Tag Archives: Văn

Tìm về núi cũ xem mai nở

Cam Ranh quê tôi là đất mai, là một phần của rừng mai Phước Hải (Khánh Hoà) xưa, kéo dài từ Nha Trang đến Cà Ná, nay đã bị thu hẹp khá nhiều. Tháng Chạp, mai biển nở bạt ngàn cả một vùng cát trắng Thủy Triều. Làm sao không rung động khi đứng trước phong cảnh hoang sơ, một bên là biển, một bên là cát trắng, và trên những cồn nhỏ ở giữa, là mai vàng nở rực.

Lần đầu tiên ăn Tết ở Sài Gòn, tôi rất lạ khi thấy người ta cắm mai mà không cần đốt gốc, chỉ hai ba cành mai rừng nhỏ, cắm vào một cái bình sứ rất đẹp, đã được lau bóng lưỡng từ mấy hôm trước…Chưa bao giờ tôi nghĩ mai có thể được cắm một cách dễ dàng và đơn giản như những loài hoa khác. Ở quê tôi, những cành mai chặt về phải được đốt gốc trên lửa nóng, để giữ lại nguồn nhựa sống cho mai, nuôi những đoá hoa còn ươm nụ. Nếu không đốt kỹ, có khi, cả hoa lẫn nụ đều gục đầu héo rũ ngay vào ngày mồng Một.

Đến nhà ông chú, thấy hai ba người đang lui cui khiêng một chậu mai kiểng lớn vào nhà. Đây là cây mai chưng từ mấy năm nay, do một người bạn tặng, giá vài triệu đồng, hết Tết thì gửi cho mấy vườn mai, 28 Tết năm sau người ta lại đem tới. Mất có trăm ngàn mà khoẻ re. Tết vẫn cứ có mai chưng, hoa lá đầy đủ, ra hoa đúng độ, lại chẳng cần bận tâm gì đến chuyện chăm sóc. Và lặt lá mai trở thành một khái niệm hết sức xa vời. Tiện thật đấy, nhưng sao tôi vẫn thấy thiêu thiếu một chút tình…

Những đứa trẻ như tôi ngày xưa háo hức theo cha đi chặt mai, vượt đầm Thủy Triều ra đến cồn từ sang sớm để chọn cho được cây mai “có thế” nhất, hoa đều nhất. Khi trở về thì mặt trời đứng bóng, bọn trẻ giành vác cành mai lùm xùm những cành, bước từng bước khó khăn theo chân cha đi trên vùng cát mênh mông. Dưới cái nắng ấm vàng rực rỡ của miền Trung những ngày giáp Tết, những hạt cát trắng loá, lấp lánh một màu trắng tinh khôi sạch sẽ. Những cơn gió thổi nhẹ qua lại xoá tan hết dấu chân người, trả lại vẻ hoang sơ và thanh tịnh rất hợp với mai. Nhớ đến run người những khoảnh khắc đó, khi mỏi chân dừng lại, hít một hơi sâu làn không khí đầy ắp gió biển, trong trẻo và thanh sạch vô cùng, ngoái nhìn trước sau chỉ thấy một màu cát trắng, chợt nhớ Hàn Dũ xưa kia lúc “đạp tuyết tầm mai”, chắc cũng chỉ hạnh phúc và đầy rung cảm như ta ngày nay “đạp cát tầm mai” là cùng!

Ấy vậy mà cái hạnh phúc khi gặp mai của người “tầm mai” cũng chưa so được cái hạnh phúc gặp mai bất chợt. Không biết bây giờ còn bao nhiêu người của lớp Báo chí A-K97 nhớ ngày “dụ dỗ” được thầy chủ nhiệm đi chơi tận thác Mai (Đồng Nai). Cả nhóm cứ đi mãi, vượt qua sông La Ngà, con đường xuyên rừng chập choạng buổi chiều tối ngoằn nghèo dẫn vào thác. Đêm đó, tuổi 20 ngẫu hứng và bốc đồng nên vừa lội suối vừa ngắm trăng, rồi nằm dài trên đá mà hát cho nhau nghe đến sáng. Để mai dậy mắt ai nấy đỏ kè, loạng choạng lái xe trở về mà đầu óc dường như còn chưa tỉnh. Chợt tất cả đột ngột dừng xe sững sờ khi bắt gặp bên rừng mấy bụi mai nở sớm, màu vàng mơ nhẹ nhàng, và mong manh quá trong làn sương sớm còn ướp đầy mùi nhựa cây và hương thảo mộc. Trong suốt những năm tháng ở đại học, tôi chưa bao giờ cảm thấy yêu bạn bè mình đến thế, trong giây phút cùng lặng thinh không nói nên lời cạnh những bụi mai bên rừng. Khi trong trái tim mỗi người dường như có một niềm vui sướng và xúc động như nhau.

Hình như mai đẹp nhất không phải khi được đặt trong bình sang chậu đẹp. Ở Cam Ranh, xã được xếp loại “vùng sâu vùng xa” nhất có lẽ là Cam Hiệp, nơi học trò muốn đi học phải lội bộ cả chục cây số. Nhóm bạn rủ nhau đi thăm cô giáo cũ ở vùng này, loanh quanh cả ngày chợt nhận ra ở đây nhà nào cũng có vài ba cây mai núi trước sân, bình thản nở ngay cạnh những vách nhà xù xì rơm khô trộn đất. Buổi chiều trên đường về bỗng gặp cảnh thần tiên. Một ngôi nhà gỗ giản dị, Một khung cửa sổ mở ra vườn. Một cô gái nhỏ tóc buông dài chống cằm nhìn ra sân. Tất cả, là cái nền cho một cây mai vàng, có thể gọi là cổ thụ, gốc to, rễ lồi, thân xù xì những nhánh lớn như cây ổi, lác đác những lá xanh to, cao gần bốn mét, đang nở hoa rực rỡ ở độ mãn khai nhất ngay bên ngoài cửa sổ. Không hiểu sao, sắc vàng của mai trong buổi chiều tà lại buồn đến vậy, hay tại đôi mắt trong đen rất đẹp của cô gái ấy thoáng nét u sầu. Hai chàng trai trong nhóm không dời chân được, đánh bạo bước vào nhà xin… uống nước. Cô gái ngượng ngùng trốn ra nhà sau, chỉ có ông chủ nhà niềm nở mời trà khách lạ. Kể rằng khi cha ông đến dựng nhà trên mảnh đất này thì cây mai đã ở đó, mùa xanh lá không ai để ý đấy là mai. Đến mùa đông, nó tự rụng lá rồi trổ hoa vào mùa xuân. Không ai lặt lá, cây lớn quá hơi đâu mà lặt. Nên mai tự nhiên nở, có năm sớm, năm muộn. Một tay lái ở Nha Trang tình cờ thấy, mê mẩn, dụ dỗ ông già cho bứng luôn gốc đem về thành phố bán, bộn tiền lắm. Nhưng ông chắc nịch :“Mấy anh coi, không có cây mai đó nhà tui còn gì. Nó chính là cái tinh thần của gia đình này từ mấy chục năm nay!”…

Những năm sau có bận mấy, nhóm bạn cũng trở lại căn nhà ấy vào ngày mồng Năm. Cô gái đã lấy chồng, chỉ còn người cha và cậu em trai. Trở lại, như chàng Thôi Hộ, chỉ để ngồi uống trà nơi cái bàn gỗ thấp đơn sơ, hỏi thăm như bâng quơ về cô gái và say sưa ngắm khung cảnh thần tiên như tranh vẽ bên ngoài cửa sổ, nơi những đoá hoàng mai nở rực khắp vòm bên những chiếc chồi xanh.

Tết này ở Sài Gòn, thêm một cái Tết xa quê, lại thèm quá một ngày được “Tìm về núi cũ xem mai nở. Mộng bén ngàn xa hạc điểm canh” (thơ Quách Tấn)

Đông Vy

Tết Kinh

Thuở nhỏ, được nắm váy mẹ đi ăn Tết nhà ông Tỵ người Kinh ở dưới Từ Tâm, sướng không gì bằng. Vậy mà năm đó mẹ không cho đi. Không biết sao nữa. Năm ngoái mẹ còn dẫn đi mà. Đi, vừa được bữa no nê, vừa có tiền lì xì với lại được quà bánh xách về.

Từ năm 1961, cha hết làm ruộng ở Hiếu Thiện – Palau quê ngoại, mà về Caklaing làm ăn. Ông Tỵ dân Từ Tâm, có mấy đám ruộng Gađak cho cha làm rẽ. Ruộng gò khó theo nước, chỉ mỗi đất tốt nên sau vụ lúa người ta có thể gieo đậu. Cha làm hai vụ. Ngoài vụ chính, cha tranh thủ vài đám ruộng cạnh bờ sông làm chiêm. Lúa bareng (lúa chiêm, dường như xuất phát điểm từ Champa) hạt màu nâu vàng, nhỏ và khá thơm, chỉ cần ba tháng là thu hoạch được. Giống này năng suất rất thấp, có thể nói thấp nhất trong các loại giống. Lại gieo trái vụ, nên cần canh me chim chóc. Nhưng được cái là nó giúp cứu đói ngắn ngày. Sau khi gặt chiêm, cha gieo giống ba trăng, để kịp với vài đám gieo lúa mùa khác.

Ông Tỵ là giáo viên làng, say xỉn suốt. Mỗi lần ông có việc (hay nổi hứng) ghé qua nhà là mỗi lần dáng ông lảo đảo. Vậy mà ông cứ đòi. Mẹ phải chạy ra quán Bà Hai đong xị rượu gạo cho ông ăn cơm với cha. Cha hiền từ, ít nói. Cũng không rượu chè. Thế là có mỗi ông lai rai. Và nói. Đúng là một cực hình.

– Thế nào tết này anh chị cũng phải xuống tui. Ông Phó uống với tui chén rượu chi. Ông kéo dài chữ “chi” cuối câu rất ư là Từ Tâm.

Tôi chỉ mong có thế. Nhớ là dường như cha chưa lần đi Tết ông. Có mỗi mẹ. Kèm theo tôi với anh Đạm. Nhưng lần này mẹ đổi ý. Không hiểu sao. Chỉ nhớ là mẹ không cho đi. Rất dứt khoát. Tôi khóc, chạy theo ôm tảng đá to trước cổng nằm giữa đường nhà bà Cò, lăn lộn. Thằng này chăng dai, không dễ bảo như anh nó – mẹ hay bảo thế. Chắc không có áo mới. Mà không áo mới làm sao mà đi ăn Tết. Mấy đứa bạn được mẹ dắt đi kìa, tôi thì không. Tại sao không mua áo mới trước đó? Có lẽ tôi đã làm dữ lắm, nên cuối cùng, mẹ cũng chiều. Không dép cũng được, miễn là có áo mới. Mẹ mượn của ai đó.

*

Ở thị xã Phan Rang, người ta biết đến Tết khi dưới bãi sông Dinh ở cầu Đạo Long cắm đầy mấy trăm cây mai rừng do lính cộng hòa chặt trên núi chất lên chiếc GMC chạy thẳng vào phố. Chiến tranh mất an ninh, nên họ độc quyền. Gọi là bù lỗ, cũng hay.

Với sắp nhỏ chúng tôi, khi có đợt rét của gió bấc tới, đồng lúa vãn mùa, lũ trâu được thả bừa trên mênh mông cánh đồng đầy rạ. Là Tết đến.

– Ông bà người đằng quê thế mà thiêng, mẹ nói khi gió cứ vần làm cho bà khó giê hết đống lúa. Khiến trời đứng gió cho con cháu họ dựng nêu ấy mà.
– Năm sau mẹ sẽ lặp lại chính câu đó cho mà xem, tôi bảo anh Đạm.

Đó là mùa mai vạn thọ vàng rực núi đồi. Cả rừng mai vạn thọ. Kéo dài từ cánh rừng làng Văn Lâm sang tận khu rừng Vĩnh Hảo. Lên trên nữa là mai núi. Cũng bạt ngàn. Kể rằng, bên cạnh suối thiên nhiên, khi xưa chính Chế Mân cho trồng thả hai loại mai này để cùng công chúa Huyền Trân du xuân. Nhưng ông vua hào hoa này đã chẳng hưởng thụ được hơn một mùa mai, rồi đi biệt. Mang theo luôn bí ẩn cuộc tình đẹp nhưng đầy éo le vào đêm mờ lịch sử.

Ông đi, nhưng rừng mai ở lại. Ở lại cho đến cuối những năm tám mươi của thế kỉ thứ XX, khi kế hoạch triệt phá rừng đã hoàn tất, thì cây mai cuối cùng cũng làm cuộc chia li không hẹn ngày về.

Còn thuở học Pô-Klong, Tết – tôi ít khi về quê, mà tình nguyện ở lại Kí túc xá. Chúng tôi ăn Tết kiểu khác. Tuổi học sinh, quậy thì khỏi nói rồi. Hết giờ trực, hai ông anh lớp trên rủ tôi vào phố cà phê, không quên bảo tôi mang theo cái túi xách. Mãi mười giờ mới về. Anh Tr. kêu nhỏ: Trạm đứng đây chờ anh nhé. Anh chạy biến đi, mang về nải chuối, hộp bánh qui, miếng cốm,… Rồi cứ tiếp tục thế. Dọc đường bao nhiêu là đồ cúng! Anh lại bảo tôi chờ. Tôi hỏi anh:

– Không sợ ư?
– Ma ăn rồi mà, không sao đâu. Anh trấn an tôi.
– Nhưng đồ ma…!
– Chăm vẫn ăn đồ padơng đám ma đấy thôi. Nhưng ma Kinh không sao đâu, họ xơi nhanh lắm. Thế là đến lượt mình…

Về đến Kí túc xá thì túi xách tôi mang đã đầy cứng.

*

Bên cạnh Ramưwan (tức Ramadan) của người Chăm Bàni hay Hồi giáo cũ, Katê là Tết chung của cộng đồng Chăm, là dĩ nhiên rồi. Đầu tháng Bảy Chăm lịch, Chăm lên tháp cúng tế trời đất, ông bà tổ tiên. Rồi kéo nhau về làng ăn Tết. Nhưng từ lâu lắm rồi, người Chăm vẫn cứ xem Tết, cả Ramưwan, Nguyên đán,… tất tần tật đều là Tết của mình. Lạ, tôn giáo Chăm, Bàlamôn giáo, một tôn giáo rất cổ, tưởng khép kín, không ngờ lại rất mở. Văn hoá dân tộc Chăm cũng thế. Hãy tưởng tượng dân tộc cư trú dọc miền duyên hải Trung bộ nhìn mở ra biển Đông, suốt mười mấy thế kỉ.

Nói sang chuyện thờ cúng. Trước tiên ngay thế kỉ thứ II, Chăm xem Ppo Inư Nưgar – Bà Thiên Y Ana là người tạo lập xứ sở. Vị trí thờ phượng luôn được đặt ở hàng đầu. Sau đó, thế kỉ XIV, khi Hồi giáo nhập địa Champa, vị trí này được nhường lại cho Allah. Chăm coi Ngài là đấng sáng tạo vũ trụ, trong khi Ppo Nưgar chỉ được xem như người tạo lập xứ sở. Ai nhất thì tôi thứ nhì!

Trong các cuộc lễ, tôn giáo Bàlamôn Chăm mở ngõ cúng bái cả các vị thánh trong Kura-ưn (Koran). Rồi khi có xung đột ý hệ tôn giáo Hồi – Bàlamôn trong lịch sử, Chăm hóa giải và hòa giải bằng sáng tạo ra một giáo phái mới: Mưdwơn, phục vụ cho cả hai phía: Chăm Bàlamôn và cả Chăm Bàni. Vui vẻ.

Trong lễ lớn là Ramưwan (tháng Chín chay tịnh), hình ảnh mở đẹp nhất của tôn giáo-tín ngưỡng Chăm có lẽ là từng đoàn cô gái Chăm Bàlamôn đội ciet bánh trái cúng dường nhà Chùa Hồi giáo (sang mưgik). Thành kính và trang trọng. Các dịp lễ gia tộc khác cũng thế, Chăm Bàlamôn luôn mời các vị thầy Acar về tận nhà hành lễ. Lạ!
Lạ mà đẹp.
Với người Kinh – xen cư hay cộng cư trong khu vực có cộng đồng Chăm sinh sống – cũng vậy. Tết Nguyên đán gần như được người Chăm coi như Tết của mình, dù lâu nay người dân quê Chăm chưa xem nó là Tết chung cả dân tộc Việt Nam. Đây chỉ là hành xử rất ư tự phát, một tự phát có nguồn gốc từ ý thức (hay vô thức cộng đồng) rất mở của văn hóa Chăm suốt quá trình lịch sử, tồn tại mãi đến hôm nay. Người Chăm đội giạ nếp, cặp gà qua ăn Tết Kinh cùng hay khác làng có quan hệ quen biết hoặc làm ăn buôn bán. Ăn Tết đã đời rồi còn có quà bánh mang về nữa. Nhất là sắp trẻ, cũng háo hức đón Tết. Mừng dựng nêu, đốt pháo – xưa; hoặc đạp xe xuống phố, qua khu vui chơi giải trí – nay. Tết như có thêm ngày hội. Còn với người lớn, mùa Tết nhằm ngày vụ vừa xong nên người ta cũng không tiếc nhau lời chúc, quà tặng.

Chúng tôi nói đùa nhau Chăm hân hạnh đón đến bốn cái Tết mỗi năm là vậy.

*

Thế hệ trẻ con chúng tôi hưởng sái tinh thần mở ấy.

Lạ là tôi chưa lần nào thấy cha đi Tết. Cha ít được vui như mẹ, dù cha rất vô tư, mẹ hay la cha thế. Cha luôn ngủ ngon để hôm sau ra đồng sớm. Cha không văn nghệ, mẹ thì ưa nói chữ. Mẹ khoe mẹ học sáng. Khi có chuyện mắng chị Hai, mẹ thích đem vụ học sáng ấy ra dạy. Dân quê Chăm thuở đó ai biết chữ quốc ngữ đâu. Mãi đến thời Ngô Đình Diệm, ngoài vụ cấm Chăm mặc váy với vài thứ phong tục tập quán dân tộc, ông còn lệnh buộc tất cả công dân tối phải xách đèn theo lớp bình dân học vụ. Mẹ nói mẹ học
sáng nhất lớp.

Sau này khi có gia đình, quen biết và kết thân với nhiều bạn bè Kinh đủ lứa tuổi, tôi nhiều dịp Tết Kinh. Ông Thả ở Hải Sơn bạn vong niên tôi thuở nhà tôi làm rau muống xuống xóm biển nhờ ông sắm thuyền thúng. Mười năm và mãi lúc này, tình cảm hai bên vẫn khắng khít. Rồi ông Mười – Long Bình, bạn và là sư phụ câu của tôi. Ông với đứa con trai mỗi sáng sớm vác cần câu lội khắp mấy vùng sông nước mà mấy bạn tôi đùa không khác gì thầy trò Don Quichotte! Đi Tết mấy nhà này thì khỏi nói: ngon, no và vui vẻ.

Đấy là nói Tết nhà quê. Tết thành phố thì khác.

Ba mươi năm sau, tôi đèo Hani trên chiếc xe đạp cà tàng hơn mươi cây số qua ăn Tết nhà ông bạn tại Bình Chánh. Vẫn mâm cỗ đầy, hấp dẫn nhưng, chủ nhà chỉ dọn lên mà không mời khách. Lạ quá. Năm trước đó, tại nhà bạn văn ở Bình Thạnh “ăn Tết” cũng hệt vậy. Anh chỉ đãi vài chung rượu (rượu Tây, dĩ nhiên) với ít bánh mứt. Cả lời chúc tụng nữa. Ngoài ra: không gì cả! Bụng đói meo. Lẽ nào mình nhắc vở. Bà xã liếc mình mấy lượt, cười nhăn nhó.

Hay Tết ở thành phố nó thế? Hèn gì, Tết là mọi người đổ xô về quê.

Cứ nhớ cái Tết nhà quê. Có dựng nêu, có ngồi canh xoong bánh tét,… Và nhất là, có rất nhiều màu áo mới.

Inrasara (Trong Những mảnh đời chắp vá)

Ba Đào

Ngôi nhà tôi cần tìm nằm sâu trong một ngõ nhỏ, hai bên đường mướt xanh những tán lá, mùi hương thoang thoảng của hoa và quả chín như ướp vào mũi, cho tôi một cảm giác thật dễ chịu, một cảm giác nhẹ nhàng thư thái. Một khoảng không gian bình yên, tĩnh lặng, tách biệt khỏi khu đô thị ồn ào náo nhiệt tiếng xe cộ gần như suốt ngày đêm chỉ độ mươi cây số là cùng. Phải chăng vì thế mà Trọng Đình chọn làm chốn lui về ? Một cái tin bất ngờ gây nhiều tranh cãi trong giới anh em “bán chữ” chúng tôi. Một cặp từ vừa có tính khôi hài vừa có tính tự trào mà vui miệng chúng tôi tự gán cho cái nghiệp của mình. Có người cho là châm biếm, mỉa mai, cũng được, có sao đâu khi một vấn đề có thể nhìn từ nhiều góc độ, cũng như chuyện của anh Trọng Đình vậy. Những thông tin từ nhiều phía không làm tôi bận tâm là mấy, vì thừa hiểu tính hành lang của nó, điều chủ yếu là nguyên do của những thông tin. Trọng Đình là bậc đàn anh của lớp trẻ chúng tôi, nều muốn tôn xưng hơn nữa thì phải gọi anh là “Thầy”, nhưng anh không thích danh xưng này, nghe vừa xa cách vừa kiêu mạn. Vốn theo đuổi cái nghiệp gian nan này từ nhỏ, anh đã phải trải qua không biết bao là trở ngại. Ai cũng biết, nghệ sĩ là người chỉ muốn sống cho cái đẹp, chỉ muốn góp hết sức mình cho những giá trị tinh thần của cuộc sống, và chính vì thế gần như đối lập hoàn toàn với kinh tế, mặc dầu vẫn luôn phải phụ thuộc vào nó. Cái nghiệp văn chương lại là thứ đeo đẳng bám riết như nợ nần, người cầm bút cứ muốn trải hết lòng mình ra giấy, bởi cuộc sống chung quanh luôn có những điều trăn trở. Đó là tâm tư của những người cầm bút chân chính. Trọng Đình là một người như thế. Văn và báo chiếm cả hai tay, cuộc sống gia đình không mấy khi dư dả, nhưng nếu ai bảo đổi cây bút để lấy một thứ có giá trị vật chất thì không bao giờ. Anh thường nói “Văn chương là chiếc cầu nối tình người. Chúng ta đem rao bán cái nhân tình, thì chúng ta phải biết biểu thị cái nhân tình của chính chúng ta trước đã. Đừng có viết một đàng, xử sự một nẻo. Tất cả sẽ chỉ là sự vô nghĩa, sáo rỗng khi bản thân chúng ta không là một thực nghiệm. Viết – Trước hết là Sống đã”. Đại loại là những lời rất tâm rất tình của anh mỗi khi có dịp trò chuyện với chúng tôi. Một vài tay trong số chúng tôi có được chút tên tuổi ngày nay là cũng nhờ công dìu dắt của anh. Và quả thật, anh không hề có sự mưu cầu hay tư lợi những cái được cho mình. Dù lớn hay nhỏ, anh đều muốn có sự minh bạch, thẳng thắn, vì thế mà người ưa anh cũng nhiều, người ghét anh cũng lắm. Chẳng sao cả, ở đời chuyện yêu ghét là thường tình, chỉ cần mình không thẹn với lương tâm là đủ. Vậy đó, thế mà không hiểu sao, sau một chuyến công tác dài ngày ở Hà Nội về, tôi nghe nói anh tuyên bố gác bút. Rõ là một điều khó tin, nếu không phải là thật , thì ai ? và vì lý do gì mà tung ra cái tin ấy ? Còn nếu là thật, thì phải có chuyện gì ghê gớm nghiêm trọng lắm xảy ra, anh mới có một động thái gay gắt như vây. Bởi nếu phải từ bỏ một niềm đam mê đã thấm lậm vào tận máu thịt, thì chẳng khác nào người ta phải từ bỏ cuộc sống của mình.

Muốn rõ đầu đuôi, chỉ có một cách tìm gặp anh, xem anh có dốc bầu tâm sự. Tôi lại càng nghĩ ngợi hơn nữa khi hỏi toà soạn nơi anh làm việc, thì nghe nói anh vắng mặt cả nửa tháng nay rồi. Đến chỗ nhà anh vẫn ở thì họ bảo anh đã dọn đi. Chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra cả. Tìm hỏi lung tung, cuối cùng tôi nghe được, hình như gia đình anh chuyển về khu này. Hình như cũng được, ít ra cũng có một mấu chốt. Hỏi thăm mấy người tôi mới đến trước ngôi nhà nho nhỏ này. Gọi là nho nhỏ vì nó lọt thỏm giữa mấy cái nhà xây cao ráo đẹp đẽ bên cạnh. Một ngôi nhà ván, lợp tôn, loại nhà phổ biến của những người có thu nhập thấp. Không biết có phải…

Còn đang nghiêng ngó, tôi chợt giật mình vì một tiếng sủa oăng oắc, chú khuyển bé mình mà lớn họng, dường như chú muốn tỏ rõ cái oai phong của chủ nhà, bốn chân choãi ra lấy thế, cái mõm cứ chõ thẳng vào mặt khách chả biết lịch sự là gì. Tôi bật cười, con vật cũng biết ra trò khẩu khí nữa là. Thoáng thấy bóng người đi ra, tôi reo thầm trong cổ họng “Đúng rồi” Còn lẫn vào đâu được cái dáng ôm ốm, ngăm ngăm cao vừa phải. Anh chợt cười rộng miệng khi nhận ra tôi :

_ A , Phố hả ? Về bao giờ thế ?
_ Em về mấy ngày rồi, hỏi thăm mãi mới tìm được anh ở đây.
_ Ừ anh mới chuyển về đây, còn nhiều anh em chưa biết. Vào đi, sao chuyến đi gặt hái được nhiều chứ ?
_ Dạ cũng gọi là có cái để bày mâm dọn chén.
_ Chà, ghê nhỉ. Chú đi cũng cả tháng đấy nhỉ ?
_ Vâng, hơn mấy ngày anh ạ.

Tôi theo chân anh vào nhà, gian nhà không bao lớn, một phòng khách, một phòng ngủ và bếp, nhưng trông gọn ghẽ, giản dị. Anh chỉ bộ bàn ghế mây :

_ Ngồi đấy đi, đợi anh một tí. Lương ơi, đi mua cho bố cút rượu đi con.
_ Thôi anh ạ, em có đem về cho anh chai Lệ Mật đây.
_ Thứ đó để uống lúc khác, bây giờ uống rượu nút lá chuối khô thú hơn.

Nghĩa là cuộc rượu chiều nay ít nhất cũng kéo dài đến tối, không sao , đó lại là điều tôi đang muốn. Anh đi xuống bếp, tôi ngồi lại ngắm quanh. Trên hai vách tường đối diện nhau là hai bức tranh cũng có sắc độ tương phản nhưng trông lại rất hòa hợp. Một là cảnh một dãy núi cao với những lô xô bóng cây to rậm rạp, điểm thêm những dáng chim đang sải cánh, một là giữa đại dương mênh mông, một con tàu với cột khói to phăm phăm rẽ sóng, lác đác trong khối màu xanh ngăn ngắt là lấm chấm những hình đầu cá, đuôi cá. Cả hai bức tranh đều biểu thị một sự mạnh mẽ, hùng vĩ và khoáng đạt. Thiên nhiên luôn đem đến cho con người những cảm giác có ích. Hẳn bất kỳ ai đứng trước khung cảnh này cũng đều dậy lên trong mình một xúc cảm mạnh mẽ vững chãi.

Những đồ vật khác trong gian phòng đều được kê xếp gọn ghẽ hợp lý, chừa ra một khoảng không gian đủ để tạo được một cảm giác hít thở nhẹ nhõm.

Anh đi lên với cái khay trên tay, hai cái ly nhỏ, hai đôi đũa, một cái đĩa và một chén con. Thằng bé Lương cũng vừa về tới, tôi đứng lên đón những thứ mà hai bố con đang mang đến. Anh đổ ra đĩa gói gỏi mít, và túi nước chấm ra cái chén con. Vừa làm anh vừa nói :

_ Cao lương mỹ vị ngon đến thế nào thì mình không biết, chứ tớ là tớ mê những món ăn dân dã này nhất. Vừa hợp khẩu vị, vừa hợp cả túi mình.
_ Anh không thấy khối món dân dã giờ trở thành đặc sản cao cấp ở những nhà hàng đó sao. Dân dã nhưng nó mang đậm phong vị người mình, thực ra miếng ngon đâu ở chỗ đắt tiền, chỉ là khi ta ăn ta cảm thấy nó ngon, vì nó hợp với khẩu vị mình, chứ có đắt mấy mà mình không cảm thấy ngon thì cũng bằng vô nhghĩa.
_ Ừ, chú nói phải. Nhưng có một điều thật vô lý là, đôi khi dù người ta không cảm thấy ngon, nhưng cũng bỏ hàng đống tiền ra mà mua nó, rồi cuối cùng đổ tháo cả đi.
_ Đó đâu phải là người ta mua cho mình một món ăn, họ đang mua một ý đồ , một mục đích khác đó chứ. Và khi đổ đi thì họ cũng chẳng biết tiếc đâu, bởi vì thứ nhất là họ không phải mua nó bằng chính đồng tiền mồ hôi nuớc mắt, thứ hai là khi họ đã đạt được điều họ muốn qua lối dẫn của nó thì coi như nó đã hoàn thành nhiệm vụ rồi, tiếc làm chi cho hao ca lo.

Anh cười hà hà :

_ Dạo này chú mày cũng miệng lưỡi ghê nhỉ.
_ Người ta chỉ đi có một ngày đàng, đã có thể học được cả sàng khôn, huống là em đi ngược đi xuôi quanh năm suốt tháng lại không nhét được tí gì vào cái hộp sọ này thì chết dấp đi cho rồi.
_ Nào nâng ly cạn cho một buổi chiều lý thú, nào…

Chạm nhẹ hai cái ly, tôi nhấp một ngụm, ngậm ngậm một chút ở đầu lưỡi để nghe vị cay nồng, thấm đậm lan dần xuống cổ, làm thêm ngụm nữa, hết một ly, tôi nghe nóng ra hết cả người, cảm giác bao mạch máu mình đang giãn nở và tuần hoàn. Tôi khà một tiếng khoan khoái :

_ Đúng là “Cố sanh vi đắc” (Thực chất vẫn tốt hơn)
_ Anh đã nói mà, ba cái rượu đóng chai vớ vẩn sao qua được thứ này. Nhà này họ nấu rượu mấy đời rồi, thuần gạo, không pha phách gì cả. Lúc đầu nghe giới thiệu, anh chưa tin, sau uống thử, quả đúng thế nên nghiện luôn.
_ Những nơi sản xuất nhỏ lẻ mà giữ được uy tín lâu dài vậy là rất hiếm, nói không phải vơ cả chứ nhiều người chỉ đầu voi đuôi chuột, làm gì cũng chỉ được lúc đầu, có tiếng rồi lại ham lãi lớn đâm làm ẩu.
_ Hạng người ấy là hạng nông nổi, ăn xổi ở thì, bất kỳ một hoạt động nào trong xã hội, nếu muốn tồn tại lâu dài đều phải cần có uy tín. Làm mất uy tín cũng có nghĩa là tự hại chính mình. Lại uổng cả bao công sức gây dựng.
_ Đáng buồn là ở chỗ thường có rất nhiều người chỉ nghĩ đến cái lợi nhất thời, có thôi thì cũng đã vơ đẫy một mớ rồi.
_ Chính những ý nghĩ hạn hẹp ấy mà nhiều khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả một cộng đồng. Hiện nay đất nước đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập, chỉ cần một thành phần nào đó không biết giữ chữ tín là có thể làm chậm bước tiến của cả dân tộc.
_ Mình nói thế, một số người cứ cho là mình đao to búa lớn, thổi phồng vấn đề, chứ họ đâu có nghĩ mọi sự đều bắt nguồn từ những nhỏ nhặt nhất. À mà thôi, bây giờ không nói chuyện thiên hạ nữa, nói chuyện mình đi anh.

Tôi đột ngột chuyển đề tài khi chợt nhớ ra mục đích chính của mình. Anh gắp một gắp gỏi vào bát tôi rồi cười khà :

_ Thì cứ từ từ đã, có người rồi khắc có ta, từ chuyện thiên hạ đến chuyện nhà có xa xôi gì.
_ Nghe bọn họ nói đông tây lung tung cả, em sốt ruột chẳng biết thực hư ra sao. Anh cho em biết đi, chuyện xảy ra thế nào.
Anh cười kiểu không tròn vành môi :
_ Mình thấp cơ kém cánh, không đủ tài đối chọi với thiên hạ thì lo tìm đường tìm nẻo mà cuốn xéo đi chứ sao.
_ Này cái giọng mát mẻ, thẽ thọt như dao giấu lưỡi ở đâu ra đấy, đem đổi kiểu “xung hổ xổ toẹt” lấy nó à ?
_ Ngẫm mới thấy mình dại, vô cùng dại khi cứ mang phơi hết ruột ra. đã chẳng lấy lòng được ông to bà lớn nào lại dễ bị ăn đòn, cứ thơn thớt mà ăn người lại hóa hay.
_ Anh tưởng muốn mà được à, cha mẹ sinh ra cái thân ta, ông trời ghép cho ta cái tính cách, có hay có dở thì cũng chết rứa rồi, thay mô được . Mà thế mới là mình chứ.
_ Nhưng người ta khôn nên biết liệu thế mà đi với ma với bụt. Mình thì chẳng biết quẹo cua thế nào, cứ thẳng thừng thừng mà bước, có khi đâm sầm vào đá rồi mới biết đau.
_ Ở đời biết thế nào là khôn là dại hở anh ? Nhiều khi cứ tưởng mình khôn lắm, đến chừng cái trí khôn nó đột nhiên thức giấc mới biết mình đã từng ngu ngốc đến thế nào. Mà anh coi em là ma hay bụt, sao lại nói cái giọng ấy ?
_ Cái loại như chú mày mới là đáng sợ đấy “Rành rành thì ra bụt, thậm thụt lại ra ma”

Tôi bật cười, biết anh đang mượn tôi để ám chỉ ai đấy :

_ Ừ thôi, bụt bụt ma ma gì cũng được, anh kể tiếp đi.

Trọng Đình sửa lại thế ngồi, nét mặt anh nghiêm hẳn lại :

_ Anh hỏi chú, nếu để được tồn tại mà phải bẻ cong ngòi nút, chú có làm được không ?
_ Không, dứt khoát là không ? Thà bỏ bút, chứ không bẻ bút.
Tôi nói ngay, anh gật gù rồi tiếp :

_ Vừa rồi anh có làm cái phóng sự, phóng sự này đã ngốn rất nhiều thời gian truy tìm tư liệu của anh , mà mức độ thì không thể xem nhẹ. Nó lại đụng chạm đến một số tai mặt. Thế nhưng nó được lệnh đình in, với lý do lấp lửng “Có đôi chỗ cần xem lại”. Lúc đầu anh chưa nghĩ là nó có vấn đề, sau nhận được gợi ý là nên sửa sang lại một chút, mà những điểm phải sửa lại là những chi tiết then chốt của sự vụ. Anh nhất quyết không chịu. Ngay sau đó, nhận được vài cú phôn hăm dọa, đồng thời hứa hẹn một con số đáng kể. Đương nhiên những chiêu thức đó không có tác dụng với anh . Cuối cùng, cũng có kẻ ra mặt lăm le một cái mũ trên đầu.Còn lạ gì tiếng Việt mình phong phú và giàu có, một chữ hai ba nghĩa, hoặc hai ba chữ một nghĩa, khi đã cố tình thì đánh lệch ý chính của nó đi chẳng khó khăn gì. Tất nhiên là anh phải phản ứng, chúng nhân đó ghép anh vào thế, hòng gây sức ép để ỉm chuyện kia đi. Cậy thế cậy quyền, đập bàn vỗ ghế, Đáng nói nhất là trong đó có những tên tuổi xưa nay vẫn tự cho mình là dân trí thức. Thế mà chẳng phân biệt được đúng sai thế nào.
_ Anh à, trí thức cũng năm bảy đường trí thức, có thứ trí thức vay, văn hóa mượn, bằng cấp mua, đâu cứ phải dán cái mác trí thức vào là đã thành người hiểu biết đâu. Anh có lạ gì cái loại ấy.

_ Đúng chẳng lạ gì, nhưng nó lại có cơ hội trèo lên đầu lên cổ mình mới ức chứ. Anh cũng chẳng chịu thua đâu, khi cái phóng sự ấy chình ình trên mặt một tờ báo khác, thì cũng là lúc anh nhận quyết định thôi việc. Thừa biết đó là việc sẽ đến, anh cũng chẳng tiếc nuối gì một nơi không thuộc về mình. Muốn thì chẳng thiếu gì cách. Chứ vì miếng sống mà phải khom lưng cho bọn làm đủ cách để có được “ghế trên ngồi tót…” rồi ra “sỗ sàng” với mình thì không được.

Đến đây thì tôi đã hiểu tính chất của câu chuyện là gì. Buồn cho cái lề thói người đời, sao họ lắm thủ đoạn để mưu cầu lợi lộc, để che giấu bưng bít những xấu xa bỉ ổi của mình thế nhỉ ?

_ Đó là một vấn nạn không chỉ ở một góc một khóm nào anh ạ, anh thấy không,cứ vụ nào đưa ra tòa là toàn bao nhiêu tỷ lòi ra. Mà đã không tư cách, không thực lực, thì lại giỏi lẹo lươn bao biện. Không biết đến bao giờ mới hết được cái bọn làm nghèo đất nước ấy.
_ Giá như trên sân cỏ ấy nhỉ, có một ông trọng tài công minh, hai thẻ vàng là thành thẻ đỏ để mà tiêu trừ những loại sâu mọt ấy đi. Miệng thì thơn thớt “Vị nghệ thuật, vị nhân sinh” nhưng tuồng một lũ vị kỷ cả.
_ Thì nghệ thuật của chúng là ở chỗ đó đó. Khờ khạo như anh em mình sao biết cách thụi vào lưng nhau mà mặt cứ tươi như hoa được. Nhưng mà anh yên tâm đi, luật đời cũng công bằng lắm, có sự trừng phạt cả đấy. Đừng tưởng cứ nuốt trôi họng là tha hồ vênh vang, không đâu, ăn một nhả mười, thậm chí là trăm là ngàn nữa kia. Mà đã đến lúc nhả thì tận cùng vận hạn, có hối cũng chẳng kịp nữa. Mình cứ chịu khó sống khờ sống ngốc đi anh ạ, để con cháu mình còn được yên thân mà hưởng phước, chứ cứ khôn ngoan cho lắm vào rồi đời sau phải gánh bao nghiệp oan trái, tội cho chúng nó.
_ Chú mày giỏi, hôm nay anh mơi công nhận là chú mày giỏi. Nào cạn chứ.

Đợi cho men rượu tan trong cổ họng, tôi mới tiếp :

_ Nói đến vấn nạn của xã hội thì không bao giờ dứt được, kiểu này nó đẻ ra kiểu khác, kiểu sau bao giờ cũng tinh vi hơn kiểu trước, mình không làm được gì nhiều thì cũng phải cố góp chút công sức mà phanh phui mà ngăn chận, chứ đừng lùi bước anh ạ.
_ Ai bảo chú là anh lùi bước ?
_ Em nghe họ bảo anh tuyên bố gác bút !
_ Chú tin à ?
_ Không tin thì em mới tìm gặp anh cho được đấy chứ.
_ Anh mà bỏ bút thì chú mày cũng đi tu.

Tôi cười nhẹ nhõm :

_ Có thế chứ. Nhưng mà anh tưởng đi tu là yên thân à, không đâu , đó cũng là một tiểu xã hội, cũng không thiếu những thói tật thường tình đâu, cơ bản vẫn là do khí chất của con người thôi anh ạ.
_ Chuyện trâu lành trâu ngã ấy mà, kể gì. Hơi đâu mà nệ cái dư luận. Có một sự trùng lặp là, cũng trong thời điểm đó thì anh lo mua cái nhà này, bao năm rồi chung chạ trong gia đình, chật hẹp tù túng, chắt bóp, tom góp cũng tàm tạm một chút này, không bì được với ai, nhưng là cái chốn của riêng mình là tốt rồi.
_ Em thấy khung cảnh ở đây cũng dễ chịu. Chúc mừng anh.
_ Nào , mừng thì phải cạn chứ.

Tiếng thủy tinh va vào nhau nghe vui tai, anh tợp xong một ngụm thì đổi giọng nghê nga “Nghiêng vai vì nghiệp ba đào. Ba đào mấy cũng…chứ ư bôn đào…thì à không…a…”

Cả hai chúng tôi cùng cười vang. Vừa lúc ấy vợ anh về, chị vui vẻ góp :

_ Hai anh em có gì mà cười vui thế ?

Đàm Lan

Viết cho những mảnh ký ức cuối năm…

Đó là một buổi chiều cuối năm, sau khi dọn dẹp xong nhà cửa, tôi ngồi trước máy tính nghe Lillian Bùi, một cô gái người Việt sống ở Mỹ có khuôn mặt bầu bĩnh, ôm cây đàn ghi ta và hát trên Youtube bài hát do cô tự viết lời và phổ nhạc.

You can’t go back to childhood
The road doesn’t go that way
It’s overgrown with brush and woods
The gates are locked, decayed…

(Tạm dịch:
Anh chẳng thể nào về lại ấu thơ đâu
Con đường không dẫn về phía ấy
Giữa um tùm bụi rậm và rừng cây
Cánh cổng xưa khóa kín rồi, đổ nát)

Giọng hát và giai điệu mộc mạc ấy ngay lập tức đưa tôi về những ngày xưa. Phải, cô gái ạ, tuổi thơ của chúng ta chỉ đến một lần trong đời. Và từ đó trở đi, ta sẽ nhớ về nó mãi, nhớ về nó rất nhiều lần trong suốt quãng đời còn lại. Tôi biết mình chẳng thể quay lại nữa, nhưng xin đừng ngăn cản tôi nhớ nhung.

Những ngày xưa tươi đẹp đã đi qua. Những điều gần gũi như cái chợ gần xóm cũ, mùi của những cọng rau ngày còn bé, thiên nhiên trong trẻo chung quanh và cả mối tình thơ dại nào đó. Nó dệt nên tuổi thơ của ta.

Cuộc đời của chúng ta cơ hồ được ghép bởi những mảnh ký ức. Chính thế, những mảnh ký ức vỡ làm nên đời ta. Những kỷ niệm êm đềm và thơm ngát như ngọn gió mùa xuân thổi qua thềm nhà buổi chiều xa xưa nào. Một mối tình dang dở. Một nụ hôn chưa kịp trao. Cái nắm tay vội vàng. Một sai lầm không thể cứu vãn. Một tổn thương ta gây ra cho ai đó, hoặc ai đó gây ra cho ta. Những mảnh vỡ của ký ức, đôi khi nhọn hoắt, đôi khi nát vụn…vẫn trở về với tôi hoài vào những chiều cuối năm.

Khoảng khắc đó, tôi có thói quen ngồi xuống một nơi yên tĩnh, và nhâm nhi “chiếc bánh Madeleine”(*) của đời mình, và cố lắp lại những mảnh vỡ đó…Chiếc bánh Madeleine của bạn là gì? Điều gì có thể đưa bạn trở lại ngày xưa? Với tôi đó là món ăn mẹ nấu như hồi bé thơ. Cuốn album cũ. Con đường cũ. Người bạn cũ. Một món đồ chơi cũ…

Tôi quen một người bạn. Anh thường ra phố Lê Công Kiều mua đồ cổ. Thật ra anh chẳng mua thứ gì đắt đỏ vì anh không có nhiều tiền. Anh chỉ mua những chiếc tô gấm chiết yêu vẽ xanh trắng. Anh chất từng chồng trong phòng mình. Tôi những tưởng anh mê lắm. Nhưng không, anh mua vì nhớ mẹ. Anh mua vì lúc anh còn nhỏ, gia đình còn nghèo, mẹ anh được ai đó tặng cho hai cái tô gấm và mấy cái chén sứ xanh trắng. Mẹ anh quý lắm. Anh nhớ, chỉ những ngày Tết, mẹ mới cho hai anh em anh ăn cháo gà trong chiếc tô gấm trong bữa cơm ngày Ba mươi.

Rồi chiến tranh. Những món đồ sứ ít ỏi đó mẹ anh không giữ được. Và bà tiếc mãi, tiếc mãi…cho đến ngày ra đi. Anh nhớ mẹ, anh nhớ những buổi tối giao thừa sau khi dọn dẹp xong, anh ngồi nép bên mình mẹ nhìn mẹ anh lau sạch những chiếc chén xanh trắng tinh xảo và trầm trồ mãi. Và từ đó, dành dụm số tiền lương còm, anh mê mải tìm mua lại chút tuổi thơ xưa.

Tôi vẫn sống ở nơi mình từng sinh ra. Nhưng những hình ảnh cũ xưa đã không còn nữa. Cái giếng nước cũ. Hàng rào bông bụp đỏ. Tôi nhớ chúng. Những trái táo gai chua và xanh hái trên cây trong cái sân nhỏ trước nhà ở Phú Nhuận. Những trái mận từ nhà hàng xóm. Đôi khi, tôi nhớ tuổi thơ nên đi bộ ra đầu hẻm. Ngôi nhà đóng kín cửa. Tôi bấm chuông xin vào, chỉ để nhón chân lên hái một chùm mận. Bà cụ mỉm cười. Tôi cũng mỉm cười. Đôi khi, tôi đứng lại bên một bức tường, và nhặt lên một trái mận rơi. Những trái mận trong vườn, trái hồng nhạt và nhỏ, thật nhiều hạt. Tôi nhớ những cái hạt của trái mận biết bao nhiêu. Cuộc đời lạ lùng đến thế, chỉ là những hạt mận, vậy mà cơ hồ không còn thấy được bao nhiêu nữa. Nói gì bãi bể nương dâu…

Đôi lúc, tôi tin rằng dăm khoảnh khắc tìm lại tuổi thơ trong những ngày năm cùng tháng tận ấy đã trao lại cho tôi nguồn năng lượng mạnh mẽ, đến nỗi có thể giúp tôi vượt qua rất nhiều ngày khó khăn của thời gian còn lại trong một năm.

Cũng như những khoảnh khắc ta cuống quýt trở về nhà để đón Giao thừa vậy… Đó là thời khắc ta biết mình sắp mất một cái gì đó mơ hồ. Cái cảm giác ấy thật hoang mang. Đầy tiếc nuối, đầy hy vọng và cũng đầy nghi ngại. Tôi vẫn nghĩ về thời khắc giao thừa giống như một cánh cửa thời gian. Lật qua, lật lại. Đứng ở đó, ngay trước bàn thờ ông Thiên. Cỗ máy thời gian sẽ đưa ta đến một nơi khác. Biết đâu là ngày xưa…

Về nhà đi em. Sắp giao thừa rồi đó…Nhiều người bảo rằng chỉ thực sự thấy được không khí ngày Tết khi về ngôi nhà của mình dù nó có nhỏ bé thế nào…Về nhà đi. Ngồi xuống chiếc ghế ấm cúng thân quen này và nhâm nhi một “chiếc bánh Madeleine”. Rồi giao thừa sẽ đưa ta trở về tuổi thơ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng vừa đủ để xoa dịu những tổn thương của chính ta. Để tha thứ cho những lỗi lầm của ta. Để làm thanh sạch trái tim ta lần nữa. Để tìm lại bình yên.

Nếu bạn không cảm thấy bình yên khi nhớ về thời thơ ấu, thì chẳng có tháng ngày nào nữa trong cuộc đời bạn có thể cảm thấy bình yên.

Đông Vy và Phạm Công Luận

(*)Madeleine là loại bánh bông lan mềm hình con sò xuất xứ từ Pháp, nhẹ, xốp, có vị béo thơm. Trong tác phẩm “Đi Tìm Thời Gian Đánh Mất” , Marcel Proust kể lại một buổi chiều đông rét mướt, khi bị nhuốm lạnh, tác giả nhấp một ngụm nước trà hòa với những mảnh vụn của một chiếc bánh “madeleine” để sưởi ấm người. Và hương vị của chiếc bánh thuở ấu thời đã đột ngột đánh thức những ký ức và cảm xúc thầm kín, đưa ông trở về quá khứ đi “tìm thời gian đánh mất”

Cho hay là giống hữu tình

Ca dao là bằng chứng thuyết phục về đời sống tình cảm phong phú của người bình dân. Có thể điểm danh điểm diện một số phương diện tình cảm đó.
Là nhân hậu ân tình.
Là thương cảm sẻ chia
Là nặng tình nặng nghĩa.
Và được xem như là thống soái trong ứng xử tình cảm bình dân là rất mực thủy chung.

Như cây đa chờ mãi khách bộ hành.
Như bến vắng chờ con thuyền rong ruổi

Và trong ta dậy lên một cảm thương trân quí cho những vẻ đẹp truyền thống.

Và như một phản xạ có điều kiện, người ta thường khước từ những vỉa tình cảm trái
ngược. Người ta thế, và tôi cũng thế.

Ấy vậy mà có một ngày tâm trí tôi cứ tưng tửng, tưng tửng, ấy là khi tư tưởng mô phạm vững chãi trong tôi chạm nảy lửa vào một câu ca dao dị dạng:

Đa tình thì vướng nợ tình
Trách người đã vậy, trách mình sao đang

Ô hay! Cái môi trường đã giáo dục chọn lọc cái tình thủy chung, đã tỉa sửa bằng hết những gì tà vạy lại ngang nhiên nảy nòi ông ổng một câu hát đa tình. Mà hấp dẫn và cám dỗ đáo để. Mà cam đoan rằng bất cứ cái người hiện đại nào cũng gặp mình trong cái tình ca dao ngót chừng vài trăm niên kỉ ấy.

Tôi cũng nghênh ngang nhận mình là giống đa tình (!) nên lại càng đồng cảm mà trân trọng lắm. Rồi băn khoăn dò tìm xem cái giống tình đi lạc đi loài ấy có kịp mọc lên thành vườn thành vỉa trong vườn ca dao xưa không.

Thật bất ngờ, cái mà tôi gặp được nếu không là phổ biến thì cũng đã không chịu dấu mình đơn lẻ.

Này là lời trách cứ người bắt cá hai tay:

Đa tình chi rứa hở trăng
Nửa treo núi nọ, nửa giằng sông kia.

Đích thị là mày đa tình rồi nhé!

Rồi sau hai đơn vị đại diện chính danh đầy can đảm ấy là đôi nét đồng dạng, tuy chưa kịp chính danh, tuy còn núp bóng dấu mình.

Là cái đèo bòng:

Anh đà có vợ thời thôi
Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang!

Lời trách không khỏi giấu một chút nao nao. Và lời đáp cũng táo tợn nghệ sĩ:
Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương.
Đáng chú ý là đôi ba lời hát ghẹo, khó có thể khen ở cái tình chung thủy, vậy mà đâu chỉ một hai lần đôi ba người ngâm nga thích thú.

Chanh chua quýt ngọt bòng the
Thấy em còn nhỏ anh ve để dành.

*
Yêu em từ thuở trong nôi
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru.

Có lẽ cái chuyện những câu hát đa tình này manh nha từ hồi người viết phải trao đổi với học trò về một ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm:

Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quí công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu.

( Trích trường ca “ Mặt đường khát vọng”)

Và kết luận bắt buộc cho các lời giảng của các nhà giáo rằng đó là nhân dân thủy chung ( Yêu em từ thuở trong nôi ), quí trọng tình nghĩa ( quí công cầm vàng ), và quyết liệt dữ dội với kẻ thù ( đi trả thù mà không sợ dài lâu ).

Tôi băn khoăn mãi. Chao ôi, yêu em từ thuở trong nôi là thủy chung ư? Một thủy chung thật tội lỗi, đáng bỏ tù từ sáu tháng đến ba năm! Có chăng là cái đa mang được nói quá lên một chút. Vậy sao lại cứ cố tình gán ghép cái đa tình thành cái chung tình?

Phải chăng vì trong thẩm định đạo đức thì cái đa tình là cái phi chuẩn mực cần phê phán mà cái chung tình là phẩm chất đáng tuyên dương? Và vì vậy nên lộng giả thành chơn, và cái câu ca kia nghiễm nhiên được phong tặng cho cái phẩm chất mình không có, và bù lại bị tước đi cái mình vốn có.

Đành rằng thủy chung là phẩm chất , nhưng sự lên án thái quá với những đa mang là có nên chăng?

Hãy xem thái độ của người bình dân, với cái đa tình, họ ít nhiều trách móc, mà chưa có lời kết tội! Thì trách người đã vậy trách mình sao đang ( sao đành ) mà!

Nghe cứ như một khoan dung tòng phạm!

Và tôi âm thầm xem cái ý táo bạo kia cũng là phẩm chất của những người làm ra ca dao.
Chung tình là phẩm chất của nhân dân.
Mà đa tình là phẩm chất của nhân dân nghệ sĩ!
Nói thế tôi đâm lo quá! Khéo không khách quan, khéo lại bào hao bào chữa cho mình!
Mà may thay, lúc bí đàng bí lối, sắp đánh nước bài liều, lại vớ đâu được một tứ khá hay của một nhà thơ có tên tuổi:

Xem qua truyện cổ nước mình
Rất nhân hậu, lại đa tình đa mang.

Đó là kết luận của Phan Thị Thanh Nhàn. Thôi thì mời chị Nhàn đi trước gánh búa rìu dư luận, ai bảo chị liều lĩnh dám bảo dân ta đa tình đa mang trước!

Lại còn có một nhà thơ nữa, còn liều hơn cả chị Nhàn, khi dám tự nhận mình đích thị đa tình:

Anh đa tình nên cứ muốn lần theo
Xấu hổ gì đâu mà anh dấu diếm
Em muốn làm dâu thì em ở lại…

Phạm Ngọc Cảnh

Yên chí về quan điểm rồi tôi nhé!
Quả là người không biết điều khi thân mình còn chạy tội chưa xong lại lăm le đi nài nỉ gỡ tội cho người khác. Song quả thật tôi có ý đó.Rằng:

Những người làm ra những câu ca dao mộc mạc ấy họ thật nhiều phẩm chất.
Bậy một cái là họ cũng rất đa tình.

Thôi thì vì những cái được kia mà thể tất cho họ cái phần còn khuất tất!


NGUYỄN TẤN ÁI

Xưa ơi

Chiếc xe đang ngon trớn băng băng, đột nhiên rì lại, cứ như có người đằng sau lôi vậy. Sao thế nhỉ ? Lục bục thêm vài tiếng máy nữa rồi tắt hẳn, lại trở chứng rồi. Chắc phải có sự cố gì đây, chứ con chiến mã xưa nay vẫn ngoan ngõan lắm mà. Thuộc lọai cối 86 đời cuối, một thời “kim vàng giọt lệ” lẫy lừng đấy chứ. Đến giờ đã có hơn 10 năm đường trường rong ruổi, nó vẫn chưa hành chủ nó bao giờ, chỉ lặt vặt những lốp ruột, đèn đóm chút thôi, cho dù chẳng được sự chăm sóc của chủ là mấy, thì nó vẫn tận tụy hết khả năng có thể. Có những khuya lơ khuya lắc, chủ nó mải hoang đàng mà buông bỏ đến tận trăng cao mới vỗ yên đạp máy, nó vẫn thầm lặng vượt bao kilomet đường dài mà đem chủ nó về tận chốn yên lành. Hết xăng ? Không phải, mới đổ đầy mà, thôi rồi, nhớt, đích thị, quá cữ thay cả nửa tháng rồi, tiêu, không khéo lột dên đúp-pê rồi quá. Cái cần đạp cứ trượt đi đây này. Làm sao đây nhỉ ? còn phải một đọan xa nữa mới đến chỗ sửa xe quen . Mấy việc này không giao vào tay người lạ được, tuy rằng chưa chắc người quen là đã ưu đãi phần giá cả, nhưng quan trọng là không phải lo chuyện “luộc” phụ tùng, nhất là máy móc từ ngày xuất xưởng đến nay chưa mở ra lần nào.

Mấy anh xe thồ vè vè “xe sao thế ?” “sự cố rồi” “có cần đẩy không ?” “chắc phải vậy thôi , nhờ…” “10 nghìn”. A, lại ngây thơ nữa, đâu ra chữ “nhờ”, ừ mà cũng tốt, còn hơn dắt bộ, cứ dịch vụ hóa cho khỏi bận tâm ơn huệ,“được thôi”. Ro ..ro ..ro ..ro, buồn cười, lần đầu tiên đi nhờ chân người khác, cũng hay hay, xong, sòng phẳng, cảm ơn.

Đúng mà, có sai đâu. Nhìn từng mảnh phụ tùng rã ra từ bụng xe, tôi thở ra ngán ngẩm, thế là phải tốn mất một mớ tiền, một mớ thời gian, cho chừa cái tội hay quên, thay nhớt được từ tuần trước thì có đâu sự thể này. Mà thôi, chuyện gì đã xảy ra rồi mà cứ ngồi nghĩ giá như nó chưa xảy ra thì chỉ tổ nhức đầu. Hãy đi theo diễn tiến của nó, và hãy rán giữ lại một chút gì từ nó, vậy thôi. Cái đầu nó có to tát gì lắm đâu mà bắt nó chứa nhiều thế, thỉnh thỏang cũng phải có một ngày chệch đường ray chứ, không thì mòn mất. Vấn đề là bây giờ phải mượn một cái ghế, mà là ghế tựa cơ, dự báo là phải đến 5,6 tiếng đồng hồ nhão nhề gân cốt, ôi cha cha… Thế mới có cơ hội ngắm đường ngắm phố, ngắm kẻ qua người lại.

Từ ngày rời khỏi cái chốn ngược xuôi khói bụi này, có mấy khi thưởng thức lại hương vị đặc trưng của nó. Cây xanh giờ cũng khá nhiều, con mắt có dịu hơn, nhà cửa cao tầng cũng nhiều , con mắt cũng chật hơn, xe cộ qua lại cũng nhiều, con mắt có mỏi hơn. Bỗng tiếng trống trường bùng bùng, đổ ào ra đường lớp lớp quần xanh áo trắng, tiếng cười khanh khách, tiếng réo gọi nhau, tiếng trêu đùa, chọc ghẹo nhộn nhã cả một quãng đường. Sực nhìn ngôi trường, tôi một khắc ngẩn ra, đó cũng là ngôi trường ngày xưa tôi đã học chứ đâu. Không phải trí nhớ tôi tồi đến thế, mà vì ngôi trường ngày xưa là những lớp học bằng gỗ ván, đã trải qua không biết mấy mươi mùa mưa nắng, để chúng tôi thường nghịch những đốm tròn nhảy nhót trên bàn học, để nép sát vào nhau né gịot mưa dột từ trên mái lỗ chỗ. Từ lúc nào tôi không rõ, ngôi trường đã được xây lại, khang trang, đẹp đẽ. Hai tầng lầu cùng những cây to rợp bóng đã làm biến mất cái hình dáng ọp ẹp, cũ kỹ của trường xưa. Sự phát hiện nhóm lên trong tôi những hồi ức. Một thóang điểm những gương mặt các thầy cô, những gương mặt bạn bè, mà bây giờ chắc cũng không dễ gì nhận ra nhau.

Chợt tôi nghe đau nhói một bên tay, nhìn sực lại, thì ra cảm xúc đã dẫn dắt tôi hòa theo những đừa trẻ vừa tan trường, khiến tôi lơ ngơ trong dạt dào xưa cũ, khiến tôi va vào tay lái của một chiếc honda. “Xin lỗi” Đúng là lỗi của tôi mà, cả gương mặt người ngồi trên xe cùng tôi bỗng nghệch ra “Trọng phải không ?” “Lan phải không ?” Cuộc gặp gỡ đột ngột làm chóang mất một phần đường để giật mình khi nghe “Sao lại nói chuyện giữa đường thế hả ?” Trọng vội lừa lựa bánh xe vào lề. “Trời ơi ! Lâu quá rồi nha”. “Ừ, quá lâu rồi, vậy mà vẫn nhận ra nhau ngay”. “Sao lại không ? Có đến rụng răng bạc tóc vẫn nhận ra mà .” “Lan đi đâu mà ngơ ngơ vậy ?” “Lan đang sửa xe bên kia, bỗng nhận ra đây là trường cũ của mình, tự nhiên mà ngơ ngẩn thế đấy” Trọng nhìn lại ngôi trường “Ừ đúng rồi, bây giờ nó khác quá, có vẻ xa lạ quá” “Mình kiếm quán cà phê ngồi chút đi. Trọng có bận việc gì không ?” Trọng nhìn đồng hồ rồi hỏi lại “Lan sửa xe bao giờ mới xong ?” “Chắc là lâu lắm” “Giờ cũng trưa rồi, về nhà mình đi” “Có tiện không ?” “Có gì mà không tiện, có hai vợ chồng mình với hai đứa nhỏ chứ mấy”. Ừ, vậy cũng được”

Quay lại dặn dò vài câu cho thợ rồi tôi ngồi lên xe Trọng .Vợ Trọng lộ rõ vẻ luống cuống khi bỗng nhiên chồng đưa về một người khách khác giới. Không đợi vợ hỏi, Trọng cười giới thiệu luôn “Đây là chị Lan, bạn học cũ của anh đó, còn đây là vợ mình” Tôi chào xã giao rồi tiếp “Trọng ngày xưa là lớp phó của tụi chị đó em” “Chà, cũng ra vẻ quan chức ghê chị hả ?” “Thì bây giờ không quan à ? Quan to nữa ấy chữ” “Xí quan được thì mẹ con em cũng có phận nhờ, suốt ngày làm long tong cho thiện hạ mà quan với ai” “Thì quan ở mỗi cái nhà này cũng đã tốt lắm rồi chớ bộ” Nghe vợ chồng Trọng nói tôi vừa cười vừa đưa mắt nhìn quanh. Gia cảnh bày ra một mức sống khá kiệm tặn. Ngôi nhà gỗ, có vẻ xem xem trường cũ của chúng tôi ngày xưa, đồ đạc cũng không nhiều nhặn sang cả gì, chỉ gọi là đáp ứng một phần tiện nghi sinh họat.

Vợ Trọng hơi lúng túng khi bê mâm cơm đặt lên cái chiếu đã trải giữa nhà. “Chị thông cảm…” “Ồ không, em đừng ngại, nhà chị thì cũng chỉ thế này thôi mà” “Thật hả chị ?” “Thật đấy, lúc nào em đến nhà chị mà xem .” Trọng xoa tay ngồi xuống “Bạn bè gặp bữa, có gì dùng đó nghe”. “Trọng không biết chứ, lúc nãy mà không gặp Trọng chắc mình thành dân cà lơ phất phơ mất rồi. Phải chờ đến 5,6 tiếng đồng hồ mới xong xe mà” “Nói vậy là bữa nay mình làm ơn làm phước cứu giúp người giữa đàng đó nha” Tôi cười, thấy vợ Trọng để xuống cạnh mâm một cái chai có nước màu trắng đục, rồi nói như phân bua “Ảnh quen rồi chị bữa nào ăn cũng phải có vài ly” “Thì lao động suốt ngày mà, phải có nó để giải mỏi chớ” “Em cho chị xin cái ly” Cả hai vợ chồng nhìn tôi “Thiệt đó, mình cũng sơ sơ được chút ít, bữa nay bạn cũ gặp nhau phải cụng chứ” “Hay, hay quá, vậy là mình có đồng minh rồi, lấy thêm cái ly đi em” “Thời buổi bây giờ mà, phụ nữ biết tới khỏan này đâu phải là lạ” Nói xong, tôi bật cười tự lập lại “Thời buổi…hay chứ nhỉ ! Chỉ hai chữ lửng lơ thế thôi mà người ta cho phép mình khác đi nhiều quá” “Thì mỗi thế hệ đi qua, đời sồng con người lại có thêm một vài thay đổi, cứ ngẫm mình ngày xưa với lũ nhóc tì này bây giờ mà xem, khắc hẳn nhau” “Chúng nó bây giờ khôn hơn chúng mình ngày xưa nhiều, có nhiều thứ để học mà cũng có nhiều thứ để hư, đâu có ngơ ngơ ngáo ngáo như tụi mình ngày đó đâu” “Ngơ ngáo vậy chứ mà mới lớp 9 đã có người biết yêu rồi đó nghe” Nghe Trọng nhắc, tôi phì cười “Yêu cái khi gì, chẳng qua chỉ là thích nhau một chút thôi” “Giờ Giang làm gì hè ?” Nghe nói kinh doanh gì ở Sài Gòn ấy, mà hình như anh chàng hai vợ đó” “Vậy hả ? Cũng đúng thôi, hắn bảnh trai quá mà, không tham uổng. Trọng có biết mình nhớ nhất chuyện gì của thời đi học không ?” “Thời đó thì thiếu gì thứ để nhớ” “Mình nhớ nhất là ngày đầu bước chân vào lớp 9 ấy” “À … nhớ rồi, Trọng cũng nhớ rất rõ hôm ấy” Kỷ niệm đưa chúng tôi về một ngày…

Phải nói rõ về nguồn gốc câu chuyện thì mới rõ vì sao kỷ niệm lại sống lâu trong lòng chúng tôi thế. Đó là vào năm lớp 8, một cô giáo bộ môn bỏ tiết chính của lớp tôi để dạy phụ đạo cho lớp bên cạnh, thế cũng chẳng sao, bởi được nghỉ một tiết thì chúng tôi thích lắm rồi, nhưng cái nòi không học thì phải chơi, mà chơi thì làm sao trật tự được, thế là cô giáo ấy sang mắng chúng tôi, lại còn phê vào sổ đầu bài một điểm O to tướng với lý do lớp không biết tự quản gây mất trật tự chung, ảnh hưởng sự học tập của lớp khác. Oan thì phải ức, vì một điểm O ấy sẽ làm giảm điểm thi đua của lớp với tòan trường, lại thêm bị bêu tên dưới cột cờ vào ngày đầu tuần nữa chứ. Không chịu được việc oan uổng đó, chúng tôi lên tiếng đòi công bằng, to mồm nhất phải kể tôi và anh bạn lớp trưởng. Đã thế, tên cô giáo là Mão, thông minh quá nên cứ thấy cô ở đâu là tôi lại kêu meo meo. Kết quả của sự thông minh đó là tôi ở lại lớp với điểm kém hạnh kiểm, lẽ ra lớp trưởng Võ Tí Hon (Tên thật đấy, không phải do tôi sáng tác đâu, dù anh bạn ấy cao nhất lớp) cũng ở lại lớp với tôi, nhưng sự việc được cho là cán sự lớp thì phải bảo vệ quyền lợi chung. Chỉ có tôi là phải chịu ấm ức.

Cũng cần nói thêm là ngày đó đi học tôi thường chống hai cái nạng, vốn tôi bị sốt bại liệt từ nhỏ, nhờ vào đặc điểm này mà tôi nổi bật giữa tòan trường, được miễn giảm mọi thứ lao động, miễn luôn cả giờ thể dục. Thêm một chi tiết nữa là không ít các cậu bạn khác lớp bị ăn đòn của tôi. Trong lớp tôi, chẳng ai chế giễu sự khuyết tật của tôi cả, nhưng những bạn khác lớp, mà chỉ là các bạn nam, cứ đi ngang trước mặt tôi là ẹo ẹo theo dáng đi của tôi, miệng còn “xi cà gue, xi cà gue”.Tức quá nên tôi phải trả đòn, mặt cứ tỉnh bơ như không, đợi cho các chàng đi đến đúng tầm, tôi giơ nạng vụt cho một cái, kêu trời kêu đất rồi chạy mất, không nữa thì táng cho một cú đá từ cái mũi giày cứng như sắt, lọai giày tật có nẹp sắt cao đến gối. Cũng có lúc thì một số bạn nam cùng lớp tỏ ra bênh vực cho tôi, sau thì hết, chẳng còn ai dám chọc ghẹo tôi nữa. Trở lại chuyện tôi bị lưu ban, vừa buồn vừa nhớ bạn, tôi thường chống nạng đên bên cửa sổ lớp 9 của các bạn tôi mà nhìn vào, không ít các thầy cô quàng tay, ôm tôi dìu về lớp 8. Sau đó, nhà trường xem xét lại sự thể , cộng thêm tác động của hội phụ huynh học sinh, tôi được đưa lên lớp 9 sau một tháng. Hôm ấy, tôi bước chân vào lớp giữa tràng vỗ tay cùng tiếng hò reo của tất cả các bạn hình như lúc ấy tôi rưng rưng nước mắt thì phải.

Nhưng chuyện chưa dừng ở đó. Tiết học đầu tiên với tôi ở lớp 9 ấy là tiết tóan, sau khi giảng một lúc, cô giáo bảo rút ra định nghĩa, tôi lập tức giơ tay, cũng muốn thử sức học của tôi, nên cô giáo chỉ tôi, tôi đứng dậy và đưa ra một định nghĩa chính xác. Trọng đã vỗ tay rất to, vì Trọng giỏi tóan nhất lớp, vì thế mà anh chàng được bầu là lớp phó học tập, còn tôi, thiên về văn hơn, tóan cũng không đến nỗi nào, xong do chưa nắm được kiến thức từ đầu năm mà tôi lại giải đáp đúng, nên Trọng vỗ tay tán thưởng là thế.

Kỷ niệm khiến chúng tôi dạt dào, hai cái ly khẽ cụng vào nhau, chất men nồng thấm sâu vào cổ, vào gan ruột, càng nóng hơn bởi một cảm xúc bồi hồi. Tôi nhìn mái tóc lưa thưa mây trắng của Trọng rồi cười buồn “Bạn tôi ơi ! Xưa bạn giỏi những bài tóan trên trang giấy, sao nay bạn không giỏi những bài tóan cuộc đời ?” Trọng cũng cười buồn “Bởi những bài tóan cuộc dời chúng mình đâu có được học, những đáp số lại gần như không theo một logich hay một lập trình có sẵn. Còn Lan ?” Tôi bảo tôi cũng in được vài quyển sách, Trọng cụng ly chúc mừng “Vậy là bạn cũng đã trở thành một phù thủy trong trò chơi chữ nghĩa đấy nhỉ ?” “Nhưng phù thủy này cũng không ít lần vướng phải cái lưới pháp thuật của chính mình, để rồi cũng thua đến trắng tay” “Trắng tay ?” “Ừ, là bởi cũng như bạn, mình chỉ có thể tô vẽ mọi điều tốt đẹp trên trang giấy, nhiều khi vịn vào nó để đi qua những xót xa trần trụi tình đời”.

Trầm ngâm nhìn nhau, trầm ngâm nhớ về một quãng đời đẹp đẽ, và trầm ngâm nhắc lại từng cái tên, có cái còn gần, có cái đã xa, rất xa, xa tận bên trời Tây tít tắp, cũng có cái còn xa hơn, xa đến mịt mờ mây khói. Có cái cửa nhà mặt phố tinh tươm, có cái ngõ cùng đường hẹp, có cái ọp ẹp tềnh tòang. Có cái hồng hào đầy đặn, có cái tóp teo xương xẩu, có cái âm thầm sau song sắt. Chẳng cái nào còn xa xăm mây trắng, trong veo ánh nhìn. Là bởi chiếc kim thời gian chẳng bao giờ đứng lại. Cho hôm nay qua mau, cho ngày mai trông ngóng, cho hôm qua chỉ còn là nuối tiếc. Mỗi khi gặp lại một người xưa cũ , lại có dịp điểm mặt thời gian, lại có dịp u hòai ký ức. Để gọi lại những lời sâu tâm cảm, để thấy mình vẫn còn đây đó những bâng khuâng. Chợt mỉm cười “Nào cạn”.

Đêm về, cuộn mình trong mảnh chăn đơn, nghe ràn rạt gió đùa trên mái, sắt se lòng, nhủ thầm hai tiếng “Xưa ơi !”.

Đàm Lan

Chuyện bên hồ Thiên Thảo

Vùng hồ Thiên Thảo đẹp nỗi tiếng với làn nước xanh màu ngọc bích quanh năm soi bóng mây trời với đủ loại cây từ cổ thụ uy nghi đến dây leo ẻo lả, từ cây cho trái ngọt ngào đến cây đơm bông muôn màu thơm ngát. Tất cả mọc chen vào nhau tưởng lộn xộn mà kỳ thực theo một trật tự nghiêm ngặt nương vào nhau, che chắn cho nhau, nhường nhau vị thế để mọi chủng loại đều có thể đón nhận được sự bao la của trời và sâu xa của đất nhờ đó chúng tồn tại, sinh sôi nảy nở. Quần thể thực vật đó ôm trọn khu vực rộng lớn quanh hồ tạo vẻ thơ mộng cho Thiên Thảo đồng thời là nơi trú ngụ lý tưởng của muông thú từ hươu nai đĩnh đạc đến kiến mối nhỏ nhắn lăng xăng .

Chọn mé hồ nơi giống môn dại chen chúc là họ hàng nhà Ếch nhái , Ểnh ương Chúng thích hát ca nhưng biết giọng mình không thanh tao trong trẻo nên chỉ cất tiếng trong mưa mong tiếng mưa át đi hợp âm quái dị phát ra từ cổ họng ngắn chũn. Cũng thích ngâm nga có họ hàng nhà Dế và Ve Sầu. Nhưng Ve Sầu khôn lanh thoát được lòng đất nơi chúng khổ luyện bao năm để có đôi cánh trong suốt kiêu sa là vút lên tìm đến những cây cao – nơi lý tưởng để chúng cất tiếng ngợi ca niềm hạnh phúc được thoát xác- nhường hốc cây bụi cỏ cho Mèn cho Trũi. Biết mình sẽ thăng hoa cho tình yêu trong ngày trời đổ cơn giông, bằng một vũ hội cực kỳ lãng mạn khiến lân bang thán phục, họ nhà Mối đã chấp nhận trú ngụ tận nơi tối tăm ăn sâu lòng đất. Thích đào hang trổ ngách nên ở không xa lãnh địa họ nhà mối bao nhiêu là Kiến Đen Kiến Càng dành cây có lá to cho Kiến Vàng dễ bề làm tổ. Bướm thì khỏi kể. Nhờ đôi cách rực rỡ bay lượn nhịp nhàng tạo vẻ đẹp cho vùng hồ nên chúng có đặc quyền ở nơi nào chúng thích, tất nhiên cây là nơi chúng ưa chuộng nhất. Nhưng đây là loài điệu đà lãng tử. Chúng hay mở hội mùa. Từng đàn. Từng đàn .Trắng, đen, vàng, biếc rợp trời , tuỳ loại mà chọn mùa mở hội . Với chúng, đâu cũng có thể ghé lại nên chúng chẳng cần nhọc công làm nhà, cứ nhởn nhơ nhẹ nhõm. Cần mẫn siêng năng là giống Ong. Đố thấy chúng chơi bao giờ. Lúc nào những con vật nhanh nhẹn này cũng bận rộn, lúc nào cũng mang vác. Nhà chúng tít trên cao chỉ Ong Đất mới học cách làm nhà của Mối cùng Kiến Đen là láng giềng chí cốt . Cào Cào Châu Chấu tìm cỏ tranh hoặc cỏ năn cỏ lác .

Đấy là chỉ nói các sinh vật nhỏ thuộc giống lưỡng cư hoặc loài côn trùng Thiên đàng của các loại thú lớn là phía trên cao của sườn đồi và xa hơn nữa. Và đương nhiên xứ sở của các loài tôm cá là lòng hồ thăm thẳm. Câu chuyện này không liên quan trực tiếp đến chúng nên dành lại lúc khác sẽ cặn kẽ.

*


Cư dân vùng hồ sống rất hoà ái thuận thảo. Khi bình minh vươn đôi tay dịu dàng đánh thức vô vàn hạt sương ngái ngủ trên cành lá khiến chúng bừng thức toả vẻ rạng rỡ mê hồn thì cũng là lúc hoa chuẩn bị xoè cánh, trái khoác lên người sắc màu tươi nhất để chào đón những người bạn biết bay, biết chạy nhảy, biết hát ca. Những cư dân trầm lặng nhất như ốc sên, cuốn chiếu cũng được giành ưu ái không kém. Muôn loài ngẩng mặt đón nguồn sống vô tận từ những tia nắng ấm áp, nghe sinh khí từ ẩm ướt đất nâu len vào cơ thể. Và khi màn đêm buông điệu ru êm ái, vùng hồ đắm trong giấc mơ kỳ thú ngọt ngào.\

Mỗi giống mỗi loài có lãnh địa riêng, có thể gần nhau nhưng không bao giờ xâm hại nơi ở của nhau . Mỗi giống có tập tính, lối sống, cách phát triển giống nòi không giống nhau nhưng không bao giờ tiêu diệt nhau. Tiếng ve ngày hè, giọng ễnh ương đêm mưa dầm. Bướm lượn trời nắng, mối bay ngày dông. Kiến tha mồi bằng răng, ong tài tình ôm phấn hoa đã gom thành hạt tròn bằng hai chân sau dài ngoẳng. Chúng chấp nhận nhau, qua lại với nhau, cùng vui vẻ tồn taị, cùng biểu lộ đặc trưng riêng tạo sự phong phú đa dạng cho Thiên Thảo.

Cuộc sống tưởng sẽ mãi êm đềm tươi vui như thế nào ngờ buổi tối nọ xuất hiện trong tấm áo choàng sặc sỡ với gương mặt vô hình một gã có tên là ÁC. Ác bay lượn chui rúc xoi mói mọi chốn . Lấy cớ viếng thăm lập mối quan hệ lâu dài Ác ở lại từng lãnh địa mỗi nơi vài ba hôm không chừa một góc nhỏ nào ở ven hồ Thiên Thảo, tỉ tê những gì không rõ rồi mất hút.

Sau chuyến viếng thăm không hẹn trước này của Ác mối giây tình cảm giữa các cư dân bắt đầu lỏng lẻo. Thoạt tiên là họ nhà kiến lên tiếng bài xích thói ca hát của ve sầu. Theo kiến ve sầu là loài hư hỏng, chỉ biết ra rả suốt ngày không chịu chắt chiu dành dụm như họ nhà nó và cao giọng báo cho ve sầu biết rằng từ nay đừng hòng mượn chác gì của họ nhà kiến dù chỉ là một chút thức ăn ngày giáp hạt. Ve sầu thì chê bai giọng ồm ộp của ếch, tiếng kéo đàn trèo trẹo của cóc và chẫu chàng , chế nhạo vẻ thô mộc từ làn da đến hình dáng, kiểu đi của họ hàng nhà này. Mối cất giọng thoá mạ ong đất với lý do là ong đất xâm phạm quyền sỡ hữu trí tuệ về kiến trúc nhà ở của giòng giống tài hoa nhà mối. Châu chấu cào cào mỉa mai ốc sên chậm chạp không đi bằng chân mà lại bị bằng mồm, rằng ốc là loài ngớ ngẩn đi đâu cũng cõng nhà theo. Đến cả cùng họ hàng như dế mèn, dế trũi cũng khích bác nhau. Dế mèn chê dế trũi cục mịch quê mùa. Dế trũi cũng chẳng vừa, cho rằng mèn là thứ ba hoa khoác lác. Tội nghiệp nhất là bướm. Bộ cánh đỏm dáng và thói lãng tử – đề tài cho những bài ca – đã trở thành đối tượng cho những lời chỉ trích gay gắt của phần lớn cư dân vùng hồ.

Sự hòa ái không còn nữa thay vào đó không khí u ám bao phủ các loài . Sau những đợt chê bai công kích nhau từng loài náu kín trong vùng cư trú của mình không giao du như trước. Nếu chạm mặt nhau đâu đó, nhẹ nhàng thì chúng sẽ hoặc dè bỉu hoặc tảng lờ không quen biết, trầm trọng hơn nữa là xô xát bươu đầu mẻ trán. Tệ hại nhất là lén tiêu diệt thế hệ kế tục đang say ngủ trong vỏ trứng mỏng manh.

Phiền muộn trước tình trạng này, những tia nắng thôi không nhảy nhót mỗi bình minh lên. Sương vì thế cũng không long lanh nữa. Những hạt mưa mát dịu ít khi ghé lại khiến mặt đất khát khô, nứt nẻ. Thiên Thảo mất đi vẻ sống động, phai nhạt màu xanh vốn có trước đây.

*


Dưới lòng hồ yên ngủ từ hàng triệu năm một con thuỷ quái vốn là con cháu nhà trời bị trừng phạt bằng phép thuật của Ngọc Hoàng với lời nguyền là nó sẽ tỉnh giấc khi không khí quanh vùng hồ đượm mùi của Ác.

Việc gì đến đã đến. Một ngày nọ – không lâu lắm kể từ ngày gã áo chòang sặc sỡ ghé lại vùng hồ, thuỷ quái tỉnh giấc khẽ cựa mình. “ Thật dễ chịu”, nó thốt lên trước khi khoái trá vùng vẫy, hào hứng gào rú bằng tất cả sức lực bị kìm nén bấy lâu . Nó những tưởng sẽ được bay vọt lên khỏi lòng hồ, múa lượn giữa bao la , tung tăng giữa muôn loài cho bõ hàng triệu năm bị giam hãm. Nó những tưởng sẽ lại được hung hăng láo xược thực hiện các hành vi kinh thiên động địa của mình cho thoả tính ngông ngạo bấy lâu bị kiềm toả. Nào ngờ lời nguyền của Ngọc Hòang chỉ dừng ở TỈNH GIẤC chứ không phải TỰ DO. Vì thế sau phút vùng vẫy thuỷ quái đành bất lực bó tay chịu trở lại nép sâu lòng hồ với trái tim hậm hực, oán trách Ngọc Hoàng gấp vạn lần vì lời nguyền – theo nó là vô cùng thâm độc của ngài. Phải chi nó cứ ngủ yên, không có khoảnh khắc diệu kỳ vừa nếm trải. Phải chi nó không thể cay đắng nhận ra rằng dẫu con cháu nhà trời ngông ngạo nhiều quyền phép cũng chỉ là nhãi con trước uy lực của CÔNG LÝ. Gieo họa phải gặp họa. Nó cay đắng công nhận qui luật này và thiếp giấc trừng phạt.

Chỉ vậy thôi.

*


Nào ngờ khoảnh khắc cựa mình của loài thuỷ quái đã gieo tai hoạ cho cư dân ven hồ. Tấm lưng dài muôn trượng, to khủng khiếp của nó vẫy vùng làm nước trong hồ khiếp hãi buông tay. Một con sóng cao chưa từng có hung dữ khác thường cấu thành từ những cánh tay nước buông xuống chịu trận tung vọt lên cao tràn lấn vùng hồ và ngẫu nhiên quét sạch cuốn sạch những gì mới đây là tươi xanh mới đây là sức sống.
Mặt hồ lại trở về vẻ yên lắng.

*

Không ai biết tại vương quốc Nước đang âm thầm diễn ra một cuộc nhận tội của các thành viên vì đà kém cỏi buông tay vô tình thành trợ thủ gieo tai ương tang tóc. Và trên Cõi Cao Xanh, Ngọc Hoàng cũng đang vô cùng ân hận. Không ngờ hình phạt giành cho kẻ có tội lại gây đau thương cho người vô tội. Phải chi ngài cứ thẳng tay trừng trị kẻ hư hỏng cậy quyền cậy thế đừng ve vuốt bằng cách buông lời nguyền ngỡ là cao kiến ấy, tưởng chỉ để nghịch tôn nghịch tử thấm thía lẽ đời hơn. Nào ngờ …

Thiên Thảo đổ nát. Thiên Thảo điêu tàn. Xác muôn loài phơi trắng đất. Tất cả còn lưu nét kinh hoàng qua dáng cách từ bỏ trần thế. Bên xác cư dân ven hồ có cả xác cá tôm vương vãi. Xú uế nồng nặc. Thuở hồng hoang đã quay trở về đây. Biết đến bao giờ mới được thấy lại cảnh ong bướm bay lượn. Biết đến bao giờ mới được nghe lại giọng ễnh ương vang vọng đêm đông hay ve ngân ra rả ngày hè. Biết đến bao giờ…

*

Sáng hôm sau Tia nắng phát hiện thấy một dáng vóc nhỏ nhắn trong sắc áo thiên thanh đang lúi húi tìm kiếm trong đống đổ nát . Không giấu được mừng rỡ cũng không nén nỗi tò mò, Tia nắng rủ chị rủ em theo dõi. Thì ra vóc dáng xinh xắn ấy là của một người con gái. THIỆN – tên của nàng được in, được khắc trên vầng trán, nét mày, đôi má và nhất là trong ánh mắt dịu dàng mà ấm áp. Nàng đang bạo dạn nhưng hết sức nhẹ nhàng lật giở từng thi thể, bới tung những gãy đổ vùi lấp với hy vọng may ra tìm thấy người sống sót .

Và nàng đã không lầm .
Luôn có những bất ngờ trong cuộc sống .
Rất nhiều cư dân trẻ có, già có được tìm thấy vẫn đang thoi thóp. Mừng rỡ, nàng kêu lên . Tiếng kêu trong trẻo đầy ắp niềm vui của nàng đánh thức, tập hợp quanh nàng các thành viên sống gần hoặc xa Thiên Thảo không bị ảnh hưởng của tai hoạ. Cùng nhau tìm kiếm , cùng nhau cứu thương cứu đói cứu khát họ tất bật suốt nhiều ngày không ngừng nghỉ.Giữa họ và nàng, giữa họ với nhau hình thành mối dây khắng khít. Quên đẳng cấp thứ bậc; quên tuổi tác; quên cả những bất hoà từng đã xảy ra, tất cả chỉ vì nỗ lực cứu các cư dân sống sót, tạo dựng lại nhà cửa đem lại nguồn sống cho Thiên Thảo.

Điều đáng mừng là các họ hàng cư dân ven hồ đều may mắn có người sống sót. Mấy chú nhái bén ngơ ngác, vài cô cậu dế mèn mỏi mệt, mối chúa không hề hấn gì do trú sâu trong thâm cung. Ong, kiến, bướm, châu chấu, cào cào loài nào cũng lần lượt được tìm thấy năm bảy sinh linh. Và kỳ diệu thay từ vố số trứng không bị vùi dập, không bị cuốn phăng nở ra bao nhiêu là cư dân thơ dại yêú ớt.

THIỆN vui lắm. Các bạn mới – cộng sự của nàng cũng vui không kém. Nhưng nỗi lo cũng đầy ắp. Ngoài mối lo về cái ăn nơi ở, họ càng bận bịu hơn với việc chăm sóc lũ trẻ thiếu bố mẹ khi mà mối hiểm nguy phát sinh từ hậu hoạ luôn rình rập. Họ giành tất cả sức lực cho cuộc hồi sinh vĩ đại. Một hội nghị lớn tìm cách vô hiệu hóa thuỷ quái được tổ chức và Ngọc Hoàng đã chấp thuận thỉnh cầu xử thuỷ quái vĩnh viễn ngủ, giải lời nguyền trước đây.

*


Lại nói về ÁC.
Sau chuyến viếng thăm đen tối dạo nọ; bấm quẻ biết đã đến lúc, ÁC hối hả quay lại Thiên Thảo. Khoái trá trước một vùng tang tóc, nó cất tiếng cười man rợ tự tán dương mình. Đám cư dân quanh hồ quả thực ngờ nghệch tin những lời tỉ tê bịa đặt đến nỗi đánh đổi hoà khí hạnh phúc lấy tai hoạ. Từ đây nó đã có đất sống. Nó không phải chui nhủi tận xó xỉnh hôi hám tối tăm. Say sưa với chiến thắng , nó liệng một vòng quanh hồ hú gào khoái trá. Chợt nó xây xẩm. Chuyện gì kia ? Chúng nó- lũ ong bướm châu chấu cào cào đã bị vùi, bị cuốn sạch rồi sao đang xúm xít bên nhau thân ái dường kia. Chúng không công kích chê bai rủa sả nhau nữa sao? Hay đây là linh hồn của chúng hiện về tố cáo nó, hỏi tội nó. ÁC căng mắt và nó giật mình khi thấy dáng dấp thanh tú của THIỆN hiện ra giữa đám đông thân ái ấy. “Thì ra là vậy”. Nó nhủ thầm và tìm cách đối phó . Vừa lúc đó THỊỆN ngẩng nhìn lên. Ánh mắt cuả nàng chạm phải gương mặt vô hình gớm ghiếc của ÁC khiến nó bủn rủn, đánh rơi tấm áo choàng sặc sỡ – bùa hộ mạng, thần hộ thân của nó . ÁC hốt hoảng ngã xuống từ cao tít. Thân hình ốm o trở lại nguyên dạng là con rít khổng lồ với vô vàn đôi chân gớm ghiếc. Nó xấu hổ lẩn nhanh vào cõi tăm tối.

Khúc vĩ thanh.

Sự sống sẽ hồi phục. Thiên Thảo tìm lại được vẻ thơ mộng ngày xưa , muôn loài sẽ hát ca bay lượn nhảy nhót trong không khí thuận thảo hoà ái. Những gì đã xảy ra sẽ chỉ là vết thương trong lòng các cư dân sống sót nhưng lại là bài học nhớ đời về sự mông muội, về cách nhận biết bản chất xấu xa ẩn trong lớp áo đẹp đẽ . Họ sẽ đời đời tri ân, nâng niu sùng bái THIỆN, tôn nàng làm ĐẤNG CỨU RỖI. Họ sẽ hợp lực xua đuổi tiêu diệt ÁC – kẻ gieo tai hoạ, không cho nó tồn tại trên thế gian này nữa.

Và điều chắc chắn là họ sẽ kể cho các thế hệ con cháu tiếp nối câu chuyện cổ tích mà chính họ là nhân vật bằng giọng than thở của ễnh ương, ngân nga của ve sầu, nỉ non của dế trong những ngày hè sáng lán hoặc đêm đông lạnh giá với sự hiện hữu của THIỆN -cô gái nhỏ nhắn gan dạ dịu dàng và nhân ái trong chiếc áo xanh thanh thoát.

Tôn Nữ Ngọc Hoa 2005

Sắc Xuân

Tôi vốn dĩ rất ấn tượng với màu hoa trắng. Bất cứ loài hoa nào mang màu trắng cũng đều cho tôi một cảm giác nhẹ nhàng thanh thóat, bâng khuâng. Niềm cảm xúc đó khiến tôi chưa một lần bỏ qua dịp sở hữu hay chiêm ngưỡng nó. Đặc biệt là hoa hồng trắng. Thật đáng buồn khi màu hoa thánh thiện ấy lại mong manh vô cùng. Hoa trắng luôn có tuổi thọ thấp hơn những lòai hoa mang các sắc màu khác. Có lẽ đó là một quy luật hiển nhiên khi sự thanh khiết, thánh thiện thường không thể tồntại lâu trong thế giới cuộc đời. Mặc dù vậy, tôi vẫn rất yêu màu hoa trắng, một màu hoa bất diệt.

Chắc chắn rằng không một ai trong đời lại chưa một lần đi dạo chợ hoa ngày tết. Một bức tranh hội tụ tòan cảnh sắc thiên nhiên. Bức tranh đã cho ta một sự cảm xúc sâu sắc, khi được đắm mình trong chiếc thảm rực rỡ và ngào ngạt hương thơm. Và khi đã lạc vào chốn thiên thai tại thế ấy, thì không ai gìm nổi nỗi xúc động đang đưa tâm hồn mình bay bổng giữa vườn xuân. Như đã thành thói quen, chưa năm nào tôi từ chối nổi cái thú di dạo chợ hoa ngày tết, ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng. Cũng như lúc này, tôi đang chìm giữa biển sắc, nhuưng vốn trung thành với ấn tượng, tôi vẫn ném tia nhìn xục xạo khắp các ngõ ngách cua những khóm hoa. Khốn nỗi, màu hoa tôi yêu lại rất hiếm hoi trong những ngày này. Vì người ta quan niệm rằng : đầu năm không nên chưng hoa trắng trong nhà, không khéo lại trắng cả năm thì khổ. Dù sao tôi vẫn không bỏ cuộc khi chưa ra khỏi khu chợ hoa. Hơn nữa, chẳng dại gì, khi cả năm mới có được một lần ngắm hoa thỏa thích lại không mất tiền. Đang tiếp tục với cuộc thưởng ngọan, tôi bỗng nghe có tiếng trầm trồ :

_ Ồ, cành mai đẹp quá !

Nhìn về phía phát ra tíếng nói, một cô gái trong bộ quần áo lam lũ, chân đi đôi ủng với nửa phần bùn đất, đang ngây người dán mắt vào một cành mai gần đó. Tôi bất giác nhìn theo và cũng thầm công nhận : cành mai thật tuyệt. Sự phân chia cân đối của các nhánh cành cùng với những chùm nụ như phụ kín, lác đác trong số nụ ấy là ánh vàng của vài cánh hoa nở vội. Có lẽ những cánh hoa ấy đang háo hức tung ra giữa thanh thiên chiếc áo xuân rực rỡ. Dù rất ít tình cảm với màu vàng ( vì tôi nghe nói màu vàng là màu phản bội ) nhưng tôi buộc phải công nhận một điều : Thượng dế đã rất có lý khi chọn màu vàng của hoa mai làm biểu tượng của mùa xuân. Thử tượng tưởng xem, khi những ngày đầu năm, căn nhà như sáng hẳn lên với một cành mai đang rũ tung sắc vàng ra tứ phía. Và cái ánh sắc chói lòa ấy dễ đem đến cho con người ta nguồn hy vọng vào một cuộc sống no đủ, sung túc. Không biết có phải màu vàng ấy trùng với màu của một thứ kim lọai có giá trị rất cao, và là màu của một thảm lúa vàng trong mùa bội thu. Dẫu sao thì hoa mai không thể thiếu trong mùa xuân. Có điều, số phận cành mai tuyệt đẹp kia sẽ thuộc về ai thì tùy thuộc vào sự quyết định của người đang tạm là chủ nó. Lẽ đương hiên nó sẽ không thuộc về tôi hay cô gái đang sững sờ trước vẻ huy hòang của nó kia. Cô gái đã dợm bước đi, lại chợt dừng lại, trong mắt cô, một ánh nhìn khao khát đến nao lòng. Cái nhìn ấy gây cho tôi một niềm hòai cảm. Một sự thúc đẩy vô hình nào đó, khiến tôi đuổi theo cô gái. Khi đã bắt kịp cô, tôi mở lời bắt chuyện :

_ Cành mai ấy đẹp quá cô nhỉ ?

Nhìn tôi với một thóang ngạc nhiên nhưng rồi cô gái cũng gật đầu :

_ Vâng ! Đó là cành mai đẹp nhất từ trước giờ tôi đã thấy.
_ Thế sao cô không tìm cách sở hữu nó ?

Cô gái mỉm một nụ cười buồn :

_ Tôi làm sao có được diễm phúc đó hở anh ?

Vẫn biết đó là câu trả lời mà tôi đã ước đóan, nhưng chẳng qua chỉ là cái cớ để làm quen. Chuyển đề tài, tôi lân la :

_ Chắc cô đi sắm tết ?
_ Tôi đi ngắm tết thì đúng hơn.

Bật cười vì lối chuyển ngữ sát sườn của cô gái, cô chợt nhìn tôi vẻ lạ lẫm, như nhìn một gã ngớ ngẩn. Tôi nhận ra sự vô ý của mình, vội nói :

_ Xin lỗi cô, tôi cười là vì dường như tôi đang có bạn đồng hành.
_ Bạn đồng hành ? Ồ thế thì anh đã nhầm rồi, tôi đang rất bận.
_ Thì tôi cũng có rảnh rỗi đâu.
_ Không rảnh rỗi ? vậy sao anh lại có thời gian đi vớ vẩn thế này ?
_ Là vì…tôi đang bận…bận làm quen ấy mà.

Cô gái vỡ lẽ phì cười, rồi bằng một thái độ ẩn ý, cô nói :

_ Tôi có cảm giác như đang nói chuyện với người ngòai hành tinh vậy ?

Tôi sựng lại, nhìn từ ngực đến chân, trừ cái mặt vì tôi không đem theo cái gương. Tôi có gì khác với mọi người đâu nhỉ ? Vậy không lẽ cái mặt tôi giống người ngòai hành tinh lắm sao ? Thấy tôi ngơ ngác, cô gái lại cười :

_ Anh giống như người ngồi dưới gốc cây đa trên mặt trăng ấy.

Ái chà, cô ta cũng đáo đẻ đấy chứ, nhưng tôi cũng kịp trả đũa ngay :

_ Ồ cô nói đúng dấy, vì tôi đang đi cạnh Hằng Nga mà.

Cô gái khẽ “hứ” một tiếng và quay ngóăt đi, nhưng tôi đã kịp nhì thấy một ráng hồng lan trên má cô. Tôi bỗng cười, và cô cũng bật cười. Môt lần nữa xin cảm ơn Thượng đế khi Ngài đã sáng tạo ra nụ cười, vì chính nụ cười đã góp phần chuyển tiếp thái độ rất hiệu quả. Hai chúng tôi đã tự nhiên hơn Và rồi qua câu chuyện tôi đuợc biết. Cô gái là chị của bảy đứa em. Một tình cảnh thường thấy trong các gia đình ở nông thôn. Đó là sự thiếu hụt, khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Với một mảnh vườn rau trên diện tích hơn ba sào, chỉ đủ để đánh đổi từ những giọt mồ hôi mặc đất lấy từng hạt gạo nuôi sống bấy nhiêu con người đã là khó nhọc, thì lẽ đương nhiên khó mà sắm sửa một cái tết cho ra trò. Cô gái ngùi ngùi nói thêm :

_ Đã bao năm rồi, mẹ tôi chỉ ước có một cành mai thật đẹp cho vui nhà, nhưng rồi năm nào cũng như năm nào, mẹ tôi lại lui cui ra vườn cắt vài nhành hoa có sẵn, và nói vui rằng : Không có mai rừng thì ta chưng mai nhà vậy.

Ngang qua một quầy bán tranh và lịch, tôi lướt mắt và bắt gặp một sắc vàng đổ xòa trên một khung tranh. Tôi nói vội với cô gái :

_ Cô đứng đây chờ tôi tí nhé.

Rồi không đợi cô gái kịp trả lời, tôi len vào hỏi giá tờ tranh. Ít phút sau, trước khi tờ tranh được cuộn lại, tôi đã kịp nhìn thấy hai chữ gi chú bên dưới “Sắc Xuân”. Trở lại nơi cô gái đang đứng đợi, tôi ngập ngừng :

_ Chút quà nhỏ cho mùa xuân mới, cô vui lòng nhận nhé.

Cô gái lúng túng :

_ Tôi không thể nhận quà của một người lạ dược.
_ Có thể chúng ta chưa quen, nhưng cũng không còn là lạ, coi như kỷ niệm của buổi đầu gặp gỡ, có được không ?

Tôi vừa nói vừa ấn bức tranh vào tay cô gái, cô gái run tay đỡ nhẹ và mở ra, cô reo lên :

_ Đẹp quá !

Chỉ vào hai chữ ghi chú, tôi nói :

_ Có thể bức tranh này không đẹp bằng cành mai thật kia, nhưng tôi hy vọng “Sắc xuân” sẽ ngự suốt bốn mà trong gia đình cô.

Cô gái không giấu vẻ xúc động, ngước mắt nhìn tôi với tia ấm áp, lời cảm ơn thốt ra cùng lúc hơi ấm từ bàn tay cô truyền sang bàn tay tôi. Trong tôi như rộn lên vầng sáng của “Sắc Xuân”

Đàm Lan

Âm thanh gói cả đất trời

Đấy là cảm nhận của nhiều người khi được thả hồn trong sự hài hòa, cộng sinh đến tuyệt vời âm thanh của nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc. Nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc gồm trống, chiêng, chũm chọe và quả nhạc. Bộ gõ này có vai trò rất quan trọng trong đời sống nghệ thuật và tâm linh. Bộ gõ là vật linh thiêng của mỗi bản, không bao giờ được để mất, không để kẻ thù chiếm đoạt, không được đổi chác mua bán. Mỗi khi những âm thanh của bộ gõ này vút lên, người nghe như cảm nhận được sự sâu xa, tinh tế và huyền diệu của đất trời cùng tình người đằm lắng.


Việc chế tác bộ gõ được tiến hành với những bước rất nghiêm ngặt: Cúng tế xin phép thần linh, cầu mong thần cho phép, chứng giám và phù hộ rồi tiến hành ở nơi kín đáo, sạch sẽ. Khi chế tác xong phải cử hành lễ tế trang trọng và cất giữ ở nhà sàn hoặc gian thờ ma nhà của trưởng bản hoặc người có chức sắc và chỉ được dùng trong dịp tết hoặc lễ cúng xên bản, xên mường. Người Thái cho rằng nếu dùng trống chiêng tùy tiện sẽ có hại cho bản mường.

Trống có hai loại “cống” và “cong”. Thông thường “cống” hay được dùng trong hội xuân, lễ cúng ma bản mường; còn “cong” dùng khi chủ mường qua đời hoặc khi có giặc, báo động…
Tang trống dùng cây gỗ tròn được đục bỏ lõi, thường là gỗ xâng hoặc mít. Tang dài 0,8 – 1 m, mặt có đường kính từ 30cm đến 50 cm, bịt bằng da trâu bò, âm thành trầm và gần.
“Cong” là loại trống dài từ 1,5m đến 3 m, mặt bịt da bò, có đường kính từ 50cm đến 70cm, âm thanh trong hơn, vọng rất xa.

Khi chế tác tang trống, để có âm thanh như ý, các nghệ nhân cạo nhẵn bên trong và mặt ngoài chứ không dùng sơn.

Tác giả bên cô gái Sơn La

Chiêng và chũm chọe được chế tác công phu, đặc biệt là rốn chiêng. Để có âm thanh mong muốn, các nghệ nhân pha thêm vào đồng một tỷ lệ vàng theo công thức bí truyền.
Chiêng có âm thanh trầm được gọi “tô me”, tức là con mái, chiếc có âm thanh cao gọi là “tô po”, tức là con trống, chiếc có âm thanh ở khoảng giữa gọi là “tô lụ” tức là con con.
Chũm chọe gọi là “xánh”, chùm nhạc là “mắc hính”.

Chiêng có thể dùng riêng hoặc phối hợp cả ba cái tạo ra một hợp âm độc đáo mà các nhà nghiên cứu cho rằng đậm đà ý nghĩa nhân sinh.

Thường là đàn ông đánh trống, đàn bà đánh chiêng, trẻ con dùng chũm chọe, con gái trẻ dùng quả nhạc tạo ra những âm thanh sôi động, lôi cuốn lòng người. Nghe những âm thanh tinh tế bộ gõ của người Thái, người ta như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời và vạn vật, ngân rung bay bổng khát vọng một cuộc sống sinh sôi, phát triển, ấm no, hạnh phúc, làm cho tâm hồn người trong sáng hơn, thêm tin yêu vào cuộc sống, hướng mỗi người đến giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ.

Nghe tiếng trống, chiêng, người ta có thể biết ở bản Thái ấy đang có việc vui hay buồn: Nghe tiếng trống nhịp 2/4 theo kiểu 3 tiếng cùng với 7 tiếng, tiếng chuông gõ trên con mái và con trống rơi vào nhịp mạnh, tiếng của con con rơi vào nhịp nhẹ của trống, thì chắc chắn rằng ở đó có hội xòe. Còn khi nghe tiếng “cong” dồn dập 3 tiếng hoặc 5 tiếng là có việc khẩn cấp như: cháy nhà, có lũ bão, có giặc. Các quả nhạc cùng phụ trợ cho hát và các điệu xòe làm tăng sự vui tươi, sôi động.

Bộ gõ nói chung và chiêng trống nói riêng là những nhạc cụ không thể thiếu của người Thái Tây Bắc, góp phần làm cho đời sống nghệ thuật thêm phong phú, đồng thời còn chứa đựng những ý nghĩa tâm linh và nhân sinh cao cả, gửi gắm vào đó cả tình yêu, tinh thần lạc quan tin tưởng vào cuộc sống no ấm, hạnh phúc.

Trần Vân Hạc

Chú chó Pôli

Chú được về nhà này với danh nghĩa là một món quà kỷ niệm 25năm ngày cưới của ông chủ tặng bà chủ. Là một con chó thuộc dòng chó Nhật, chú có sẵn một hình thái thật dễ thương, đôi mắt nâu tròn xoe như hai viên bi, đen lay láy khi nhìn bà chủ. Từ tay ông chủ chuyển qua, chú đã chiếm được ngay cảm tình của bà chủ bằng chếc lưỡi hồng xinh xinh lướt trên những ngón tay bà. Từ đó chú không rời bà nửa bước, ngọai trừ những lúc cô bé Ngọc Diễm, cô con gái độc nhất của ông bà ôm ấp, nô đùa với chú. Cô bé đã dày công tập luyện cho chú những trò khá hay, như đi hai chân, nhào lộn trên giường, ấm ứ nói chuyện, tha chén đòi ăn…vv .

Đó là những ngày cô bé Ngọc Diễm còn là một cô chú nhỏ ngây thơ cơ. Chứ từ khi cô trở thành một thiếu nữ đẹp, giàu sang, với những cái đuôi dài lê thê, với những buổi tiệc tùng dạ hội, thì dường như cô không còn nhớ gì đên chú mấy nữa. Thỉnh thỏang chú lại bị những cú đá phũ phàng, chỉ vì chú làm bẩn bộ quần áo đẹp của cô chủ khi nhảy chỗm lên mừng. Những lúc ấy chú kêu lên “ ăng ẳng” một cách oan ức, rồi chạy nép vào lòng bà chủ để được nhận những cái vuốt ve an ủi.

Của đáng tội, cũng không hẳn cô chủ ngược đãi chú đến thế, cũng dăm lần chú được tắm rửa sạch sẽ, ngồi lên chiếc baga giữa của chiếc Dream láng coóng mà đến nhà những người bạn của cô chủ, có hôm chú được đến cả vũ trường , vì cô chủ không tiện đem chú về bỏ ở nhà. Được cái chú rất ngoan, hiểu rõ yêu cầu của chủ do được huấn luyện kỹ, nên chỉ cần một chiếc ghế kê sát tường và một câu lệnh ngắn gọn “ Ngồi yên đấy nhé”, thì dù cô chủ mải vui chơi đến đâu chú cũng vẫn cứ nguyên vị. Đôi khi có nhu cầu cần gỉải quyết, chú nhảy tót đi tìm chỗ, xong lại trở về vị trí.

Nhưng rồi những cuộc di chơi ấy của chú thực sự chấm dứt từ ngày cô chủ có một cậu trai ra dáng bảnh bao, nhăn mặt khi cô chủ bỏ chú lên xe. Từ đấy, chú chỉ còn được nhận sự yêu thương của bà chủ. Sự yêu thương ấy càng sâu đậm hơn khi ông chủ đột ngột qua đời vì một tai nạn giao thông. Ông ra đi như một cơn lốc cuốn khỏi cuộc đời bà. Chú chó Pôli không chỉ còn là một chú chó kiểng đẹp đẽ thông minh, một bằng chứng tình yêu nữa, mà chú thật sự là một người bạn của bà.

Ngọc Diễm săm soi mình trước gương, vẻ vừa ý với diện mạo của mình. Rồi cô vừa dắt xe ra vừa nói vọng lại :

_ Mẹ cứ ăn cơm trước, đừng đợi con, mẹ nhá.

Đã quá quen với những lời tương tự, bà Ngân thở dài dặn với theo :

_ Cẩn thận nghe con, đường xá bây giờ nhộn nhạo lắm đấy.

Cũng đã quá quen với những lời dặn dò, Ngọc Diễm vừa rồ ga vừa nói

_ Mẹ cứ yên tâm.

Bà Ngân nhìn theo đứa con gái duy nhất mà mắt buồn vời vợi, nuôi nuối, như tiêng tiếc một vật gì đã vượt quá tầm tay. Quả thật, con cái khi lớn lên, chúng không cần đến đôi tay bảo trợ của cha mẹ nữa, có khi còn khó chịu với những quan tâm, chăm sóc tận tình, mà rằng “ Con có là trẻ con nữa đâu mà…” Cũng đúng thôi, một khi đó là quy luật hình thành tâm sinh lý của con người. Khi đến tuổi trưởng thành, nhu cầu muốn được tôn trọng, được chủ quyền, dù chỉ với bản thân mình. Muốn dược là người lớn với đầy đủ ý nghĩa của nó. Đó là lẽ đương nhiên cần phải có ở mỗi con người. Nếu không thế, con người sẽ sống ra sao khi không còn cha mẹ ? Nhưng đối với cha mẹ, thì con cái luôn bé bỏng, dại khờ. “ Mẹ già trăm tuổi, thương con tám mươi”. Đó cũng là quy luât của nước mắt chảy xuôi. Vì thế mới nảy ra khỏang cách giữa hai thế hệ. Không thể hiểu nhau mà cũng không dung hòa được với nhau. Đến khi hiểu được tâm trạng của cha mẹ, thì cũng là lúc bước vào vị trí của ông bà ngày trước. Và cứ thế, dòng chảy vẫn mãi chảy theo lộ trình bất dịch của nó.

Bà Ngân uể ỏai nuốt miếng cơm, thỉnh thỏang bà lại bỏ vào cái chén của chú Pôli một miếng giò nạc , kèm theo câu ân cần :

_ Ăn đi con, ăn đi bà thương…

Chú Pôli thì khỏi nói, động tác chuyển những thứ ấy vào bụng nhanh như xiếc. Ăn xong, rửa vài thứ chén đũa, là đến lúc bà Ngân thu mình trước cái màn hình ti vi 20inch . Con gái bà bảo mua cái to để mẹ xem cho đỡ nhức mắt. Thế mà cũng lắm lúc những hình ảnh trên ấy cứ lấp lóa khiến bà phải tắt đi. Thì cả ngày cứ dán mãi mắt vào đấy, làm sao không lóa ? Ngòai cái ti vi ra bà còn biết tiêu tốn thời gian vào chuyện gì nữa đâu. Từ ngày ông mất, cô con gái lại đủ lông đủ cánh, gia sản ông để lại đủ cho bà nhàn rỗi dưỡng già. Vả lại bà có muốn giở ra làm gì thì cô con gái cũng không cho. Bảo “mẹ già rồi, nghỉ ngơi cho khỏe, mẹ đi nữa thì ai trông nhà? Thời buổi trộm cắp như rươi, mẹ làm không bõ trộm nó bê đi một mớ” Thế là bà đành chịu , buồn quá lại đem Pôli ra tắm táp, bắt chấy bắt rận.

Chú Pôli quen thuộc từng động tác của bà đến nỗi chỉ cần bà móc túi lấy ra cái mục kỉnh đeo lên mắt, là chú đã ngoan ngõa nằm xuống trước mặt bà để chờ đôi bàn tay bà sờ soang, bới móc, tóm đi từng chú bọ chét hiếm hoi. Buồn ngủ, chú cứ lăn vào lòng bà ngáy cho thỏa. Mỗi lúc được vuốt ve âu yếm, đôi mắt chú lại lim dim vẻ khoan khóai. Ai bảo con vật không biết yêu thương, không cần tình cảm ? Nếu chúng được sống gần gũi với con người, được nhận những tình cảm thân thiết, thì chúng thật sự như một đứa trẻ, chỉ không biết nói tiếng người mà thôi. Mỗi loài vật có một thứ ngôn ngữ riêng, nếu để ý, sẽ thấy chúng cũng có những tiết điệu, cường độ của âm sắc đủ đẻ biểu hiện cảm xúc của chúng.

Nhiều lúc ôm chú vào lòng, bà Ngân thầm ước một đứa cháu để bế bồng. Nhưng giục con gái thì lại nghe nó nói “ Ôi dào, lấy chồng sớm làm gì cho khổ hả mẹ ? Cứ chơi cho đã tuôi xuân đi rồi đeo gông cũng không muộn. Mẹ đừng lo con gái mẹ ế, đắt như tôm tươi đấy, chẳng qua là chưa chọn được người vừa ý thôi .” Bà cảnh báo “ Khéo già kén kẹn hom đấy con ạ !” Ngọc Diễm trả lời bà bằng một cái cười mũi. Bà cũng chẳng dám ép, vốn quen được nuông chiều từ bé, bà để mặc con gái làm theo y muốn. Hơn nữa, chuyện trăm năm không thể ép buộc, nhỡ nó không tìm được hạnh phúc nó lại oán. Ngọc Diễm lại là một cô gái có nhan sắc, bằng cấp, địa vị. Tốt nghiệp bưu chính viễn thông, may mắn được nhận ngay vào làm việc tại bưu điện tỉnh. Điều kiện giao tiếp càng rộng thì tiêu chuẩn chọn chồng càng cao. Bà thì chẳng cần gì tiêu chuẩn nọ kia, quan trọng là phải thực sự yêu thương nhau. Ở với nhau cả đời, không thực bụng với nhau, mai kia mốt nọ ốm đau già yếu, hết nhan sắc, danh vọng, địa vị thì bỏ nhau à ? Ôi mà bọn trẻ bây giờ thuộc lọai trí thức cả, có đâu như ông bà ngày xưa. Lấy nhau từ một vùng quê hẻo lánh, rồi đưa nhau ra thành phố, chen chân lấn bước, lăn lộn bao năm mới có được chút của ăn của để. Được cái, dù khổ đến đâu ông bà vẫn luôn bên nhau, hỗ trợ động viên nhau. Đúng là “ Thuận vợ thuân chồng , tát biển Đông cũng cạn” Giá ông đừng bỏ bà mà đi sớm thế thì tuổi già của bà cũng bớt cô quạnh.

Bà Ngân lại thở dài, đi ra đi vào trong căn nhà vắng mãi cũng chán nản, bà bỗng cảm thấy mệt mệt. Dạo này bà thường có những cơn mệt bất thường, có lẽ bệnh già do tuổi tác đấy thôi. Chú chó Pôli vẫn quẩn bên chân Khi bà lên giường, chú cũng nhảy tót lên, dụi vào lòng bà ấm ứ, giây lát thấy bà thiu thiu ngũ, chú cũng gối đầu lên tay bà đánh một giấc ngon lành. Chú tỉnh dậy khi nghe chuông đồng hồ gõ 7 tiếng. Chú không biết giờ giấc, nhưng chú biết bụng chú đang đói, nhà cửa lại tối thui như mực. Chú cào cào vào tay bà chủ, miệng kêu ư ử. Lâu, không tháy bà động đậy, chú cào mạnh hơn, tay áo bà đã rách nhưng bà vẫn bất động. Chú nhảy xuống giường chạy ra cửa vừa cào vừa sủa inh ỏi. Cánh cửa không bật ra vì chú không đủ sức đẩy, chú lại nhảy lên giường lè lưỡi liếm tới tấp trên mặt bà.

Dường như chú linh cảm được điều gì không ổn, khác với mọi ngày. Chú lại nhảy xuống chạy ra cửa bếp, ở đây có lối ra ngòai, vì khoang cửa mắt cáo bị gãy mất một thanh, vừa đủ chỗ cho thân hinh bé nhỏ của chú tọt qua. Đây là chỗ đêm đêm chú hay ra ngòai đi bậy. Ra đén ngòai đường, chú ngỏng cổ tru lên một hồi rồi cắm cổ chạy. Chú tìm đến những căn nhà mà ngày trước chú thường theo cô chủ đến chơi. Đứng bằng hai chân trước cổng nhà họ, chú lại tru lên. Không hiểu ý chú, những người trong nhà đánh đuổi chú. Chú lại chạy, một lúc lâu sau vừa đói vừa mệt, chú đi lõng thõng bên đường, dừng lại trước một vũng nước chú tợp vài ngụm. Chợt cú vểnh tai nghe ngóng, hình như có một thứ âm thanh quen quen từ xa vọng tới. Định được hướng, quen cả đói và mệt chú phóng nhanh về hướng đó, súyt va vào cả những chiếc xe qua đường.

Và chú đã đến nơi. Đó là vũ trường, cũng là nơi cô chủ đang có mặt. Chú xông qua cổng, nhanh đến nỗi anh bảo vệ không kịp nhìn thấy. Len qua những chân người, chú đến được nơi sàn nhảy, chú chợt rít lên mừng rỡ khi đánh được hơi của cô chủ. Ngọc Diễm đang say sưa theo điệu nhạc, đầu ngả lên vai người tình. Bỗng cô giật nảy mình, bước sai cả nhịp khi ống quần cô bị chú chó tinh khôn cắn giật. Nhìn xuống thấy chú Pôli, Ngọc Diễm tức giận quát :

_ Mày đến đây làm gì ?

Chú chó Pôli không bỏ chạy mà còn đứng lên bằng hai chân và tru lên một hồi dài. Cả sàn nhảy dừng lại, nhiều người tỏ vẻ khó chịu. Người tình của Diễm bực dọc:

_ Em lại đem chó theo đấy à ?

Ngọc Diễm cau có :

_ Em đem theo nó làm gì ? Nó đến với ai đó chứ, từ chiều đến giờ em đi với anh có nó đâu.

Tức giận, cô quay ra đá cho chú một cái, Pôli kêu ăng ẳng, nhưng trái với mọi lần, chú không bỏ chạy mà đứng lên bằng hai chân, hai tay chắp lại như vái lạy, miệng thi tru lên. Một người khách chăm chú nhìn rồi bảo :

_ Con chó này khôn đấy, chắc phải có sự gì, cô nên di theo nó xem sao ?

Lời nói của ông ta khiến Ngọc Diễm cũng nhận ra sự lạ ở Pôli, liền nói với nó :

_ Đi nào, có chuyện gì hả Pôli ?

Chú chó mừng rỡ khi thấy cô chủ đã hiểu ý, kêu lên mấy tiếng vui mừng rồi cong đuôi chạy trước. Chú về đến nhà trước cô chủ lại theo cửa bếp, chú chui vào nhảy lên giường bà chủ, vừa rít vừa cào như muốn báo tin. Ngọc Diễm về đến nhà, thấy ngôi nhà tối đen, vắng lặng, linh cảm có chuyện chẳng lành, cô tông cửa chạy vào và ôm mặt hét lên, khi thấy chú chó Pôli nằm ngang trên ngực mẹ mình, hai tay chú dang ra như muốn ôm lấy cổ bà, miệng vẫn rin rít như đang gọi…

Đàm Lan

Da diết nhớ bản hòa tấu của ngàn xanh


Mỗi ban mai Hà Nội, khi bình minh ngưng lại giây lát trên cầu Thê Húc, rồi dịu dàng lan tỏa sáng trong mỗi con đường, góc phố, tôi như tan hòa trong những tiếng chim lảnh lót chào ngày mới. Đây tiếng sơn ca như tiếng ngọc rơi từ chốn cao xanh, đánh thức những hạt mầm hy vọng trong mỗi người và những hạt mầm đang say giấc nồng trong đất, những mầm non mới nhú trên cành. Đây chú họa mi ngân rung những cung đàn say đắm, tấu lên khúc nhạc cháy bỏng khát vọng một cuộc sống tự do được sống, được yêu. Chú khiếu từ nhà bên trổ tài luyến láy những âm thanh muôn điệu của những giọng ca tài tử. Chú cu gáy vẫn trầm ngâm như một triết gia trong dòng hồi tưởng của một thời oai dũng, chí khí của đấng trượng phu quân tử lay động cả đất trời. Chú chích chòe hồn nhiên nhả những hợp âm trong vắt… trong lòng chợt dâng lên một cảm giác trong trẻo, lạc quan, yêu đời và khát vọng sống lạ kỳ. Vậy mà sao tôi vẫn bồn chồn, khắc khoải, day dứt với cảm giác như vẫn thiếu một cái gì rất đỗi thân thương, gắn bó; chẳng khác nào một mình xa quê giữa chốn phồn hoa, chợt da diết nhớ về quê hương yêu dấu, nơi có người mẹ hiền nắng mưa tần tảo, người cha nghiêm nghị nhưng độ lượng bao dung, người vợ dịu hiền thủy chung chờ đợi… và tiếng chim xanh ngắt giữa đại ngàn hòa cùng mây trời gió núi…

Tây Bắc gắn bó với tôi mấy chục năm trời: Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên… những con sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy… những con suối Thia, suối Tiên, suối Mơ, Nậm Na, Nậm Rốm…chở đầy lịch sử và huyền thoại, lúc dịu dàng như áng mây đầu núi, lúc như chú ngựa bất kham tung vó chốn thảo nguyên. Những cánh rừng huyền bí miên man bất tận, hôi hổi một sức sống diệu kỳ. Những con đèo quanh co uốn lượn ù ù gió hú đầy những bất ngờ thích thú. Đây đó những ngôi nhà sàn ấm áp khói lam, thấp thoáng bóng ai dịu dàng sắc chàm, tay búp măng rừng gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, giục bông hóa thân thành muôn sắc mầu thổ cẩm lung linh như bẩy sắc cầu vồng, hay nồng say trong vòng xòe rực lửa… và mỗi bình minh cao vút những tiếng chim xanh ngắt bản hòa tấu của nhạc sỹ thiên tài của thiên nhiên, ngân rung tinh tế, thánh thiện sự giao hòa của đất trời và tình người huyền diệu, say đắm đam mê đến nao lòng.

Cái kỳ thú đến ảo diệu của những tiếng chim rừng Tây Bắc chính là cái quyền lực và ma lực vô hình tưởng như bất tận, đem lại một nguồn năng lượng mới, giục giã thôi thúc vạn vật khát sống, khát tìm tòi khám phá vươn lên không bao giờ cạn. Khi vạn vật còn đắm mình trong giấc ngủ sương giá, chợt giật mình e không bắt kịp vòng xoay của tạo hóa, dẫu còn như ngái ngủ, thoáng giật mình rồi vươn vai cất lên bản hòa tấu của đại ngàn hòa cùng vòng quay minh triết của vũ trụ. Những tiếng chim rừng như mũi tên rời dây ná của một xạ thủ kỳ tài xuyên qua tĩnh lặng, đánh thức muôn loài. Muôn hạt mầm và những lá xanh non thoáng chút ngỡ ngàng xòe đôi mắt biếc, rì rào gọi nhau vươn cành xanh tán. Những hạt sương trong vắt, tinh khôi, bỗng hồng tươi, ngời lên roi rói như chuỗi vòng của tiên nữ mải vui trong khúc nghê thường, rơi xuống trần gian. Các bản mường còn chìm trong sương bỗng rộn vang tiếng nói, tiếng cười, tiếng các thiếu nữ gọi nhau ra suối lấy nước, chuẩn bị ra ruộng, lên nương. Tiếng chày cối nước thậm thình như nhịp trái tim của suối. Tiếng mõ trâu đàn lốc cốc ấm cúng. Tiếng chú gà trống gáy vang gọi mặt trời đầy quyền uy. Tiếng gà mái cục tác nhảy ổ. Tiếng mèo kêu nũng nịu. Tiếng chó sủa thân thuộc…

Trên cái nền tráng lệ của ngàn xanh cùng mây trời gió núi và nhịp sống sớm mai ấy, vút lên những tiếng chim đầy sinh lực, với những giai điệu hào hoa, tuyệt vời đầy chất ngẫu hứng được bàn tay tài tình của vị thần âm nhạc vô hình điều khiển. Mỗi giọng ca đều là tuyệt tác của tạo hóa, hài hòa cộng hưởng, thăng hoa đến tuyệt đỉnh trong dàn đại hợp xướng. Tiếng trầm như tiếng sấm mùa xuân. Tiếng thanh như gió reo, lá hát, như tiếng khèn xuân cất cao những cung bậc bất tận của tình yêu. Có âm thanh du dương, khoan thai nhẹ nhàng như cánh bướm dập dờn trong vũ điệu giao duyên, lúc réo rắt sang trọng kiêu kỳ, nhưng thầm kín cao sang. Có tiếng thì thầm như dòng nước mang trong mình bao tâm sự, như lời của đôi bạn tri âm tri kỷ. Lúc ríu ran như bầy trẻ nhỏ vô tư, hồn nhiên trong khúc đồng dao trong sáng. Khi rộn ràng hùng tráng như tiếng kèn xung trận, trầm hùng như nhịp cồng chiêng ngày hội, như những bước xòe nồng say gọi lúa lên xanh, ủ hồng bếp lửa mùa hạnh phúc. Lúc thổn thức, day dứt như nỗi nhớ người thương khi gió lạnh về. Khi như lời duyên e ấp của đôi người yêu nhau hẹn ngày xây tổ; có lúc như khẩn cầu chân thành, đắm đuối, khi hân hoan niềm hạnh phúc ngập tràn. Có lúc ấm áp như nắng xuân hồng gọi cây đời xanh mãi. Có khi chợt lặng đi như lắng chút suy tư trải nghiệm, bi tráng, rồi chợt vút cao lảnh lót tiếng vĩ cầm réo rắt ngân một khát vọng xanh. Lúc mong manh tơ mảnh, như một lời nhắc nhở phải biết trân trọng nâng niu những gì đã có… Có lúc cả dàn nhạc say mê hùng tráng trong khúc cao trào, lúc tất cả lặng đi nhường cho giọng ca tuyệt vời của giọng opera lĩnh xướng. Bầy chim thi nhau trổ tuyệt kỹ trước bình minh, kể cho nhau bao câu chuyện buồn vui của những tháng ngày trong hành trình nhân thế, trao nhau muôn lời yêu.

Trong tiếng chim rừng Tây Bắc như có ánh ban mai tràn ngập núi rừng, sáng trên ngọn cỏ biếc, ngời trên sóng bạc, nâng áng mây hồng e ấp đầu non. Có ngọn gió thơm trên áng tóc mây như làn rêu suối. Có những tà áo chàm thấp thoáng, nếp váy thổ cẩm đong đưa, mặn mòi thương nhớ. Có bóng ô hồng tinh nghịch nghiêng chao. Có tiếng đàn môi, kèn lá thầm thì tình tứ. Có nụ cười hàm tiếu hoa ban. Có dáng mẹ áo bạc mầu yêu thương trăn trở. Ăm ắp ánh vàng ruộng bậc thang dập rờn sóng nhạc mùa no ấm. Có tiếng gió reo vi vút đầu non. Có tiếng róc rách của những dòng suối hát. Có tiếng thác đổ ầm vang… Tất cả hòa quyện vào nhau, hài hòa cộng sinh trong sự sinh tồn và phát triển của tạo hóa.

Đã bao lần được thả hồn trong tiếng chim rừng tuyệt diệu của ngàn xanh Tây Bắc, vậy mà lần nào tôi cũng tràn ngập một cảm giác lạ lẫm, nguyên sơ; chẳng khác nào tuổi hoa niên, một sáng mùa xuân, chợt nhận ra trong ánh mắt trong veo của cô bạn gái tóc đuôi gà những tia sáng bồi hồi, lạ lẫm, như một dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể, thắp lên ngọn lửa tình yêu trinh trắng đầu đời. Tiếng chim như nối đất với trời, như sợi tơ hồng se bao duyên thắm, đánh thức vạn vật, đơm hoa kết trái dưới ánh mặt trời.

Ôi! Có bản nhạc nào tài hoa, diệu kỳ, bất tử đến say lòng như thế! Tiếng chim như những giai điệu thần tiên, đánh thức những hạt mầm tốt đẹp trong ta, để rồi ta chợt nhận ra: Cuộc sống vốn tươi đẹp biết nhường nào, chỉ có điều ta có biết trân trọng nâng niu và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn hay không? Tiếng chim như hòa vào máu thịt, làm ta thêm quí trọng sự hiện hữu của chính ta trên đời, để rồi trong buổi sáng tinh sương này, ta nhủ thầm một câu hỏi lớn: Ta đang sống hay ta chỉ tồn tại như chiếc bóng lờ mờ?

Trần Vân Hạc
Hà Nội

Gió chiều thênh thang

Kính Tăng Anh M.V.K

    Bảy mươi , đã quá nửa chặng đường
    Anh vẫn lặng thầm những yêu thương
    Vẫn ngân trong nắng lời mây biếc
    Vẫn thắp môi nồng một khóe hương

_ Bà ơi ! Sao hôm nay bà cho con mặc áo mới vậy hở bà ?

_ Ừ hôm nay là ngày mừng thọ ông con đấy. Con mặc áo mới để chúc ông con mạnh khỏe sống lâu nh .

_ Vâng ạ ! Bà ơi ! Thế con đi chúc ông bây giờ nhé.

_ Chưa đâu con ạ. Phải chốc nữa đã. Bây giờ con đi chơi đi, ngoan không được làm bẩn áo đấy nhá.

_ Vâng ạ !

Thằng bé trả lời rõ to rồi chân sáo nhảy ra cửa, nó líu lô với những đứa trẻ bên ngòai về điều mà nó vừa được nghe bà nó nói. Trong nhà, bà nó mỉm cuời khẽ lắc đầu rồi đi vào trong bếp.

_ Gần xong chưa hả con ?

_ Cũng sắp xong rồi mẹ ạ. Không biết bố con đã chuẩn bị gì chưa ?

_ Để mẹ lên xem ông ấy đang làm gì.

Bà Đoan chậm rãi đi lên từng bậc cầu thang. Lên đến tầng thứ ba thì bà phải dừng lại nghỉ một chút. Ngôi nhà mới xây cao đến năm tầng, các con đã chu đáo làm cả thang máy để ông bà lên xuống cho đỡ mệt, nhưng ngọai trừ những lúc có việc cần, hay sức khỏe không tốt lắm thì hai ông bà mới dùng đến nó. Bình thường thì đi cầu thang bộ, cũng coi như một cách thể dục cho khỏe nguời. Bà Đoan bước tiếp lên tầng thứ tư. Đây là tầng dành cho ông bà. Ở trên cao, vừa thóang mát lại vừa yên tĩnh, một khỏang sân trước được thiết kế cho một khỏang vườn xanh nho nhỏ, đủ để ông thư thái lúc thưởng hoa, tỉa lá. Tầng lầu được ngăn làm ba phòng, một phòng ngủ, một phòng khách và một phòng làm việc của ông. Đứng trước cửa phòng làm việc của ông, bà gọi khẽ :

_ Ông ơi !

Không có tiếng trả lời, bà lại gọi lần nữa cùng vài tiếng gõ vào cửa, vẫn không có tiếng ông trả lời, bà đẩy nhẹ, thấy cửa không khóa, bà xô rộng ra, nhìn vào trong chỉ thấy những giá sách, và những quyển báo, tap chí cùng những xấp bản thảo trên bàn như mọi ngày, nhưng chẳng thấy ông đâu. Ông đi đâu vậy nhỉ ? Và đi từ bao giờ ? Lúc sáng sớm bà có thấy ông tập thể dục trước ban công, bà đã pha một ấm trà để sẵn trên bàn, rồi cùng con cái tíu tít chợ búa, không biết ông đã ra khỏi nhà từ lúc nào. Chắc ông đi mời thêm một vài ông bạn già nào đó thôi. Bà Đoan tần ngần một chút rồi quay trở xuống. Bà đang còn phải bận tâm với sự chuẩn bị lễ mừng  ông Đoan vừa tròn thất thập.

Ông Đoan vẫn ngồi nguyên một chỗ từ lúc mới ghé xuống. Chiếc ghế đá này không biết đã bén hơi ông bao nhiêu lần rồi. Ông đã từng ngồi trên nó mà ngắm những đổi thay của đường phố Hà Nội, con người Hà Nội, nếp sống Hà Nội. Có những điều ngỡ như ông dã rất thuộc, vậy mà vẫn cứ lạ lẫm mỗi khi chạm phải. Như cái hồ Hòan Kiếm này. Nó đã tồn tại cả nghìn năm , và nó vẫn tiếp tục tồn tại với những bất biến của nó. Nó đã trở thành một biểu tượng đặc trưng của đất Hà Thành, là một góc nhỏ rất thiêng liêng trong lòng mỗi người con Hà Nội, để dù có xa mãi tận nơi đâu, thì chỉ cân nhìn lại nó là đã như thấy lại cả một cội nguồn.

Người người qua lại, xe cộ dập dìu, Hà Nội bây giờ đã xuất hiện trên đường phố những chiếc xe bốn bánh lướt êm trong gió nhiều hơn  những tấm áo đa dạng cả về những kiểu dáng và màu sắc cũng nhiều hơn. Không còn là một Hà Nội xa xưa với những manh áo nâu cũ kỹ, với những chiếc xe đạp kẽo kẹt tiếng sên líp.  Ông say sưa trong sự liên tưởng, miên man trong suy tư và ngắm nhìn. Những đổi thay trong những nếp nhà Hà Nội, trong những sinh họat đời thường của người dân Hà Nội, và cả những hối hả của một Hà Nội mới hôm nay. Một Hà Nội từng thương tích, từng lành lặn, từng khắc khỏai va cũng từng nôn nao. Một Hà Nội đang kiêu hãnh ngẩng cao đầu, đang vững chãi đi lên từng bước, đang đem lại từng ngày từng ngày rạng rỡ không chỉ cho con người Hà Nội mà cho cả một dân tộc Việt Nam. Nhưng ông vẫn thây nó không có gì thay đổi trong ông, như một cô gái thuần Việt, nết na, thùy mỵ, dù có khóac bên ngòai những sắc màu lạ lẫm, cao sang thế nào đi nữa thì cũng vẫn không thể mất đi cái vẻ tự thân vốn có. Cái vẻ nền nã, lịch lãm, thanh tao và cả một chút mơ mộng, tất cả đã làm nên một nét riêng cho cả con người và cảnh vật nơi đây. Chính vì thế mà bất kể ai đã từng may mắn được sinh ra ngay trên chính mảnh đất này đều mặc nhiên ghi sâu một thứ tình cố hữu trong tận cùng tiềm thức.

Ông đã sinh ra tại đây, đã lớn lên, đã thấm đẫm đến từng tế bào hơi thở Hà Nội, đã từng tê buốt những mùa đông, dã từng khô cháy những mùa hạ, đã từng ngơ ngác những mùa thu, và cũng đã từng hồng thắm những cánh hoa đào mùa xuân. Cho dù đã có đến gần hai mươi năm ông là giáo viên trên một vùng núi tỉnh Lào Cai, cũng có thể gọi đó là một mái nhà thứ hai của ông, nhưng khi trở về lại Hà Nội thì mọi cảm xúc trong ông vẫn còn nguyên.

Ông Đoan khẽ trở mình, thở nhẹ một làn hơi.Hôm nay là ngày ông tròn bảy mươi tuổi, ông đã từng trải qua sáu lần tròn số, những lần trước, ông cũng luôn có một cảm giác lênh đênh, man mác khi đời người lại bước qua thêm một khấc thời gian. Nhưng những cảm giác ấy, không có nhiều nghĩ suy trong ông như lần này. Ngày nay, với mức bình quân tuổi thọ được tăng trưởng theo đà sống của xã hội, thi cái tuổi bảy mươi đã không còn là sự “xưa nay hiếm” nữa, nhưng “tri thiên mệnh” thì đúng. Một đời người, đến giờ phút này, ông đã đi qua biết bao thăng trầm của cuộc sống. Làm sao có thể đếm hết được những gì đã xảy ra, Hàng nghìn, hàng triệu những sự kiện lớn nhỏ, hàng nghìn hàng triệu những vui buồn được mất. Người ta chỉ có thể nhớ những sự kiện lớn, những vui buồn được mất rõ rệt của một thời đọan nào đó, những điều mà có thể là một sự đánh dấu chính yếu cho những bước ngoặt đời người. Còn lại thì tản mát theo những trôi chảy của thời gian, như một vốc cát trên bàn tay, dù có cố khép chặt những ngón tay thế nào đi nữa, thì nó cũng vẫn lọt qua từng kẽ, để rồi theo gió đi vào hư không. Nhưng với ông, có những nhỏ nhặt vẫn còn được lưu giữ, nó hiển hiện thành những con chữ trên những trang viết. Những con chữ có một sức hàm chứa đến vô tận những chắt chiu, những trải nghiệm, những rút tỉa từ bao cuồng xoay trong vụ trụ nhân sinh này.

Với hàng chục đầu sách, ông đã gói gém biết bao ước nguyện, biết bao trăn trở, biết bao ngọt đắng của một kiếp người. Những thực tại, những phù hư, những khôn ngoan, những ngốc dại. Có những điều từ ở chính ông, có những điều ông nói hộ người. Những điều không nằm ngòai bản thể của cuộc sống.  Người đời vẫn cửa miệng “May hơn khôn”. Mà những cái có thể gọi là “May” ấy thì có được bao nhiêu ? Và cái lẽ dại khôn ở đời thì biết nói sao cho rành mạch. Khôn ở ngừơi này lại là dại ở người kia, và ngược lại. Suy cho cùng, con người ta chỉ thường quan tâm và hành xử theo những gì mà bản thân người đó cho là giá trị. Vì thế mà các giá trị của cuộc đời thường không có một chuẩn mực nhất định, nó lại thường thay đổi theo từng giai đọan lịch sử, đôi khi nó lại chỏi nghịch nhau trong những quan niệm trái chiều, vì thế mà nảy sinh ra bao điều oan trái, bao nỗi khóc cười. Để ngòi bút của ông cứ thầm lặng đi theo mà ghi chép lại . “Anh ạ ! Anh đã từng nói , đời sống con người không giá trị ở con số tháng ngày, mà nó ở những gì mà ta đã sống, đã làm, đã góp vào cái giá trị chung của cuộc đời này

Ông nhớ, ông nhớ chứ, không phải là những hào phóng ngôn ngữ tôn vinh của những giải thưởng trong và ngòai nước, mà là sự ghi nhận của người đời với những moi gan rút ruột của ông. Ông cũng quá hiểu đằng sau sự hào phóng ấy là gì. Ông đã đi qua, đi qua nhiều lắm rồi những cái gọi là “thói thường” của nhân thế. Có là gì đâu khi vốn dĩ cái đích lớn nhất của con người là được đứng lên một cái bục cao nào đó. Chỉ khác nhau ở chỗ, người ta đi đến đó bằng sự bình thản từ nội tại của chính mình, hay bằng sự vội vã lấn chen nhau qua những cái cầu vượt. Người ta vẫn nói “Cuộc đời là một sân khấu lớn, mà mỗi người vừa là diễn viên, cũng vừa là khán giả”, nhưng ông nghĩ khác hơn một chút : “Đời người như tham dự một phiên chợ, mua mua bán bán, khác nhau là khi tàn buổi chợ, ra về với thứ gì trên tay”.

Cho đến lúc này, ông chưa bao giờ phải hối tiếc nếu những sai phạm của mình gây tổn thương trầm trọng cho ai đó, và ông cũng không phải hổ thẹn với những gì ông có được vì đã không tì lên vai người khác.Ông vô cùng cảm ơn duyên mệnh đã cho ông có được một chút thiên tư, để có thể thấu tận những dở hay của người đời, nhờ thế mà cuộc sống cũng đầy đặn phong vị hơn. “Anh đã sống đúng nghĩa với một chữ NGƯỜI viết hoa. Đó không phải là một lời nói dua nịnh của một người hòng được ở ông một chút lợi danh thường tình, mà ở một tấm lòng, một chân tình, một sự đồng cảm ít ỏi mà ông đã gặp được trên những chặng đường. Chỉ là một cô học trò nhỏ bé, một trái tim có cùng nhịp đập chí hướng với ông, thời gian tương ngộ chỉ có thể được tính bằng những tích tắc ngắn ngủi của chiếc đồng hồ, nhưng cảm nhận và tồn tại bền bỉ trong suốt cả chục năm trời trong một hòan cảnh địa lý cách biệt, thì không cái gì cân đong được. Ông vui vì điều đó, bởi bao tâm lực trong phạm vi chức trách, tâm huyết cho sự truyền thụ không chỉ là tri thức, mà còn là sự vun xới xây đắp nên những nhân cách, có được nhiều lắm đâu những tâm hồn, những trái tim đón nhận ngọn lửa nhỏ từ ông. Với ông, cái thực sự đáng quý, thực sự giá trị nhất trên đời này, chỉ là sự chân thành yêu mến mà con người có thể mang đến cho nhau.

Trong hành trình dằng dạc của một đời người, có hàng vạn, hàng vạn những con người gặp nhau rồi đi qua nhau, có đọng lại được trong nhau chỉ là rất ít.Và ông nghiệm ra một điều “ chỉ có những người đã từng phải chịu sự thua thiệt, từng phải chịu đựng những bất công vô lý của tạo hóa, của xã hội, thì mới biết trân trọng những giá trị đích thực của cuộc sống, những giá trị không thể quy đổi ra những thứ vật chất thông thường. Còn những người số phận may mắn cho họ được hưởng những ưu đãi một cách đương nhiên mà chẳng gặp phải một trở lực nào, thì họ rất dễ trở nên hợm hĩnh, hợm hĩnh một cách ngu ngốc, và cũng dễ trở nên ác tâm, ác tâm một cách tự nhiên .”

Cô học trò nhỏ bé của ông cũng như ông, là người thuộc vế trên. Vì vậy mà có những sẻ chia sâu sắc với nhau.Có thể gọi đó là một cái may vậy. Lá thư gần đây đến đã đem đến cho ông một niềm vui và chút gì nhẹ nhõm. Cô bé (dù đó là một người phụ nữ đã ngòai bốn mươi, nhưng với ông, cô ấy vẫn mãi là một cô bé) đã đọc rõ cảm trạng của ông. Một thứ cảm trạng của lứa tuổi. Thực ra thì cũng không có gì là quá khó hiểu, xong với một người trong lĩnh vực tư duy thì cách hiểu có khác hơn, thâm trầm những góc cạnh hơn, và cũng là san sẻ được nhiều hơn. Những lời lẽ đầy xúc cảm trong thư cứ lởn vởn mãi trong ông . “Em biết, trong những ngày tháng này, anh có rất nhiều những suy nghĩ, mà phần lớn là những điều không vui. Đó là cảm trạng phải có khi cái thời đọan phải đến với mỗi người. Con người sinh ra, như đã có sẵn một lập trình, ai rồi cũng phải nhận đủ những, chua cay đắng ngọt của cuộc đời, và ai rồi cũng phải đi về một nơi. Nơi ấy không ai chứng minh được nó có thật hay không ? Người ta chỉ biết nói về nó như một dự ước, phần nhiều mang tính cảnh báo cho những người có bản chất không tốt trong thế giới hiện tại này. Vì thế, em chỉ tin vào những gì đang có thật trước mắt Rằng một đời người chỉ thực sự đáng sống khi không phải hối tiếc, không phải dằn vặt lương tâm lúc về chiều. Anh đã là một người như thế. Anh thực sự là một đốm sáng giữa màn đen cho em hướng đến. Cho dù những người như anh và em luôn phải gánh chịu những vùi dập của cuộc đời, khi ưu thế thuộc về số đông, nhưng ta vẫn bước đi bằng những bước chân rắn rỏi, bằng một phong thái đĩnh đạc, trong một tư thế đàng hòang. Anh ạ, vẫn biết mỗi chúng ta đều không thóat khỏi quy luật của sự sinh tồn, thì buồn bã mà làm chi, nghĩ ngợi mà làm chi. Cho dù ngày mai sẽ là một tấm màn đen ụp xuống, thì hôm nay ta vẫn vui cười, hồ hởi mà đón nắng đang lên. Chung quanh anh vẫn tràn đầy những tình yêu thương nồng đậm, ngày càng ấm áp hơn, tha thiết hơn. Vậy thì anh hãy cứ mỉm cười mỗi sáng thức dậy, hãy cứ ân cần nắm những bàn tay, và đừng phí hòai thời gian cho những gì chưa đến, hãy chỉ biết hôm nay và hôm nay. Thực ra con người ta chỉ có hai khái niêm thời gian thực sự, đó là hôm qua hôm nay.Cái gọi là ngày mai ấy vốn chỉ là một khái niệm trìu tượng. Nó không có mặt mũi cụ thể. Hôm qua là những gì ta không lấy lại được, hôm nay là những gì ta đang có thể sờ nắm được. Em biết, không phải anh không biết những điều này, nhưng trong một cảm trạng, đôi khi anh quên mất nó đi, nên em xin phép được nhắc lại phần nào, hy vọng anh sẽ có được một trạng thái tinh thần tốt nhất, để vẫn có thể trao gửi những ước vọng tốt đẹp của cuộc sống này cho thế hệ chúng em, và để đón nhận những món quà cuộc sống mà anh đang có, trong lòng tay thân thương của những người người, trong đó có em, có cô học trò nhỏ bé miền xa của anh này.”

Đúng, cô bé nói không sai, ông đã từng nói những lời tương tự với một vài người, nhưng khi cần ông lại quên nói với chính ông. Trong ông bỗng ngồn ngộn một thứ cảm xúc, cái thứ cảm xúc diệu kỳ mà ông đã từng được trao đi, và từng được nhận lại. Cái thứ cảm xúc ấy như một nồi nước thơm đang bốc hơi nghi ngút, tỏa khắp tâm hồn ông một niềm thư thái lâng lâng. Ông nhớ đến rất nhiều gương mặt, những gương mặt long lanh những ánh mắt cười, ông nhớ đến những trang bản thảo còn đang bề bộn, những con chữ ngoan ngõan xếp hàng ngay ngắn dươí từng ngón tay ông. Ông nhớ đến những nụ hoa sáng nay vừa hé, nhớ cả tiếng hót tươi tắn, lảnh lót của chú chim họa mi lách chách trong lồng mỗi lúc ông cho ăn. Ông mỉm một nụ cười.

Chiều đã hơi muộn, những tia nắng đang nhạt dần, con gió đầu đông se se, khiến ông Đoan hơi rùng mình, kéo lại tầm khăn len quàng cổ, cũng là một món quà của cô học trò nhỏ ấy gửi ra. Ông lại mỉm cười, tâm trạng nhẹ nhõm, sực nhớ đến những gì sắp diễn ra trong ngôi nhà ấm cúng đang quây quần cả ba thế hệ. Ông thong thả đứng dậy, khẽ vặn mình cho đỡ mỏi, rồi ông chậm rãi từng bước chân. Chợt ông dừng lại, đôi môi lại hé ra, vì phía trước kia, đang bước ngược về phía ông, là bà với cái áo len dầy trên tay, với những bước đi nong nả quen thuộc, với vóc người thanh mảnh, nhẹ nhàng đã từng hôm sớm cùng ông suốt mấy chục năm dài. Bà đến cạnh ông, ánh mắt dịu dàng, ấm ngọt, chẳng nói một lời nào, bà ân cần khóac tấm áo lên người ông. Rồi vẫn im lặng, bà nhẹ bước bên ông. Những chiếc lá lăn tăn đuổi nhau trên đường, một làn hương thoang thỏang vờn quanh. Hà Nội khi chiều xuống, nghe thân thương ấm áp chi lạ.


Đàm Lan

Trái tim giàu có

Cuộc triển lãm thành công ngoài dự tưởng.

Suốt một tuần liền không ngày nào gian sảnh lớn không chật ních người. Khách đến thuộc mọi tầng lớp, đủ mọi lứa tuổi. Từ bậc trí thức cao niên đến lớp học sinh còn quàng khăn đỏ, từ công chức cổ cồn cà vạt đến dân lao động áo đẫm mồ hôi, từ các cô gái tóc nâu môi trầm đến những bà giáo đã nghỉ hưu dáng vẻ lịch sự. Phải nói chưa có cuộc triển lãm nào -dù là của câu lạc bộ nỗi tiếng gồm những nghệ sĩ tên tuổi bời bơi – thu hút nhiều người xem, ghi lại cảm tưởng chân thành như thế. Đặc biêt họ đều đến bằng nét mặt tươi tắn và ra khỏi phòng với nét mặt khác – bàng hoàng, ngơ ngác, xót xa, căm phẫn. Có người khóc.

Chắc các bạn đang muốn biết đây là cuộc triển lãm gì, do ai tổ chức, những ai tham gia.

Xin thưa: triển lãm ảnh, hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh tổ chức và chỉ một tác giả tham gia.

Nói cách khác là toàn bộ tác phẩm trưng bày đều do một tay máy thể hịên, lại là một tay máy nghiệp dư, chưa từng nhận tước hiệu nào về loại hình nghệ thuật gần gũi nhưng quá tốn kém này và chỉ toàn ảnh đen trắng thực như cuộc sống, không hề có dấu vết của kỷ thuật kỷ xảo.

Các bức ảnh có nội dung thế nào mà tác động đến vậy ?

Có lẽ các bạn đang nóng lòng muốn biết, nhưng xin hãy làm quen với tác giả trước đã.

Đó là một bác sĩ, du học Hoa Kỳ từ năm 1970 rồi định cư bên ấy và đã có gia đình.

Sau nhiều năm bằn bặt ông về thăm quê hương. Một lần rồi nhiều lần. Sang đầu thế kỷ mới ông cùng gia đình xin về hẳn. Hiện ông đang sống tại thành phố này.

Về ông, thông tin tôi mới chỉ có vậy.

Khi có cuộc triễn lãm khác lạ nói trên, bị ám ảnh bởi những tấm ảnh, bị thu hút bởi ý tưởng của tác giả tôi nảy ý muốn gặp ông để tìm hiểu thêm, viết một các gì đó nhưng công việc linh tinh của một phóng viên tập sự như tôi đã chiếm hết quĩ thời gian ít ỏi khiến tôi không sao thực hiện được. Sau buổi khai mạc, viết tin xong tôi về miền Tây rồi sau đó theo đoàn các nhà báo và doanh nhân lên cao nguyên trong chương trình 500 phần quà cho người nghèo ở Đắc Lắc. Mọi tin tức ở thành phố, cả chi tiết về cuộc triển lãm tôi kể trên đây đề nhận từ bạn bè qua mobile.

*


Tôi là người gặp nhiều may mắn. Đường học vấn suôn sẻ, gia đình yêu thương.Thích kiến trúc nhưng xui khiến thế nào tôi lại thi và đỗ khoa báo chí. Học với nhiều thầy là những nhà báo giàu kinh nghiệm, đầy tâm huyết, tôi đâm say mê ngành học này. Tốt nghiệp loại giỏi, cộng với những bài viết được đánh giá cao khi đang là sinh viên tôi được nhận làm phóng viên tập sự cho một tờ báo có uy tín. May mắn cũng theo tôi lên cao nguyên và tôi được biết thêm nhiều về ông.

Ngày thứ hai trong chương trình, đoàn đến một làng nghèo của huyện vùng sâu. Sự nghèo khó hiện ngay trên cây cỏ ven đường. Đất cằn khô. Dường như lâu lắm rồi không có hạt mưa nào. Người già khô quắt, trẻ nhỏ gầy gò đen nhẻm đi ngơ ngác dưới nắng. Lác đác vài con bò trơ xương uể oải qua. Đón gói quà gồm hai mươi cân gạo, hai lít dầu ăn, hai cân đường và năm hộp thịt mọi người mừng ra mặt..

Sinh ra, lớn lên học hành bây giờ đi làm việc ở thành phố tôi không ngờ có nơi nghèo đến thế. Quen thấy cao nguyên qua hình ảnh các cô gái duyên dáng mặc váy thổ cẩm; các chàng trai khoẻ mạnh ngực trần vấn khố nhảy múa trên sân khấu hoặc thấy trong phim ảnh những chú voi đủng đỉnh đưa khách du lịch dạo hồ ; những ngôi nhà Rông cao vút ; nhà dài hoành tráng ;những buổi uống rượu cần đông vui, lần đầu tiên chạm thực tế một cao nguyên khác tôi hết sức ngỡ ngàng.

Ngồi giữa khoảnh sân gió bụi cạnh những con người thiếu thốn mọi thứ, cảm xúc của tôi thật khó tả. Tôi thấy mình quá đầy đủ, quá may mắn.Phải làm gì đây – cô gái qua tuổi hai mươi chưa lâu, một phóng viên mới tập tểnh vào nghề trong tôi tự hỏi – để giúp đỡ họ để có thêm nhiều người cùng quan tâm đến vùng đất này theo kiểu nói hiện nay là “đưa cần và bày cách câu cá” chứ không chỉ là “cá” – những gói quà có tính chất cấp cứu dù rất ý nghĩa này?

Trên đường về đoàn ghé thăm Trung tâm Y tế huyện. Với con mắt của một phóng viên mới vào nghề, tôi tranh thủ nhìn ngó ghi chép may ra thu luợm chút gì cho bài phóng sự đang hình thành. Bất chợt tôi gặp nét quen quen trên một tấm ảnh treo trong phòng. Thấy tôi chăm chú nhìn một người phụ nữ dân tộc có mặt ở đó chỉ vào người đàn ông cười hỏi :

_ Co quen không? Co biet ai đây không?

Tôi lắc đầu và nhìn lại lần nữa. Bức ảnh gồm một bé trai gầy ốm, tay che miệng nhưng tôi biết đang cười vì ánh mắt rạng rỡ đang ngồi trên chân một người đàn ông. Vây quanh là ba đứa trẻ khác. Người ấy cũng cười. Nụ cười dễ mến. Tôi ngớ người nhận ra chính là ông, liền bấm ngay mấy kiểu.

Người phụ nữ đến bên tôi, chỉ vào ảnh giải thích bằng tiêng Kinh thiếu dấu :

– Bac si Tâm. Va miêng cho may đưa đo. Ơ xa lam. Lên đây lâu roi.
( Bác sĩ. Tâm.Vá miệng cho mấy đứa đó. Ở xa lắm. Lên đây lâu rồi )

Quay lại văn phòng trạm, tranh thủ lúc mọi người nghỉ ngơi tôi tìm trạm trưởng hỏi thì được biết bức ảnh đó chụp cách đây ba năm trong lần ông lên phẫu thuật cho trẻ bị hở hàm ếch. Ông rất tốt, rất giản dị và rất thương bọn trẻ, lên đây nhiều lần. Hiện ông vẫn đỡ đầu cho cả mấy đứa trong ảnh.

Ngồi trên xe về lại thị trấn, hình ảnh buôn làng cằn cỗi; cả hình ảnh ông giữa bọn trẻ cứ quấn lấy tôi. Thấy tôi lắng lại mọi người xúm nhau trêu :

– Chắc là nhớ phố rồi. Hay đang cảm anh chàng nào đây. Khai mau. Tên gì? Ở đâu ?

Tôi cười nhập cuộc bằng giọng nói bắt chước người phụ nữ lúc nãy khiến họ cười rầm :

_ Tên kho đọc lăm. Chưa quen miêng. Không noi được.

Chợt mobile reo. Nhỏ Hương nheo nhéo rồi dập máy tức khắc:

– Chàng của mày cũng đang đi cao nguyên đấy. Tìm đi. Bye.

Tôi gọi lại, gắt:

– Đồ con khỉ. Chàng nào vậy ?
– Thì chàng triển lãm ảnh đó.
_ Đồ quỉ sứ. Mai nữa về tau cho mày biết tay.

Tôi quát Mai tắt máy cười thầm. Con quỉ Ròm này dám gọi ông là “ chàng của mày” chỉ vì hôm khai mạc tôi dại miệng hé cho nó kế hoạch tìm hiểu thêm về những gì dẫn tới cuộc triển lãm và khi theo đoàn công tác, gọi cho nó tôi thường hỏi thăm về phòng ảnh.

*

Điểm đến cuối cùng sẽ đến là một huyện phía đông bắc.

Đoàn nghỉ đêm tại Buôn Ma Thuột. Theo chân nhóm doanh nghiệp thăm phố, tôi có một đêm lang thang khắp chốn với gió thật thú vị.

Khác với hình dung trước khi lên đây, Buôn Ma Thuột có dáng dấp của người trai vâm váp. Mới, rộng, khoáng đạt, đẹp, sạch và cả xanh nữa.

Gió thì khỏi kể. Thành phố nơi tôi ở suốt ngày sùng sục xe cộ, không khí nóng sực, ra đường chỉ muốn thật nhanh đến nơi để tránh khói bụi. Tại đây,tôi được thả bộ dọc theo các vỉa hè lát gạch bóng loáng, được hít thở không khí mát mẻ thoảng mùi cà phê. Theo anh Hải một doanh nhân gốc ở đây thì Buôn Ma Thuột có rất nhiều cơ sở chế biến đang hoạt động ngày đêm. Mặc cho gió đùa nghịch thổi tung mái tóc, tôi chân sáo hát “Có cái nắng, có cái gió, có nỗi nhớ …” bài hát quen thuộc về thành phố này.

Cả nhóm ghé lại một quán cà phê vườn. Quả thật là vườn. Cây tự nhiên rất nhiều toả bóng từ trên cao che đỡ cho bao nhiêu chậu cảnh đặt đây đó , bên các bộ bàn xinh xắn. Chị chủ quán tươi tắn là người quen của anh Hải tiếp chúng tôi sau câu chào thân mật.

Câu chuyện bên ly cà phê xoay quanh các vụ tiêu cực báo chí vừa phanh phui, chẳng biết từ lúc nào lại quay sang văn học nghệ thuật . Hoá ra các doanh nhân cũng rất quan tâm đến lĩnh vực này chứ không phải chỉ biết thương trường với sản phẩm thị phần thuế khoá, hoặc những tiêu cực của xã hội.

Tôi ngồi nghe, thỉnh thoảng góp lời. Chợt chị chủ quán sực nhớ :

– Hải ơi ! Ông Tâm vừa “rinh” một giải về ảnh đấy. Bức ảnh gây xúc động lắm.
– Tâm “hàm ếch” hở chị ? , anh Hải nhướng mắt hỏi,
– Thì còn Tâm nào nữa. Lâu rồi chị không thấy anh ấy lên đây. Đọc báo thấy nói ông vừa có một triển lãm cá nhân ấn tượng lắm.

Chi chủ quán xác định khi cho thêm hạt dưa vào đĩa.
Tôi mừng thầm. Vậy anh Hải là người rất quen với ông, tôi sẽ khai thác từ anh Hải.
Quả thật may mắn theo tôi trên mọi chặng đường.
Đêm đó tôi không cho anh ngủ bằng cách gọi thêm một tách cà phê nữa và tại nhà khách anh kể đầy đủ với tôi về ông.

*

Quê ông ở Quảng Nam trong một làng nhỏ thuộc huyện miền núi. Làng nghèo. Nhà ông cũng nghèo. Dân ở đó sống bằng nghề đốn củi bán cho thương lái đem về phố chợ. Chính ông khi còn là học sinh trung học đệ nhất cấp trường huyện cũng tranh thủ vào rừng giúp cha mẹ những hôm cuối tuần về thăm nhà. Ông học rất giỏi, vì vậy gia đình cương quyết bắt ông theo học tiếp trung học đệ nhị cấp tại Đà Nẵng sau khi thi đỗ trung học đệ nhất cấp với số điểm tối đa. Bất chấp khó khăn thiếu thốn, ông vượt hẳn các công tử tiểu thư thành phố về sức học. Đỗ ưu hạng Tú tài hai, ông được cấp học bỗng du hoc tại Hoa Kỳ. Phần sau là như tôi đã kể ở trên.

Mất liên lạc từ sau 1975, khi được phép về thăm lần đầu nhiều năm sau đó ông đau đớn hay tin bố đă qua đời vì ung thư gan, mẹ cũng luôn đau ốm. Ngôi làng của ông khác nhiều -gần như bị san thành bình địa – so với năm ông sang nước người

Bà con mất nhiều, số do đạn bom, số do bệnh tật. Sửa sang nhà cửa cho mẹ. gửi lại một ít tiền để mẹ sinh sống, ông trở lại Mỹ.

Những lần về sau, ông đi thăm thêm nhiều nơi hơn nửa như tìm lại kỷ niệm nửa để ngắm nhìn quê hương đổi thay. Ông sững sờ thấy có quá nhiều trẻ dị dạng. Nhẹ là hở hàm ếch. Nặng hơn là đầu to chân tay teo quắt không đi lại được. Có trẻ chỉ nằm u ơ một chỗ. Có những em ở độ tuổi hai mươi mà như em nhỏ lên bảy gần như không có nhận thức, ngu ngu ngơ ngơ. Cả thằng bạn tuổi nhỏ lấy vợ Đà Nẵng, nghe đâu cũng sinh con như vậy, mà những hai đứa. Người lớn thì mắc chung một chứng là suy gan , nặng nữa là ung thư rồi chết. Ông rất buồn.

Ông biết họ bị nhiễm Đi – ô – xin. Tìm đọc sách báo ông mới hay suốt những năm từ 1968 đến 1974, huyện núi quê ông là nơi bị máy bay Mỹ phun thuốc khai quang cho cây trụi lá để dễ bề kiểm soát “ Cộng quân. “

Thảo nào.

Ông nhớ lại những khu rừng hàng loạt rụng lá trái mùa ông đã chứng kiến thuở đang học ở Đà Nẵng về thăm nhà theo cha vào rừng đốn củi và mùi ổi chín váng vất trong không khí mỗi khi nghe tiếng máy bay bà già ù ù trong rừng xa. Ông còn nhớ hồi đó ông cũng như bao người đi cùng đã lấy làm ngạc nhiên nhưng không kém phần thích thú khi thoải mái đốn chặt cây đã chết. Nhiều tờ báo khác cũng nói rằng còn rất nhiều thùng hoá chất chôn trong lòng đất. Dân đi khai hoang phát hiện thấy. Một số được lấp lại, mộy số khác bị người dân cạy nắp đổ ven suối, lấy thùng đựng nước uống.

Vậy là đã rõ. Ông đau xót quay về Mỹ. Và ông lâm bệnh.

Nền y học tiên tiến của nước giàu có nhất thế giới đã nhanh chóng xác nhận ông bị nhiễm thứ hoá chất chết người đó. Nó tàng ẩn từ lâu và đang dần huỷ hoại lá gan của ông.

Đau đớn nhưng bình tĩnh, ông điều trị bằng phương thức nghiêm ngặt với sự hổ trợ của các dược phẩm tốt nhất mong khống chế bệnh.

Đầu năm 2000, ông xin hồi hương.

*

Nhớ đến biệt danh chị chủ quán nhắc hồi tối, tôi hỏi anh Hải :

– Vậy cái tên Tâm “hàm ếch” là do đâu ?
– Ngốc ơi ! Vậy mà cũng là nhà báo.

Cốc đầu tôi rõ đau, anh Hải kêu lên rồi tiếp :

– Sau khi về nước ông đi nhiều nơi. Những nơi mà ông được biết thêm cũng chịu tình cảnh như quê ông. Ông gặp thêm nhiều những trẻ em như thế, đa số tập trung ở các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên nơi đời sống hiện còn rất nhiều khốn khó.

Nhớ đến bức ảnh ở trạm y tế, tôi sáng dạ hẳn :

– Vậy là ông ra tay giúp người không may, cụ thể là phẫu thuật cho trẻ nhỏ hở hàm ếch và mang biệt danh đó luôn.
– Khá rồi đấy. Bây giờ thì có thể là nhà báo rồi.

Anh Hải châm thuốc cười trêu tôi và lên giọng hài hước :

_ Là bác sĩ phẫu thuật, ông làm mấy việc đó dễ dàng nhanh chóng như ta khâu chỗ áo bị rách.Điều đáng nói là ông không lấy một xu nào của người bệnh lại còn cho thêm thuốc men nữa.
_ Một mình ông làm sao tập trung bọn trẻ từ những nơi rất xa nhau như thế ? Kinh phí đâu cho ông thực hiện các chuyến đi đó.

Tôi băn khoăn.

_ Thì nhà báo tự tìm ông mà hỏi. Khai thác tui nhiều quá rồi đấy cô ơi. Số phone đây.

Anh đọc cho tôi lưu vào máy, ngáp rõ to rồi đứng dậy vươn vai. Biết đến lúc
phải “tha” cho anh, tôi cũng đứng lên thu xếpđồ đạc ngày mai đi tiếp.

_ Mà nhóc ơi ! Tìm hiểu hơi bị kỷ đấy nhé. Liệu đấy. Con gái ông cỡ tuổi em đó. Đừng có mà tơ tưởng.

Chao ôi ! Anh Hải cũng về phe với quỉ Ròm mà trêu tôi. Sao lúc này anh không chịu nhớ tôi là phóng viên, lại là phóng viên tập sự chuyện gì cũng muốn cặn kẽ. Thu thập, lượm lặt là một trong nhiều mẹo tôi học được ở các thầy, các anh chị kinh nghiệm trong nghề. Chả lẽ anh không biết vậy sao. Theo hướng anh vừa khuất,tôi hét lên :

– Quỉ tha ma bắt anh đi. Anh Hải ơi.

*

Chưa kịp gọi, tôi đã gặp ông. ( Lại may nữa )

Xã cuối cùng nơi đoàn đến nằm sát ranh giới hai tỉnh. Đường đi đã bắt đầu hẹp lại, Rừng khộp lùi dần. Rừng le tiếp nối. Rồi xe qua những cánh đồng bông cằn cỗi, những ruộng ngô khô cháy. Thỉnh thoảng hiện ngôi làng ẩn dưới tầng cây xanh, nhà cửa khá khang trang Có lẽ đây là nơi trù phú nhất huyện.

Đã đến nơi cần đến. Một vùng lưa thưa cây lá, tuềnh toàng những gian nhà gỗ. Nắng như đổ lửa. Không một ngọn gió. Người dân đã tập trung tại khoảng sân nhếch nhác cỏ dại của trường tiểu học.

Nỗi mong chờ hiện rõ trên từng gương mặt gầy xạm. Có lẽ được thông báo trước nên họ đến từ sớm. Thấy bóng xe họ tươi tắn linh hoạt hẳn. Trẻ em túa ra tò mò háo hức nhìn ngó chỉ trỏ. Trông chúng chỉ có mắt và mắt. Thấy tôi đưa máy ảnh chúng xấu hổ chạy lại túm áo mẹ cười lỏn lẻn. Tôi bấm mấy kiểu và chợt nhớ đến ông với các tấm ảnh được trưng bày. Có lẽ từ những chuyến đi, từ những pô ảnh ngẫu nhiên trên bước rong ruổi ông đã nảy ý định dùng số ảnh này vào một mục đích cụ thể : dùng ảnh như phương tiện kêu gọi sự sẻ chia của cộng đồng đối với bao người, nhất là trẻ em đang gánh chịu bất hạnh từ chất độc màu da cam. Đó cũng là bằng chứng xác thực tố cáo với thế giới về sự dã man thâm độc của kẻ thù. Ảnh cũng giúp ông trả nợ quê hương, nợ tình làng nghĩa xóm.

Sau khi trao quà nhân lúc nghỉ uống nước, vị chủ tịch xã cho biết có một bác sĩ cũng vừa tới, đang tiến hành phẫu thuật đợt vét cho trẻ hở hàm ếch vì đợt đoàn về huyện các gia đình ở đây không được thông tin kịp thời. Công việc đang tiến hành tại nhà ông phía sau trường.
“ Chắc chắn là ông rồi”, tôi nhủ thầm và cương quyết không bỏ lỡ cơ hội được tận mắt nhìn ông thao tác, tôi báo anh Hải rồi vào trong.

Lần này tôi không được may mắn hổ trợ. Ông đã xong việc đang lúi húi dọn đồ đạc. Tôi tiếc hùi hụi. Thế là không thể có được kiểu ảnh ông đang ra tay đem lại nụ cười cho các em nhỏ. Nhưng dù sao cũng có mấy kiểu chụp các em xúm xít quanh ông, miệng còn ngậm chặt. Nhận ra tôi, ông có vẻ ngạc nhiên :

_ Chào cháu ! Sao cháu lại đến được đây ?
– Chú không biết đấy thôi. Cháu đi bằng con đường chú đang đi.

Tôi tinh nghịch đáp lời và nhận được một tràng cười vang của ông.

– Cháu cũng không biết đấy thôi. Đường chú đi vất vả lắm ít ai chịu nỗi. Tuổi trẻ lại càng hiếm.
– Người nhiều tuổi có sự kiên trì bền bỉ thì ngược lại tuổi trẻ có sự hăng hái và lòng quyết tâm. Cháu thuộc nhóm thứ hai.
_ Ghê nhỉ. Thôi. Ra ngoài uống nước đi cô bé.

Khoác túi. Xoa đầu mấy đứa trẻ. Cười vẫy chào bố mẹ chúng đang hồi hộp chờ đợi, ông vui vẻ gọi tôi đang loay hoay bên bọn nhỏ.
Đưa tôi một chai nước suối lấy từ túi xách, ông ngồi nhả khói nghĩ ngợi.
Tôi nói lên những suy đoán của mình về cuộc triễn lãm của ông.

_ Cháu hiểu chú rồi đấy. Chú không biết làm sao để kêu gọi mọi người khi chú chỉ là một bác sĩ, lại là bác sĩ về nước chưa lâu, chưa đóng góp công lao gì cho tổ quốc. Liệu mọi người có tin thiện ý, ủng hộ việc làm của chú sau bao năm tháng sống đầy đủ nơi xứ người khi đất nước là một chiến trường đẫm máu hay chìm trong nghèo đói thiếu thốn.

Giọng ông chùng lại. Tôi chen lời :

_ Nhưng mọi người rất ủng hộ chú, phải vậy không ?
_ Quả đúng vậy. Thoạt đầu là các bạn học hồi nhỏ. Người có chuyên môn Y thì góp tay, người ngoài ngành thì góp tài chính, liên hệ chính quyền địa phương. Dù làm điều tốt đôi khi cũng không thể tự mình, chỉ có mình mà được đâu cháu. Dần dà chú kêu gọi thêm các bạn đang ở nước ngoài.
_ Thế còn triễn lãm ?
_ Thì cũng là được ủng hộ. Các anh chị ở hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh thành phố đồng tình với ý nguyện của chú và họ đứng ra lo khâu thủ tục, rồi khâu tổ chức.
– Theo thông tin cháu có được thì cuộc triễn lãm gây xúc động trong lòng công chúng. Đấy là sự ủng hộ rộng rãi sâu sắc phải vậy không chú ?
– Chú rất vui vì điều đó. Các nạn nhân khó lòng nói lên tiếng nói đòi quyền lợi – cho dù là quyền lợi chính đáng của chính họ – một khi họ thiếu mọi thứ kể cả phương tiện sống tối thiểu. Đòi quyền lợi, nhất là đòi công lí là một hành trình gian nan cháu ạ! Rất may hiện giờ hành trình này được toàn xã hội quan tâm góp sức.

Cả đoàn đề nghị ông cùng chung xe về thành phố. Ông hoan hỉ nhận lời.

Câu chuyện của ông và tôi tiếp tục suốt chặng đường dài. Các nhà báo khác,các doanh nhân cũng hăng hái không kém. Tất cả náo nức với tin tức về việc thu thập chữ ký ủng hộ vụ kiện của các nạn nhân chất độc màu da cam, về số tiền giúp đỡ họ ngày một nhiều mà theo tôi cuộc triễn lãm của ông đã góp phần không nhỏ , về đề tài làm thế nào để mọi người đều được sống đúng nghĩa và sống có ý nghĩa.

Ông bảo ông là người may mắn từ thuở còn là học sinh đến khi thành đạt và may mắn vẫn còn theo ông đến lúc này khi được bao người ủng hộ. “Sống thích đáng với may mắn đời cho là một cách trả ơn” ông nói.

Tôi cũng là người may mắn. May mắn mới nhất là bài viết sau chuyến đi này _ với tư cách là phóng viên – về những phận đời và cả những tấm lòng mà ông là người đầu tiên tôi nhắc tới đang chín dần trong đầu. Tôi cũng sẽ như ông: trả ơn đời bằng chính cuộc sống mình.

“ Thế naò mình cũng phải rủ Quỉ ròm cùng mời ông đến Thềm Xưa uống cà phê nghe nhạc. Bài đầu tiên, bài thứ hai, thứ ba cho đến cuối cùng sẽ chọn tặng ông phải là những ca khúc sâu lắng của nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh”, tôi tự nhủ.

*

Tôi có nhiều người theo đuổi. Không ít chàng bảnh trai, sành điệu. Gặp tôi họ không ngần ngại nói về những chuyến du lịch trong và cả ngoài nước tốn kém mà họ vừa thực hiện với bạn bè hay người nhà hoặc về những cuộc nhảy nhót thâu đêm suốt sáng bằng giọng khoe khoang không giấu diếm. Tôi ngồi nghe họ, nghe cả nỗi dửng dưng ngập tràn lòng mình trước những lời tỏ tình hoa mỹ, những hứa hẹn ngọt ngào

Mọi người bảo tôi khó, quá kén chọn. Đúng là họ đầy đủ nhưng sao tôi thấy họ vẫn thiếu. Thiếu gì ? Tôi cũng từng tự hỏi mình mà vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng. Quỉ Ròm bảo tôi hâm, thiếu I – ốt.

Bây giờ, trên chiếc xe bụi bặm trở về từ cao nguyên khô xát, bên những gương mặt xạm nắng gió sau chuyến đi đầy ý nghĩa, bên cạnh tác giả của những tấm ảnh lay thức lòng người ; làm nhói lòng người để rồi kéo tay mọi người lại với nhau vì một mục đích chung là đem lại những gì có thể cho những phận đời bất hạnh, tôi đã hiểu ra thứ những chàng trai đó thiếu.

Chợt anh Hải quay nhìn tôi cười ý nhị :

– Này cô bé. Sao như kẻ tương tư vậy ? Có “vấn đề” rồi phải không ?

Tôi nháy mắt với anh, thầm nói :

– Anh Hải ơi ! Bây giờ thì chưa nhưng rồi em sẽ yêu. Vâng.Người em yêu sẽ là người mang trái tim giàu có. Như anh, như những người đang ngồi trong xe này, như ông.

*

Chắc các bạn đã không còn thắc mắc về nội dung các bức ảnh được triễn lãm ?

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Người thoát mộng

Quán café ấy tên là Thiên Thai, nghe cứ muốn hình dung hoa đào chấp chới, sương mây lửng lơ và lối mòn cỏ xanh ẩn hiện. Thật ra ngoài mấy bộ bàn ghế xếp đặt tùy tiện trong khu vườn nhiều cây xanh của một ngôi nhà xây theo kiểu cổ, quán chẳng có gì đáng chú ý, trừ một bức phù điêu bằng đá xám trước hiên nhà. Bức phù điêu tạc một thiếu phụ với hai bàn tay chới với đưa cao như khẩn cầu. Mái tóc rối tung vướng víu trên bờ vai, trên những ngón tay gầy guộc. Đặc biệt là đôi mắt: sống động, dữ dội. Có gì như van xin, lại như căm giận ; vừa buồn bã lại vừa đau thương.

Lần đầu tiên tôi đưa Nhẫn đến đây, anh đã thì thào kinh ngạc: “ My, giống My như tạc!” Tôi dỗ dành: “ Vậy anh phải thường xuyên cùng em đến đây nha. Như là đến thăm My.” Nhẫn gật đầu, có vẻ như đã bớt ngơ ngơ.

Tôi không dám tin mình sẽ giúp được Nhẫn. Nhưng tôi thương Nhẫn thật sự. Vả lại Thi cứ nằn nì: “Mình nghĩ Quyên làm được mà, mong Quyên nhận lời…”

Hôm đó là sinh nhật Thi. Trời mưa dầm. Thứ mưa dai dẳng của Ban Mê mùa hè. Đất đỏ đẫm nước nhão ra. Trời xám ngoét. Cỏ cây lướt thướt. Ướt át lạnh lẽo làm con người thấm đẫm nỗi đơn côi. Thi kể cho tôi nghe về Nhẫn, về cái chết của My, người yêu Nhẫn. Bản tính Nhẫn vốn yếu đuối hay mộng mị, sầu não. Chẳng ai làm anh nguôi ngoai được. Sau cơn bệnh nặng Nhẫn càng lặng lẽ, cứ luẩn quẩn mãi trong nhà. Thi khóc: “Anh ấy sợ xe, sợ người, sợ tiếng ồn, sợ nước. Cứ nhớ nhớ, quên quên. Mẹ mình buồn lắm, đã gần hai năm rồi, mình rồi phải lấy chồng, làm sao bây giờ hở Quyên?”

Mẹ tôi bảo: “Con đã gieo hạt lành, hãy tưới cho nó bằng tình thương và sự kiên nhẫn.”
Tôi đã mất nhiều thời gian để Nhẫn quen với sự có mặt của tôi trong gia đình, bên cạnh anh. Rồi Nhẫn chịu trò chuyện, chơi đùa. Tôi vui mừng thấy Nhẫn dần bớt sợ xe, sợ người, sợ âm nhạc. Cũng có lúc tôi tưởng phát điên vì mỏi mệt, bực bõ và bị tổn thương.

Mẹ kể rằng : Xưa có người cha mang về cho đứa con gái nhỏ bị bệnh nặng đang chờ chết một củ thủy tiên ; và bảo một ngày nào đó từ củ hoa này sẽ nở ra một bông hoa với vẻ đẹp kỳ diệu không gì sánh bằng. Cô bé đã mong mỏi, chờ đợi. Ngày lại ngày, trái với dự đoán của mọi người, cô vẫn sống. Cô bé đã sống với ý nghĩ mình không thể chết nếu chưa được nhìn thấy vẻ kỳ diệu của bông hoa kia.

Tôi cũng chờ, và tin rằng hoa thủy tiên rồi sẽ nở.

Nhẫn đã chịu để cắt mái tóc dài, mềm mượt. Trông anh vẫn ngơ ngác, là lạ nhưng ít nhiều đã tươi tỉnh hơn. Tôi đưa Nhẫn đi chơi, đến Thiên Thai, Nhẫn rất thích. Anh ngồi hàng giờ nghe nhạc, ngắm nhìn người thiếu phụ bằng đá xám trong bức phù điêu. Đôi lúc Nhẫn chấm ngón tay vào nước đọng ở thành ly, rồi nguệch ngoạc những hình vẽ rối rắm trên mặt bàn.

Một tối cúp điện, Thiên Thai chợt lãng đãng, ảo huyền bởi ánh sáng dịu dàng của những ngọn nến cắm trên vách. Đêm khuya, phố sá như lùi xa, hun hút. Tiếng xe vẳng vào ầm ì như tiếng biển. Quán vắng. Nhẫn chợt lẩm nhẩm hát : “Một đàn chim tóc trắng bay về qua trần gian, báo tin rằng có nàng Giáng Hương…” Rồi anh quay sang hỏi tôi : “Đố Quyên biết chim tóc trắng là chim gì? ” Dĩ nhiên tôi không trả lời được câu hỏi này, cũng như đã không trả lời được những câu hỏi gần đây của Nhẫn. Tôi biết Nhẫn đã từng đọc nhiều, biết nhiều và lâu nay vẫn sống trong một thế giới tự anh tạo dựng. Có lúc tôi hoài nghi ; tôi đang cố dẫn dắt Nhẫn thoát khỏi mộng, hay chính tôi đang bị cuốn vào cõi mộng của anh. Nhẫn cười hiền lành : “Chim bạch hạc, xưa kia bạch hạc bay thành đàn, theo mùa báo tin… Quyên biết không, My thích bài hát này lắm, cô ấy bảo đó là thưở loài chim còn chưa biết sợ người.”

Đột nhiên giọng Nhẫn đau đớn, lần đầu tiên từ ngày chịu làm bạn với tôi Nhẫn kể về cái chết của My : “Hôm ấy, anh đã quỳ trước ngọn thác suốt đêm. Quanh anh trải dài theo suối là mọi người với những ánh đuốc chập chờn, ma quái. My chìm khuất dưới vực sâu kia. Cô ấy đang bắt đầu đi vào cõi chết mà không có anh. My đã trượt chân khi quay lại cười vì nghe anh nói đùa. Vực sâu, nước ngầm rút mạnh. Hình ảnh cuối cùng anh còn nhìn thấy là khuôn mặt My, bàn tay My, hoảng hốt, chới với…”

Nhẫn quay nhìn bức phù điêu rồi gục đầu xuống bàn, lặng lẽ khóc.

Thi đã bắt đầu gọi đùa tôi là chị: “ chị Quyên”, “chị Quyên” nghe cứ như hát. Tôi hiểu ý Thi nhưng thoắt mừng, thoắt lo. Sau tối mất điện ở Thiên Thai, Nhẫn dường như khác hẳn. Như thể nỗi đau thành ung nhọt trong anh đã vỡ ra, trôi chảy theo nước mắt. Nhẫn đã có vẻ bình an, thư thái. Thi đang thu xếp cho anh một công việc nhẹ nhàng : “ … để anh còn dành tiền cưới vợ.” Thi nói mà cười, nhìn tôi đầy vẻ biết ơn. Mẹ tôi và mẹ Thi thì xếp đặt một lễ cúng tạ ơn trời đất. Chỉ có tôi là bồn chồn không yên. Nhẫn với tôi thân thiết, nhưng theo một cách hoàn toàn khác. Nhẫn không yêu tôi. Tôi hiểu vẫn còn cõi mộng đó. Nơi mà Nhẫn luôn thích đắm mình vào, nơi hoang sơ quyến rũ, ở đó loài chim còn chưa biết sợ người.

Mẹ trầm ngâm : “ Không phải cái gì cố cũng được. Dây đàn lên quá căng sẽ đứt. Chuyện trong đời đôi khi như mặt trăng dưới nước. Có mà như không. Cần phải biết dừng con ạ! ”

Tôi không muốn dừng. Tôi muốn đi đến tận cùng. Tôi muốn có Nhẫn, có một cách trọn vẹn.

Ngày mãn tang My, tôi thuyết phục Thi và Nhẫn về lại thác Trinh Nữ. Nhẫn có vẻ sợ, Thi thì ngại ngần nhưng rốt cuộc vẫn chìu theo ý tôi. Cuối đông, trời lạnh khô. Đường vào thác ngập tràn hoa cúc dại. Màu vàng của hoa luôn làm tôi bất an. Đến nơi, Thi nói như rên : “ Ba năm rồi sao chẳng có gì thay đổi. Vẫn đá này, nước này, đẹp mà sao cứ thấy ghê ghê.”

Thi tung bó hồng trắng xuống vực sâu. My vẫn còn nằm dưới làn nước thẳm đen ấy. Tôi chao đảo thấy mình buồn nôn, nhưng vẫn chăm chú nhìn Nhẫn. Anh đứng đó, dáng vẻ chịu đựng. Mái tóc cắt ngắn rủ những sợi mềm ngang trán. Đôi mắt yếu đuối loáng ướt. Lòng tôi tràn ngập cảm giác lo lắng. Tôi thấy mình tàn nhẫn. Nhưng tôi muốn buộc Nhẫn nhìn thẳng vào sự thật. Như người đã đi hết con đường, anh chỉ có thể hoặc vượt qua, hoặc quay lại. Anh phải thoát mộng.

Trong chuyện thần thoại, người ta hay nói đến việc quay ngược thời gian để có thể sửa chữa những sai lầm trong quá khứ. Dĩ nhiên thật khó mà tin điều ấy. Nhưng việc không thể ngờ đã xảy ra. Chính trên rìa đá đó ; đúng vào khoảnh khắc ngày xưa My rơi xuống vực ; đã có người bị trượt chân. Và Nhẫn đã làm được điều kỳ diệu. Rất nhanh anh vươn tay níu giữ được cô gái mặt tái xanh, run rẩy, dừng ngay sát mép vực. Giữa tiếng la hốt hoảng của mọi người chung quanh, cô gái sợ hãi và tin cậy ngả đầu vào bờ vai yếu đuối của Nhẫn.

My đã tái sinh! Nhẫn tin điều đó. Chưa bao giờ tôi thấy anh rạng rỡ, hân hoan đến vậy. Nhẫn đã hoàn toàn bình phục.

Đám cưới diễn ra vào một ngày đẹp trời, không mưa, không nắng. Tôi không dự, một mình đến Thiên Thai. Giữa tiếng nhạc, tôi ngồi đơn độc. Giờ này chắc Nhẫn đang rất vui, bao nhiêu là hoa, là rượu, là lời chúc tụng. Nhẫn cùng cô dâu nâng ly, mặt Nhẫn tràn đầy hạnh phúc, anh bước vững vàng bên My của anh, váy áo cô dâu bồng bềnh tưởng như trong mộng.

Thốt nhiên tôi thấy mình như vừa ngoi lên từ làn nước thẳm sâu, lạnh buốt, tỉnh táo một cách lạ kỳ. Người thiếu phụ trong bức phù điêu nhìn tôi. Cái nhìn trống rỗng.

Đinh Thị Như Thúy

Mưa… Trà…

Mưa….
Đường phố trở nên mờ ảo trong làn mưa giăng giăng….
Những hạt mưa bụi khẽ vương long lanh lên sợi tóc…
Những hạt mưa bụi không chạm đất….Không hiểu ai đã nói là dù có đi xa nơi đâu, khi nhớ về Hà nội là nhớ tới những hạt mưa không ướt đất .
Ánh đèn pha loáng nhòe của những chiếc xe máy chạy vội trên đường.
Các bà bán hàng rong trên vỉa hè loay hoay xếp vài chiếc ghế nhỏ bé sát vào dưới mái hiên.
Những bước chân vẫn thong dong dạo dưới hàng sấu xù xì như một tán ô.
Cái lạnh se se đầu đông khẽ chạm vào má…..Bàn tay bỗng cảm thấy thèm được ấp ủ làn hơi ấm áp- một tách trà.

“Trà đen, trà xanh, trà nhân sâm, trà cúc, trà hồng, trà nhài, trà nhãn, trà đặc biệt”
Hai ngón tay khẽ nhắc nắp chén trà, chầm chậm nâng tách trà gần môi để cảm nhận mùi hương nhè nhẹ của làn hơi ấm tỏa lên. Trên mặt trà nâu sánh những cánh hoa cúc trắng thấp thoáng dưới ánh đèn mờ mờ. Khẽ nhấp ngụm trà đầu tiên, một vị là lạ, chát chát hòa hương cúc nồng nồng, nhưng những giọt trà đọng lại lưỡi chuyển dần dần sang ngọt. Hơi trà toả làm không gian như phủ làn sương nhẹ- mặt Hồ Tây trong buổi sáng cuối thu, những bông cúc nở muộn…

Bên chiếc bàn cạnh góc một ông già trầm ngâm đọc tờ báo chữ nhỏ li ti. Cặp kính chênh vênh dường như muốn rơi khỏi sống mũi. Thỉnh thoảng ông lại đưa tay với chén trà mà mắt vẫn không rời trang báo- chẳng cần thử cũng biết chắc chắn đó là trà nhân sâm.

Hai người đàn ông đang bàn chuyện gì đó chắc rất quan trọng. Tách trà xanh được đưa lên đặt xuống liên tục làm hơi trà bám mờ vào mắt kính khiến người đàn ông một lúc lại phải tháo kính xuống lau.

Gần cửa, bốn năm cô gái đang ríu rít. Những tách trà đã uống cạn được gạt ra mép bàn. Chốc chốc họ lại chúi đầu xuống che miệng cười rúc rích. Có lúc không nín được một chuỗi cười vang lên làm xao động không gian như tiếng xe máy của anh đưa lá cho bà hàng xôi buổi sáng trong ngõ nhỏ.

Mùi hoa nhài khẽ lan toả sang từ bàn bên. Chỉ mùi hương nhè nhẹ ấy nhắc tới sự hiện hữu của hai người đang ngồi bên tách trà ở đó…

“Cho xin thêm một chén trà đặc biệt- Mà trà đặc biệt là trà gì vậy?.”
“Đó là trà Hà nội, được chắt từ năm sáu loại hoa và lá, có loại chẳng có tên….”

Chẳng có tên- nên là đặc biệt.
Trà đặc biệt- hơi khó uống, nhưng có lẽ chính vì vậy lại nhớ lâu…..

Mưa ….mưa vẫn không ướt đất…..
Hơi trà ấm vẫn toả mờ mờ…..
Hà nội lại sắp vào đêm….

Phan Bích Thiện