họ hỏi lại ý kiến đôi trai gái lần cuối, để hai bên gia đình cùng nghe thấy những lời tự nguyện kết hôn, do chính họ nói ra, không có ai ép buộc. Xong nghi thức này, lần lượt người bên nào thay nhau dặn dò, tự nhắc nhở con cháu bên nấy, phải ăn ở sao cho đúng phép tắc của gia đình, mới gìn giữ được hoà thuận và hạnh phúc. Nhà trai trao vòng đồng kết đôi cho nhà gái và ngược lại. Đây là vật bảo chứng cho tình nghĩa bền vững của đôi vợ chồng mới.

Thày cúng đặt trước mặt hai vợ chồng trẻ và hai người đại diện mâm lễ, gồm : chén tiết canh, một chiếc đầu heo, một ống rượu, một tô cháo, một hòn than cháy đỏ, một chiếc ống điếu và một bầu nước suối.đây không chỉ là lễ vật dâng tạ các thần linh, mà còn là mong ước no đủ, yên lành và tình cảm nông đượm của hai người đối với bon lan và gia đình, bến nước…..

Hai đại diện cũng thoả thuận những quy ước cuối cùng, nếu nhhư có bên nào bội ước. Người ta xướng to cho mọi người cùng nghe rõ số trâu, bò, chiêng, ché, hoặc tiền bồi thường danh dự hai bên đã thống nhất giao ước. Sau đó, thày cúng cầm tay đôi trai gái dặn dò lần cuối cùng đạo nghĩa và trách nhiệm của vợ chồng đối với cha mẹ, con cái, bon lan và với nhau. cặp vợ chồng cùng nhau uống chung một ché rượu đầu tiên.

Phần lễ nghi đến đây là chấm dứt. các ché rượu khác được mời uống theo từng cặp: cậu nhà gái uống cùng cậu nhà trai, chị em bªn này với chị em bên kia… rượu vơi lại đổ thêm đầy nước mới. Chiêng trống rộn ràng hoà chung niềm vui. Người ta ca hát, nhảy múa, kể chuyện, hai ba ngày mới thôi. Đây cũng là dịp để trai gái chưa vợ, chưa chồng gặp gỡ, làm quen, tìm hiểu lẫn nhau.

Sáng ngày thứ tư tiễn rể về nhà vợ. Không có nghi thức gì rườm rà. Lễ tiếp tục diễn ra ba ngày nữa ở đằng gái, tương tự như ở nhà trai.

Hôn nhân Mnông Rlâm quy định cư trú bên nhà vợ. Con đẻ ra mang họ mẹ. Nhưng nếu gia đình nhà trai không có con gái, các anh lớn đã đi về nhà vợ hết, người con trai út đang phải nuôi cha mẹ, thì nhà gái sẽ cho phép cô dâu về nhà chồng sinh sống, cùng chung trách nhiệm nuôi nấng bố mẹ.

Khi cô dâu về tới nơi, mẹ chồng ra tận cửa đón, dắt ta vô tận cót thóc cuối nhà. Cô dâu sờ tay lên kho thóc, lên từng vật dụng trong nhà. đây là nghi lễ báo với các thần linh ngự trị trong nhà rằng : từ nay gia đình có thêm thành viên mới, đồng thời cũng khẳng định đây sẽ là người thừa kế của cải và quyền hành trong nhà, sau người mẹ.

Cuộc sống mới với trách nhiệm nặng nề mà luật tục quy định “người phụ nữ phải làm những việc lớn: giữ nhà, giữ của cải, đẻ ra và chăm sóc những đứa con, lo cho cha mẹ già. Dệt vải, tuốt lúa, giã gạo, nuôi gia súc…” bắt đầu đè nặng lên vai người đàn bà Mnông Rlâm trẻ tuổi.

Linh Nga Niê Kdăm

Leave a comment